Tại sao người Việt không khá nổi ? (2)

1-       Ảnh hưởng văn hóa Tàu:

Một ngàn năm Bắc thuộc đã ảnh hưởng sâu đậm. Tư tưởng Nho giáo ngấm sâu trong dân gian đến nỗi nhiều người VN không thể phân biệt cái nào là của mình hay của Tàu.  Mà “Nho Giáo vẫn là một hệ thống ý thức tôn trọng chế độ quân chủ cực quyền, bảo thủ và bất dung[i].  Từ đây, cái dấu vết Nho giáo rải rác trong tâm tính người Việt suốt chiều dài bài viết này.

  1. Trọng nam khinh nữ: “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” [ii]

Cái tư tưởng “ con trai nối dõi” trong thời đại văn minh ngày nay vẫn còn duy trì. Đặc biệt tại các nông thôn và nhất là miền Trung, nơi mà ảnh hưởng triều đại Nguyễn cuối cùng còn đè nặng. từ đó mà nhiều gia đình không biết phát triển khả năng của con gái mình. Họ sẵn sàng ưu đãi cho những người con trai “nối dõi” bất tài. Đây là một bất công ít ai can thiệp.

Nhiều ông chồng ngược đãi vợ vì vợ không thể “rặn” ra được một thằng cu nối dõi.

Cái câu nói “ đàn bà biết gì !” thường được nghe thấy khắp nơi.

Thỉnh thoảng vẫn còn nghe chuyện cấm đàn bà léo hánh đến nhà gian thờ chính, cấm lên thuyền chài, cấm ngồi ăn chung với đàn ông, nữ không được hưởng di sản cha mẹ…

Với tỷ lệ nam-nữ không chênh lệch nhiều, ta thấy gần phân nửa nhân lực xã hội bị bỏ phí.

Thực tế, so với người Tàu, người VN vẫn còn phần nào tôn trọng phụ nữ  hơn. [iii] Do đó danh nhân phụ nữ VN có công với nước khá nhiều: Hai Bà Trưng [iv] , Bà Triệu, Ỷ Lan, Huyền Trân, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Thị Giang, Nguyễn Thị Bắc… Ngược lại, sử Tàu chỉ vỏn vẹn vài nhận vật nữ hại dân hại nước là chính:  Bao Tự, Đắc Kỷ, Võ Hậu, Từ Hi.

  1. Tính cố chấp, bảo thủ:

Xin nhắc lại: “Nho Giáo vẫn là một hệ thống ý thức tôn trọng chế độ quân chủ cực quyền, bảo thủ và bất dung”.

“Lời thánh hiền dạy, cấm cãi” hay “Tổ viết thế, ta phải theo” hoặc “các cụ ngày xưa thâm thúy lắm, ta không nên so bì” thường được nghe nhắc lại.

Chuyện chấp danh, chấp chữ theo sách làm con người trở nên máy móc [v] và ưa bắt bẻ nhau từ ngữ với nhau gây tranh cãi không cần thiết.

Hiện nay, suy nghĩ này kềm hãm tinh thần phản biện để tiến bộ. Đó là tại sao, xã hội của ta và Tàu lẹt đẹt mãi.

Cứ mà xem, nhà Hồ phát minh súng thần công. Người Tàu phát minh pháo thăng thiên, la bàn. Vậy mà đến thế kỷ 19, bị thua Tây phương do vũ khí lạc hậu; pháo thăng thiên vẫn chỉ dùng để giải trí; la bàn chỉ xài cho thuật phong thủy.

Người Tây phương có khuynh hướng khuyến khích con em tự do tìm tòi sáng tạo, miễn không gây hại xung quanh. Nhưng ngược lại, người VN không được khuyến khích sáng tạo. Các phát minh, hay ý tưởng tiến bộ đều bị tư tưởng thủ cựu đè bẹp. Đường lối cải cách của Nguyễn Trường Tộ bị công kích và thất bại là một thiệt thòi cho tương lai VN. Cùng thời, nước Nhật đã sáng suốt cải cách để được hùng cường như ngày nay.

  1. Trọng khoa bảng, thích quan quyền:

Một xã hội phong kiến lâu năm đi cùng với cái mặc cảm nghèo làm con người luôn có mong mỏi phải đi học để ra làm quan đổi đời. Vùng càng nghèo đói thì người dân càng chuộng khoa bảng.

