Nhớ lại những câu nói để đời của các thầy trường Kiến Trúc: (sẽ còn nhớ thêm để cập nhật)

Trường Kiến trúc ai dạy cũng được và ai học cũng được” (Võ Thành Lân)

KTS nhà thổ cũng phải biết thiết kế cho đúng dây chuyền công năng !” (Nguyễn Quang Nhạc)

Giờ thì trường không ra trường, thầy không ra thầy, trò không ra trò” (hình như của thầy Nguyễn Quang Nhạc – cần xác minh lại)

Với trình độ sinh viên bây giờ thì tui chỉ còn nước đào tạo đại trà !” (Võ Đình Diệp)

Các anh đừng chê trường mình xây dở mà nhà trường cố ý xây như vậy để dạy mấy anh học” (Võ Đình Diệp)

Sinh viên ngày xưa họ chững chạc đứng đắn, còn sinh viên mấy anh ngày nay nhiều chuyện quá !” (Nguyễn Ngọc Giả)

Mấy anh chị học thế này thì chỉ có nước ở lại trường này làm thầy!” (Vũ Đại Hải)

Mấy anh ưa vẽ cửa giả, vách giả. Thử hỏi vợ anh mang vú giả anh chịu hông ?” (Cổ Văn Hậu)

Nhà không có nóc như con gái không có tóc” (Cổ Văn Hậu)

Bằng KTS tui xài còn chưa hết. Học cao học làm gì ?” (Cổ Văn Hậu)

Các anh không cần chọn đề tài tốt nghiệp như trung tâm này hay trung tâm nọ cho nó cao siêu. Chỉ cần các anh vẽ một căn nhà đàng hòang là được” (Cổ Văn Hậu)

Lương sao thì tôi dạy vậy. Dạy hết lương thì chúng ta về !” (Vũ Mạnh Hùng dạy kết cấu)

Khu vệ sinh công cộng mà có phòng đệm !?? Thằng nào dạy anh thế hở ?” (Trần Khang)

Sao anh không mang tiền lên một lần cho hết một học kỳ mà cứ phải lâu lâu về quê lấy tiền lên ?” (Vũ Thị Lũng nói với anh Đào Đông Nhựt)

Tôi nói thật, nếu gia đình anh khó khăn thì anh đừng nên học trường này“. (Vũ Thị Lũng nói khi anh Man Đức Bảo xin đóng học phí chậm )

Tất cả các con đường của kts đều dẫn vào nhà đá” (Nguyễn Trường Lưu)

Thôi mấy anh cũng ráng ôn để thi tiếng Nga. Như tôi đây cũng lỡ thời rồi” (cô Lưu Hòa Lý dạy Nga văn)

Nếu muốn ngồi để ký giấy thì học cao học” (Khương Văn Mười)

Mấy anh coi tui như c..t, muốn ăn lúc nào thì ăn” (Nguyễn Hoài Nam)

Cần cù bù năng khiếu” (Trương Văn Ngự)

Phải vẽ nhiều lần, giống như vào tù ra khám nhiều lần thì mới giỏi” (Trương Văn Ngự)

Tao dạy mà tao còn hổng hiểu huống gì tụi bây” (Nguyễn Hữu Quang dạy đại số tuyến tính)

Thi bài khó thì cũng phải ráng làm cho được. Giống hồi xưa mấy bà già bị phong thấp đi không nổi mà khi bị Việt Cộng rượt thì cỡ nào cũng phái ráng mà chạy…” (Nguyễn Hữu Quang)

Tui muốn biết “CÓ” làm bài hay không ?”, chứ không cần biết “BIẾT” làm bài hay không” !” (Trần Hồng Quân dạy môn sức bền)

Tui không quan tâm giá trị bằng cấp, nước ngoài chơi với mình thì tụi nó phải công nhận bằng cấp mình” (Mai Hà San – hiệu trưởng)

Anh xin tui ký giấy để anh đi du học. Bộ anh chê trường này dạy dở sao ?” (Mai Hà San)

Đầu tư máy tính rồi mấy anh làm biếng vẽ hay sao ?” (Mai Hà San)

Khi người ta bị tù người ta cần luật sư, khi người ta bệnh thì cần bác sĩ. Nhưng khi người ta có tiền thì người ta mới tìm KTS. Nên KTS bị coi không ra ký lô nào hết. Vậy thì KTS phải dùng hết bản lĩnh mình ra để thuyết phục thân chủ“.  (Phạm Văn Thâng)

Tôi ra đề đúng mấy anh cũng làm sai” (Văn Đình Thông dạy hình họa)

Thấy trời mưa thì mấy anh tự động nghỉ học” (Văn Đình Thông)

Ngày xưa người ta xả thân cứu nước còn ngày nay người ta xả nước cứu thân“(Hà Anh Tuấn)

Sau một đêm, tôi binh hết ba cuồn giấy can, mỗi cuồn bốn mươi thước, ra hàng trăm phương án quy hoạch” (Võ Khắc Vấn)

Tui chờ anh 2 năm nữa lên học với tui, tui đố anh thi đậu môn của tui !” (Võ Khắc Vấn nói với anh Văn Thanh Cường).

**********************

Còn tui, tui chỉ nói: “Con KTS chẳng thằng nào giỏi cả !”

Chuyện kể về Kiến Trúc (4/4-hết) – Kiến Lửa.

Hồi thứ tư:     Trúng vô thời thế, xây dựng tràn lan

                        Hạ cám thượng vàng, dân đen lãnh đủ.

                        Ham mới nới củ, đô thị tan hoang,

                        Tấc đất tấc vàng, liệt cường xâu xé.

 

Nói tiếp về Tổ, sau khi viết thành công quyển cẩm nang, vì ngồi suốt đêm nghiên cứu động não miệt mài quá độ, thêm bị cái vụ té lăn chiêng xuống giường hồi đêm kia nên lúc này mới thấy mình mẫy rêm không kể xiết. Tổ linh tính thấy chuyện không yên bèn đánh tay tính thêm một quẻ nữa. Nhằm quẻ: “Lôi Địa Dự” hóa “Thuần Khôn”.

 

Thôi chết ! Tức là:

Xây dựng bùng nổ (Dự) tùm lum (Thuần Khôn)

Làm ăn chụp giựt (Dự) làm tan hoang (Thuần Khôn)… vân vân…

 

Càng giải quẻ Tổ càng lo lắng và ân hận. Tiếc rằng đã lỡ viết rồi mà bỏ thì uổng văn của mình quá. Thôi đành chịu vậy ! Tổ đành tiếp tục rặn ý viết thêm một “cẩm nang cứu giải” trong trường hợp khẩn cấp. Về sau trước khi tịch, Tổ bắt buộc đệ tử phải luôn truyền bá song song 2 cẩm nang. Anh nào làm sai sẽ bị Tổ vật đừng trách ! Song có vài đồ đệ sẵn tánh xấu ưa giấu nghề , bất chấp lời nguyền, vô ý một cách tính tóan làm thất lạc bản gốc “cẩm nang cứu giải” nên Tổ giận lắm. Để tránh bị Tổ phạt, nên về sau, lễ Truyền thống nào cũng phải nhắc tới Thần Kiến trúc, thậm chí một vài năm có thêm cả lể tế Thần kiến trúc cho chắc ăn là vậy.

Tổ tiên tri không sai. Nhiều năm gần đây khi xây dựng được mùa, ngòai KTS ra, tất cả kỹ sư, thầu tay ngang tay dọc đều có thể làm thiết kế kiêm xây dựng. KTS cũng nhảy vô làm thầu để cạnh tranh với đối thủ. Rồi ngòai ngành xây dựng ra, ngành nào có tiền cũng mở thêm công ty xây dựng được thỏai mái. Muốn chất lượng cỡ nào cũng được đáp ứng tới bến. Hể dính tới xây dựng là có tiếng, tốt xấu tính sau.

“Người người xây dựng, nhà nhà xây dựng, đâu cũng xây dựng được” búa xua . Riết đâu cần học kiến trúc cũng có thể xây nhà dễ ợt vì kiến trúc đã đại chúng hóa đến tận cùng của xã hội. Cứ ra đường là gặp dân Kiến Trúc. Hể làm quen là anh nào cũng “xì” ra hàng cọc cái “cạc vi-sít” rải như truyền đơn nào là giám đốc, phó giám đốc, manager…tệ lắm cũng là một design supervisor (nói văn chương là “cai thiết kế”). Kèm theo thêm đủ chức vị “sư” này “sỹ” nọ đầy nhóc tấm “cạc”. Đã lỡ tốn một lần thuê thợ thì phải yêu cầu thợ nó in nhiều nhiều chữ cho đáng đồng tiền bát gạo và xứng cái danh mình hằng mong ước. Tình hình này thì riết KTS chỉ khác với người ngòai duy nhứt ở cái bằng mà thôi. Tội gì học cho tốn tiền mất thì giờ nếu không muốn bon chen khoa bảng với chúng nhân. Đất đai lên giá vô tội vạ. Đất vườn, đất ruộng, đất tôn giáo, đất nghĩa địa … đều thổ cư hóa đến tột cùng mà vẫn không đáp ứng nổi nhu cầu xây dựng của thiên hạ. Dân Kiến làm ăn ban đầu còn dễ dàng, càng về sau bị nhiều “ngọai đạo” dành ăn nên Kiến thật hay Kiến lụi chẳng ai biết nổi. Lợi dụng Kiến thiệt-Kiến giả dành ăn nhau, nhiều “ngư ông” nảy ra sáng kiến nhập vật liệu xây dựng, sách vở, các mẫu nhà trên thế giới vào để mà “đắc lợi”. Đầu tiên là dụ cho khách hàng mua mấy cái catalô mẫu nhà từ lạ tới lập dị chưa từng có. Từ đó khách hàng sáng tạo kết hợp thêm nhiều kiểu từ nhiều nguồn tạo một phong cách kiến trúc cho riêng mình. Người ít học thì cứ tự do bắt chước cái có sẵn bên hàng xóm mà xây cho chắc ăn vì chẳng có ai chết mà sợ. Chưa có luật bảo vệ bản quyền kiến trúc của nên bà con cứ thỏai mái chụp hình, cóp-py lại cái có sẵn và từ đó theo giống là yên bụng. Tất cả biến cái đất này thành cái thế “quần Kiến tranh thực”, tự do hơn cả thế giới tự do vì ai cũng làm xây dựng được mà không bị ai khác kềm hãm ý tưởng và hành động của mình. Các trường phái thế giới từ ngàn xưa đến nay tha hồ được phát huy và thí nghiệm trong cái thiên đường xây dựng này đến tận cùng ngõ hẻm. Chúng còn được vinh dự sánh vai kề bên nhau làm khu phố thêm đa đạng như một cuộc thi hoa hậu đường phố. Kiểu kiến trúc mới về ồ ạt, chưa biết chất lượng ra sao song nhiều người cũng đã thẳng tay phá sạch những căn nhà cổ vô giá của mình để “lên đời” cho thiên hạ nể. Rồi cái phố nhà ta nó trở nên phong phú với nhiều chủng lọai. Trường phái tân cổ giao duyên này đến nay chưa ai có thể định nghĩa được rõ ràng. Đại khái nó tạm có cái tên dài, khá dài, dài vô tận: “Chino-greco-romano-franco-americano… vietnamese” . Bác sĩ còn phải lỡ tay giết ít nhứt vài người mới có kinh nghiệm để thành bác sĩ giỏi thì KTS trước khi nổi tiếng thì thiết kế tiêu tùng vài căn nhà là chuyện tất nhiên không chối cãi. Nên sẵn dịp này các Kiến thả cửa chế biến, nhào nặn các chi tiết kiến trúc từ nhiều nguồn tài liệu, nhiều công trình tham khảo để “dợt thử ” ý tưởng của mình. Nhiều anh rút kinh nghiệm ở dơ hồi trong trường rồi sản sanh ý tưởng lấy gạch cầu tiêu mà ốp mặt tiền nhà cho dể rửa ráy , càng thêm sạch sẽ. Mấy anh sẵn tính lười thì có sáng kiến dùng cây nhựa cắm trong các bồn hoa cây xanh để đở mất công tưới tiêu, trừ sâu gì ráo mà luôn thấy thấy xanh dờn. Thí nghiệm vũ khí thì bị chống kịch liệt chứ thí nghiệm ý tưởng thì nhiều người còn khuyến khích nhứt là những người không bỏ cắc nào ra và mình chẳng mất mát gì mà sợ . Tạm tóm tắt thì bộ mặt mấy khu phố loại “kiến trúc nhà dân” được diễn tả như sau:

 

Quán thiên hạ đèn mờ, đèn tỏ

Phố nhà ta đủ kiểu: cửa vòm,

Lan can “bà chửa” khum khum,

Hoa văn “rồng lộn”, cột lùn, cột vuông

Sơn trắng xóa trên tường ba mặt

Gạch vệ sinh ốp lát mặt tiền.

Phù điêu vằn vện ốp lên,

Tượng Lân, Sư, Chó dựng bên lối vào.

Mái đủ loại muôn màu muôn cách

Tượng đại bàng tung cánh phía trên,

Trong nhà, bồn tắm như tiên,

Kiểu nằm, kiểu đứng lại thêm kiểu ngồi.

Đủ vật liệu, ôi thôi! nội thất

Kiểu Việt, Âu, Trung Quốc lung tung,

Đài Loan loè loẹt đèn chùm,

Hy-La, “Gô-tích” um tùm hoa văn.

Thang xương cá tung hoành uốn lượn,

Cạnh quầy bar ngất ngưỡng giữa nhà,

Kề bên: hồ cá, bồn hoa,

Salon đồ sộ kiêu sa muôn màu.

Phòng giải trí thần sầu, lác mắt,

Karaoke, dàn nhạc, video…

Sắm toàn đồ hiệu cho kiêu,

Sao cho lác mắt bao nhiêu người ngoài…

 

Song song phần “xịn” của “chợ” xây dựng thì cũng có phần “dỏm” mà giới bình dân gọi là “chợ trời xây dựng”. Ai vào đó đều tự do thiết kế, thi công, tính tóan, thỏai mái kỳ kèo mọi thứ trong xây dựng từ tiền thiết kế phí, thời gian thực hiện, chất lượng công trình, vật liệu,… ngay cả kết cấu và tải trọng công trình nếu cần cũng sẵn sàng được anh em trả giá miễn cho nhẹ tối đa kinh phí. Đúng luôn theo nghĩa “chợ trời” trong thực tế với kết quả và hậu quả của nó. Vì tiền là căn bản, mục đích nên tất nhiên cũng có tệ nạn trung gian đủ chủng loại: cò nhà, cò giấy phép, cò mô hình, cò phối cảnh, chuyên gia quảng cáo thiết kế cho các công ty, buôn lậu ( làm xây dựng không chính thức), và cả … Kiến tặc, Thầu gian (chôm ý tưởng công trình, làm lụi, vẽ lụi, xây ẩu … rồi … ôm tiền quất ngựa truy phong). Lâu lâu cũng có những vụ thanh toán nhau vì tiền đúng bài phim Tàu, phim Mỹ. Chưa nói tới mấy trò “thanh lý môn hộ” lặt vặt thì nhiều không kể xiết.

Nói riêng về lòai Kiến hai cẳng, trong thời buổi nhiểu nhương này số Kiến chúa thành công thì ít mà số thất bại hay đi làm Kiến thợ thì đông vô kể. Kiến thợ cũng bị Kiến chúa bóc lột và xù tiền như ai. Thây kệ trong trường trước đây là “anh em” chứ ra trường thì “chúng ông, chúng mày” ráo ! Rồi “bôi mặt đá nhau” không ai cấm. Dân Kiến tốt bụng thì lại chẳng khi nào nói khoe khoang ào ào ra ngòai nhiều nên thiên hạ chẳng ai biết rõ đâu mà tìm, trừ khi có khách quen giới thiệu tới. Khắp nơi tràn lan Kiến thợ, đa số là bị buộc “bán thân” cho “lầu xanh Thiết kế” để cong lưng vẽ hòai theo ý của người khác phứt cho rồi mà chẳng được tiền bao nhiêu. Đường đường là một Đại Kiến trúc sư mà lúc nào cũng phải bị “e thẹn cúi đầu” trước thu nhập của mấy ả “hàng một triệu” mới tức chớ.

Cái kiếp “sống nhờ lương” mà lương không đủ sống thì sướng nhờ cái chi chi nữa hở trời!

Thỉnh thỏang có thấy mấy anh sinh viên ra trường năn nỉ xin làm không công cho mấy văn phòng KTS để học thêm nghề. Thời thế bắt mấy bác sĩ “chạy” xin làm không công cho bịnh viện vài năm mới được ra làm phòng mạch tư chưa đủ sao mà bây giờ lại tới lượt hành hạ lòai Kiến hai cẳng ?

Trong sự bùng phát xây dựng tất nhiên gặp nhiều thủ tục khách hàng phải giải quyết. Thì tất cả đều sẵn sàng có người chạy lo phục vụ khách hàng tới nơi tới chốn. Kiến nhà ta để tiếp tục cạnh tranh tồn tại thì ô-kê “lãnh sô” chơi đại luôn cho công việc xong tới nơi tới chốn. Riết rồi từ chuyên môn ban đầu là khâu thiết kế, Kiến nhà ta liều mạng thực tập dần để làm căn nhà thân chủ từ a-z một mình. Có Kiến sau khi thiết kế xong thì đứng ra làm “cò” thi công cho thân chủ luôn để vét hụi kế. Nếu công trình gặp sự cố thì lại nghiêng về thân chủ làm bộ tư vấn mà xúi thân chủ lấy lý do chất lượng thi công kém mà trừ tiền thầu cho bỏ ghét vừa để tiết kiệm tiền. Nếu êm xui thì đứng nghiêng qua ông thầu mà đòi phần trăm. Do đó luôn được lòng một trong hai bên và thừa cơ bắt tiếp các công trình khác. Anh nào tệ lắm cũng biết chỉ đường cho khách “chạy” sao cho đúng chỗ , đúng thầy, đúng thuốc. Nhưng khi rành rẽ các khâu thủ tục thì nhiều Kiến lại “lục” tay nghề dần. Có anh đạt đến tuyệt đỉnh võ công chỉ bằng độc chiêu ký giấy. Vì trong dân gian đã có câu rằng: “Một tràng chất xám thua đám nước bọt, đám nước bọt không bằng giọt bút bi” là thế.

Khi kiếm ăn càng dễ dàng thì Kiến cũng như lòai khác càng giảm bản năng sinh tồn tức là không còn bền bĩ nghiên cứu chuyên môn cho mệt xác trong khi “chạy ngòai” hiệu quả hơn. Thấy khách hàng không rành chuyện xây cất thì cũng chẳng ai tội gì vẽ kỹ, cứ “thi công tới đâu binh sửa sai tới đó”. Vì vậy thấy hòai chuyện nhiều nhà xây xong phát sinh đủ sự cố mẹ, sự cố con, trong khi …

 

Rủ nhau, Kiến tặc, Thầu gian,

Om tiền chạy sạch, cùng ăn chia lời,

Chúng ông đã trốn đằng trời,

Chủ nhà ở lại chịu đời đắng cay…

 

… với mọi hậu quả phát sinh không lường trước được.

Đất đai lên giá vùn vụt, xây dựng thỏai mái, nghề xây dựng thu tiền như nước, hỏi ai hổng ham ? Thấy miếng mồi quá ngon trước mắt thì việc dành ăn xâu xé không tránh khỏi.

Tại vậy mà xưa nay, bên Tây có câu: “Qui terre a, guerre a“. Quả là chí lý !

Rồi đời sau có thơ vịnh rằng:

 

… Cảnh xâu xé loi nhoi lúc nhúc,

Như cá tra giành giựt mọi ngày,

Sặc mùi “Đại Kiến” bậc thầy

Mồm loa mép dãi, lưỡi dài hơn râu.

Trò “bảy chử” thuộc làu như cháo,

Thầy “tám nghề” chơi bạo thẳng tay,

Corbusier phải chạy dài,

Kenzo Tange thấy mặt mày thất kinh …

 

Thị trường béo bở tất nhiên bị liệt cường xâu xé như Trung hoa đời cuối Mãn Thanh. Các Kiến, Thầu trên tòan thế giới đổ xô vào để chia lợi nhuận. Thôi thì khắp nơi nhan nhản tập đòan “hàng ngọai” với chất lượng và giá cả đáng nể. Không ai cấm những tay Kiến tặc, Thầu gian “ngọai nhập” tràn vô khi không còn đất sống bên bản quốc. Cũng Kiến này Kiến nọ mặt mày bảnh tỏn, ăn nói miệng dẻo quẹo đi dụ khách hàng đúng họ Kiến nhà ta. Ban đầu còn chảnh chỉ tuyên bố nhúng tay vô các “độ” công trình lớn. Dần dà thất thế vì nội lực yếu thì công trình “nhà dân” hay trang trí lặt vặt họ cũng chẳng từ. Khách hàng vốn quá sợ các “gian tặc” nội địa thì khi vừa thấy “hàng ngọai” tất nhiên sẵn sàng bỏ số tiền lớn ra thuê mà không cần thắc mắc, trả giá. Trúng tay “Kiến tặc” ngọai nhập thứ dữ thì kể như tiền nào họa nấy và tệ hơn với nhiều ý tưởng lông lá ngoại bang chưa từng có xưa nay. Dân tứ xứ đổ về phải luôn hợp tác nhau cho tăng thế lực để cạnh tranh với lực lượng nội địa hùng hậu sẵn có. Cứ thế nên dần dần hàng trăm “ông khổng lồ” về quy hoạch, xây dựng, địa ốc xịn, dỏm nhảy vô đây tha hồ giựt dây cho giá nhà lên cao thả cửa. Dân đen bị lóa mắt trước mấy chân dung tươi rói của “thần tượng Franklin” hay mấy cục “999” bóng lộn nên cứ bán đất cũ chạy mua nhà chổ khác liên tục. Thơ rằng:

 

…Cảnh chụp giựt tràn lan bát nháo,

Quậy lung tung, nổ láo kiếm tiền.

