Chuyện kể về Kiến Trúc (1/4) – Kiến Lửa.

Chuyện viết từ hồi tháng 3-2004, trong lúc bực bội tại công ty Archetype trước lúc đảo chánh, nổi hứng viết ra bài này. coi như bản hồi ký sơ bộ dưới tính cách trào phúng.

Lúc đó, sợ nhiều người chửi nên viết ẩn danh dưới bút danh Kiến Lửa.

Đến ngày hôm nay (2014), những thầy bị SV ghét đều gần như về hưu hay chết sạch nên bài này mới có thể công khai dưới tên của mình ma không sợ bị ai chửi.

Nay post công khai cho anh em thưởng thức.

Hồi thứ nhứt:            Từ thuở trước, khi trường ta thưa thớt,

                                    Đến ngày nay, lúc đào tạo đại trà…

 

Thuở khỏang thập niên 60, có hai thầy Tàu đi ngang trường Kiến trúc. Ngắm nghía hồi lâu, một thầy buộc miệng nói: “Cuộc đất thật hay, tiếc rằng nhân tài thưa thớt quá !” Ong kia bấm đốt tay rồi thở dài: “Khi nào bên kia đường có nhà xây, tiên sinh sẽ thấy sinh viên trong trường đông đảo. Nhưng mà khổ nổi …”

Một người đứng gần tình cờ nghe được, tò mò bèn đường đột hỏi tại sao. Một ông bực mình đáp: “Thiên cơ bất khả lậu, nị đừng nên biết nhiều, chỉ thêm hại mình mà thôi”. Rồi hai ông ngoắc taxi rủ nhau lên xe đi mất.

Câu chuyện chỉ có thế, được truyền rỉ tai nhau. Nhưng vì tam sao thất bổn riết không ai thèm để ý. Chỉ biết rằng trong những năm ấy, sinh viên trong trường rất ít. Khi đã vào trường thì học hành rất kham khổ vì thầy nào thầy nấy cực kỳ nghiêm khắc. Nhiều anh than rằng chắc thầy sợ đệ tử ra trường sẽ giựt mối của thầy nên thầy “tiên hạ thủ vi cường” cho chắc ăn. Có tay độc mồm độc miệng dám khẳng định trường dùng chính sách “ngu dân” của thực dân mà bóp chẹt “đầu ra” để duy trì chủ nghĩa độc quyền Kiến trúc. Oi thôi thì mồm miệng thiên hạ ai chấp làm gì. Chân lý chỉ chứng minh rằng bấy giờ hể ai ra trường thì người nào đáng mặt người đó. Vì họ đã phải vượt qua cái ải tốt nghiệp trước một hội đồng hệt kiểu “Thập bát La Hán trận” của Thiếu Lâm tự trước khi xuống núi vậy.

Cái học thì muôn trùng mà sức người thì có hạn. Anh nhà Kiến phải lướt qua hàng chục môn lặt vặt không cần thiết lắm nhưng không học thì không xong. Còn vẽ thì ôi thôi! “Cày” quanh năm suốt tháng. Cứ bù đầu trong họa thất hết hội họa, analogue tới họa cảo rồi đồ án này đồ án nọ. Nai lưng “charrete” làm đêm mà không kịp giờ nộp bài cho thầy là chuyện thường ở họa thất. Gặp anh “trưởng tràng” họa thất cũng có quyền hành dữ dội kiểu “thương cho roi cho vọt”. Thêm anh tay sai “thiên lôi” sẵn sàng trừng trị mấy “ne” nào cứng đầu. Dù là hết lòng nâng đở đàn em song mấy ảnh cũng ưa bắt đám lính mới phải tuân lịnh một cách tuyệt đối. Chỉ đơn giản là “bắt gì làm nấy” cho đúng nghĩa làm “ne” hay nói huỵch toẹt móng heo ra là làm “mọi” (nègre).