Khổng giáo có ý khuyên làm người đi thi ra quan để dìu dắt dân chúng theo đạo lý của thánh hiền nhưng lối học khoa cử từ chương lại không thực tế nhiều mặt. [vi]

Khoa cử, là độc đạo tiến thân trong xã hội được tâm lý bảo thủ của người Việt (kể cả Tàu) nuôi dưỡng. Nên dân VN có tiếng là sáng dạ và hiếu học nhưng không đi ngoài những khuôn giáo điều đúc sẵn.

Khi còn là dân đen bị áp chế bao nhiêu thì lúc làm quan là lúc thỏa sức lạm quyền bù cho những ngày nghèo khó. Từ đó thói cửa quyền và lam quyền và tham nhũng sinh ra… Và những người dân bất hạnh phải dùng nguyên tắc “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” tiếp tay thêm cho tệ hối lộ công hành. Nó đã làm ô uế tinh thần “trọng nghĩa, khinh tài” mà các cụ dùng để khuyên con cháu.

Kẻ làm quan lạm quyền để vinh thân phì gia dưới mọi hình thức kể cả cố tình tạo nhiều kẽ hở trong luật để thao túng bất chấp hậu quả. Lúc quốc gia lâm nguy thì rủ nhau trốn sạch. Số quan lại hữu đức kém tài thì nếu không chết thì cũng bất lực khoanh tay. Số người có công với dân với nước không đáng kể.

Chung quy làm quan cũng chẳng ai giúp ích được gì nhiều cho xã hội ngoài mưu cầu cho lợi ích cá nhân là trên hết.

Mặt khác, nho giáo coi trọng kẻ sĩ  (sĩ-nông-công-thương) nên nghề buôn bán bị coi thường và không được khuyến khích phát triển để làm giàu.

  1. Tự tôn và tự ti:

Sự phân biệt quân tử – tiểu nhân của Nho giáo tạo ra phân biệt đối xử trong xã hội. [vii]

Trên thì coi mình như thần thánh bắt người khác phải tung hô, hầu hạ. Mà đã là thần thánh thì phải hoàn hảo nên càng sợ hãi né tránh sự thật về quá khứ và khuyết điểm của mình. Gặp người có tâm thì còn đỡ, ngược lại kẻ vô đức bất tài được thời càng phải độc tài và bưng bít sự thật để ngồi trên đầu kẻ khác.

Người dưới nhịn nhục chịu đựng mọi chèn ép ức hiếp không dám kêu ca. Trong lòng lại nung nấu sự hận thù và ước mơ đổi đời để giải hận.

Quá tự tôn và không chấp nhận đổi mới như một chính sách bế môn tỏa cảng về tư tưởng. Nhiều người kiệu ngạo với kẻ dưới nhưng với người trên hay người nước ngoài thì khó che dấu sự sợ sệt của mình và nỗi mặc cảm nhược tiểu vẫn chưa gột rửa. Song song đó còn có tính tự ti trong một cá nhân làm tăng nỗi sợ hãi. Tài hèn, chí cả, ham quyền chức thì sợ hãi càng tăng. Đó là tại sao tệ mua bằng cấp che mắt thiên hạ trở nên phố biến. Sự tôn trọng giá trị bản thân nghề nghiệp của mình bị mình coi rẻ. Thêm có máu kiêu ngạo,cửa quyền, tham nhũng khi được ăn trên ngồi trốc thì quả là tình cảnh này làm nước Việt này không ngóc đầu lên nỗi. [viii]


[i]  Tổ quốc ăn năn của Nguyễn Gia Kiểng.

[ii] Một đứa con trai được xem là có, mười đứa con gái cũng như không.

[iii]  Do còn ảnh hưởng mẫu hệ cũng như tư tưởng đối kháng với Tàu để tránh nguy cơ bị đồng hóa, người Việt duy trì truyền thống quý trọng bên ngoại.

Mặt khác, trong chửi nhau, chỉ chửi về bên nội: cha nội, mụ nội, thấy ông/bà nội… có lẽ vì lý do đối kháng trên. Thậm chí nhiều người VN có nói: cháu ngoại mới chắc bẩm là cháu mình vì do con gái mình sinh ra, cháu nội nhiều khi … chưa chắc.

[iv]  Trong phim tài liệu “ Vietnam, la Perle de L’empire”, người Pháp đã trân trọng xem Hai Bà Trưng như nữ thánh Jeanne d’Arc của họ.