Chỉ thương một lủ dân đen,

Nghe tin giải tỏa mấy phen hết hồn…

 

Tuy vậy có nhiều Kiến “ngoại” vô đây hợp tác nhau rồi bị “dính chấu” ôm nhau chết chùm vì bên nào cũng tưởng bên kia giỏi hơn mình để mà dựa hơi nhờ vả. Nếu có đụng chuyện kiểu gì thì rồi công trình cứ bỏ phế đó mặc cho khách hàng méo mặt tự xử phần còn lại với hầu bao đã bị rút sạch.

Khi Kiến chúa ngọai vào đây buộc lòng phải tìm Kiến thợ nội địa như các lực lượng lính “khố đỏ, khố xanh” làm sức mạnh. Và để chỉ huy đám lính này cũng cần có đầy đủ Kiến bộ sậu nào là Kiến thầy đội, thầy cai, cập-rằng, thầy thông hay cô ký, loong-toong chạy việc…, chưa kề cả mấy “me”, mấy “bồi” ngoài biên chế, nội ngọai nhiều ít tùy theo nhu cầu công việc và tình cảm. Gặp Kiến chúa tài giỏi và nhân từ thì anh em nhà Kiến thợ đở khổ dù áp lực công việc căng thẳng hơn nhiều nơi khác, nhưng bù lại có dịp học hỏi trau dồi nhiều kinh nghiệm chuyên môn. Đó chỉ là cái phúc tí ti.

 

Than ôi ! Lương cao thì cao (trung bình 200-500 usd/tháng, trong khi một lượng vàng khoảng 500 usd) nhưng thử đọc sách truyện sử rồi dại dột đem lương mình ra so sánh thì biết. Bảo đảm sẽ không ai cầm được nước mắt vì lương hàng tháng thời ấy của một cung nử hay thái giám cũng đã tròm trèm 3 lượng ! (cứ thử đọc bộ “Nam Quốc Sơn Hà” của Yên Tử cư sỹ Trần Đại Sỹ thì rõ). Buồn thay ! Trong khi lương một sếp ngoại quốc thì trung bình 2500-4000 usd/tháng.

 

Cái họa không nhỏ nếu Kiến nào lọt vô ổ Kiến “lụi từ trên xuống dưới”. Từ lão Kiến Chúa “tiền nhiều hơn chữ” đến một đám Cai, Đội tài năng, đạo đức chẳng ra gì và nói nhiều hơn làm. Rồi thêm một đám lâu la tay sai chỉ biết nhắm mắt tuân lịnh núp dưới đuôi mấy quan thầy. Mấy xếp dùng “mồm miệng đỡ tay chân” tha hồ trây trét công việc. Có gã xếp, để có dịp rút kinh nghiệm thiết kế, nhắm mắt nướng quân thả cửa để “thí nghiệm chiến trường” thiết kế với nhiều ý đồ quái đản và bất khả thi. Lính Kiến không làm được thì cũng sẵn có mấy tên Đội, Cai tha hồ chửi đổng mà chẳng sợ bị kiện cáo gì vì mấy tiếng ấy không nằm trong tự điển thì đếch anh Kiến nào hiểu được ! “Bảy chử tám nghề” được chuyên môn hóa lẫn hiện đại hóa bằng mọi phương tiện vi tính đi sau miệng lưỡi. Tất nhiên dẫn đến tai họa từ “charette” đến hậu quả thiết kế là không tránh khỏi mà “bom đạn” lỗi lầm được trút thả ga lên đầu đám Kiến thợ với lý do chất lượng hồ sơ không đạt, cũng vừa là nhằm “đỡ đạn cứu nguy” cho trách nhiệm quản lý. Từ đó mấy thầy chú mới có cớ ép buộc đám Kiến thợ tự nguyện làm ngòai giờ miễn phí thường xuyên mà không oán trách được do trình độ ngọai ngữ Kiến thợ không đủ để lý giải biện bạch “tay đôi”. Đám tay sai nghẹn họng vì lương không còn sức lên tiếng đấu tranh bảo vệ “người đằng mình”. Nhiều anh chị bị cho “lên đường” oan mạng chỉ vì lương tâm nghề nghiệp buộc họ bất tuân thượng lệnh hơn là vì trình độ kém. Nhiều anh bị đuổi do “gian thần sàm tấu” mà mình không đủ từ vựng để tự bào chữa. Nguyên nhân quái đản hơn là tài mình quá giỏi nên xếp quê độ tống khứ đi cho rảnh mắt để khỏi mất công ganh tỵ. Rốt cuộc chẳng ai thưa kiện được ai vì chứng cớ đều là lời nói bị gió bay mất. Con Kiến kiện củ khoai còn chưa nên thân thì kiện cái gì nữa được? Công cuộc “đánh nhỏ thua nhỏ, đánh lớn thua lớn” cứ kéo dài dài tùy theo nguồn “đạn dược” của ổ Kiến, miễn sao lợi ích cá nhân của mấy Kiến xếp chóp bu không sứt mẻ là được. Có người đồn rằng bên nước ngòai cũng có đường dây “chạy” bằng cho mấy sếp trước khi vào đây hành nghề nên mới xảy ra mấy tệ nạn trên. Chẳng biết có đúng không ?? Trước mắt là một chuyện thật 100% như sau: tại một công ty thiết kế kiến trúc 100% vốn nước ngoài nọ có một ông Kiến Tây chức vụ “Đê-em-mờ” (D.M: design manager) với thành tích trên lý lịch 15 năm hành nghề (nghe kinh lắm!). Cách “binh” bài độc nhất vô nhị của ông là: dùng máy scan mấy công trình kiến trúc trong tạp chí sau đó sai “lính” dùng photoshop xử lý lại ít mắm muối, ghép qua ghép lại làm ra tác phẩm của mình, cũng như lấy nhiều thành phần bản vẽ khác nhau của thiên hạ chế thành bản vẽ mới vừa tăng thêm tính đa dạng về phong cách. Binh bài thì binh từ phối cảnh trước, rồi suy ngược về mặt bằng. Thậm chí còn bắt mấy xì-táp (staff) thể hiện các mặt bằng chi tiết lát gạch nền nhà hay địa hình khu đất quy hoạch bằng phối cảnh thì ông mới chịu đọc (!). Ông có cái bạo gan là bố trí quy hoạch sân tennis hay mấy sân thể thao ngoài trời khác theo đủ tám hướng tùy theo ý thích của mình cho đã mắt. Cái biệt tài này của ông mới ác đạn: giải quyết trường hợp ý đồ bị “lủng” do lỡ “binh” công trình lấn vọt ra ngoài ranh đất. Cách thức đơn giản nhẹ nhàng thôi: cứ tiếp tục “binh” lấn ra ngoài xả láng và giải thích một cách cực kỳ trí tuệ:” Đề nghị của nhà thiết kế: yêu cầu khách hàng mua thêm phần đất bên cạnh như vầy… như vầy … theo bản vẽ này để tăng giá trị của công trình mới”. Hay chưa? Đã vậy sẵn quyền sinh sát trong tay nên hể bị “bể ổ” là ông luôn đổ thừa lỗi cho cấp dưới rồi đuổi người như ngoé khiến nhiều anh chị tài giỏi đều bị nhục vì mang tiếng oan là bất tài không ít… Ở bên VN mấy “kiến ngoại” không nhiều nên ai có nhu cầu tìm gặp ông này để trau đổi kinh nghiệm thì cứ hỏi thăm dần là tìm được ông ngay. Mấy Kiến buồn đời kể chuyện ra ngoài để dãy bày tâm sự lại bị thiên hạ chê là xạo vì ai cũng tưởng đã là công ty “ngọai” thì phải đàng hòang hơn công ty “nội” nhiều (?!).

Tức khí sanh tình, lợi dụng tính chiến đấu của thơ văn mà có mấy bài thơ được vài Kiến thi sỹ mô tả lại kiếp nạn của dân Kiến “khố đỏ, khố xanh”:

 

Ai ơi ! Vẽ lụi cho mau !

Xếp cần phối-cảnh làm câu trau mình.

Scan tài-liệu công-trình khắp chốn,

Chép CD ảnh bốn phương trời,

Thu gom chi tiết nơi nơi,

Xì-keo (scale) từng bộ-phận rời ghép vô.

Photoshop chơi trò mà mắt,

“Mắc-3D” (3D-Max) thêm-thắt đại tài.

Công-trình tứ xứ về đây

Như hoa đậu trái, như cây thêm cành.

Theo trường-phái “Ngoại Tình Kiến-trúc”

Lắm “con rơi”, bức-xúc anh em.

Làm đêm thân xác rã mềm,

Sáng ra đổi ý, kéo thêm tới chiều

Mặc ai nấy tiêu-điều mỏi mệt,

Tiền ngoài giờ, xếp đếch xì ra,

Việc thì trây líp ba-ga,

Trây lui trét tới, trét qua trây về.

In khổ lớn, ép-phê cuồn-cuộn,

Giấy photo ấn-tượng sửng-cồ.

Giao-thông phối-cảnh sơ-đồ,

Mô-hình cơ-cấu, họa-đồ dọc ngang

Anh phối-cảnh kinh-hoàng thiên-hạ,

Đủ mọi “viu” (view) thấy cả đề-tai (detail),

Châm vào mắm muối lai-rai,

Cứ theo “mửng” ấy, đúng bài là êm…

…xuôi theo kiểu “xêm xêm lai thít”               (same same like this)

Xếp nhà ta là “típ” anh tài,

Xẻo-xui “bể ổ ” tầy-huầy,

Đổ thừa ai đó, cho ngay “lên đường”

“Người thay của” chuyện thường ở huyện.

“Của hơn nguời” hết chuyện lạ đời.

Dựa theo phối-cảnh tuyệt-vời,

All you! See that, mau ngồi triển khai!

“Im-mê-điát! Tu-đai, đu-ít!                             ” Immediate , today, do it !

Thít uyệc-giăng! Phi-nít tu-nai !                      This urgent ! Finish tonight !

Bic-gơ ! mo đạc ! mo lai!                                 Bigger ! More dark ! More light !

Cất hia ! pát thít ! thát rai,… Ố-kề !               Cut here ! Paste this ! That’s right , OK !

Tú-đờ xuýt, stốp-pê men-nẳng!                       Tout de suite, stoppez maintenant !

Đề-mẹc-đê, giơ mẳng phú xa !                       Demerdez, je m/en fous ca !

Tu phu xơ truyếc là ba !                                  Tu fous ce truc là-bas !

Vẻng xi ! xken vít puộc moa xơ là !                Viens ici ! scannes vite pour moi celà !

A-lê vít ! Pát xà oong nốt!                              Allez vite ! Passes à un autre !

Phu troa-đê ken giốt ốp-xông !…                   Fous 3D quelques autres options ! …

Sa-lô ! Mẹt !Tú lơ mông !                                Salaud ! Merde ! Tout le monde !

Tút en-ca-páp đờ com-prăng-drờ !”               Tous incapables de comprendre !”

Thầy Đội giận, chửi xơ chửi xói,

Đếch lạ chi “nhất Đội nhì Trời”!

Tay thì trây việc rối bời,

Mồm phun mắm muối chẳng thôi bao giờ.

Mùa cao điểm nổi lo không dứt,

Tìm Cập-rằng phụ giúp thầy Cai,

Tuyển dân kiến-trúc sắc tài,

3d, Phô-(tô)-sốp để xài dài lâu…

Khiến lắm kẻ lo sầu méo mặt,

Tựa cung phi nhan sắc “về chiều”

Hết thời, thất sủng hẩm-hiu,

Lãnh cung rộng mở, đìu-hiu tháng ngày…

“Cục cưng mới” xếp xài mửa mật,

Xếp ra “quần”, vô “quật” tới lui,

Thừa cơ, Cai “dí” túi-bùi (túi-bụi),

Dựa oai, chấm mút dưới đuôi quan thầy.

Búa-xua cảnh tối ngày “sa-rết”(charette)

“Tống” việc xong, mới biết mình hay,

Kèm theo sản-phẩm dẫy đầy,

Nhân viên ai có dám xài hay chăng?

 

Một bài khác:

“Chợ trời thiết kế” biết hay chưa ?

Ngất ngưởng “lầu xanh” (*) trọn bốn mùa.

Làm đêm miễn phí bao nhiêu bận ?

Của ở người đi đã mấy phùa ?

“Cải tạo thiết kế ” khi nát bét.

“Cấp cứu công trình” lúc te tua.

Khố đỏ, khố xanh, đây, đủ cả,

Cập-rằng, Cai, Đội “quất” từa lưa.

 

(*) vì bấy giờ công ty ấy thuê mặt bằng tại một cao ốc sơn màu xanh.

 

Có thêm một bài vè đang lưu truyền:

Chuyên môn là ta,

Ba hoa là xếp

Khó khăn trùng điệp,

Giải quyết mặc ta

Xếp ưa đàn bà,

Ta là đàn ông.

Xếp “binh” lòng vòng,

Ta làm bỏ mẹ,

Xếp ưa ọ ẹ,

Ta buộc lắng tai,

Xếp biết mình sai,

Ta đã bị bay … “lên đường” vĩnh viễn !

 

Với cách này thì mới hy vọng thiên hạ ai cũng thấu hiểu và Kiến nào cũng “thấm dần kinh nghiệm vào đầu” rồi liệu mà giữ mình sau này…

Chuyện đời Kiến viết không tài hết dù dùng sạch cả rừng trúc Nam Sơn. Lấy hết nước biển Đông cũng không gột hết nỗi nghiệp chướng đeo đẳng dân Kiến.

 

Ôi thương thay !

Mà vẫn có người say mê Kiến trúc và lỳ lợm dấn thân vào.

 

Je ne regrette rien,

J’avance.        

(Eluard)

 

Quả là thật đáng phục những người ấy !

 

Kiến Lửa. (4-2004)

 

Bắt đầu viết 3-3-2004 lúc giờ Thân (Ðịa-Thiên Thái – Ðịa-Trạch Lâm). Viết xong sơ bộ ngày 17-3-04. Hoàn thành ngày 22-4-04. Lúc giờ Hợi (Ðịa Lôi Phục – Thuần Chấn).

 

Trân trọng biết ơn nhiều đồng nghiệp đã tậm tâm bổ sung ý tưởng cho bài.

“Sự thật luôn bị che dấu nhưng vẫn tồn tại mãi mãi ” . Chuyện kể chơi rủi có sai cũng không ai chấp vì mục đích chỉ mua vui mà chẳng hại ai, không có ý xuyên tạc bất cứ ai. Tác giả hoàn tòan không chịu trách nhiệm khi có kiện cáo về những việc trên.

Chuyện kể về Kiến Trúc (3/4) – Kiến Lửa.

Hồi thứ ba:                 Phùng xoè phối cảnh, thân chủ mê ly,

                                    Hù dọa 3d , bà con kiêng nể

                                    Vì ham của rẻ, trúng bả Thầu gian

                                    Thấy giá ngon ăn, dính mồi Kiến tặc.

 

Sau nhiều năm trường Kiến ta hoan hỉ thu tiền nhận sinh viên thả cửa để đáp ứng nhu cầu bằng cấp của thiên hạ thì ngành kiến trúc lại chuyển tới thời kỳ suy bại về lương tâm nghề nghiệp. Các sinh viên ra trường xâu xé tranh ăn dành “độ” dành “khứa” ì xèo trên cơ sở “tiền nghĩa” rồi tha hồ mà “binh lụi, xây ẩu” gây mất niềm tin sâu sắc ở khách hàng. Tội cho những anh Kiến làm ăn chân chính chán nản buộc lòng phải bỏ nghề lui về nhà ăn lương vợ.

 

Sử nhà Kiến chép rằng:

Tổ Kiến trúc ngày xưa đã tiên đóan đến chuyện này nên buồn rầu ghê lắm vì thấy mình không giúp gì được. Thôi thì “gặp thời thế, thế thời phải thế” biết làm sao. Mà giúp bằng cách nào thì Tổ còn bí tít-tìn-tịt huống chi ai khác.

May thay, nhờ lòng thành khẩn chai tịnh cầu quỷ thần, Tổ đêm nằm mộng thấy Vương Thúy Kiều hiện lên nói:

 

Này anh thuộc lấy nằm lòng,

Vành ngòai bảy chử, vành trong tám nghề.

 

Em làm được thì ai chả làm được.”

 

Rồi Kiều bất thần nhào vô ôm đại Tổ khiến Tổ giựt mình té lăn cù xuống đất mà thức dậy.

Tổ thấy điềm lạ liền bấm tay tính được quẻ Dịch là “Hỏa Địa Tấn” hóa “Lôi Địa Dự” dựa theo điềm mộng:

 

Kiều nhảy vô ôm mình (Tấn), mình hỏang hốt (Dự) té lăn cù (Tấn).

Việc này sẽ tương quan tương hợp với ý nghĩa:

Cứ liều mạng làm ăn đại (Tấn) thì nổi danh (Dự) như sóng cồn (Tấn).

 

Liền sau đó nhớ lại câu “Vành ngòai bảy chử, vành trong tám nghề“, Tổ dành hết tâm huyết điều nghiên thêm mắm dặm muối suốt đêm để viết ra một cẩm nang gối đầu truyền cho các Kiến đời sau. Hiệu quả của cẩm nang thần sầu tựa hồ “Tịch Tà Kiếm Phổ” trong giới giang hồ võ hiệp.

 

Đây, nguyên văn do Tổ viết:

 

” Thời thế nhiễu nhương, làm ăn thất bát. Nhân nằm mộng thấy Thúy kiều giáng hạ chỉ bảo, ta viết cẩm nang này hầu truyền cho hậu thế làm kế sinh nhai.

Kiều:

            – Bảy chử tám nghề,

Nếu chàng không chê,

Em xin chỉ giáo..

Nhân đấy, Ta hỏi:

           – Ta xin thọ giáo,

Vậy nghĩa là sao ?

Kiều giảng:     – Bảy chử nghĩa là:

–           Nổ                   Múa mép “cương” hết ga, rù quến thiên hạ để bắt công trình.

–           Lụi                 Vẽ “lụi” hồ sơ để dành khách trước rồi tính sau.

–           Ghép               Ghép các chi tiết kiến trúc công trình khác thành kiến trúc của mình.

–                              In phối cảnh, làm phim 3D cho le lói cho khách “rét” ý đồ mình.

–           Chôm              Bí mật “ẵm” bản vẻ chổ khác về phô-tô lại làm tác phẩm của mình.

–           Chế                 “Luộc” công trình cũ thành công trình mới để xài tiếp.

–           Tẩu                 Biết “chạy” khi thiết kế hay thi công bị “bể ổ”.

Ta khen:

            – Quả là hay vậy !

Tám nghề còn lại,

Xin giảng tận tường..

Kiều giảng:    

– Tám nghề tức là:

 

–           Thiết kế dân dụng.                

–           Thiết kế công nghiệp.

–           Thiết kế quy họach.   (3 nghề này trường Kiến trúc đã dạy)

–           Thiết kế phối cảnh     (Binh phối cảnh cho đẹp để câu khách).

–           Quảng cáo dự án       (Phô trương dự án áp đảo thiên hạ) .

–           Lắp ghép kiến trúc     (ghép nhiều chi tiết bản vẽ khác vô thành hồ sơ của mình).

–           Cải tạo thiết kế          (Sửa chửa hồ sơ bị vẽ “lụi” ).

–           Cấp cứu công trình   (Khi thi công bị tê liệt do vẽ “lụi”, phải chỉnh sữa khẩn cấp).

Ta khen:

            – Quả thật là hay.

Kiều giảng:    

– Đó là những bí kíp chân truyền. Dân Kiến ráng tu luyện thiết kế lâu năm tất có người lên làm vua như vua nhà phố, vua biệt thự, vua bếp, vua vệ sinh, vua phối cảnh, vua mô hình… Tệ lắm cũng là một Đại Kiến Trúc Sư. Chứ sự học thì vô cùng tựa Đông Hải. Em không tài nào một đêm mà giảng hết vậy.”

 

Cẩm nang làm sáng mắt biết bao nhiêu chàng Kiến và là một diệu kế xóa đói giảm nghèo cho cả râu ria tộc họ nhà Kiến hai cẳng. Chẳng làm lạ khi thấy bụng Kiến Chúa nào cũng ngày càng phệ do được bầy Kiến Thợ tận tình cung cấp bia bọt, em út thừa mứa quanh năm …

Chuyện của Tổ còn nhiều nữa, ấy là chuyện về sau…

Vì cạnh tranh gay gắt với các đồng nghiệp nên họ Kiến phải học thêm mọi thủ thuật để mà tồn tại. Để thuyết phục đám khách hàng chưa rành về chuyên môn là dùng phối cảnh. Ngày xưa nhà trường cũng đã tinh ý dạy phối cảnh cho mọi người nhưng nói trắng ra là để câu khách thì quá sống sượng nên không ai dám tuyên bố hụych tọet. Anh sinh viên ban đầu phải rị mọ tập dựng hình, tô màu., tỉa chi tiết bản vẽ phối cảnh. Trước áp dụng cho đồ án của mình. Sau đó là thỉnh thỏang bắt mối bên ngòai để kiếm thêm chút đỉnh. Nhiều ông cũng dấu mấy tuyệt chiêu không cho bạn bè biết dù chỉ là mẹo vặt. Ngày ấy vẽ một phối cảnh cũng được lắm tiền nên có anh chỉ vẽ thuê chơi chơi mà bạc tiền rủng rỉnh.