 

Ne ơi ta bảo ne này,

Ne vô họa thất ne “cày” cùng ta,

Trưởng tràng có luật đưa ra,

Kêu gì làm nấy, liệu mà biết khôn,

Bắt cởi truồng, phải cởi truồng,

Kêu nằm “quậy cỏ”, liệu hồn “rendu”…

 

Anh nào không tuân theo thì đừng hòng làm dân kiến trúc, liệu hồn mau cuốn gói đi học trường khác. Mới lần đầu thì nghe ghê lắm nhưng từ từ quen rồi thì cũng thấy thường tình, nhờ vậy về sau tình cảm anh em càng thắm thiết. Mà tục lệ này chưa từng có ở trường đại học nào khác. Cảnh vừa học bạn, vừa học thầy theo tính dân chủ làm không khí họa thất lúc nào cũng thân mật kiểu gia đình Kiến trúc. Người viết bài này năm 1993 có lượm một bài thơ tả sinh viên kiến trúc trong hội trường như sau , tiếc thay đến nay chưa biết tên tác giả:

 

Sinh viên kiến trúc thực là hay,

Miệng “nổ”, chạy sô suốt cả ngày,

“Trả nợ” xanh da, quầng cặp mắt,

“Binh bài” quì gối, chống hai tay.

Cà phê, thuốc lá tha hồ hút,

Rượu đế, bia ôm mặc sức say.

Năm năm quần thảo không biết mệt,

Càng già, càng dẻo lại càng dai.

 

Càng già, càng dẻo lại càng dai,

“Nử Kiến” nhà ta chẳng kém ai,

Rotring một cán cầm đúng điệu,

Template mấy vòng quậy mê tay.

Sáng binh, chiều vẽ “lên tới bến”,

Một nử mấy ne (nègre) quậy “mát trời”.

Càng ham đòi hỏi, ne càng khổ,

Mỏi gối, đau lưng lại phồng tay.

 

Trước trường là một công viên thóang mát. Sau giờ “lên” bài căng thẳng ban ngày thì vài anh tranh thủ ban đêm chạy ra công viên để gặp gở hẹn hò một tí ti với mấy chị em cho vơi nỗi “cô đơn nơi tiền đồn”. Yêu nhau lắm cắn nhau đau, tiền bạc trả sau sanh nhiều rắc rối với cảnh “xù tiền” chạy trốn thẳng vô trường làm mấy em bên ngòai đứng vẩu môi đỏ tru tréo, chửi rủa không từ ai, trong đó có một “lời nguyền độc địa” nghe là thất kinh: “…rồi tụi bây khỏi mong ra trường”. Thành ra nhiều anh trong trắng rớt oan mạng hòai vì lời nguyền “lạc đạn” ấy. Họa ứng nhãn tiền cả chục năm là thấy đậu thì ít mà rớt thì đông vô kể. Thời ấy chưa có cảnh trò đi năn nỉ thầy lộ liểu như ngày nay vì ở miền Nam nhứt là ở Sài gòn bấy giờ chưa ai đủ bản lãnh được gọi là cao thủ trong “nghề” này. Mấy thầy đã được ăn lương no đủ thì đừng ai hòng mà đi đêm để mang họa lâu dài về sau. Có anh tên Q. ì ạch thi rớt mãi, tới khi đậu được ra trường bèn hận đời tức khí quăng tập sách ra gốc cây trứng cá sân trường đái xè xè lên cho bỏ ghét! Gặp thời chiến, nhiều anh cố ý ráng trây thời gian trong trường để hy vọng trốn lính ngày nào hay ngày nấy. Kết quả khi hòa bình đến, trong hồ sơ ghi rõ có anh bám rễ trong trường kỷ lục là 21 năm ! Còn trung bình thì cũng là 5 năm, 10 năm. Sau đó , nhà trường phải dùng biện pháp “thanh lý” cho ra lò hết để rảnh tay nhận “hàng mới” thì số lượng Kiến từ ấy về sau “được nước” bắt đầu tăng rõ rệt. Bản kiểm điểm của ban giám hiệu trường ĐHKT về việc thực hiện nghị quyết 28-29 của thành ủy và UBNDTP có một đọan ghi với một sự tràn trề lòng tự hào dân tộc Kiến. Nguyên văn như sau:

 

“…Trong 2 năm qua, nhà trường đã tổ chức tốt nghiệp trên 200 sinh viên – bằng số lượng trên 30 năm mà trường ĐHKT Saigon đã tổ chức tốt nghiệp… “

 

Kinh không, thưa bà con?