[v]  Nguyên nhân của sự “chấp” được ghi rõ trong “Tổ Quốc ăn năn” (Nguyễn Gia Kiểng) như sau:

…” Trong việc biên soạn sách, Khổng Khâu hoàn toàn không sáng tác gì cả mà chỉ ghi chép những gì đã có sẵn. Ông nói: Ta chỉ thuật lại mà không sáng tác, ta tin và thích những gì của đời xưa (thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ). Đó không phải là một câu nói khiêm tốn như ta có thể nghĩ mà là cả một tín chỉ của Khổng Khâu. Ông coi những triết lý và hiểu biết của người xưa là đầy đủ và hoàn chỉnh, đời sau cứ thế mà theo không được sửa đổi, thêm bớt gì cả.”

[vi]   Trong “Bùn lầy nước đọng” của Hoàng Đạo có viết:

“…Tuy nhiên cái lý tưởng ấy xây móng trên một điều sai lầm lớn. Các cụ ngày xưa quá tin vào sự nhiệm màu của đạo Khổng. Họ tưởng rằng làu thuộc Tứ thư, Ngũ Kinh, học hết mấy pho sử, làm được câu thơ, bài phú là có đủ đức hạnh dạy dỗ dân, đủ tài kinh luân để đưa dân đến hạnh phúc. Họ tưởng rằng đã là sĩ phu thì là một người hoàn toàn, một đấng thánh hiền, nên học mới phó thác cho trách nhiệm quá nặng, quyền hành quá to. Nhưng thực sự sĩ phu vẫn chỉ là một người, một người với hết thảy dục vọng, hết thảy sự kém hèn của người đời. Sĩ phu tài đức vẹn toàn chỉ là một số rất ít, một số không đáng kể…

[vii]  “Hình phạt không được dùng cho quan lớn, lễ nghi không được dùng đối với đám thứ dân” (Hình bất thướng đại phu, lễ bất há thứ dân).

[viii]  Trước đây trong bài viết “Xét tật mình”,  Nguyễn Văn Vĩnh đã viết:

Dân ta rất cần mẫn chăm chỉ , biểu hiện rõ ở nông thôn tấc đất tấc vàng, không một mảnh đất nhỏ nào để hoang chỉ hiềm một nỗi, không biết tự hào về sự cần mẫn này, không thấy sản phẩm do lao động mình làm ra quyết định sự tồn tại của xã hội. Có ai, dù là vua quan, những kẻ làm sĩ, những người buôn bán, những người làm thợ thuyền… Không ai có thể sống nổi nếu không có lương thực, thực phẩm do nhà nông sản xuất. Tất cả các nghề khác đều như vậy, mỗi nghề đều góp phần tạo điều kiện cho xã hội tồn tại và phát triển, đều vinh quang nếu họ biết vì lợi ích của xã hội trong đó có lợi ích của chính mình mà lao động. 

Dù anh làm nghề gì, nếu anh không phục vụ tốt cho xã hội thì anh không được tôn trọng. Làm quan, một nghề nói chung được trọng vọng, nhưng nếu ông quan lại buôn quyền, bán chức, đàn áp nhân dân để kiếm lợi riêng thì có lợi gì cho ai, làm sao khỏi bị khinh ghét. Làm thợ mà biết tính toán khéo léo, làm ra những sản phẩm hoặc công cụ, có ích cho đời, vừa bền vừa đẹp thì làm sao mà không được yêu quý. Những người làm nghề buôn bán, làm nghề vận chuyển, hàng trăm nghìn nghề mà xã hội cần, không có nghề nào hèn. Mà chỉ cần ai làm nghề gì biết tự hào và lo học tập rút kinh nghiệm để phục vụ xã hội tốt mãi lên. Đó là con đường tiến bộ của cá nhân gắn liền với sự tiến bộ của xã hội, nghề nào cũng dẫn đến giàu có, vinh quang. Chớ có giầu rồi lại phụ nghề, đem tiền của do nghề làm ra mà đi mua chức vị nọ kia; ông hàn, ông bát, và coi thường nghề cũ.

Tóm lại cần mẫn phải gắn liền với lòng yêu nghề, với tinh thần vì cộng đồng xã hội trong đó có bản thân mà hành nghề, không ngừng rèn luyện để thạo nghề. Phục vụ xã hội và làm giàu song song phát triển, thúc đẩy lẫn nhau tiến lên mãi.”

2 thoughts on “Tại sao người Việt không khá nổi ? (2)

  1. đúng là cái khuôn khổ của Nho giáo đã ăn sâu vào máu thịt khiến cho Việt Nam mình cứ mãi lẹt đẹt, lách cách mãi mới thoát khỏi danh sách các nước nghèo trên thế giới để lọt vào danh sách những nước đang phát triển, sự bảo thủ, trì trệ trong suy nghĩ đã dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng và khôn lường.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s