Càng về sau, khi càng văn minh thì thiên hạ lại càng làm biếng tư duy do quá ỷ lại vào phương tiện khoa học kỹ thuật, nên dần dần bản vẽ khó được khách hàng hình dung nổi và phối cảnh càng thêm cần thiết để nói chuyện với thân chủ. Thay vì vẽ nghiên cứu kỹ lưỡng cả mấy ngày về một mặt bằng kiến trúc, người ta chỉ vẽ sơ sịa cũng ra một phối cảnh thật đã mắt vừa sướng hai tay, chất lượng thừa sức bỏ bùa mê hoặc khách.

 

Nhớ ngày trước có thầy tên Th. đã dạy khai tâm SVKT như sau:

 

“Khi người ta bịnh, thì người ta tìm tới Bác sĩ. Khi người ta có tội, họ cầu khẩn Luật sư. Hai vị này hét bao nhiêu tiền thì khách cũng phải chạy trả cho đủ vì họ không cần khách mà khách cần họ. Ngược lại, khi người ta giàu có sung sướng họ mới tìm đến Kiến trúc sư. Vì thế họ coi Kiến trúc sư không ra ký lô nào hết. Kiến trúc sư cần tiền nên phải dùng hết bản lĩnh của mình mà cố gắng chinh phục thân chủ “.

 

Từ khi có máy vi tính thì công việc KTS Kiến trúc sư thay vì dễ dàng hơn, đàng này ngược lại càng thêm mệt mỏi phức tạp do dùng sai mục đích. Người ta dùng vi tính để “binh” công năng cho lẹ trong khi ở bên chúng ta thì dùng để thiết kế mỹ quan đầy râu ria mắm muối mà chinh phục khách. Mà muốn như vậy thì KTS phải mất giờ học nhiều thủ thuật đồ họa không ăn nhập gì với kiến trúc để pha chế trong khi thời gian đầu tư vô ý tưởng cũng chẳng khá hơn bao nhiêu. Các phối cảnh nhờ vậy được sản xuất hàng lọat ở mỗi công trình. Gặp phần mềm Photoshop hổ trợ nên anh em có thể ghép công trình người khác làm của mình, thậm chí ôm luôn một hay nhiều phối cảnh nào đó scan từ tài liệu bên ngòai, “luộc” lại một ít bằng ánh sáng, “mông má” thêm màu sắc là có tác phẩm mới đỡ mất công “binh” tới lui mất thì giờ. Thêm máy in tối tân làm cho chất lượng tác phẩm đẹp hơn thực tế hỏi khách hàng nào không khóai mà nhắm mắt ký hợp đồng cái rẹt? Gặp khách hàng khó, thì vẽ thêm phối cảnh công trình vào ban đêm lung linh đèn đóm hay hàng lọat phối cảnh khác từ trong ra ngòai nhà lẫn từng chi tiết phóng to để thôi miên khách cho lẹ. Đụng nhiều độ lớn thì đòi hỏi công phu cao hơn. Lúc đó máy vi tính phải làm việc ngày lẫn đêm để sản sinh ra một bộ phim phối cảnh hòanh tráng nếu trời thương đừng chơi cúp điện bất tử. Có lúc nhà Kiến còn phải chi tiền cho chuyên gia làm thêm mô hình lộng kiếng kiêu sa để khách sờ mó tận tay mà yên tâm. Đó chỉ là giai đọan đầu để dành khách.

Giai đọan tiếp sau thì bắt buộc phải khai triển kỹ thuật sao cho nó khả thi và hợp lý. Anh nào lơ mơ khâu này thì coi như mất cả chì lẫn chài. Thông thường vì ham dành khách mà vẽ phối cảnh bất chấp kỹ thuật. Đến khi vẽ vô kỹ thuật thì mọi cái tệ hại mới lòi ra. Lý do ban đầu là vì mặt bằng binh “lụi” cho có nên về sau hậu quả khôn lường. Thêm khổ một nổi là dân bên ngòai không thèm nghe lời ông KTS chân chính mà khóai nghe lời mấy cha hàng xóm hay đặc biệt là ông thầy địa lý dựa trên cơ sở mấy tạp chí Kiến trúc lá cải đủ lọai bán tràn lan bên ngòai. Nghe mấy chư vị đó bàn ra bàn vô vài lần thì tinh thần chủ nhà lung lay rồi tự xây theo ý mình.

Nhắc tới mấy ông thầy địa lý thì nhiều chuyện lắm. Vì học thuyết Đông phương dựa vào “hình – lý – khí – số”. Nếu có 1 trong 4 yếu tố không đạt thì coi như kết quả sai. Chưa kể rằng tính “Đồng nhi Dị – Dị nhi Đồng” (giống mà khác, khác mà giống) và tính “biến hóa” được ít ai thấu hiểu tận cùng. Khác với Tây phương, lý Đông phương không thể dựa vào công thức đầy tính máy móc để gọi là “nghiên cứu”. Mà cái “lý” thì ít ông thầy nào dám đề cập tới. Vì để thuyết phục thân chủ, mấy thầy ưa dùng “số” bằng cách tra sách thì có chứng cớ cho chủ nhà tin lẹ hơn. Chỉ ông nào thật cao cơ mới dám dùng đủ “hình – lý – khí – số”. Phần vì tính “Đồng Dị – Biến Hóa ” nên chẳng ông nào coi giống ông nào. Mỗi ông có phương pháp áp dụng “liều” nặng hay “liều” nhẹ theo ý riêng mình. Gặp chủ nhà nào ham coi nhiều thầy thì cứ phân vân và thay đổi ý kiến xòanh xọach làm KTS không biết đường nào “binh” cho yên ổn. Có ông thầy bày đặt lập trình vi tính để dễ thuyết phục khách và có lúc còn dám tự ý thiết kế và bắt KTS đem ra khai triển xong rồi ông ngồi sửa lại kích thước địa lý của từng chi tiết cho phù hợp ! Chỉ nói cây thước địa lý thôi mà thị trường có khỏang trên 5 cây với kích thước khác nhau, hỏi biết lựa cây nào gọi là chuẩn? Rồi cách trấn yểm mỗi ông chơi mỗi khác riết thành ra đá nhau làm thiên hạ càng mất niềm tin vô các môn học Đông phương mà vẫn nhắm mắt u mê dùng “trật thuốc”. Rồi thêm thầy bùa, thầy ngãi, thầy mo, thầy chùa, thầy cúng… thiệt giả tùm lum quần thảo chủ nhà kéo theo KTS bị vạ lây. Thơ rằng:

 

… Thầy địa lý thỏa tài sáng chế,

Thước Lổ Ban được thế ra oai

Cửa trong cho tới cửa ngoài,

Hướng nhà, hướng bếp, chiều dài cầu thang…

“Sinh Lão Bịnh…” số thang đếm bậc,

“Càn Khôn Ly…” hướng mặt của giường,

Từng ly tấc chớ coi thường,

Đi cầu đúng hướng, ra đường đúng phương (!)…

 

Khi căn nhà xây xong thì KTS cũng không dám nhận làm tác phẩm của mình dù khách có thể vừa ý khen không ngớt. Nhìn lại phối cảnh bảo đảm cũng chưa chắc giống thật là bao. Hên thì coi như ông KTS ấy được khách hàng vừa ý mà đỡ mất công nghiên cứu. Chưa kể được khách quảng cáo nên nổi tiếng trong thiên hạ. Tha hồ bắt thêm khách nhà giàu khác. Xui thì 2 bên đều lãnh đủ. KTS đổ thừa nói là vì chủ nhà không tuân thủ hòan tòan bản vẽ, nhờ thế cái tội vẽ lụi của “Kiến tặc” được trắng án. Có lúc khách hàng tự làm theo ý mình rồi nói rằng KTS không làm gì cả để kiếm cớ xù tiền hay có lúc lợi dụng một lỗi nào đó để trừ tiền gỡ vốn ít nhiều. Có lúc khách hàng dụ KTS vẽ cho đã rồi sau đó đưa tiếp qua nhiều KTS khác để chắt lọc nhào trộn ý tưởng, rồi ông KTS nào cũng đều bị xù như nhau với lý do là làm không vừa ý. Nên có người nói rằng chưa bị xù tiền lần nào tức chưa là KTS. Gặp sự cố do vẽ lụi không thực thi được trong thi công thì công việc cải tạo thiết kế hay cấp cứu công trình là thường, có lúc phải cầu cứu tới đồng nghiệp khác, Có lúc cũng do lỗi chủ nhà đổi ý bất tử dù đã ký giao kèo thỏa thuận 2 bên. Nhiều công trình hoàn thành với bề ngoài thấy “nét tưng” mà không sử dụng được do nứt, lún, thấm dột vì vật liệu bị nhà thầu hao hớt hay kỹ thuật thầy thợ “tay ngang”, cũng có lúc do KTS binh “lủng” pạc-ti. Có ông thầu dám mạnh mồm nói rằng cứ thêm 10 triệu bạc là ổng sẳn sàng lên 1 tấm sàn dễ ợt ! Bên Kiến trúc thì bạo phổi nói kiểu gì “binh” cũng “tới” láng. Khách hàng là người chịu thiệt thòi nhứt. Cái khổ trong xây dựng là khi khách hàng đã lãnh đủ thì họ mới sáng mắt mà hối tiếc vì không chịu tin lời mấy ông KTS chân chính. ” Sự thật mất lòng” nên mấy ông này cũng chẵng được ai ưa rồi từ đó ế độ dài dài. Tới nước này thì khách không còn khả năng tìm KTS khác giỏi hơn nữa vì gần như sạt nghiệp. Đồn ra cho thiên hạ thì chính mình cũng có lỗi nên chẳng ai dại nói ra cho thiên hạ cười mình thối óc. Thành ra mấy anh Kiến “binh lụi” chụp giựt vẫn có đất sống dài dài. Đám thầu chơi trò “thi công tới đâu binh tới đó” cứ phây phây sống trên đầu mấy khách hàng ngây thơ. Chẳng ai thèm ý thức rằng số tiền lớn trả cho một ông Kiến đàng hoàng vẫn rẻ hơn quá nhiều so với một sự cố hay thiệt hại kỹ thuật nhỏ trong công trình do đám “Kiến tặc cấu kết Thầu gian” quậy mà ra.

Người ta nói rằng để có một công trình tốt trước tiên cần có một sự hòa hợp về ý tưởng giữa KTS và khách hàng như cặp vợ chồng. Mà nhắc tới vợ chồng thì phải đề cập tới cái tệ nạn ngọai tình và con riêng. Cái “ngọai tình-con riêng” ấy trong xây dựng cũng không khác trong tình yêu là bao nhiêu. Việc này gây thiệt hại cho nền kiến trúc nước nhà không ít và KTS hay khách bên nào cũng sẵn sàng phủ phàng công khai cắm sừng bên kia không thương tiếc. Cảnh bên khách nhờ KTS đến vẽ nhà của mình giống như căn nhà X, Y nào đó trong sách hay bên đường A,B. Dĩ nhiên dân Kiến rất tự ái nhưng trước cảnh kiếm cơm nhiều người buộc lòng phải đau khổ tuân theo không chống đối để rồi có một công trình không vừa ý với lương tâm mình chưa kể cũng là lý do để khách tìm cớ quỵt tiền với cớ là tất cả ý tưởng đều do khách đưa ra hết trọi. Hay trong lúc thi công khách tự ý thay đổi thiết kế theo ý người khuất mặt nào đó làm tiêu ma hết ý đồ của Kiến. Ngược lại có KTS ăn cắp công trình ở nơi khác nói là ý tưởng của mình mà dụ khách khỏi mất công nghiên cứu chi cho mệt. Khách, dù có biết, nhiều khi cũng phải nhịn và làm ngơ vì nó cũng “đẹp giai” quá. Tóm lại thì khi công trình hòan tất người ta không thể nào truy ra được một phong cách hay trường phái kiến trúc của nó do bị tính “dị hợp tử” quá nghiệt ngã.

Có cái nhiêu khê như là khi chủ nhà ban đầu không hình dung, dự trù hết tòan bộ mọi chuyện. Trước hết là tiền. Hể đụng một sự cố phát sinh nào thì coi như công trình bị kẹt vốn. Rồi người KTS có lúc phải vẽ lại “cấp cứu” hay chủ nhà tự xoay sở để “chữa cháy” cho vừa hầu bao. Thế là phá sản mọi ý đồ của nhà Kiến. Có lúc chủ nhà không hình dung được không gian của công trình rồi yêu cầu KTS vẽ cho to lên thêm nữa mới thấy “đã”. Mãi tới khi hòan thành thì vỡ lẽ rồi “thầy đổ tớ, tớ đổ thầy” gây nhiều xích mích. Vô số sự cố khác như là luật lệ thay đổi, hàng xóm thưa kiện nhau, tranh chấp, tai nạn lao động … luôn rình rập đe dọa làm phá hết chương trình dự kiến giửa nhà Kiến và chủ nhà.

Chỉ nói về những công trình nhỏ là đủ cho thấy hết mọi vấn đề. Chẳng cần phải mất công đề cập tới công trình lớn làm chi vì báo chí đề cập hòai hòai hàng ngày. Thiên hạ vì quá chú ý chuyện lớn mà quên đi chuyện nhỏ trước mắt mới ra như vậy. Đó cũng là lý do tác giả phải ngứa tay viết vài dòng mong giúp bà con tỉnh ngộ. Mong bà con tha thứ nếu viết có gì đụng chạm. Mời bà con vui lòng xem tiếp hồi sau để biết thêm được chuyện nào hay chuyện đó mà phòng thân.

Chuyện kể về Kiến Trúc (2/4) – Kiến Lửa.

Hồi thứ nhì:              Phòng giáo vụ làm nổi cơn gió bụi

                                    Đời sinh viên gặp lắm nỗi truân chuyên.

 

Báo trước với anh em, hồi này hơi dài, xin chịu khó đọc cho hiểu phần nào cảnh đời sinh viên éo le đủ thứ. Dù nói hòai cũng không hết !

Sau một thời gian đầu lo thủ tục nhập học: cắt hộ khẩu, cắt công nghệ phẩm, cắt sổ dầu, sổ gạo, sổ lương thực… để chuyển vaò trường (kéo dài đến cuối thập niên 1980) thì bắt đầu nhập học. Mấy thủ tục trên dần dần lọai bỏ khi chế độ đào tạo đại trà của trường phát triển sau này. Chương trình học so với ngày xưa không khác bao nhiêu. Có chăng chỉ thêm mấy môn học chính trị chính em, Nga văn, quân sự cho hợp thời đại. Thầy mới khá đông, thầy cũ đa số “ra đi” với mọi hình thức bằng nhiều lý do tế nhị. Sự chuyển hệ làm nội bộ trường hơi lục đục theo đúng công thức của thời “quá độ”. Mấy thầy của “hai hệ” đá nhau âm ỉ. Phe này chê phe kia dốt, hay là chê phe nọ khó khăn kỳ cục… vân, vân. Đặc biệt có trường hợp cô này “chôm” giáo ám thầy kia để dành dạy mấy môn quan trọng, bất chấp mình có chuyên môn hay không, với hy vọng có một chân vô “biên chế ” cho yên bụng. Thương cho đám sinh viên bị nạn “oanh kích tự do” mà lãnh đạn trọn ổ. Nhiều anh học theo “hệ” này tất nhiên bị “hệ” kia đì sát ván cho bỏ ghét.

Tính truyền thống của trường Kiến trúc qua cảnh SV “ne” bài nhau vẫn được duy trì. Khi mà nữ SV đã có mặt trong trường thì việc này lại một phần biến chất thành cảnh “Lê Lai cứu chúa” tức là quân tử xả thân từ vẽ bài “phụ” sang vẽ bài “dùm”cho mỹ nhân tận tình. Nếu trường có bắt trả bài chắc chàng cũng “dốc hết tình này” để trả bài vô điều kiện phục vụ đòi hỏi khắt khe của nàng. Khổ nổi là khi bài mình lo chưa nên thân mà phải lo “ngậm bồ hòn làm vui” ôm sô dùm bài của người khác. Nên cảnh thi rớt “đồng quan đồng quách” là thường tình. Hễ là sinh viên Kiến trúc là biết cảnh:

 

Tiếc thay, anh còn sa-rết hòai, đồ án nợ chưa dứt nên lận đận truân chuyên…” (lời bài hát “Yêu một mình” đã cải biên)

 

Năm đầu tiên vào học, người ta hay nói thiên hạ thường “lọt lỗ chân trâu mà chết”. Vì môn chuyên môn thì học dễ trong khi môn phụ thi cực kỳ gian nan. Có lẽ mấy thầy bị tự ái khi thấy môn học của mình ít ai thèm ngó tới nên phải làm mình làm mẩy tý cho vui dù chẳng “giết” (đánh rớt) ai cả. Có chăng chỉ hù chơi cho vui lần đầu rồi lần sau thi lại cũng cho “qua” tuốt tuồn tuột. Theo hồi tác giả đi học, tác giả cũng phải nhiều phen khiếp vía. Nhứt là môn đại số tuyến tính (năm 1) và tin học (năm 5) của thầy Q. Trong lớp thầy luôn “sạc” lia lịa nếu thấy anh nào có bộ vó học hành lơ mơ. Nhiều “thằng cha, con mẹ” (theo định nghĩa sinh viên của thầy) phải chết rét vừa điếc con rái với những bài toán đúng nghĩa ma-trận. Lúc thi có lúc một lớp (40 người) chỉ có 2 người đậu. Nhưng thi lại lần 2 thì ai nấy cũng đậu tệ lắm là 5vv (5 vớt “vớt”). Vậy mà ai cũng thương và nhắc tới thầy hòai , chỉ vì cái “Tâm” thầy tốt.

Trong các phương pháp dạy học thì ngòai lý thuyết và thực hành, để sinh viên có thêm kinh nghiệm ngòai đời , một sáng kiến một phương pháp vô tiền khóang hậu được giảng dạy một cách âm thầm mà ít người ngòai biết: môn “Hậu Quả Xây Dựng”. Người sinh viên không cần biết thầy mình là ai, không cần thi cử, chỉ cần nhìn rồi từ từ “ngộ” ra chân lý. Chẳng có ai phát minh hay tìm ra môn học này. Tất cả đều được phát hiện một cách ngẫu nhiên. Lịch sử của nó như vầy:

Từ ngày khối phòng học đầu tiên được xây vào năm khỏang 77 với một thời gian đáng kể gần 2 năm.. Sau khi thi công xong thì công trình bị thấm dột đủ thứ giúp cho đám Kiến con có thời gian dài chứng kiến học hỏi mọi thứ tệ hại trong xây dựng để sau này liệu mà tránh. Đúng theo nguyên tắc kiểu binh thư Tôn Võ: “Nếu không biết cái lợi nên làm thì cũng nên biết cái hại để mà tránh”. Một thầy buộc lòng phải giải thích huỵch toẹt cho đệ tử: ” Không phải nhà trường không biết cái sai nhưng nhà trường vẫn cố ý làm sai để chỉ dạy cho mấy anh tường tận đó !” Hay chưa?

Chưa hết, năm 1983, sẵn dịp một sản phẩm do chính trưòng ta thi công bên đại học Kinh tế bên cạnh bị sập chết người vừa sau khi gỡ cốp-pha gây chấn động dư luận, anh em sinh viên được dịp hiếm có học một kinh nghiệm ngàn vàng và cũng được “dợt” qua nỗi kinh hòang do “bể độ” để tập luyện giử vững tinh thần cho quen, cho biết với người ta. Người viết không gọi việc này là sự cố hay vụ án vì kết quả chẳng thấy vị chóp bu nào đi tù cả . Vì yếu tố bền vững trong nguyên lý đã là chân lý và chân lý thì bắt buộc phải đúng ở khắp nơi. Còn vị nào bị đổi công tác thì tức là được lên chức đổi đời nhanh chóng. Phải chăng đây là cách để trả công “khéo” cho một ý tưởng mới trong giảng dạy, một cống hiến to lớn vào sự nghiệp xây dựng ???