Ban đầu người ta dùng phương cách 1 “mở đầu vào, bóp đầu ra” , dùng giáo sư nhằm phong tỏa sinh viên. Sang thời bình, thấy kế sách này nếu duy trì hòai thì kềm hãm công danh mấy anh “khai quốc công thần” quá cở nên kế sách đào tạo nhân tài chuyển sang phương cách 2 “bóp đầu vào, mở đầu ra”, lấy sinh viên phong tỏa lại mấy ông giáo viên (khi ấy mấy ổng bị giáng chức giáo sư gần hết cả rồi ). Chỉ như thế mới hy vọng đền ơn đáp nghĩa đám công thần và con cháu của họ. Ban đầu , kế sách có kết quả đặc biệt. Phe công thần được ưu đãi như dân thời Nghiêu Thuấn. Hể có thi là sẵn sàng “chấp” đối thủ mình vài ba điểm và vẫn được xét đậu ngọt xớt. Tha hồ nhẹ bước họan lộ. Gặp anh gốc gác trong rừng, hay là dân tộc ít người thì càng hay hơn nữa vì trình độ càng thấp thì phải được bù trừ bằng thật nhiều ưu tiên trong đường khoa bảng. Hỏi vậy thi ai mà dám chê trách thi cử không bênh vực kẻ yếu. Khi ấy ấy anh sĩ tử thuộc gien trí thức, học quá giỏi xưa nay thì phải nhường nhịn cho kẻ dở hơn mình ít nhiều điều kiện cho công bằng. Một bên chấp điềm, bên kia chấp lý lịch. Điểm có thể thay đổi còn lý lịch thì có sao để vậy. Rốt cuộc rồi mấy anh “lý lịch đen” phải túi bụi học luyện thi, từ lớp 10,11 mà vẫn rớt hòai rớt hủy. Đại đa số phải nhắm mắt liều mạng “chơi” kiểu đấu cờ tướng chấp Đế Thích 2 xe và chịu ép đi nước hậu. Thấy tội nghiệp mấy anh ấy quá, nhiều lúc hội đồng tuyển sinh thương tình buộc lòng phải thông báo kết quả thi của mấy ảnh trước khi nộp hồ sơ để mấy ảnh khỏi thi mất thì giờ vàng ngọc của tuổi trẻ. Còn mấy anh nòi “công thần” luôn có sẵn “ba đời cùng thi, làm gì chẳng đỗ”. Trò “3 trong 1” này đi trước chiêu tiếp thị ngày nay cả chục năm !

Cuộc thi vũ môn luôn kết thúc tốt đẹp. Sinh viên cuối cùng cũng gồm nhiều thành phần giai cấp được hòa đồng sàng lọc một cách công bằng và âm thầm qua các tiêu chuẩn bên lề trình độ học vấn. Mà đã đậu vào trường rồi thì được trường cưng như trứng. Mỗi lúc vẽ bài thì cứ vô giáo vụ lãnh giấy về vẽ. Vẽ xong một mặt, tận dụng luôn mặt sau cho một đồ án nữa thành thử chẳng bao giờ sợ khan hiếm giấy. Hàng tháng lại được phòng đời sống cấp gạo, thịt… về tẩm bổ tăng cường sinh lực. Để giúp sinh viên đỡ túng thiếu, phòng tài vụ được lệnh phát cho từng anh học bổng để xài vặt. Tệ lắm cũng mua được vài gói thuốc “có cán” hút cho thơm râu. Thì thôi, nếu không đáng công đèn sách thì cũng đáng công dũng cảm chiến đấu dành chức “vô địch thiên hạ” mà bia miệng còn lưu lại.