1989, không biết có một ông nào nổi hứng chính thức đưa ra luật “cấm ne” kèm theo thêm quy định chỉ cho sinh viên trả nợ trong 2 ngày bất kể đồ án lớn nhỏ. Việc đã làm cho mấy thầy lão làng chân chính phản ứng không ít. Chỉ tiếc một điều là vì mấy lão không còn quyền hành như xưa nên kết quả chống đối chỉ là một cuộc “diễn tập đấu tranh” sương sương không thu kết quả gì. Sinh viên lãnh đủ một trò “thí nghiệm chiến trường” của phòng giáo vụ mà chẳng thấy ai dám can thiệp vô vụ cứu giúp. Trong họa thất thỉnh thỏang có sự “càn quét” của nhân viên giáo vụ đi bắt mấy anh “ne chui”. Rồi còn thêm cái trò hú nhau làm ám hiệu khi thấy “giặc tới” để rồi mấy “ne chui” hè nhau chạy trốn như trò chơi “dọn dẹp lòng lề đường”. Thương chú S. hồi đó quản lý họa thất thấu hiểu truyền thống xưa nay của dân Kiến mà lắm lúc thông cảm nhẹ tay với mấy “ne”. Chú không bao giờ nặng tay với ai cả mà lại luôn phải nhẫn nhục chịu mang tiếng là “tay sai” của giáo vụ. Dù bề ngoài thì lâu lâu thấy chú “hù dọa” làm oai cho lấy lệ. Từ từ riết rồi sinh viên ai cũng biết và trở nên rất quý chú. Một anh sinh viên khóa k88 có câu định nghĩa chữ “KTS” trên sân khấu trong đêm truyền thống năm 1990 như sau: anh em lúc đầu trong họa thất “Kỵ Thầy S.” và riết rồi từ từ “Không Thấy Sợ” là thế. Tuy vậy có một thầy rất sốt sắng trong vụ “bắt ne” này cũng như nổi danh trong nhiều thành tích, phi vụ khác. Đến nỗi có thơ rằng:

 

Tiếng đồn thầy Ng. rất tài năng,

Thi cử mấy phen lấy một bằng,

“Hệ B” chạy chọt bao nhiêu đứa?

“Họa thất” tru di mấy chục thằng.

Bợ mông giáo vụ tay còn dấu,

Đè cổ sinh viên oán chửa tan.

Tưởng nhớ công thầy ghi mấy chử:

“Đ.M. thầy Ng. “viết trên tường !

 

(Năm 1993 nhiều thầy và trò có thấy trên cửa một họa thất có hàng phấn viết nguyên văn như vậy. Nghe kể lại rằng báo hại chú S. phải lo tìm cách xóa cho được hàng chử oan nghiệt ấy !)

 

Sau dần thì cả vụ “cấm ne” và trả nợ chỉ trong 2 ngày” được âm thầm bãi bõ dần vì bỏ liền lâp tức thì mấy ổng thấy quê độ khi tay đã nhúng chàm ! Phải chờ có một “ông con” nào đó vào học mới có cái cớ để “cải cách sửa sai”. Chuyện về sau sẽ biết.

Trước cảnh nợ nần khó chi trả cùng với nhu cầu giúp tăng thu nhập của mấy ông thầy, năm 1990, mấy ông ban giám hiệu, nhứt là phe phòng giáo vụ, tài vụ đã sáng tạo một giải pháp tới ngày nay vẫn còn hiệu quả và siêu lợi nhuận hơn cả dự tính: Đóng tiền với cái gọi là “Lệ phí trả nợ đồ án”. Nó áp dụng luôn trong việc thi lại các môn học. Giá khởi điểm tối thiểu của nó là 4000 đồng/lần. Đến nay năm 2003 nó đã tăng hơn 10 lần vì nhu cầu ngày càng cao của sinh viên và nhà trường. Do vậy, các sinh viên có giỏi thì cứ thi rớt nếu có tiền đóng và thầy thì mỗi lần đánh rớt thì có dịp sửa bài trả nợ mà cải thiện đời sống. Vì có sửa bài thì giáo vụ-tài vụ-thầy đều được hưởng ăn chia theo tỷ lệ phần trăm (ban đầu là thầy 75%, trường 25%). Hỏi ai chê không thèm làm ? Trò thì hể đã đóng tiền thì thi trả nợ cũng dễ “qua”. Thầy-trường lỡ ngậm tiền phải ráng công chấm bài lo thủ tục , sổ điểm… cho đáng đồng tiền bát gạo. Nó tạo điều kiện khuyến khích nhiều thầy thêm hăng say “múa bút tựa múa đao” chấm bài lẫn ký sửa bài trả nợ với sự “ủng hộ” tận lực của các phòng ban trong trường. Có thầy chỉ cần ký bài trả nợ để khỏi mất công sửa bài dây dưa, rút ngắn công đọan cho khỏe anh em và kinh tế của mình cũng được mau cải thiện một cách hợp pháp. Mấy sinh viên Kiến cũng lợi dụng nước đục mà luồn lách. Mỗi lần trả nợ có thể mượn bài của anh nào đậu để chép “nguyên con” cho chắc ăn. Thêm nửa là đã từ lâu nay có sẵn chủ trương rút ngắn xóa bỏ dần ranh giới giai cấp giữa thầy và trò nên vấn đề tình cảm thầy-trò có dịp thể hiện thêm thắm thiết một cách trơn lu qua quà cáp, yến tiệc đầm đìa bia bọt cùng mấy khỏang “tứ khóai trần gian” khác.

Nói vậy chứ cuộc đời còn lắm ngọai lệ. Một hai ông thầy bà cô thấy ăn tiền kiểu này thì sượng quá nên vô giáo vụ và xin từ chối nhận số tiền ấy. Nhưng trò thì vẫn bị buộc phải đóng y số cho đúng luật, còn thầy có chịu lấy tiền hay không thì trò đừng thắc mắc mà mang họa. Cũng còn nhiều ông thầy vì lương tâm cắn rứt khi sợ cảnh học trò mình “mua bằng” nên lâu lâu cũng ra tay trị thẳng cánh một lần trò biết mặt. Cuối năm 1991, khóa k89 (trên 100 người) đã chịu một kỷ lục “rớt” về chuyên môn mà từ sau 1975 chưa thầy nào phá nổi. Đồ án “nhà an dưỡng” lần ấy theo luật của trường thì phải được ít nhứt hai thầy chấm mới hợp pháp. Thầy H. và một đồng nghiệp khác chấm xong cất kết quả vào tủ (rớt khỏang 3/4) chưa kịp đưa cho giáo vụ thế mà hôm thứ hai đầu tuần đã có kết quả khác chính thức đăng lên trước với tỷ lệ đậu 3/4. Sự việc làm hai thầy phản ứng lên tận hiệu trưởng vì có kẻ “chơi qua mặt”. Sau khi thưa kiện lung tung cuối cùng thầy L. trưởng bộ môn yêu cầu khóa 89 nộp lại bài củ và đích thân chấm lại với kết quả ban đầu của hai thầy gần như không đổi bao nhiêu. Nguyên nhân chỉ vì thầy K. “nổi máu nghệ sỹ” vô chấm riêng một mình sau khi hai thầy kia chấm xong và đưa bảng điểm lên phòng giáo vụ trước. Đám sinh viên cả trường từ ấy phải kiêng nể thầy H. và mấy thầy khác nói chung sau trận đánh rớt phủ đầu ấy. Khắp nơi đều lên tiếng rên siết vì trong vòng gần 15 năm chưa thầy nào to gan dám “giết” sinh viên hàng lọat như vậy mà không sợ bị nhà trường rầy. Nhiều “ngư ông đắc lợi” nhờ cái luật “đóng tiền trả nợ” sau đó… Cứ hỏi mấy anh chị K89 “cựu nạn nhân” thì biết rõ hơn.

Có một thầy khác chơi trò áp đảo học trò bằng “tâm lý chiến” bằng cách nổ cho trò sợ tài năng của mình để liệu mà bắt chước. Thầy bảo rằng trong một đêm thầy có thể binh hàng trăm phương án quy họach, tốn hết 3 cuồn giấy calque. Mỗi cuồn 40 thước (?!) đàng hoàng. Thế là hết ai dám coi thường oai mấy thầy trường ta.

Trong khóa k8… một anh nọ học “quá ể” nhưng vì có ông già tía có mối quan hệ rộng trong trường nên mấy thầy cũng phải nể mặt mà nâng đỡ . Nếu chấm thẳng tay thì tội, chấm đậu vớt thì thương ông già bị quê độ. Chấm đậu cao càng không có cách chi lý giải. Thôi thì mấy thầy mới dùng giải pháp cho đậu khá nhưng nhẹm kín đồ án đi với lý do “xin lưu lại bài để tham khảo ý tưởng mới lạ” (!). Ai bảo thầy nào cũng xấu vì tánh ham đì trò ?

Tình trạng “giết lầm không bỏ sót” bị nhiều anh em ta thán mà không ai để ý. Một lần, không biết mấy thầy bị “Tổ trác” mà mắt thế nào mà đánh rớt nhiều đồ án công nghiệp một cách khó hiểu. Có một bản vẽ trong đó nhiều chi tiết khai triển bị gạch bỏ với lời phê “cấu tạo chưa từng thấy”. Tác giả đồ án đã tuyên bố chi tiết ấy đã được chép nguyên xi đúng bài trong sách cấu tạo của Mittag. Chỉ biết rằng bài trả nợ của anh sau này y chang bài củ thì lại đậu. Về phần đồ án quy họach thời ấy đã có một luật bất thành văn: “Nhà phải bắt buộc 100% quay về hướng nam, trường học thể hiện trên bản vẽ phải có dạng chiếc quầh xà lỏn mà không được dạng khác, trường đại học cấm không được có sân bóng chuyền …” Anh nào không nghe dù giỏi thế nào cũng bị rớt. Vậy mà riết cả lớp buộc lòng phải vẽ theo như cái “luật bất thành văn” làm cho bài ai nấy cũng gần giống nhau , chỉ khác lối diễn họa và tên tác giả. Kết quả có anh này đậu anh kia rớt khác nhau mà tới nay chẳng ai lý giải được. Chưa, còn nữa, nhiều đồ án được đậu cao chỉ nhờ phối cảnh đẹp mà “pạc-ti” mặt bằng “binh” chưa tới. Trong khi mấy anh nào chịu khó nghiên cứu mặt bằng hòan chỉnh thì kết quả khiêm tốn hơn, có lúc lại bị 5v xém rớt. Đó là ý đồ sâu xa của thầy cho mục đích lâu dài về sau. Trường hợp không biết thế nào mà có lần một thầy hướng dẫn đọc bản vẽ hòai không ra trong nhiều lần sửa bài làm mấy anh học hành nghiêm chỉnh còn phải rét vì sợ bị rớt oan; có anh phải chạy đi năn nỉ thầy phó bộ môn lên họa thất làm bộ đi coi chấm bài để có gì “cứu khổ” dùm. Lâu lâu cũng nghe chuyện nhiều bài thi giống nhau như đúc song kết quả thì kẻ đậu người rớt khác nhau.. Chẳng ai giải thích được, kể cả chính mấy thầy chấm bài.

“Vỏ quít dày móng tay nhọn”. Để đối phó với việc thi cử, các phương pháp phổ thông như là “quay phim” hay năn nỉ thầy… thì xưa như trái đất. Có năm trường hợp đối phó thần sầu đầy tính sáng tạo, xin kể lại để anh em tham khảo nghiên cứu, đừng ham bắt chước vội:

Truờng hợp thứ nhứt, một thầy dạy môn nọ (xin dấu tên để bảo vệ nhiều người) nổi tiếng đánh rớt sinh viên. Để được “qua phà” an tòan, một anh Kiến nọ chắc cũng kiến thức lịch sử khá dồi dào bèn áp dụng nguyên xi trò Mỵ Châu – Trọng Thủy bằng cách cặp bồ với con gái của thầy là ăn chắc ! Thơ rằng:

 

Tôi kể ngày nay chuyện Mỵ Châu,

Trái tim đúng chổ để trên đầu,

Đề thi ăn cắp đưa Trọng Thủy,

Biết bao chàng Kiến đội ơn sâu…

 

…vì nhờ thế mà thi cử “qua phà” êm đẹp cả !

Trường hợp thứ hai, môn Nga văn vốn là nỗi sợ hãi của nhiều anh chị. Kỳ thi quốc gia lại vào năm thứ 5 trong khi tất cá anh em lại quên sạch vì khóa Nga văn kết thúc giữa năm thứ 3. Dù thầy cô tận tình dạy ôn lại nhưng kết quả chẳng ai nhớ gì ráo. Trong lần thi quốc gia của khóa k87, một chị trong lớp liều mạng tuồn đề ra cho một cao thủ bạn bên ngòai làm xong thì lén thảy vào cứu được gần trọn cả lớp K87 (chỉ có vỏn vẹn 1 – 2 anh rớt) . Cô T. lần ấy phải thắc mắc tại sao mấy anh làm bài giống nhau quá? Nếu cám ơn anh cao thủ nọ thì tòan thể SV cũng hết lòng nhớ ơn cô T. đã sáng suốt thức thời cứu vớt dân nhà Kiến, không bao giờ ác tâm trù dập bất cứ anh em nào.

Trường hợp thứ 3 ly kỳ không kém kể về một anh sinh viên vốn nhát đòn sợ rớt môn chính trị chính em. Vì anh vốn kha khá ngoại ngữ nên đã chịu khó vừa nghe và tự học ngoại ngữ bằng cách vừa nghe giảng bài vừa dịch lại toàn bộ bài giảng sang ngoại ngữ. Vào phòng thi, anh bình tĩnh để tập sách ấy trên bàn để lót giấy thi và khi nhân viên giáo vụ gác thi hỏi, anh tỉnh rụi đưa tài liệu cho giám thị (cũng là nhân viên giáo vụ mới kinh chứ !) kiểm tra với lý do đó là bài đi học thêm ngoại ngữ ban đêm. Lật đi đọc lại tới lui một hồi, giám thị đã trả lại để cho anh tiếp tục làm bài yên ổn. Kết quả thì đã rõ.

Ngọan mục nhứt là trường hợp thứ 4 này. Trong kỳ thi mỹ học, đề thi lần ấy có yêu cầu liệt kê một số công trình kiến trúc lịch sử đặc trưng ở miền Nam có tiêu chuẩn cái đẹp “theo quan điểm mỹ học của ông M.” của thầy giảng. Một bài đã được thầy chấm với số điểm khá cao. Chủ nhân của bài thi đã thú nhận riêng với các Kiến khác là tất cả những công trình anh viết ra đều có đủ số liệu chính xác về năm xây dựng, năm bị phá hủy, đặc điểm công trình… cao hơn cả yêu cầu thầy đưa ra. Chỉ có cái tội là các dữ liệu đều giả hoàn toàn !

Trường hợp chót mô tả một bàn thắng “vô tiền khóang hậu” để cứu một người anh em nắm chắc vé lưu ban vì rớt 1,5 môn được một anh khóa k88 đã thuật lại như sau: theo luật của trường thì anh lớp trưởng hay anh bí thư Đòan của lớp được tiêu chuẩn ưu đãi hơn các bạn trong lớp ở chổ được vớt lên lớp khi bị rớt 1,5 môn (môn chính = 2 môn phụ = 2 x 0,5 môn) trong khi các sinh viên bình thường thì tiêu chuẩn được vớt lên lớp với 1 môn rớt. Nên để “chuyển bại thành thắng” cho đồng môn, cả lớp liền bầu cho anh làm lớp trưởng để anh được lên lớp an tòan và hợp pháp !

Ai bảo sinh viên là dở ? Sinh viên khôn lắm chứ …

Vì thời trời xui khiến khi xã hội phát triển bằng sự sàng lọc cao hơn nên kể từ khóa k88, cái gọi là “thi giai đọan” năm thứ 2 dùng để thanh lọc ra những tinh hoa của trường. Đơn giản là phương cách 3 “bóp đầu vào, thắt đầu giữa, thả nổi đầu ra”. Nói nghe thì hay nhưng nó cam go bằng mấy năm học hành lè phè cộng lại. Cuộc đua “giai đọan” hàng năm làm nhiều anh chị phải khốn đốn mà cầu Thầy cứu. Cái trò luyện thi, học thêm trong đại học nảy sinh ra làm gợi nhớ ít nhiều lại thời kỳ học phổ thông của chúng mình. Cũng có lợi chứ sao ? Nói chung thì các thầy nào dạy các môn liên quan đến thi giai đọan thì được lâm vào đại vận hanh thông trong cung tài bạch lẫn quan lộc. Thầy thừa cơ tha hồ “hét ra lửa, mửa ra tro”. Chuyện kể lại rằng một ông thầy tên Th. bình thản “dám” đánh rớt người học trò mình dù y đã “thành công” trong việc tặng thầy một chiếc “Đờ-Rim 2″ để trợ giúp thầy trong công tác đi lại. Chính mấy đồng môn của tác giả trước đó vài năm cũng có lần rớt oan mạng khi thầy cố ý ra đề sai khi thi lại. Thầy lý luận: ” Có ra đúng mấy anh cũng làm sai (!?)”

Nói là thi giai đọan có từ năm 1988, song trò sàng lọc “chưa chính thức” đã được manh nha thực thi trước đó bằng việc “thi kiểm tra giữa học kỳ”. Anh nào học lơ mơ rớt 2/3 lần thì bị cấm thi ráng chịu. Lúc đầu mấy thầy lại chơi trò “kiểm tra đột xuất”. Vì vậy lần đó khóa k86 năm thứ 3 đã bị cấm thi gần như 100% vì môn X (xin dấu tên). Trò xỏ lá này làm anh em tuyên bố định làm “reo” (grève) với nhà trường. Báo Tuổi Trẻ năm 1989 có bài ghi lại. Nhà trường phải cải tổ ngay lần đó và hứa rằng sẽ báo trước những kỳ kiểm tra. Song nhiều thầy cũng nhiều lúc “xé rào” do ê mặt trước cảnh sinh viên Kiến chán nản cúp cua môn học của mình khá đông. Thỉnh thỏang có nghe chuyện trò rủ nhau cả đàn “biểu tình” năn nỉ ở trước cửa nhà thầy vì thầy trót tuyên bố cấm thi quá đông anh em.

Trong khỏang thời gian này, uy danh các phòng ban, nhứt là phòng giáo vụ (sau đổi tên thành phòng đào tạo mà có kẻ dám xuyên tạc là “phòng đào tiền” !) như một vị quan “tiền trảm hậu tấu”. Tất cả tiền bạc đều phải đóng trực tiếp tại đây, năn nỉ hay khiếu nại tại đây, rút hồ sơ ra khỏi trường cũng tại đây… Hễ nghe mấy ông bà ở đây gác thi thì phải biết !

Bên cạnh tính hiếu sát thì Trời đất còn có tính hiếu sinh đám sinh viên. Số là sau 2 năm từ khi bắt đầu năm thực hiện chế độ thi giai đọan, ông Trời bèn khiến cho một ông con của một ông KTS nọ (vốn có máu mặt trong phòng giáo vụ) học khóa k90. Thế là tòan bộ khóa ấy được mọi ưu đãi nếu may mắn gặp lúc ông con này bị lận đận “sa-rết” trong đèn sách. Có thơ vịnh rằng:

 

Một lũ con nòi, chẳng giống ai

Idée đồ án rất ” trời ơi”,

Esquisse “rặn” hoài, không ra …ý,

Rendu “quậy” mãi, chẳng lên tay.

Kết cấu, xì-tin (style) trông rợn óc,

Diplôme, charrette thấy bái dàí !

Trả nợ, “lần 2” luôn hiện diện,

Kiến trúc dòng con lại bất tàí !

 

Nhờ vậy vụ “cấm ne” đã được nới lỏng dần. Đặc biệt khi thi giai đọan năm thứ 2 của khóa k90, lần ấy rớt khá đông. Ong con thì khỏi nói ai cũng biết. Ông cha làm trong phòng giáo vụ phải điều chỉnh hạ chuẩn điểm đậu. Thế là rất đông anh em rớt được “ăn theo” ơn mưa móc mà “qua” giai đọan an tòan. Ai bảo dân giáo vụ ác đức ? Mà có hết đâu, những năm mà “ông con” còn mài quần trên ghế nhà trường thì hễ “ông ” gặp khó khăn do làm bài không kịp giờ thì anh em đồng khóa được “dựa hơi” mà “thóat chết” đồng lọat. Khi làm tốt nghiệp anh em cũng được giaó vụ hạ tiêu chuẩn khổ giấy vẽ cho đỡ cực khổ. Có ông KTS bố khi nghe tin buồn: “mặc dầu có sự tận tình chạy chọt song cậu ấm đã không qua được cuộc thi giai đoạn hiểm nghèo”, đã đề nghị mở thêm một khoa mới để “pát-xê” con mình qua đó tiếp tục học. Đám Kiến “đồng nạn” cũng được cứu độ theo. Sướng chưa ! Trách chi hễ có một tiếng đồn tốt là thiên hạ cứ ùn ùn vô ĐHKT. Hễ vào được là chắc chắn ra trường được với một tấm bằng láng cóong lận lưng quần dể ợt. Chưa kể nó còn bao gồm luôn cả bằng B ngọai ngữ cấp quốc gia nữa mà !

“Vật cùng tắc biến”. Khi thu nhận sinh viên ồ ạt thì dĩ nhiên nhiều sơ sót bê bối hành chánh, tài chánh bắt buộc sẽ phải lòi ra như cảnh tang gia bối rối mong chính quyền và đồng bào lẫn sinh viên niệm tình tha thứ. Cái “biến tắc thông” là Bà Hỏa “giáng lâm” phòng giáo vụ trong một đêm 16 rạng 17-1-1992 làm sinh viên phải hõan giờ thi để cho cảnh sát vô điều tra. Vì theo quy luật phát triển mà sách nhà trường đã dạy, thì sau khi sinh ra và tồn tại thì nó cũng phải bị buộc kết thúc giống cũng như tòa Imexco cùng thời bấy giờ. Nghĩ tiếc thay khi dân Kiến ở ký túc xá gần đó có dịp chứng kiến suốt đêm giờ phút chót của tòa Imexco mà lại không có dịp chứng kiến cái công trình giáo vụ trù phú của chính trường mình “trở về cát bụi”. Thiên hạ liền chiêm nghiệm lại sự việc qua chuyện Đại hồng thủy trong kinh thánh và cứ thắc mắc bàn tán mổ xẻ “gia đình Noe” lần này gồm những ai ??? Ong mang theo ông những thứ gì để duy trì cuộc sống ??? và nhiều câu hỏi khác. Mãi tới khi phòng giáo vụ được bố trí chổ mới mà nỗi kinh hòang vẫn chưa dứt đến nỗi mấy bà “ở trỏng” phải lập một bàn thờ trước cửa phòng cúng khai trương để cầu an và tạ ơn thần tài phù hộ thóat nạn lâu nay. Riêng về phần sinh viên, sau trận ấy phách rọc bài thi bị cháy sạch không còn khả năng hồi phách vô sổ nên anh em phải rủ nhau đi gặp thầy để nhận dạng bài thi của mình.

Nói đến Kiến trúc mà không không nhắc tới lể truyền thống quả là một thiếu sót to lớn. Thực chất cũng là lể nhập môn cho các “ne” năm thứ nhứt, trình làng trước đàn anh, cũng là một trách nhiệm của anh năm cuối trước khi rời khỏi trường. Vì “đời chỉ có một lần” nên một bên thì cố gắng tổ chức cho thật độc xẹt, một bên thì phải cố gắng làm sao đi có mặt thật đầy đủ để cho mọi người biết mặt. Lể nhập môn bái đàn anh được tổ chức với nhiều hình thức. Cũng đi xin phép chính quyền, in thiệp mời, đi quyên góp mấy nhà hảo tâm, lo dàn dựng, tập dợt… Cảnh tiêu cực cũng không ít vì nhiều anh đi quyên góp cũng thừa cơ chấm mút cho bớt “động lòng”. Ban đầu, thời “phương cách 1” còn áp dụng thì không có gì lớn để mà bàn vì dân số không đáng kể nên không có sự lộn xộn trong tổ chức và sức chứa của trường còn kham nổi. Càng về sau từ khi áp dụng “phương cách 2” trở đi thì mỗi lần truyền thống là luôn có vấn đề lớn từ thượng vàng tới hạ cám. Việc triễn lãm tranh biếm họa làm đụng chạm tim đen mấy thầy không ít. Từ đó nảy sinh thêm chế độ kiểm duyệt tranh truyền thống. Đặc biệt là năm có lịnh “cấm ne” làm phá vỡ truyền thống “dạy nghề” của anh em Kiến làm bất mãn khá nhiều người. Bấy giờ bất cứ hình vẽ hay áp-phích nào có chữ “ne” hay ý nghĩa tương đương đều bị một thầy trong ban giám hiệu đến và thẳng tay lột bỏ vì “phạm húy”. Cảnh chen lấn xâu xé có lúc súyt ẩu đả nhau trong đêm truyền thống là chuyện thường. Các bãi giữ xe của các sinh viên tràn ngập dù giá gởi đã lên gấp 10 lần giá nhà nước. Mà cái vui nhứt theo ý tác giả là tiết mục nhảy đầm cuối lể truyền thống. Mấy năm mới được phép “nhót” trở lại thì phải biết nó sung sướng biết chừng nào. Danh từ “nhảy son-đố-mì”, “múa đôi” hay “quốc tế vũ” thì dẹp quách đi không thương tiếc do hết hợp thời đại. Tiếp sau buổi lể kết thúc, dù có tổ chức bê bối chăng nữa thì luôn có lệ phải tổ chức một tiệc liên hoan mừng thành công của đêm truyền thống và lợi nhuận của nó để lấy tinh thần cho mấy khóa sau. Anh em nào còn lại ở trong trường được bao ăn nhậu thả ga, lúc ấy thật là một lể truyền thống “tập 2” ngòai luồn không sợ chế độ kiểm duyệt bên ngòai “gõ”. Các tiết mục đều có thể biểu diễn tự do không cần đăng ký xin phép. Đêm truyền thống 19 rạng 20-9 năm 1991 còn có cả sô “thóat y vũ nam” kèm nhạc sống coi miễn phí (chuyện có thật 100%.- tác giả thành thật xin lỗi độc giả vì khi ấy tác giả còn quá ngây thơ ham vui không biết hỏi tên tuổi của vủ nam ấy), khán giả đứng xem được tiếp cận diễn viên trong tầm tay, vừa được phục vụ cháo ăn đêm nếu cần. Xong thì từ từ mạnh ai nấy vô tư nàm la liệt ngủ để hôm sau lấy sức thu dọn chiến trường. Lợi nhuận thu được có lúc thừa sức tổ chức bao trọn gói 1,2 chuyến nghỉ mát Đà lạt hay Vũng Tàu cho mấy anh em, bao luôn bồ bịch nếu có. Trước khi đi, cũng có bố trí vài anh sinh viên chuyên “dọn đường” bằng cách ghé nhà mấy thầy để “nói một tiếng xin phép nghỉ mấy ngày” cho đúng lễ. Còn bài vở, đồ án thì để đó ! Chơi trước tính sau. Nghe kể lại vào năm 1999, nhà trường nổi hứng cấm làm truyền thống qua chủ xướng của thầy giáo sư tiến sỹ thạc sỹ Kiến trúc sư T.H. với nhiều sự lý giải không ai hiểu được, có lẽ thầy học nhiều quá rồi điên chữ chăng ? Kết quả là mấy anh em đợt đó ra trường hễ thất bại là đổ thừa “Tổ quở” vì lý do trên.

Trong sự căng thẳng lên bài ngày đêm từ ngàn xưa đến nay, khi thời gian đều đổ hết vào họa thất tất nhiên anh sinh viên Kiến nào cũng đều quên mình vì nghệ thuật dù muốn hay không muốn. Cũng vì lý do học hành càng kham khổ, nếu là nữ, thì tàn phai nhan sắc là không tránh khỏi. Do vậy trong bình minh của lịch sử nhà trường, số nữ không đáng kể (hồi 1955-56 mới chỉ có 1 người duy nhứt là chị K.N !) dù số “Lê Lai liều mình cứu chúa” không bao giờ thiếu. Nguyên nhân một phần ngày trước trong các họa thất có anh “trưởng tràng” hay sanh tật “bắt ne làm gì thì ne phải làm nấy không được cãi ” nên nhiều cô nghe đồn thôi mà đã mất vía rồi. Càng về sau khi “đầu ra” càng dễ thì số nữ tăng dần và nhan sắc Kiến nữ trong trường thấy cải thiện đáng kể thừa sức canh tranh với dân trường Tổng hợp hay trường Kinh tế bên cạnh. Số Kiến nữ tăng đột ngột vào năm 1987. Đang đói xưa nay, giờ gặp cơm hay phở gì thì mấy anh Kiến đều phơi phới rậm rực ra mặt. Có cô lợi dụng lắm anh theo đuổi, liền chơi trò “đấu thầu” bằng cách nhờ mỗi anh làm một bài để rồi chọn cái hay nhứt lên nộp cho thầy. Khiến mấy anh “hụt thầu” ngẩn ngơ mà không làm gì được. Kiến nữ làm không khí tổ Kiến thêm nhộn nhịp. Có hai chuyện, kể về “sự cố ngàn xưa” thời ấy đậm đặc tính mê ly cụp lạc mà sinh viên ai cũng biết. Một cú bởi trò gây ra (thập niên 80), một ca do thầy là thủ phạm (thập niên 90). Cả hai thầy trò luyện công phu “âm dương chỉ” thế nào không biết mà “dến” cái “bầu tâm sự” cho 2 cô bên ngòai (có 1 cô là sinh viên trường bạn) khiến 2 cô đến trường “hỏi thăm”, nói hoa mỹ là đòi “bồi thường chiến tranh”. Nhà trường nghe đâu phải âm thầm vào cuộc giải quyết ổn thỏa. Vì quý thành tích học tập tốt nên trò chỉ bị cảnh cáo cho lưu ban, còn thầy thì phải cuốn gói ra đi không hẹn ngày trở lại. Thôi chuyện nghe qua rồi bỏ, chỉ biết sau đó vài năm, bên ngòai thiên hạ tổ chức ì xèo những cuộc thi hoa hậu làm bên trong trường càng thêm rạo rực trước cảnh “cây nhà lá vườn” đang kỳ mơn mởn chưa từng có xưa nay. Yếu tố “mỹ quan” trong nguyên lý kiến trúc bắt đầu được chú trọng và được “rendu” dưới hình thức tân kỳ mới lạ.

Còn mấy Kiến nam thì thực chất chẳng thay đổi bao nhiêu. Do bù đầu làm bài cho mình và “hết lòng thờ vua (bà), xả thân cứu (nữ) chúa lúc nguy nan” nên riết rồi thời gian tắm rửa cũng chẳng còn. Cũng may ngày nay sinh viên có tiền thuê nhà trọ nên cũng bớt cảnh tốn thì giờ sắp hàng hứng nước hay “dành cơm” ở ký túc xá. Nhằm lúc này nhiều “nữ chúa” vào trường quá cỡ nên quỹ thời gian đã kẹt cứng càng thêm kẹt cứng. Đành mang tiếng ở dơ vậy ! Mà dơ bao nhiêu thì người đời tưởng mình có máu nghệ sỹ thiên tài đầm đìa ý tưởng trên trời dưới đất. Càng về sau có mấy anh thấy thế còn chơi “đốt giai đọan”, cứ ở dơ trước cái đã còn thời gian học hành thiếu đủ tính sau. Thêm cà phê, thuốc lá, nhậu nhẹt lu bù gọi là phương tiện kích thích tìm ý đồ sáng tác kiến trúc thì càng hay hơn nữa. Quên phứt đi cái khỏan vệ sinh, điều độ bằng mấy cái “khóai” thứ dữ khác cho đủ bộ. Để tóc tai bù xù, ăn mặc bê bối làm tăng cường thêm ấn tượng Đã không được nghệ sỹ bề trong thì cũng phải ráng được nghệ sỹ bề ngòai cho bằng anh bằng em. Bắt chước sai bài, “binh” không tới thì ráng chịu. Mà lạ hơn nữa là nhân viên của trường cũng không kém máu nghệ sỹ. Năm 1978, vào ngày quốc tế phụ nữ, một bà nhân viên chơi nổi “tròng” bộ áo cưới vào trường cho nó “độc xẹt” mặc cho chúng sanh thấy mà lắc đầu. Nhân viên trường còn “nghệ” như thế thì đám sinh viên lập dị cũng đừng ai trách. Cũng vào khỏang mấy năm ấy, nhân có phong trào “cấm để tóc dài”, nhà trường cũng định lợi dụng nhằm hạn chế máu “nghệ” của mấy Kiến nhưng sau vài năm thì “mèo vẫn hòan mèo”. Nói tiếp về cái trò “ở dơ sống lâu” dần dần trở thành món võ tự vệ độc hại làm thầy nào cũng phải gờm mùi hương lẫn mặt mày của mấy thằng đệ tử và rồi kiêng dè khi sửa bài của chúng. Mấy đồng môn cũng phải bịt mủi “chạy làng”. Lúc lên bài họa thất hay vào lớp thì liệu hồn! Chúng mà ngồi đầu ngọn gió thì làm cả lủ trong sạch nhiễm độc khí chết nhăn răng. Kiến nữ nhờ vậy thêm được thầy chiếu cố tận tình nhờ bộ vó “dẻo như cơm, thơm như mít” rồi từ đó có tiếng đồn nhau rủ rê nhiều nữ sinh khác đổ xô ồ ạt thi vào kiến trúc.

Việc học quân sự tuy bắt buộc nhưng đó không phải là cửa ải. Tuy chỉ tốn có một tháng song là dịp để sinh viên đi ra ngòai thay đổi không khí. Các thầy cũng tương đối dể dãi. Hồi trước, nhớ có một thầy, thật ra là một ông sĩ quan già tên L. mà dân Kiến hay gọi là thầy Sáu L. Nghe cách nói chuyện hóm hỉnh của thầy, dân Kiến phát hiện trong lý thuyết quân sự chứa đựng tràn trề ý nội, ý ngọai, nghĩa đen, nghĩa bóng cực kỳ thâm thúy. Chỉ có thế mà anh em hứng thú có mặt tương đối đông đủ hơn các giờ lý thuyết khác. Thêm giờ học thực hành ngòai trời ( có lúc ở công viên đối diện Dinh Độc lập, có lúc ngay khu đất trống sát tường rào khám Chí Hòa), quả là thiên đường cho mấy anh em có dịp vui chơi hóng mát ngo ngoe tay chân cho đỡ bồn chồn. Lúc giải lao thì thầy trò tụ lại tha hồ đánh “tiến lên”, hòa đồng quân dân với nhau mà không sợ ai bắt lỗi. Cái vui nhứt là vào cuối khóa đi bắn đạn thật trên sân bắn Thủ Đức. Nhiều lớp lợi dụng dịp này tổ chức cắm trại qua đêm, ăn uống bí tỉ , đêm nằm kề bên nhau ngắm trăng tâm sự , kể lể chuyện đời… tựa hồ:

 

“… Nằm kề bên nhau chờ giặc tới,

Đầu súng trăng treo…” (thơ Chính Hữu)

 

… ngay trên bãi tập bắn từ chiều hôm trước. Đến sáng hôm sau thì bắt đầu thi kiểm tra bắn đạn thật. Vì tình thầy trò vốn đã được đầu tư thắm thiết trong quá trình học nên chẳng ai rớt. Tiếc rằng những năm sau đó tiết mục này bị bỏ dần vì sinh viên càng đông đảo khó tổ chức vì tốn kém. Ban đầu mỗi lớp cử vài đại diện đi bắn. Sau dần chỉ kiểm tra thao tác dùng súng của từng anh chị rồi thôi. Chắc vài năm nữa chỉ cử mấy anh đại diện đi học rồi chuyện gì mới nữa chưa biết trước được nhằm đơn giản hóa tận cùng khóa huấn luyện quân sự. Khóa học luôn kết thúc tốt đẹp nên chẳng có gì gọi là “ác nghiệp”. Chỉ kể nghe qua chơi cho đủ bộ.

Chặng cuối của đời sinh viên là tốt nghiệp cũng cực kỳ quan trọng vì “đời chỉ có một lần”. Sau vài tháng đầu tư sức người và của vào đồ án ra trường, anh nào chị ấy cũng bơ phờ, nhiều người xanh như tàu lá do làm việc ngày đêm quá độ. Thầy cũng phải được bố trí “kè” mấy trò mà hướng dẫn. Vì tính quan trọng của nó mà có trò vì quá thương thầy rồi sẵn sàng xì tiền bồi dưỡng riêng cho thầy chút đỉnh lấy sức. Mấy “ne” cũng đổ quân vào cuộc. Có anh thừa tiền lắm của thuê nhà để vẽ, thuê ne thả ga, bao ăn, bao ngủ từ a tới z. Mấy ne chỉ có việc tô màu, vẽ cây, chấm cỏ, nghe sai bảo lặt vặt… Mấy anh nghèo làm thui thủi một mình cũng tốt nghiệp vang lừng như ai. Cảnh “charette” vẫn còn đó. Tới ngày sơ khảo, nhiều người sốt vó là trò thường tình. Có thầy vì quá thương trò, chạy đôn chạy đáo vô trường huy động thêm “ne” kéo về nhà đệ tử của mình vẽ phụ cho kịp giờ. Sơ khảo xong, bài đem về sửa chữa một lần chót trước khi trình bày tốt nghiệp. Hôm bảo vệ mới thật sự là ngày trọng đại. Mỗi tân khoa tương lai phải một thân chống chọi với một hội đồng thầy tràn trề kinh nghiệm. Mấy anh du học sinh xứ Chùa tháp thì không đến nỗi lo lắng nhiều do đã được trang bị nhiều hậu thuẫn ưu đãi công khai. Điển hình là anh nào tiếng Việt còn lọng cọng thì các thầy thấy thương tình liền miễn khỏang trình bày giới thiệu đồ án cho đỡ mất thời gian. Và theo đúng thủ tục tốt nghiệp, mấy thầy vẫn lên thưởng thức đồ án cũng như hỏi vài câu lấy lệ với người ta với tấm lòng tràn đầy gạo muối cầu mong mấy anh mau về nước để truyền bá chất lượng và uy tín của “đằng mình”. Riêng với sinh viên Kiến nội địa nhà ta thì thầy vẫn thương yêu nên những năm gần đây, tỷ lệ rớt ít, ít dần và ít mãi. Có thầy nói nếu chấm gắt quá thì đâu còn đứa nào ra trường, mà mình đánh rớt hòai kiệt sức mình rồi sẽ đánh rớt không nổi nữa, đành phải “cho qua” để “để đức” cho con cháu. Trước trận “biển người” tốt nghiệp đông đảo tất nhiên thầy ủng hộ số đông mà từ bi xí xóa mấy lỗi lặt vặt không đáng kể cho anh em nhà Kiến mừng. Nghe kể lại năm 1994, có một anh sinh viên Kiến “cóp-pi” nguyên xi một sân bay trong sách để làm bài tốt nghiệp. Mặc dù có một thầy phát hiện và phản đối nhưng cả hội đồng thương tình công sức vẽ vời nên thông cảm cho ra trường êm đẹp. Do đó để việc bảo vệ tốt nghiệp thành công thêm rực rỡ, nhiều anh chị mời hết cả bà con họ hàng ông bà chú bác lẫn con cháu đi theo ủng hộ vì biết mình chắc chắn cỡ nào cũng đậu. Có người sau khi bảo vệ xong liền có con cháu đem hoa tặng theo công thức ca sĩ cho thêm tính le lói. Những đêm sau đó, các anh em luân phiên đi ăn nhậu khao quân mừng “chiến thắng” liên tục ở từng nhà các đồng môn với mấy ne ruột. Thầy cũng được mời lu bù và được trò trả công hậu hĩ từ quà cáp tới hiện kim tùy theo nhu cầu hay yêu cầu. Thầy thanh liêm thì chỉ nghe trò nói câu “cám ơn” là thầy mát ruột mà không cần gì khác. Ngày phát bằng còn vui hơn nữa vì còn có thêm tính tập thể cao độ. Rút kinh nghiệm nhiều năm từ các trường khác, trường ta cũng thuê áo mũ cân đai loại “thời trang cử nhân tiến sỹ” đem về trường cho sinh viên thuê lại để có dịp tổ chức đóng tiền đăng ký tên theo thứ tự lên lãnh bằng cho oai. Không khí trường nhộn nhịp hơn xưa vì ngòai sinh viên ra còn có cha mẹ, họ hàng, vợ con, bạn bè, bồ bịch.. đi đến xem chức mừng chia vui rôm rả. Mấy anh phó nhòm cũng có dịp chen chân vô kiếm sống chút đỉnh.

Đời sinh viên là thế đó ! Mà khổ nhiều sướng ít.

Một anh Kiến ôm tê-ke miệt mài thi lại và trả nợ đồ án mãi mới tốt nghiệp được. Ra trường xong, y tủi thân hận đời bèn làm một bài thơ lưu lại:

 

Trời đất hỡi ! Sinh viên khốn khổ,

Phải đóng thêm phí nọ tiền kia,

Có tiền, có gạo bề bề,

Dài dài trả nợ cũng ê bẹ sườn.

Lể tốt nghiệp ra trường cũng đóng,

Thuê áo quần cho giống cử nhân…

Hận thầy ác đức ác nhân,

“Đì” trò, đánh rớt kiếm ăn, làm tiền…

Thương thầy khác liên miên chạy độ,

“Giết” học trò, không nỡ ra tay,

Cứ cho tốt nghiệp mặc bây

Học không ra thợ, ra thầy, ai thuê ?

Sẵn cao học, thôi về học lại,

Ngồi hai năm ra dạy sinh viên,

Thầy già xuống lỗ quy tiên,

Còn bầy đệ tử nửa điên, nửa khùng…

 

… và kèm theo một tuyên bố xanh dờn: “Ta không còn gì để rớt. Không Top Ten thì cũng Bottom Five”.

Xuyên tạc đến nước như vậy mà thiên hạ vẫn cứ mê kiến trúc như điếu đổ , chen chân vô không dứt !

Trò càng đông thì thầy phải có thêm đủ số. Thầy già về hưu hay chết dần mòn mà thầy mới chưa có bao nhiêu để trám chỗ. Nhiều thầy chán nản bỏ trường đi “chạy ngòai” cho khỏe khỏi lo nhức đầu căng thẳng vì đấu trí mà thu nhập chẳng bao nhiêu. Thầy khác tuyển về để bổ sung thì chất lượng không đạt yêu cầu. Nhiều thầy giỏi về vài bữa, cao lắm là một học kỳ là bị “ma cũ” bứng gốc đành phải dứt áo ra đi. Bên ngòai kinh tế thị trường phát triển mạnh nên nhà trường cũng phải khốn đốn chạy theo cho kịp. Trước thế “lưỡng đầu thọ địch”, một bên nhu cầu đào tạo, một bên là kinh tế, thì chỉ còn nước chữa cháy là mở hệ cao học để đào tạo thạc sỹ và tiếp tục có dịp thu tiền “hụi chót”. Nhiều trường trước tiên phải “lên đời” cho mấy ông phó tiến sỹ thành tiến sỹ để có tư cách đào tạo mấy ông thạc sỹ mới. Trường Kiến tất nhiên không ngoài quy luật trên. Anh em nào muốn lên làm thầy hay để ra đời ngồi ký giấy thì đăng ký cao học khỏang 2 năm. Quá khỏe ! Với điều kiện chịu khó đi học có mặt đều vì thầy điểm danh rất ngặt như ở trường phổ thông. Tại vì rút kinh nghiệm sinh viên đại học ưa “cúp cua”, và mấy anh theo cao học vừa có bằng cấp ngon lành ưa sanh tật làm “chảnh” không coi quy định ra gì , nên trường buộc lòng phải dùng biện pháp mạnh. Năm 1993 nghe kể có thầy chuyên gia dạy nguyên lý Kiến trúc trong trường vậy mà khi thi cao học vẫn rớt môn nguyên lý Kiến trúc như thường. Tiếc rằng không biết ai đã chấm bài thầy lần ấy trong khi ngày thường thầy chấm bài người khác. Vì tương lai sáng sủa nên số sinh viên cao học tăng dần bất chấp điều kiện ngày càng gắt. Số thầy được đào tạo từ đủ số đến mức thừa thãi. Miễn “cần cù bù năng khiếu, dù thiếu tài năng” là làm thầy dễ ợt. Có thầy “tu đường tắt” bằng cái mửng “ẵm” trọn gói luận án tiến sỹ của đồng nghiệp đàn em để làm của riêng mình rồi sinh kiện cáo lung tung, phục vụ cho chuyện thâm cung bí sử của trường vốn đã tràn trề nay thêm đa dạng.