Vì “bóp đầu vào, mở đầu ra”, đã là sinh viên thì tội chi học nhiều cho khổ. Xưa thì khác, bù lại nay cứ vô tư chơi nhiều, đằng nào thì cũng ra cũng làm giám đốc, tệ lắm thì cũng có bằng KTS lấy le với hàng xóm.. Sinh viên vào tương đối nhiều hơn xưa song vẫn còn thưa thớt. Cảnh trường như một thiên đàng thu nhỏ. Nhớ những năm sinh viên bị điều đi gác trường ban đêm thì sân trường sẵn cây xòai, vài cây mít tha hồ cho sinh viên thưởng thức trộm (vì ăn vụng ngon miệng hơn ăn công khai nhiều). Trời nóng thì có sẵn xe hơi của hiệu trưởng để cho vài anh liều mạng cạy cửa vào mà bật máy quạt ngủ suốt đêm; thây kệ ngày hôm sau xe cạn bình hết chạy làm hiệu trưởng kẹt việc tức điên mà không làm gì được. Vẽ bài tuy không căng thẳng như xưa nhưng cái họa charette thì vẫn còn đó. Cũng may là thầy sau này không dám thẳng tay đánh rớt mấy sinh viên “công thần”. Hể ông nào đánh rớt thẳng tay thì sinh viên sẽ la làng cho ban giám hiệu quở trách chê thầy dạy dở vì làm điểm thi đua và thành tích báo cáo của trường bị sút giảm.. Hơn nữa nhà trường lãnh đào tạo hệ B, chuyên tu, tại chức dùm cho các sinh viên từ địa phương xa xôi nên bằng mọi giá phải làm sao cho họ tốt nghiệp đàng hòang. Nếu không đào tạo được thì mất mặt trường. Tất nhiên phải ráng dàn xếp yêu cầu mấy thầy nhắm mắt cho điểm kha khá để cho “vui lòng khách đi” mà duy trì uy tín và hạ quyết tâm đập tan ý đồ xấu xa của câu xuyên tạc: “Dốt như chuyên tu, ngu như tại chức”. Chưa hết, trường ta còn nhận các du học sinh từ nước láng giềng Cam-pu-chia để mở rộng ảnh hưởng . Cái hay hơn các trường đại học khác trên thế giới là không cần biết rành tiếng bản xứ vẫn ra trường được và có bằng cấp đàng hòang như ai với chất lượng “hữu nghị”. Do vậy, nhiều nhóm ở bển sang học chỉ cần một người hiểu tiếng Việt sơ sơ là có thể kèm cặp níu kéo đồng đội mình lên lớp đều đặn. Khách hàng được xem là vua nên tiêu chuẩn lên lớp của du học sinh được ưu đãi hơn sinh viên bản xứ. Chổ ở của mấy anh luôn ngon lành hơn ký túc xá “phe ta”. Tiền bạc thì bên nước mẹ gởi sang xài thỏai mái, chơi “sộp” hơn cả sinh viên nội địa. Gặp mấy năm có phong trào buôn lậu xe gắn máy ở biên giới nhộn nhịp, có anh lợi dụng cuối tuần chạy ra cửa khẩu đem xe Honda về Sài Gòn bán kiếm tiền tiêu vặt. Mấy thầy hay sinh viên có nhu cầu sắm xe cộ cứ tìm nhờ mấy ảnh để yên tâm tin tưởng còm-măng (order) được hàng tốt mà không sợ bị lầm hàng “luộc”. Từ đó mới thấy tại sao thầy cô bạn bè trong trường luôn quý mến mấy du học sinh này. Lúc tốt nghiệp càng được dể dãi hơn. Ay là chuyện về sau. Để bảo đàm quyền lợi bằng cấp cho các sinh viên nên ban giám hiệu phải dùng biện pháp kinh tế để phong tỏa tính nghiêm khắc của mấy thầy. Trước mắt là lương mấy thầy bị cắt giảm hơn xưa. Thầy cũng lãnh “tiêu chuẩn” thịt, sữa, gạo, khoai lang … hàng tháng với mức chênh lệch về chất lượng lẫn số lượng chẳng hơn trò bao nhiêu. Thầy cũng có lúc bị bắt đi gác đêm, hay xách cuốc đi trồng khoai, bắp cho có kinh nghiệm sản xuất dân gian, cũng vác gậy đi tập quân sự quay trái quay phải, lăn lộn bò lết cho thấm cái khổ ải chiến tranh mà yêu chuộng hòa bình. Ong nào “ba-gai” thì đừng trách khi bị cắt giảm tiêu chuẩn hay cho nghỉ việc. Thỉnh thỏang nhà trường thương tình cho thầy đi nghỉ mát bồi dưỡng sức khỏe để tiếp tục lên bảng làm nghề “kinh doanh cháo phổi” thêm phát đạt. Nghĩ lại nhà trường cũng lao tâm lao lực lo cho từng người mà lúc nào cũng bị thiên hạ đàm tiếu.