Từ cái ngày người ta coi ông KTS như ông trời “nắm thế giới trong bàn tay”, đến nay KTS đầy đường, quần chúng hóa đến mức cao độ. Quả là một sự thay đổi thần kỳ chống chủ nghĩa độc quyền Kiến trúc. Có một thầy đưa ra nhận xét cực chuẩn xác:

“Trường kiến trúc ai dạy cũng được và ai học cũng được”.

Cái tàn ác của kinh tế thị trường là bắt thiên hạ phải chạy theo nó và cạnh tranh với nhau không bao giờ ngưng nghỉ. Từ ngày chỉ có một khoa kiến trúc trong trường, kế tiếp phải mở thêm “hệ B”, chuyên tu, tại chức, rồi quy hoạch, xây dựng, mỹ thuật công nghiệp… để cạnh tranh áp đảo mấy trường khác. Đêm còn có thêm các lớp họa viên, ngọai ngữ, vi tính, luyện thi, cả “mầm non kiến trúc” cho thiếu nhi nhằm thu hút đủ hạng khách già trẻ lớn bé. Có dạo nhà trường sẵn sàng cho một trường đào tạo hướng dẫn viên du lịch, hay xí nghiệp gạch bông thuê mặt bằng, sảnh cho thuê dùng làm bãi đậu xế hộp ban đêm … Khuôn viên trường được khai thác hết ga vừa để chứng minh tính thích dụng và kinh tế cho sinh viên. Nhiều ông KTS đã tâm sự rằng nếu mà có thêm đất trống chắc nhiều bà bán hột vịt lộn, bia hơi, áo quần sida, keo diệt chuột… quanh trường chắc chắn sẽ mừng lắm vì có mặt bằng ổn định khỏi khốn đốn do bị cảnh sát dí chạy hàng ngày.

Cũng phải thế thôi khi cầu nhiều tất phải có cung nhiều để đáp ứng vậy. Kết quả ra sao, xem hồi sau sẽ rõ.

Chuyện kể về Kiến Trúc (1/4) – Kiến Lửa.

Chuyện viết từ hồi tháng 3-2004, trong lúc bực bội tại công ty Archetype trước lúc đảo chánh, nổi hứng viết ra bài này. coi như bản hồi ký sơ bộ dưới tính cách trào phúng.

Lúc đó, sợ nhiều người chửi nên viết ẩn danh dưới bút danh Kiến Lửa.

Đến ngày hôm nay (2014), những thầy bị SV ghét đều gần như về hưu hay chết sạch nên bài này mới có thể công khai dưới tên của mình ma không sợ bị ai chửi.

Nay post công khai cho anh em thưởng thức.

Hồi thứ nhứt:            Từ thuở trước, khi trường ta thưa thớt,

                                    Đến ngày nay, lúc đào tạo đại trà…

 

Thuở khỏang thập niên 60, có hai thầy Tàu đi ngang trường Kiến trúc. Ngắm nghía hồi lâu, một thầy buộc miệng nói: “Cuộc đất thật hay, tiếc rằng nhân tài thưa thớt quá !” Ong kia bấm đốt tay rồi thở dài: “Khi nào bên kia đường có nhà xây, tiên sinh sẽ thấy sinh viên trong trường đông đảo. Nhưng mà khổ nổi …”

Một người đứng gần tình cờ nghe được, tò mò bèn đường đột hỏi tại sao. Một ông bực mình đáp: “Thiên cơ bất khả lậu, nị đừng nên biết nhiều, chỉ thêm hại mình mà thôi”. Rồi hai ông ngoắc taxi rủ nhau lên xe đi mất.

Câu chuyện chỉ có thế, được truyền rỉ tai nhau. Nhưng vì tam sao thất bổn riết không ai thèm để ý. Chỉ biết rằng trong những năm ấy, sinh viên trong trường rất ít. Khi đã vào trường thì học hành rất kham khổ vì thầy nào thầy nấy cực kỳ nghiêm khắc. Nhiều anh than rằng chắc thầy sợ đệ tử ra trường sẽ giựt mối của thầy nên thầy “tiên hạ thủ vi cường” cho chắc ăn. Có tay độc mồm độc miệng dám khẳng định trường dùng chính sách “ngu dân” của thực dân mà bóp chẹt “đầu ra” để duy trì chủ nghĩa độc quyền Kiến trúc. Oi thôi thì mồm miệng thiên hạ ai chấp làm gì. Chân lý chỉ chứng minh rằng bấy giờ hể ai ra trường thì người nào đáng mặt người đó. Vì họ đã phải vượt qua cái ải tốt nghiệp trước một hội đồng hệt kiểu “Thập bát La Hán trận” của Thiếu Lâm tự trước khi xuống núi vậy.

Cái học thì muôn trùng mà sức người thì có hạn. Anh nhà Kiến phải lướt qua hàng chục môn lặt vặt không cần thiết lắm nhưng không học thì không xong. Còn vẽ thì ôi thôi! “Cày” quanh năm suốt tháng. Cứ bù đầu trong họa thất hết hội họa, analogue tới họa cảo rồi đồ án này đồ án nọ. Nai lưng “charrete” làm đêm mà không kịp giờ nộp bài cho thầy là chuyện thường ở họa thất. Gặp anh “trưởng tràng” họa thất cũng có quyền hành dữ dội kiểu “thương cho roi cho vọt”. Thêm anh tay sai “thiên lôi” sẵn sàng trừng trị mấy “ne” nào cứng đầu. Dù là hết lòng nâng đở đàn em song mấy ảnh cũng ưa bắt đám lính mới phải tuân lịnh một cách tuyệt đối. Chỉ đơn giản là “bắt gì làm nấy” cho đúng nghĩa làm “ne” hay nói huỵch toẹt móng heo ra là làm “mọi” (nègre).

 

Ne ơi ta bảo ne này,

Ne vô họa thất ne “cày” cùng ta,

Trưởng tràng có luật đưa ra,

Kêu gì làm nấy, liệu mà biết khôn,

Bắt cởi truồng, phải cởi truồng,

Kêu nằm “quậy cỏ”, liệu hồn “rendu”…

 

Anh nào không tuân theo thì đừng hòng làm dân kiến trúc, liệu hồn mau cuốn gói đi học trường khác. Mới lần đầu thì nghe ghê lắm nhưng từ từ quen rồi thì cũng thấy thường tình, nhờ vậy về sau tình cảm anh em càng thắm thiết. Mà tục lệ này chưa từng có ở trường đại học nào khác. Cảnh vừa học bạn, vừa học thầy theo tính dân chủ làm không khí họa thất lúc nào cũng thân mật kiểu gia đình Kiến trúc. Người viết bài này năm 1993 có lượm một bài thơ tả sinh viên kiến trúc trong hội trường như sau , tiếc thay đến nay chưa biết tên tác giả:

 

Sinh viên kiến trúc thực là hay,

Miệng “nổ”, chạy sô suốt cả ngày,

“Trả nợ” xanh da, quầng cặp mắt,

“Binh bài” quì gối, chống hai tay.

Cà phê, thuốc lá tha hồ hút,

Rượu đế, bia ôm mặc sức say.

Năm năm quần thảo không biết mệt,

Càng già, càng dẻo lại càng dai.

 

Càng già, càng dẻo lại càng dai,

“Nử Kiến” nhà ta chẳng kém ai,

Rotring một cán cầm đúng điệu,

Template mấy vòng quậy mê tay.

Sáng binh, chiều vẽ “lên tới bến”,

Một nử mấy ne (nègre) quậy “mát trời”.

Càng ham đòi hỏi, ne càng khổ,

Mỏi gối, đau lưng lại phồng tay.

 

Trước trường là một công viên thóang mát. Sau giờ “lên” bài căng thẳng ban ngày thì vài anh tranh thủ ban đêm chạy ra công viên để gặp gở hẹn hò một tí ti với mấy chị em cho vơi nỗi “cô đơn nơi tiền đồn”. Yêu nhau lắm cắn nhau đau, tiền bạc trả sau sanh nhiều rắc rối với cảnh “xù tiền” chạy trốn thẳng vô trường làm mấy em bên ngòai đứng vẩu môi đỏ tru tréo, chửi rủa không từ ai, trong đó có một “lời nguyền độc địa” nghe là thất kinh: “…rồi tụi bây khỏi mong ra trường”. Thành ra nhiều anh trong trắng rớt oan mạng hòai vì lời nguyền “lạc đạn” ấy. Họa ứng nhãn tiền cả chục năm là thấy đậu thì ít mà rớt thì đông vô kể. Thời ấy chưa có cảnh trò đi năn nỉ thầy lộ liểu như ngày nay vì ở miền Nam nhứt là ở Sài gòn bấy giờ chưa ai đủ bản lãnh được gọi là cao thủ trong “nghề” này. Mấy thầy đã được ăn lương no đủ thì đừng ai hòng mà đi đêm để mang họa lâu dài về sau. Có anh tên Q. ì ạch thi rớt mãi, tới khi đậu được ra trường bèn hận đời tức khí quăng tập sách ra gốc cây trứng cá sân trường đái xè xè lên cho bỏ ghét! Gặp thời chiến, nhiều anh cố ý ráng trây thời gian trong trường để hy vọng trốn lính ngày nào hay ngày nấy. Kết quả khi hòa bình đến, trong hồ sơ ghi rõ có anh bám rễ trong trường kỷ lục là 21 năm ! Còn trung bình thì cũng là 5 năm, 10 năm. Sau đó , nhà trường phải dùng biện pháp “thanh lý” cho ra lò hết để rảnh tay nhận “hàng mới” thì số lượng Kiến từ ấy về sau “được nước” bắt đầu tăng rõ rệt. Bản kiểm điểm của ban giám hiệu trường ĐHKT về việc thực hiện nghị quyết 28-29 của thành ủy và UBNDTP có một đọan ghi với một sự tràn trề lòng tự hào dân tộc Kiến. Nguyên văn như sau:

 

“…Trong 2 năm qua, nhà trường đã tổ chức tốt nghiệp trên 200 sinh viên – bằng số lượng trên 30 năm mà trường ĐHKT Saigon đã tổ chức tốt nghiệp… “

 

Kinh không, thưa bà con?

Ban đầu người ta dùng phương cách 1 “mở đầu vào, bóp đầu ra” , dùng giáo sư nhằm phong tỏa sinh viên. Sang thời bình, thấy kế sách này nếu duy trì hòai thì kềm hãm công danh mấy anh “khai quốc công thần” quá cở nên kế sách đào tạo nhân tài chuyển sang phương cách 2 “bóp đầu vào, mở đầu ra”, lấy sinh viên phong tỏa lại mấy ông giáo viên (khi ấy mấy ổng bị giáng chức giáo sư gần hết cả rồi ). Chỉ như thế mới hy vọng đền ơn đáp nghĩa đám công thần và con cháu của họ. Ban đầu , kế sách có kết quả đặc biệt. Phe công thần được ưu đãi như dân thời Nghiêu Thuấn. Hể có thi là sẵn sàng “chấp” đối thủ mình vài ba điểm và vẫn được xét đậu ngọt xớt. Tha hồ nhẹ bước họan lộ. Gặp anh gốc gác trong rừng, hay là dân tộc ít người thì càng hay hơn nữa vì trình độ càng thấp thì phải được bù trừ bằng thật nhiều ưu tiên trong đường khoa bảng. Hỏi vậy thi ai mà dám chê trách thi cử không bênh vực kẻ yếu. Khi ấy ấy anh sĩ tử thuộc gien trí thức, học quá giỏi xưa nay thì phải nhường nhịn cho kẻ dở hơn mình ít nhiều điều kiện cho công bằng. Một bên chấp điềm, bên kia chấp lý lịch. Điểm có thể thay đổi còn lý lịch thì có sao để vậy. Rốt cuộc rồi mấy anh “lý lịch đen” phải túi bụi học luyện thi, từ lớp 10,11 mà vẫn rớt hòai rớt hủy. Đại đa số phải nhắm mắt liều mạng “chơi” kiểu đấu cờ tướng chấp Đế Thích 2 xe và chịu ép đi nước hậu. Thấy tội nghiệp mấy anh ấy quá, nhiều lúc hội đồng tuyển sinh thương tình buộc lòng phải thông báo kết quả thi của mấy ảnh trước khi nộp hồ sơ để mấy ảnh khỏi thi mất thì giờ vàng ngọc của tuổi trẻ. Còn mấy anh nòi “công thần” luôn có sẵn “ba đời cùng thi, làm gì chẳng đỗ”. Trò “3 trong 1” này đi trước chiêu tiếp thị ngày nay cả chục năm !

Cuộc thi vũ môn luôn kết thúc tốt đẹp. Sinh viên cuối cùng cũng gồm nhiều thành phần giai cấp được hòa đồng sàng lọc một cách công bằng và âm thầm qua các tiêu chuẩn bên lề trình độ học vấn. Mà đã đậu vào trường rồi thì được trường cưng như trứng. Mỗi lúc vẽ bài thì cứ vô giáo vụ lãnh giấy về vẽ. Vẽ xong một mặt, tận dụng luôn mặt sau cho một đồ án nữa thành thử chẳng bao giờ sợ khan hiếm giấy. Hàng tháng lại được phòng đời sống cấp gạo, thịt… về tẩm bổ tăng cường sinh lực. Để giúp sinh viên đỡ túng thiếu, phòng tài vụ được lệnh phát cho từng anh học bổng để xài vặt. Tệ lắm cũng mua được vài gói thuốc “có cán” hút cho thơm râu. Thì thôi, nếu không đáng công đèn sách thì cũng đáng công dũng cảm chiến đấu dành chức “vô địch thiên hạ” mà bia miệng còn lưu lại.

Vì “bóp đầu vào, mở đầu ra”, đã là sinh viên thì tội chi học nhiều cho khổ. Xưa thì khác, bù lại nay cứ vô tư chơi nhiều, đằng nào thì cũng ra cũng làm giám đốc, tệ lắm thì cũng có bằng KTS lấy le với hàng xóm.. Sinh viên vào tương đối nhiều hơn xưa song vẫn còn thưa thớt. Cảnh trường như một thiên đàng thu nhỏ. Nhớ những năm sinh viên bị điều đi gác trường ban đêm thì sân trường sẵn cây xòai, vài cây mít tha hồ cho sinh viên thưởng thức trộm (vì ăn vụng ngon miệng hơn ăn công khai nhiều). Trời nóng thì có sẵn xe hơi của hiệu trưởng để cho vài anh liều mạng cạy cửa vào mà bật máy quạt ngủ suốt đêm; thây kệ ngày hôm sau xe cạn bình hết chạy làm hiệu trưởng kẹt việc tức điên mà không làm gì được. Vẽ bài tuy không căng thẳng như xưa nhưng cái họa charette thì vẫn còn đó. Cũng may là thầy sau này không dám thẳng tay đánh rớt mấy sinh viên “công thần”. Hể ông nào đánh rớt thẳng tay thì sinh viên sẽ la làng cho ban giám hiệu quở trách chê thầy dạy dở vì làm điểm thi đua và thành tích báo cáo của trường bị sút giảm.. Hơn nữa nhà trường lãnh đào tạo hệ B, chuyên tu, tại chức dùm cho các sinh viên từ địa phương xa xôi nên bằng mọi giá phải làm sao cho họ tốt nghiệp đàng hòang. Nếu không đào tạo được thì mất mặt trường. Tất nhiên phải ráng dàn xếp yêu cầu mấy thầy nhắm mắt cho điểm kha khá để cho “vui lòng khách đi” mà duy trì uy tín và hạ quyết tâm đập tan ý đồ xấu xa của câu xuyên tạc: “Dốt như chuyên tu, ngu như tại chức”. Chưa hết, trường ta còn nhận các du học sinh từ nước láng giềng Cam-pu-chia để mở rộng ảnh hưởng . Cái hay hơn các trường đại học khác trên thế giới là không cần biết rành tiếng bản xứ vẫn ra trường được và có bằng cấp đàng hòang như ai với chất lượng “hữu nghị”. Do vậy, nhiều nhóm ở bển sang học chỉ cần một người hiểu tiếng Việt sơ sơ là có thể kèm cặp níu kéo đồng đội mình lên lớp đều đặn. Khách hàng được xem là vua nên tiêu chuẩn lên lớp của du học sinh được ưu đãi hơn sinh viên bản xứ. Chổ ở của mấy anh luôn ngon lành hơn ký túc xá “phe ta”. Tiền bạc thì bên nước mẹ gởi sang xài thỏai mái, chơi “sộp” hơn cả sinh viên nội địa. Gặp mấy năm có phong trào buôn lậu xe gắn máy ở biên giới nhộn nhịp, có anh lợi dụng cuối tuần chạy ra cửa khẩu đem xe Honda về Sài Gòn bán kiếm tiền tiêu vặt. Mấy thầy hay sinh viên có nhu cầu sắm xe cộ cứ tìm nhờ mấy ảnh để yên tâm tin tưởng còm-măng (order) được hàng tốt mà không sợ bị lầm hàng “luộc”. Từ đó mới thấy tại sao thầy cô bạn bè trong trường luôn quý mến mấy du học sinh này. Lúc tốt nghiệp càng được dể dãi hơn. Ay là chuyện về sau. Để bảo đàm quyền lợi bằng cấp cho các sinh viên nên ban giám hiệu phải dùng biện pháp kinh tế để phong tỏa tính nghiêm khắc của mấy thầy. Trước mắt là lương mấy thầy bị cắt giảm hơn xưa. Thầy cũng lãnh “tiêu chuẩn” thịt, sữa, gạo, khoai lang … hàng tháng với mức chênh lệch về chất lượng lẫn số lượng chẳng hơn trò bao nhiêu. Thầy cũng có lúc bị bắt đi gác đêm, hay xách cuốc đi trồng khoai, bắp cho có kinh nghiệm sản xuất dân gian, cũng vác gậy đi tập quân sự quay trái quay phải, lăn lộn bò lết cho thấm cái khổ ải chiến tranh mà yêu chuộng hòa bình. Ong nào “ba-gai” thì đừng trách khi bị cắt giảm tiêu chuẩn hay cho nghỉ việc. Thỉnh thỏang nhà trường thương tình cho thầy đi nghỉ mát bồi dưỡng sức khỏe để tiếp tục lên bảng làm nghề “kinh doanh cháo phổi” thêm phát đạt. Nghĩ lại nhà trường cũng lao tâm lao lực lo cho từng người mà lúc nào cũng bị thiên hạ đàm tiếu.

Lo mãi cũng kiệt sức, nếu không lầm , thì đến khi ấy trong trường chỉ còn lại dàn hiệu trưởng, hiệu phó là có cái bụng “tương đối ” kha khá hơn các thầy khác mà thôi. Còn các tiêu chuẩn cho thầy trò dần dần bị thay thế bằng tiền “bù lỗ” cho nhẹ gánh. Từ đó nhân sự ở phòng Đời sống cũng được “thanh lý” để giảm ngân sách để đáp ứng thời đại “tiền-lương-giá”. Mãi đến 1987, sẵn tình hình năm ấy có nhiều con ông KTS đi thi mà năm ấy cái lạ kỳ nhứt là đề thi cực dễ mà đa số không ai làm được. Nhiều phòng thi buổi đầu đã vắng mặt vì bỏ cuộc hết gần phân nữa. Tình hình thi rớt đông đảo thấy rõ (năm ấy tỷ lệ 1 chỉ chọi khỏang 60 – còn quá ít so với ngày nay). Từ xưa nay vốn luôn bị ám ảnh tin xuyên tạc “thi rớt sẽ bị bắt lính” nên nhiều ông Kiến cha vì quá thương con phải đồng lòng vận động lên trên Bộ khẩn cấp lập thêm “hệ hợp đồng” (hệ “B”). Hệ này sẵn sàng mở tọac cửa thu nhận tất cả những ai có nhu cầu học kiến trúc mà trước hết là đám con mấy ổng, rủi có rớt thì cũng còn “Sinh môn” mà thoát. Điều kiện đơn giản là: bất cứ ai được ông KTS nào trong Hội KTS chịu đỡ đầu giới thiệu và có tiền đóng thì đương nhiên trở thành sinh viên Kiến trúc ngọt xớt. Mà tiền học thì bấy giờ chi trả dựa trên cơ sở giá gạo. Ac nghiệt ở chỗ, năm ấy vào lúc đóng tiền thì giá gạo biến động vùn vụt. Nhiều “Kiến tơ” lo chạy tiền trối chết. Mừng thay trường chưa dựa trên cơ sở giá gạo Nàng Hương ! Ơn Trời còn thương chúng sanh nhà Kiến. Có năm sợ sinh viên đóng tiền trể, nhà trường yêu cầu ai đóng trể phải kèm thêm “lãi suất tiền trường” làm báo chí phải động lòng can thiệp cứu giúp mấy sinh viên. Dù sao thì kết quả thu nhập của trường vẫn luôn vượt chỉ tiêu làm ngân sách nhà trường dồi dào đáng kể. Mấy thầy cũng có dịp cải thiện hầu bao riêng tư một cách hợp pháp mà trò cũng vui vẻ chi trả rẹt rẹt không than vãn trước sự hợp tác đôi bên cùng có lợi. Dân số trường Kiến trúc nhờ thế tăng ồ ạt. Bãi xe của trường xưa chỉ lèo tèo vài chục chiếc xe đạp. Nay thì từ sân, sảnh , ra tận cổng trường tràn ngập xế nổ của thầy và trò. Lâu lâu có thêm vài chiếc xế hộp xịn hơn cả tiêu chuẩn đi lại của hiệu trưởng đậu chễm chệ trong sảnh nhà trường. Thấy nhiều thầy “lên đời” xe làm mấy anh em nhà nghèo ngứa mắt ganh tỵ rồi bêu xấu không ít.

Sự chuyển biến từ cái thế hệ “AK” thời hậu chiến cần sự nâng đỡ của nhà trường đến thế hệ “a-ccng” ngày nay thừa tiền lắm của tài trợ vổ béo cho ngân sách nhà trường làm bộ mặt trường ta tươi mát hẳn ra với một sự bội thu sinh viên và bội chi KTS chưa từng thấy.

Cuối thập niên 50, cả trường hàng năm chỉ có khỏang chưa đầy 50 sinh viên. Đến nay Số Kiến ra lò đến nay trung bình khỏang gần 200 sinh viên/khóa. Nếu dựa theo bảng kiểm điểm báo cáo của nhà trường như trên đã ghi thì trong 4 năm cuối thế kỷ 20 thôi, số sinh viên ra lò đã tương tương 100 năm đào tạo của ĐHKT Sài Gòn cũ.

Gớm chưa các cụ ?

Sự tiên tri của hai ông thầy Tàu đã ứng nghiệm rõ ràng. Khi nhà nước cho xây nhà thi đấu Phan Đình Phùng xóa sổ công viên “tươi mát” đối diện thì số lượng sinh viên Kiến tăng rõ rệt. “Lời nguyền độc địa” ngày xưa ở xóm công viên ấy đã được hóa giải triệt để kể từ ngày mấy “chị em” không còn đất hành nghề nữa.

Việc học trong trường ra sao, cứ xem hồi sau sẽ rõ.

Cảm hứng nhiếp ảnh (4)

(tiếp và hết)

Chương thứ sáu:       Thuốc sự-thật, bịnh kinh-niên lòi mặt,

Chuyện phủ-phàng, lời thắc-mắc nêu ra.

Đầu năm Dê, thay vì đúng điệu tặng mỗi người chai thuốc đặc trưng của năm, tôi lại xin lổi đã đùa dai mà “thuốc” (nói cho đúng chuyên-môn) anh em bằng một viên thuốc bọc nhiều đường, đang chờ ép-phê. Đã vậy viết xong thì tôi gom lại trong đầu vài thắc-mắc mà chẳng ai giải-thích cho suông tai…

 

Một ông vua trần-truồng đi trước thần dân mà vẫn hãnh diện tin rằng mình được mặc chiếc áo quý vô hình.Chẳng ai dám nói không thấy áo vì sợ bị bắt tội không thành-thật với vua. Tất cả lẫn nhà vua chỉ vở lẽ và can-đảm nhìn-nhận sự thật không chối cãi khi một thằng nhóc 3 tuổi thấy la lên: “Ô kìa, Hoàng-đế trần-truồng!…”   (Chuyện cổ của Andersen)

 

Bây giờ tôi nói nghiêm chỉnh…

Cái gọi là “góp ý xây-dựng” nghe ra-rả như cuốc kêu đã lâu mà đến nay cái cơ-sở từ thượng đến hạ tầng của “sân chơi” nhà ta vẫn đâu vào đấy. Thêm vào khi thành viên gia nhập đại-trà sinh ra bịnh nhân mãn. Dân đông thì dễ gây ô-nhiễm kèm với đủ tệ nạn, mà sân thì chẳng ai thèm dọn sạch để chơi chung dù gọi là nghĩa-vụ. Trong sân ai cũng giành quyền lợi làm “vua phá lưới” mà chẳng thấy thủ-môn hay hậu-vệ đâu. Trọng-tài thì chỉ toàn là “trọng-tài quen” lâu năm nên cứ đá vô tư khỏi sợ thẻ vàng, thẻ đỏ. Thấy nhà nước đã sáng-suốt cải-tổ liên-tục và thành công đáng kể. Còn nhà phe ta chưa thấy cải-cách cái chi-chi hầy cho nó “tới”.

Cảnh cụng hàng thường xuyên trong và giữa các triển-lãm cứ kéo lê từ năm này qua năm khác. Số trường-phái không nhiều, ý-tưởng lẫn danh sách hội-đồng BGK không thay đổi lâu năm vô tình tạo một công-thức sáng-tác khuôn mẫu gần như áp-đặt cũng là một nguyên nhân. Mà nghệ-thuật có tính máy móc như thế thì hết hay.

Việc đề-cao tính dân-tộc là đáng hoan-nghinh nhưng chưa có định-nghĩa nào cho thuyết-phục. Nhìn những tác-phẩm nổi tiếng thế-giới thì càng chẳng ai cắt-nghĩa thỏa-đáng dù là sơ-sài.

Cái phong-cách cá-nhân lại chưa khẳng-định được rõ nét trong từng tác-phẩm. Mà cách tự khẳng-định bằng huy-chương thì huy-chương cái nào cũng như cái nấy, chỉ khác ở số lượng và tên gọi. Để rồi khi ảnh giống nhau, ê-hề như hàng sida thì chẳng ai thèm mua nhứt là khi giá lại cao. Ế, ôm về chứa chật nhà. Chưa nói, ai cũng “nhái” ảnh được, ngay cả khách hàng. Đụng “sô” thì thợ thầy chơi xấu phá giá nhau rồi kẻ thắng người thua từ-từ đều lổ. Khách hàng cũng chẳng được chất-lượng mong-muốn vì ham của rẻ. Mất uy-tín lẫn nhau, đói lại chẳng thèm ôm nhau chờ chết. Thơ rằng:

 

“…Xin ai chớ được thời tự đắc,

                                    Lúc đói “sô” tức khắc biết liền,

                                    Còn tiền, “Nghệ” khí trung-kiên,

                                    Hết tiền, hết bạc Phật Tiên cũng từ…”

 

Chẳng thấy ai quy định một “barem” giá tối thiểu nào đó để bảo-vệ quyền-lợi cho anh em đủ sống. Theo nguyên-tắc là chúng ta nên lập một Nhiếp-ảnh đoàn để bảo-vệ quyền-lợi anh em nhiếp-ảnh. Mọi nhiếp-ảnh gia đều được tự-do đăng-ký vào trước khi hành nghề. Rủi có thưa kiện giửa thợ và khách thì Nhiếp-ảnh đoàn sẽ đứng ra phân-xử công-bằng cho hai phía. Vì trước mắt Hội nhà ta chỉ đủ sức bảo-vệ quyền-lợi về tước-hiệu cho hội-viên mà thôi. Còn số người xả thân vì quyền-lợi chung của anh em không đánh kể, chỉ lèo-tèo vài người trong các câu-lạc-bộ. Tôi cảm-phục và nhớ ơn những anh em ấy. Nhìn chung cái hục-hặc mất đoàn-kết nội-bộ càng ngày càng chồng-chất như trăm căn nhà đua nhau mọc chễm-chệ trên đê sông Hồng ngắm mùa nước lũ.

À, nguyên-nhân chính gây BỊNH:

–           Trình độ đa-số còn hạn-chế chưa đủ khả-năng đào sâu nghiên-cứu và chịu chấp-nhận cái mới.

–           Chưa có sức mạnh đoàn-kết và quá ít ngươì xả thân vì quyền-lợi chung.

–           Ảnh không bán được, thầy thợ không đủ khách để sống.

Đó ! Viên thuốc bọc đường của tôi, dù chẳng thần-sầu kiểu “thuốc Huê-kỳ” hay quỷ-khốc như Xuyên-Tâm-Liên, nhưng cũng giúp tôi chẩn đúng bịnh rồi đó! Nguyên-nhân kéo dài bịnh, tới đây ai cũng biết. Viết dài có người mệt óc không đọc, kẻ quê độ xé phứt bài đi vì tự -ái.

Xem bên Mỹ-thuật, chẳng ai sáng-tác giống ai, chẳng bao giờ có cụng hàng nên ai cũng có đất sống vì bán được tác-phẩm của mình, mà lại cao giá thì làm gì có lục-đục, ganh-tỵ ? Đại đa-số đều qua trường lớp bài-bản hẳn-hoi. Chẳng có “chạy đua vũ-trang”, mà chẳng họa-sĩ nào cần tự khẳng-định mình bằng huy-chương hay tước-hiệu vẫn nổi tiếng như thường (mà nếu có làm thì làm một lần thôi, làm hoài có ai thèm để-ý nữa đâu?). Họ vẫn có tác-phẩm để đời. Tôi thắc-mắc không biết mấy ông nhiếp-ảnh bậc thầy như Ansel Adam, Henri-Cartier Bresson hay Edward Weston… suốt cuộc đời có được mấy cái mề-đai loè thiên-hạ? Đồ nghề xịn mức nào?.. Mà sau khi mấy ổng qua đời, vẫn còn nghe người đời nhắc vanh-vách nhiều tác-phẩm của mấy ổng.

Tôi thắc-mắc là anh em nhà ta đang chơi ảnh hay là sưu-tập huy-chương và đấu hàng hiệu? Mà tác-phẩm để đời là cái chi chưa thấy. Cũng dân nhiếp-ảnh mà người với ta khác nhau quá cở.

Tôi thắc-mắc tiếp là với cái đà này thì ta sẽ có được cái gì để lưu cho hậu-thế thưởng-thức? Nhất là gần đây nghe giai cấp phó-nháy tiến-bộ truyền miệng mấy câu thơ như sau:

 

“…Chết rồi “của quý” vất đi,

Xách ra Lê Lợi, chúng chê “hết xài”.

Bằng tước hiệu, ve-chai xé sạch,

Đống huy-chương, thợ bạc còn chê…”

 

Thì tôi thấy tiếc cho thì-giờ và công sức mà mấy anh em đã phung-phí lâu nay. Mong rằng ta mau tỉnh-ngộ để mà tránh cảnh:

 

“Nghệ hỡi Nghệ, muôn năm sầu thảm,

Tước-hiệu (2) còn một nắm xương thôi,

Thân tàn ma dại đi rồi,

Rầu-rầu nước mắt bời-bời ruột gan.

Nghe hơi gió ôm ngang lấy gió,

Tưởng chừng như trong có huy-chương (3),

Của mình (4), mình quý (4), mình thương,    

Nào hay gió tạt chẳng vương-vấn gì…”                    (Hàn Mặc Tử)

 

Những anh còn u-mê mê-muội thì chắc phải mượn dùng tạm bài này nhờ ai hú gọi ba hồn chín vía của mấy anh về ngay mong rằng không quá muộn:

 

“…Hồn trở về mau mau hồn hỡi,

Hồn trở về tôi đợi tôi mong.

……

Hỡi hồn nước nước non non !

Hồn về tôi sẵn lòng son giúp hồn.

Tôi đây cũng không khôn cho lắm,

Nhưng cũng không dại lắm cho nhiều,

Tôi nay chỉ một lòng yêu,

Nên mong nên mỏi nên chiêu hồn về.

Hồn hỡi hồn ! – Hồn về hồn hỡi !

Hồn hỡi hồn ! – Hồn hỡi hồn ơi !

Đêm khuya cảnh vắng êm trời,

Khôn thiêng chăng hỡi hồn ơi hồn về !

Bút viết xong, tay nghe miệng đọc,

Miệng đọc xong giọt ngọc nhỏ sa.

Nhỏ sa nên chữ xóa nhòa,

Xóa nhòa nên mới in ra nghìn tờ.

In nghìn tờ mà đưa công-chúng,

Công-chúng xem mong bụng đổi dần,

Đổi rồi thúc kẻ xa gần,

Rằng mau nên trả nợ-nần non sông ! …”

(Trích “Chiêu Hồn Nước” của Phạm Tất Đắc 1927)

 

Ngẫm lại thấy thằng nhóc trong chuyện kể trên tuy là thường dân nhưng nó còn hơn cả dân thường vì đã làm cho vua tới dân sáng mắt.

Tôi liều mạng bắt-chước nó mà vọt miệng nói lên cái sự thật phủ-phàng – căn bịnh kinh niên đã bị lậm thuốc lâu năm.

Có anh khuyên phải thông-cảm cho phe ta còn non trẻ thỉnh-thoảng dính lỡ-lầm, từ-từ chơi riết mới có kinh-nghiệm, đòi hay liền sau được (?!)

Tôi bác-bỏ cái ngụy-biện ấy khi sự-việc đã kéo dài hơn nửa thế-kỷ, phe ta nay cũng đã sồn-sồn giá chót năm sáu chục tuổi thừa kinh-nghiệm để sáng mắt sáng nòng cỡ khẩu 1.2-2.8. Vả lại thời-đại thông-tin hiện nay cập-nhật cho ta cái mới để học và sửa sai liên-tục.

Tôi chỉ khả năng chẩn-đoán bịnh. Vì kinh-nghiệm hạn-chế nên không dám bạo tay trị dứt điểm bịnh bằng “dose d’attaque” trong ngày một ngày hai. Chờ thầy cao tay hơn. Ai cũng biết công-thức thuốc trị song pha-chế ra sao còn tùy.

Thấy thẹn vì chưa xứng-đáng với câu:

 

Thông-minh nhứt nam tử

Yếu vi thiên hạ kỳ…                (Nguyễn Công Trứ)

 

Vì trước mắt:

 

Phải tự chinh-phục mình trước khi chinh-phục người           (Vô Danh)

 

Ý đã cạn. Lai-rai món ăn tinh-thần đầu năm với anh em phe ta cho vui. Cũng giang rộng tay mời nhiều anh em phe khác cùng tự-do thưởng-thức. Thà khao mọi người món ăn không ngon còn hơn đóng cửa ăn một mình mang tiếng xấu bụng. Chúc anh em luôn làm ăn phát-đạt, mạnh khoẻ và nhất là đoàn-kết. Nay kính.

Viết xong ngày mùng 2 tết Quý Mùi , lúc 16 giờ (2-2-2003)

Vô Danh Nghệ.

– Chân thành cảm-ơn mọi sự giúp-đỡ , góp ý của tất cả các anh em trong quá-trình hoàn-chỉnh bài này.

– Bài viết có dùng và cải-biên một số văn thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du, Tú Xương, Hồ Dzếnh, Hàn Mặc Tử, Trạng Quỳnh, cadao Việt Nam và nhiều thơ vô danh cùng một số tư-tưởng, danh ngôn để phù-hợp với ý-tưởng bài.

– Tác giả chỉ chấp-nhận sự phê-bình của ai có lương-tâm thật sự trong sạch với anh em và ngành-nghề của mình.

 

“Đời Tôi để Lịch-Sử xử” (Nhất Linh).

 

Chú thích:

(1)        Tên cơn bão xoáy ở eo biển Messine. Dù tàu bè thoát được thì cũng bị trúng bãi đá ngầm Scylla rất gần đó. Ý gần như “họa vô đơn chí”.

Tôi cải-biên vài chữ cho hợp ý bài viết : (2) Bản gốc: “… trong đó có hương”; (3) Bản gốc: “Nhớ thương còn…”; (4) Bản gốc:”Của người mình nhớ…”

Cảm hứng nhiếp ảnh (3)

(tiếp)

Chương thứ tư:         Gà nhà bôi mặt, Cáo chực ngoài sân

                                    Bạng duật tương tranh, Ngư ông đắc lợi.

 

Lại nói về những vị tu dai “đắc đạo” thành Nghệ-sĩ , phải luôn đấu trí căng-thẳng với các đồng-nghiệp về mọi lãnh-vực để không bị thua sút và tồn-tại trong thời buổi mà cái gì cũng cạnh-tranh: tước-hiệu, đồ nghề , lớp dạy, học trò, khách hàng, chức-vị… Quân-tử gọi là “cầu-tiến” nhưng đời éo-le sinh thêm từ “bon-chen” sặc mùi tiểu-nhân đi song-song cho trọn đạo âm dương. Hên là mấy ông chưa bày trò lấy cung Điền-trạch của mình ra đấu nhau để rồi có nhiều ông phải hận đời tủi phận vì trọn đời cống-hiến tranh-đấu cho sự -nghiệp mà vẫn chưa có được một căn nhà cho nên thân, cuối đời vẫn còn phải ở căn hộ tập-thể ọp-ẹp (nếu đem cung Phu-thê ra đấu nhau nữa thì tận thế !)

Vốn chửa có trường nhiếp-ảnh chính-quy nào cho tới nay để phát một bằng-cấp có giá-trị ra hồn cho mấy vị, lo bằng cũng không có chổ mà chạy lo, thì chỉ còn cái mửng tự khẳng-định bằng số lượng huy-chương mà thôi. Như đếm sẹo trên đầu để biết chức-vị Hòa-thượng vậy. Xem báo thấy mấy ông bà tướng huy-chương đeo sệ ngực thiếu điều rách áo thì cả thiên-hạ chết vì khiếp. “Nhất tướng công thành, vạn cốt khô” mà! Nhưng huy-chương nhà binh thì đã dự tính để cài áo mà huy-chương Nhiếp-ảnh chửa ai tính tới. Ông nội design nhà ta nát óc tới nay vẫn chửa “binh” ra cách đeo nên đeo không được, đếm không xong trước một số-lượng lớn. Giả sử đeo được nếu áo quần không bị tuột rách vì nặng thì đeo tới đầu gối cũng chưa hết. Trò bất lịch-sự sẽ sinh ra khi người kính-cẩn quỳ xuống chân ta mà săm-soi nghía mấy cái “chiến tích oai-hùng”. Cái vòng lẩn-quẩn “Đếm lựa để đeo, đeo thì phải đếm” thật là phiền-toái kiểu bà già lẩm-cẩm đếm tiền suốt ngày mà chẳng biết tiêu đầu nào. Đợi đến đại-hội, muốn thuê xe ba-gác hiệu, tiêu-chuẩn “a-còng”, cộ hết đống cồ-lec-xông huy-chương lủ-khủ đi khoe thì phu xe nó không chịu đi vì chê trả “giá thợ” rẻ quá. Tệ hơn nữa là nếu ghi chức “hiệu” trên cạc-vi-sít những chử như Artist, EFIAP, VAPA… thì ai có tiền cũng có thể in y khuôn thì hơn nhau chỗ nào? Đụng hàng! Thêm một cái khó nữa. Kinh không, thưa bà con?

Từ lâu đã có thơ rằng:

 

“Một thương đồ hiệu hẳn-hoi

Hai thương nâng cấp “đồ” chơi hoài hoài,

Ba thương “sô lẻ” lai-rai,

Bốn thương “đám” đậm, dư xài dư ăn.

Năm thương dàn-dựng kỹ-càng,

Sáu thương có sẵn mặt bằng studio.

Bảy thương đông-đảo học-trò,

Tám thương người mẫu mong chờ, vấn vương…

Chín thương Nghệ-sĩ Trung-ương,

Mười thương, ủ sẵn huy-chương cả hầm”.

 

Nên nghĩ rồi đây chắc chắn mấy ổng bả sẽ nảy sáng-kiến đặt xì-tăng-đa “Phi Nghệ-sĩ bất thành phu phụ” thành văn-bản để chọn bạn đời giàu-sụ huy-chương cho môn đăng hộ đối.

Mà giàu huy-chương bắt buộc chứng-minh từ đâu mà có như phải khai nguồn-gốc tài-chánh cho thanh-tra. Chỉ có làm triển-lãm. Báo hại nhiều anh muốn nổi tiếng phải tổ-chức triển-lãm cá-nhân mà phùng xoè trước đối-phương, phải rặn bụng bóp hầu-bao thuê làm ảnh khổng-lồ, ép la-mi-na theo lệ ngày nay cho sang, tăng phần áp-đảo. Còn phải in thiệp mời, bờ-rồ-sua tặng quan khách. Nếu in sách được nữa thì ngon vì dễ bán hơn bán ảnh. Quan-trọng là phải có kèm “liên-hoan nhẹ” thì khách mới hứng-thú tới đông-đảo. Nên có triển-lãm thì anh lab và anh lamina hốt bạc trước. Kế đó là đám bạn-bè khách-khứa được dịp nhào vô đánh chén một chầu bí-tỉ như giổ làng. Các tăng nhậu chén thù chén tạc tiếp sau đó, kết hợp “Kàrà-OK” về khuya càng không hề thiếu, thậm chí diễn ra gần như hàng hôm để củng cố quan-hệ làm ăn với nhau. Rồi để tiết-kiệm kinh-phí thì nhiều người hay nhóm liên-kết triển-lãm theo kiểu làm ăn tập-thể cho tăng hiệu-quả. Thành-công thì không ai thèm nói. Nhưng thỉnh-thoảng có ép-phê ngược khá nghiêm-trọng do nạn đụng hàng trong khi lựa ảnh chuẩn-bị triển-lãm. Nếu hòa-giải êm-thấm thì lúc trình làng cũng sinh chuyện khác. Là do nể mặt nhau rồi anh em đặt ảnh xen-kẽ giửa các nhóm cho có tính hòa-đồng mà chẳng dè các chủ-đề của từng bức ảnh tự đá nhau chơi khiến cụt hứng người xem dễ sợ. Cứ hệt như cái trò mời ăn dĩa trái cây chua sau một món bánh ngọt (chưa dám nói giống như ăn măng-cụt non chấm đường cát cho ngọt miệng). Chưa thấy ai để ý góp ý-kiến trước cái trò cù-léc cắc-cớ này. Chỉ thương mấy nghệ-sĩ có thực tài mà nghèo không tiền làm triển-lãm bị thiên-hạ coi thường ra mặt.

Từ những cái đó mà rau muống rau lang hục-hặc với nhau. Chẳng ai dám trao-đổi kỹ-thuật gì ráo vì sợ bị ăn cắp nghề. Ít nói thì họ mới nghĩ mình cao siêu. Không nói ra thì chẳng ai biết mà nói nhiều như vẹm thì càng bị lộ tẩy, lòi đuôi. Chèn đét ơi, lại khổ nửa! Thôi vậy, mạnh ai nấy lo tích-lũy huy-chương cùng lúc với đầu-tư đồ nghề hết ga như kinh-phí quốc-phòng bắt-buộc. Riết cũng chẳng ai hơn được ai. Lợi-lộc chưa thấy mà bao nhiêu tiền vốn tiền lời đều khăn gói rủ hết nhau ra Lê Lợi, Nguyễn Huệ. Hàng mới về tay mình không lâu rồi cũng trở về vựa cả. Giống như nhà cái gom sạch tiền con bạc. Ai nấy đều o-bế mấy chủ tiệm để riêng “hàng độc” cho mình. Hễ dành được nó trong tay rồi thì tin đồn phát ra làm mình thêm nổi tiếng như thắng đấu giá. Mà hễ xui làm hư đồ chơi thì không khéo chúng hê ầm rằng mình chơi ẩu bị “banh nòng” cho thối óc. Vì design ấn-tượng nên đồ nghề được đeo sao cho “bặm-trợn” mỗi khi có dịp. Cũng kè-kè chân máy như xạ-thủ vác M60 đi càn quét. Cũng xỏ “áo khỉ” nhét đầy “đạn” (film). Mô-bai lâu lâu móc ra “a-lô” như truyền tin điện-đài. Ai cũng xem mình là “người hùng Charlie” vừa “đánh” quảng-cáo về vậy. Oai chứ !

Mấy quán “cà-phê cóc” xưa nay vốn là bãi đáp khoe máy, tranh-luận hàng, ai đến cũng được. Trước lạ sau quen là chuyện thường tình. Lâu lâu cũng có đụng trận choảng nhau qua-quít do bất đồng ý-kiến. Nhưng vì “tứ hải giai huynh-đệ” và “đánh đau mới biết bạn hiền” nên dù có sứt đầu bể trán cở nào thì cũng được giảng-hòa ổn-thỏa. Xưa nay chưa nghe chú nào bị “phú-lích” xúc do ẩu-đả cả. Thông-tin thì dồi-dào. Thầy thợ ta ưa nghe tin-tức “trong luồng” từ “Đài tiếng nói Nghệ-sĩ Chính-Quy” kết hợp tin “ngoài luồng” của “Đài phát thanh Cây-Dầu Tự-Do”. Hai đài cạnh-tranh phục vụ bá-tánh nhiều bài vừa giựt gân, vừa tràn trề mê-ly cụp-lạc mà vẫn chính-xác tuyệt-đối. Internet giúp nhiều người sáng mắt khi tham-khảo chất-lượng, giá-cả hàng mới ra. Cái hay hơn là từ đó giúp học-trò tỉnh-ngộ mà tẩy-chai bớt đám “thầy-giáo máu con buôn” để bảo-vệ danh-dự mấy thầy chân-chính.

Mà hễ chụp thì có ảnh. Khởi đầu khi sáng-tác, cái chiêu nhắm mắt bóp ra-phan, nhấp bracket tốn hàng chục, hàng trăm cuộn kiểu “bắn lầm không bỏ sót”, nòng 72,77 ly thụt tới bắn lui xối-xả, sàng qua chỉa lại đủ “trente-six modes” dợt bao người mẫu mê-mệt phủ-phê và “khè” người xem lé xanh mắt. Bỏ phịch một rổ phim trong lab bảo “làm hết” thì chủ lab mừng rơn trong bụng dù giá thợ rẻ bèo. Vác hình về một bao thì được tiếng “đại-gia” chơi xộp. Nghe đồn có “đại-gia” to gan bao lab làm trọn buổi để rọi ảnh lớn cho mình tốn cả chục triệu.

Gần hết hạn gởi ảnh dự thi thì các lab làm việc hết hơi, bơi không hết việc. Mấy anh thợ làm hình thủ-công đen-trắng cũng bị quay như dế vô guồng máy để kịp thời hạn. Tiền nghệ-sĩ đổ tràn vô lab như triều cường. Đến coi tiệm giao hình cũng đã mắt nhưng đừng tò-mò hỏi chi vì tác giả ảnh thường làm-biếng trả lời linh-tinh mất thì-giờ “hiệu” cho cái thằng tôi chẳng đáng cái đinh gì.

Cuối năm, thời-tiết mát-mẻ là vô mùa trai gái hè nhau ôm cưới ồ-ạt. Ay là lúc thợ thầy dưới tỉnh, trên thành đua nhau chạy lên lab làm hình nườm-nượp. Lab bấm tới khuya cũng chẳng hết khách. “Lab gổ”, “lab hộp” nhờ vậy mà được theo đuôi kiếm sống đở khổ.

Anh làm xong, nghèo thì vô album 10×15, khá hơn thì ép pờ-lát-tích, giàu nữa thì la-mi-na, xì-can ảnh vô CD. Thứ nào cũng có thầy dạy để phục-vụ nhu-cầu của thợ. Có thầy thứ gì cũng dạy (trừ món trang điểm người mẫu vì quá vụng tay), hốt tiền đã ! Giá cả, chất-lượng thượng vàng hạ cám cạnh-tranh tá lả. Lời ít cũng tạm đủ sống. Cái gì mà “đời chỉ có một lần” thì thầy thợ vẽ mắm muối chi chi khách cũng OK xì tiền tới bến đặng nở mặt với bà con với hy-vọng đoạt danh “nhà vô địch”. Đúng là nghệ-thuật vô giá, văn-hóa hữu tồn. Các dịch-vụ dài hạn “ăn theo” hay chung sống với nghề ảnh như studio, “tút” hình, thuê áo cưới, thuê xe, thuê phòng, nhà hàng, khách-sạn, rồi nhà bảo-sanh, phục-hồi ảnh người chết, trại hòm, thầy chùa,…vân vân… nhiều không kể xiết mà đặc biệt là Photoshop được cơ hội nhập trận ngon lành. Ay là chuyện về sau.

Mấy ông khổng-lồ sản-xuất thiết-bị photo lợi-dụng cái cơ-hội béo ngậy này để tung vào đủ thứ hàng hiệu “thơm như mít” mà thầy thợ nhìn là phải mua cho được vì nhu-cầu sinh-sống và chưa kể khách hàng nó đòi mới khổ (lại KHỔ !). Có anh chỉ mới nghía sơ hàng rồi về nhà nằm tương-tư mê mệt; “chịu không nổi” đành nổi máu vét hết tiền lãnh “sô” ra tậu hàng về như nạp thiếp. Vợ cũng phải thông-cảm vì nếu không e chồng mình khó sống. Rồi thêm mấy cú tài-trợ, khuyến-mãi làm ai nấy cứ nhắm mắt vung tay bỏ tiền ra tham dự còn hơn mua vé số cặp. Người trúng đã mừng, người trật cũng ưng vì được hàng tốt. Mấy tờ “lá cải” cũng nhờ tài trợ mà lấy sức lết dài tuổi thọ. Chung cuộc chỉ mấy ông khổng-lồ “trúng mẻ lưới” đậm hơn ai hết.

Dân nhiếp-ảnh cạnh-tranh làm ăn với nhau là nhiều ngành khác thừa cơ hốt bạc như diều gặp gió. Lại được cái hay ở mùa dịch-vụ, hể có hái ra tiền là thế chân vạc nghệ-thầy-thợ vững-vàng. Hết chuyện kèn-cựa ganh-tỵ. Người nào cũng được dịp may gỡ vốn nên tích-cực làm ăn với sự bình đẳng trên thương-trường. Phong-trào “hàng hiệu” tạm lắng chờ thời vậy.

Rồi “chiến-tranh lạnh” trở lại sau mùa dịch-vụ. Mấy Nghệ, nay “hết khứa” trở lại rảnh-rang cùng cái túi bạc dày cộm giấy “xăng” (tờ 100). Sau nhiều trận bất phân thắng bại thì cái giải-pháp chót là đấu chức-vị trong chốn quan-trường. Mấy thầy chú chóp-bu vì thế đau đầu vì lo đối-phó mãi hệt nhà vua trước cảnh bầy con tranh-giành ghế Đông cung Thái-tử .

Tới năm có đại-hội kiểu Đại-Hội Anh-Hùng Võ-lâm bình-bầu đại bang-chủ thì có “chuyện dài Nhân-dân Tự-vệ” kể hoài chẳng dứt. Cảnh vận-động, cải-cách một ít vào giờ chót cuối nhiệm kỳ, hứa-hẹn để lấy lòng cử-tri rồi đắc cử tính sau đúng theo chiêu-bài bầu-cử tổng-thống Cờ-Hoa làm xôn-xao toàn giới Sĩ Phô Nghệ Sởi. Vì cửa chính Hội đầu-não nhà ta vốn nằm trúng cung Khẩu-Thiệt nên ở năm “khí vượng” này, các chiêu võ mồm từ công-khai, bán công-khai đến bí-mật của các bang-hội được tung ra hết công lực. Nhưng đây là dịp được tài-trợ vé xe tàu đi đại-hội tiện bề sáng-tác luôn thể nên ai nấy cũng vui bụng “cố đấm ăn xôi” vừa có tác-phẩm ôm về rải dự thi tứ xứ.

Đọc sử Việt ai cũng đau xót ám ảnh một câu lặp tới lui hoài đại-khái : “Nhân lúc nước Nam loạn-lạc thì phương Bắc lăm-le dòm ngó” mà loạn Mười Hai Sứ-quân tương-tàn huynh-đệ là điển-hình để so-sánh với bầy gà Nghệ mãi-mê bôi mặt xanh, tô móng đỏ, mài cựa sắt đá lộn ì-xèo nhau. E rằng có một tay Sĩ cáo già đang canh me cả đàn đang “mất phương-hướng” mà xổ ra thịt trọn bầy đặng ôm phức cái “danh-vị” về riêng mình. Thầy bói bảo lúc thấy gà mái gáy trước cửa Hội phó-nháy là coi chừng. Đầy huyền-bí dị-đoan bố ma nào hiểu để mà tin vớ-vẩn. Nhưng dù đúng hay sai thì dự-phòng vẫn hơn. Miễn đừng ai ngu ham “mút vòi” mà “rước voi” phe khác, sờ lầm chổ, voi điên giày đừng trách!

Thương anh em vùng tỉnh xa vì kinh-tế khó-khăn, đói thông-tin nên cứ hít hơi bắt chước “đại-gia Sài-Gòn” như Tư Ếch của La Fontaine ráng phổng trướng bụng để mong to bằng Sáu Bò đặng rồi quên cái khôn David của mình đã thừa sức hạ gục Goliath. Phe ta ở thành thị có “đụng trận” nhau thì miểng “moọc-chê pháo-kích lạc đạn” cũng làm xính-vính anh em miệt dưới với tư -tưởng…

 

“…Hàng đại-gia dùng đều là hàng độc,

Tài đại-gia giống như ngọc như vàng,

Ruộng cò thẳng cánh chẳng màng,

Anh mê Fi-ap, bỏ nàng mà dự thi” …

 

…khiến kinh-tế nhà nhà đã khốn-đốn càng thêm khốn-đốn. Lý-do vì ngươì người lo è lưng xoáy nòng ép dên nhắm mắt đua theo đuôi các “đại-gia”. Cái biệt tài David của các anh đâu mất? Khiến qua chờ hoài không thấy và lăm-le chọc mấy anh “xuất chiêu” để học-hỏi nữa kìa. Cái độc-lập tư-tưởng, tự cường thực-lực của mấy anh bị dú rục bởi bùa mê ngãi lú của mấy “đại-gia lụi” ấy sao? Chưa nói là cuộc đua ngày nay đã tới cực điểm bằng Digital của thời-đại thông-tin thì ai theo hoài nổi ? Cứ xem chương sau biết ngay !

 

Chương thứ năm:      Photoshop tung-hoành trên tác-phẩm

                                    Digital thao-túng khắp thị-trường

Cái anh nhà Photoshop cũng tiện đáo-để nhứt là giải-quyết cho tác-phẩm anh em ta cái chuyện điều-chỉnh sáng tối, tương-phản, đổi sang đen trắng, đổi trắng sang đen, “tút hình”… Mấy ông bà khuất núi ngậm cười vì con cháu nó có dịp phục-hồi lại ảnh sinh-tiền của mình cho đẹp mà đặt lên bàn thờ với giá phải chăng. Người mẫu sung-sướng khi chân-dung láng-e vì hết tàn nhang, mụn nhọt lẫn nốt ruồi “sát phu”. Cái câu “tiền nào của nấy” thành vô nghĩa vì từ mười ngàn rồi xuống bẩy ngàn đồng-bạc ta là mua dễ-dàng một cd Photoshop có khuyến mãi thêm hàng chục phần mềm khác để dùng, có lúc bạn-bè cho chép “chùa” thêm khoẻ. Cái còn lại là học thêm một ít để thao-tác. Rẻ hơn giá tờ báo lá cải mà anh em ta thường mua đọc khi ế độ chờ khách.

Mà cái thực-tế hơn cho nữa là anh Photoshop sẵn-sàng xóa luôn cả tiền cảnh hậu cảnh, dọn “rác” trên ảnh sạch tưng khiến ảnh trở nên đúng chóc câu” nổi bật chủ-đề” theo sách thầy dạy. Mà nếu phim bị xuống cấp thì anh Photoshop cũng phục-hồi “láng” cả. Cứ scan vào rồi tha-hồ chế-biến ra sao thì ra. Anh sửa xong thì mướt-rượt, dở cũng thành hay. Thành ra nhiều người khoái, tự nguyện đăng-ký hay mua sách đi học làm “lao-công photo”, tệ lắm cũng mở-mang kiến-thức ít nhiều để khỏi bị người khác chơi qua mặt.

Học lâu cũng thành cao thủ. Mấy anh áp-dụng luôn các kỹ-thuật phòng tối: solar, tram hạt, phân sắc…Khiến mấy anh làm phòng tối thủ-công hay rọi hình đen trắng thấy vậy mà lo sốt vó vì sợ khách ngày càng ít đi. Thêm nay giấy đen trắng không tiêu-thụ được nhiều nên mấy “ông khổng lồ” chẳng đoái-hoài tới.

Học cao hơn nữa thì biết thêm trò ảo-thuật không thành có, có thành không, ghép tới ghép lui chế tác-phẩm mới, khỏi sợ mệt vì chạy đi sáng-tác. Anh nào ưa xuất thần nhập “Cõi Thiên-Thai” mà bày đặt ghép bậy-bạ thì đừng trách bị Văn-Hóa nó “gõ”. Ảnh được xử-lý “tới bến” thì bị quở là làm “sạch” quá lòi tẩy dàn-dựng mất hết tự-nhiên (?!). “Lưởi không xương nhiều đường lắt-léo” lo chi mệt óc. Vui là cứ chơi trò “đi mây về gió” đủ kiểu trên ảnh rồi gởi dự thi để cắc-cớ test tài năng BGK. Chọc cho chư vị quê độ vì bị “chơi” qua mặt lia-lịa để rồi Photoshop bị cấm như cấm tài-liệu trong thi-cử. Nhưng đâu lại hoàn đấy vì hàng giả luôn đẹp hơn hàng thiệt. Khi ảnh trúng giải mà có ai biết tác-giả có móc-ngoặc với Photoshop thì dư luận phản-ứng lung-tung, làm ung nhọt tầy-huầy. Nhưng trăm sự đều êm xui vì BGK biết khôn mà hoan-hỉ ngậm bồ-hòn làm ngọt. Trừ trường-hợp quá đáng khi lấy ảnh chụp nơi này ghép qua cảnh nơi khác để dự thi thì xạo quá mức nên phải loại thẳng tay cho công-bằng, nhân tiện rửa quê luôn thể. Chung quy người chấm lầm chứ người thi không bao giờ lầm. Oan mạng cho các anh chơi ảnh kỹ-thuật kiểu truyền-thống chân-chính cứ bị “chụp mủ” tòng phạm với Photoshop hoài. Cái gì lạ là bảo Photoshop làm. May là còn ảnh contact làm chứng cứu bồ. Hay hay dở, hể lạ là đổ đầu Photoshop đại trước cái đã rồi tính tiếp. Photoshop vào huyền-thoại như thế đó.

Rồi trong phong-trào vi-tính bột phát, máy ảnh Digital được tung vào thị-trường như một cuộc cách-mạng. Hễ Digital là hay. Giá càng “bay”, khách càng say vì “thuốc”. Mà nạn nhân trước hết là khách hàng của giới nhà ta. Báo hại cho một số anh em phải chạy lo nâng cấp hay đúng hơn là chuyển hệ từ-từ để đáp-ứng nhu-cầu thị-trường. Bù lại thì khách hàng bắt buộc chi tiền nhiều hơn vì chất lượng, hay đúng hơn là vì thời-cuộc đòi hỏi; mà không chịu theo thì bị mang tiếng không “thời thượng”. Mà mua máy digital phải mua phụ-tùng kèm theo, điển hình là cái máy vi-tính tệ lắm cũng phải có chức-năng để lưu ảnh và chép cd cho khách. Cái máy vi-tính cho ra hồn cũng tròm-trèm một ống kính loại khá. Lại tốn tiền học vi-tính trong khi tiền vô chưa nên thân. Nay thêm dịch vi-rút hoành-hành vì “chít-chát” internet bừa-bãi. Trúng liều “Photo bí sử” bằng “meo pháo-kích” thì cơn ghiền của giới thầy chú lên cực độ, gây nổi mề-đay toàn thân mà chẳng xác-định được đâu dù là chỉ để khều-khều cho đã ngứa. Tức căm gan khi bọn xấu thừa cơ chơi “truyền đơn” bịa đặt bêu-rếu một cách vô văn-hóa chuyện riêng-tư của “con kia, thằng nọ” cho bất cứ ai mà chúng ganh-tỵ. Nghệ hay thì đã quá muộn vì sự đã nổ tùm-lum, đố mà bưng-bít. Rồi tiếp là cái trò…

 

“…Truyền tay, phổ-biến, photo,

F3, F4 chử mờ vẫn phô.

Biết bao tin lạ không ngờ,

Theo đường bưu-điện gởi vô tận nhà…”

 

… từng anh khiến mấy hai “đài phát thanh” cũng phải tăng-cường chạy đôn chạy đáo săn thêm tin để cạnh-tranh phòng mất khách.

Cái đáng nói hơn cả là cuộc đua vũ-trang vẫn tiếp-tục dưới hình-thức vốn có của nó nhưng bảo-đảm sẽ khốc-liệt hơn vì trước mắt hàng digital xuống giá liên-tục. E rằng kế sách “bù tiền đổi máy” theo hoài không nổi. Tạm chấp-nhận cái tiêu-chuẩn “5 chấm” hiện nay như mức khởi điểm, nhưng tồn-tại bao lâu? Các bảng test máy digital được cập-nhật hoài khiến thầy thợ đọc lòi cặp mắt mà chưa kịp có quyết-định nào cho chắc cú. Mà đọc vậy chứ chưa chắc hiểu bao nhiêu. Bí-quyết khuyên chỉ cần đọc đoạn kết luận “mấy sao” là đủ để không sợ ai cười mình lạc-hậu. Lúc giao thời, thầy cũng cố-gắng học qua mặt trò mà mở lớp. Thợ thì ráng đầu-tư lập thêm một “phòng nhì” digital để thả câu mồi chài khách sộp. Ai nấy đều ào-ào đổ xô vào cái digital mới lạ như phong-trào chim cút hay patin rùm-beng ở Saigon một dạo. Không biết có ai rủ nhau bán đổ bán tháo hết đồ nghề củ của mình để sang digital làm cho toàn bộ máy-móc truyền-thống hạ giá đồng-loạt hay chưa? Sự việc mới xảy ra chưa lâu nên chưa có ý gì nhiều để bàn-tán. Cứ chờ. Chỉ biết vắn-tắc: lịch-sử lặp lại theo đường xoắn-ốc với mức độ cao dần. Thế thôi. Chương này tạm dứt.