Lo mãi cũng kiệt sức, nếu không lầm , thì đến khi ấy trong trường chỉ còn lại dàn hiệu trưởng, hiệu phó là có cái bụng “tương đối ” kha khá hơn các thầy khác mà thôi. Còn các tiêu chuẩn cho thầy trò dần dần bị thay thế bằng tiền “bù lỗ” cho nhẹ gánh. Từ đó nhân sự ở phòng Đời sống cũng được “thanh lý” để giảm ngân sách để đáp ứng thời đại “tiền-lương-giá”. Mãi đến 1987, sẵn tình hình năm ấy có nhiều con ông KTS đi thi mà năm ấy cái lạ kỳ nhứt là đề thi cực dễ mà đa số không ai làm được. Nhiều phòng thi buổi đầu đã vắng mặt vì bỏ cuộc hết gần phân nữa. Tình hình thi rớt đông đảo thấy rõ (năm ấy tỷ lệ 1 chỉ chọi khỏang 60 – còn quá ít so với ngày nay). Từ xưa nay vốn luôn bị ám ảnh tin xuyên tạc “thi rớt sẽ bị bắt lính” nên nhiều ông Kiến cha vì quá thương con phải đồng lòng vận động lên trên Bộ khẩn cấp lập thêm “hệ hợp đồng” (hệ “B”). Hệ này sẵn sàng mở tọac cửa thu nhận tất cả những ai có nhu cầu học kiến trúc mà trước hết là đám con mấy ổng, rủi có rớt thì cũng còn “Sinh môn” mà thoát. Điều kiện đơn giản là: bất cứ ai được ông KTS nào trong Hội KTS chịu đỡ đầu giới thiệu và có tiền đóng thì đương nhiên trở thành sinh viên Kiến trúc ngọt xớt. Mà tiền học thì bấy giờ chi trả dựa trên cơ sở giá gạo. Ac nghiệt ở chỗ, năm ấy vào lúc đóng tiền thì giá gạo biến động vùn vụt. Nhiều “Kiến tơ” lo chạy tiền trối chết. Mừng thay trường chưa dựa trên cơ sở giá gạo Nàng Hương ! Ơn Trời còn thương chúng sanh nhà Kiến. Có năm sợ sinh viên đóng tiền trể, nhà trường yêu cầu ai đóng trể phải kèm thêm “lãi suất tiền trường” làm báo chí phải động lòng can thiệp cứu giúp mấy sinh viên. Dù sao thì kết quả thu nhập của trường vẫn luôn vượt chỉ tiêu làm ngân sách nhà trường dồi dào đáng kể. Mấy thầy cũng có dịp cải thiện hầu bao riêng tư một cách hợp pháp mà trò cũng vui vẻ chi trả rẹt rẹt không than vãn trước sự hợp tác đôi bên cùng có lợi. Dân số trường Kiến trúc nhờ thế tăng ồ ạt. Bãi xe của trường xưa chỉ lèo tèo vài chục chiếc xe đạp. Nay thì từ sân, sảnh , ra tận cổng trường tràn ngập xế nổ của thầy và trò. Lâu lâu có thêm vài chiếc xế hộp xịn hơn cả tiêu chuẩn đi lại của hiệu trưởng đậu chễm chệ trong sảnh nhà trường. Thấy nhiều thầy “lên đời” xe làm mấy anh em nhà nghèo ngứa mắt ganh tỵ rồi bêu xấu không ít.

Sự chuyển biến từ cái thế hệ “AK” thời hậu chiến cần sự nâng đỡ của nhà trường đến thế hệ “a-ccng” ngày nay thừa tiền lắm của tài trợ vổ béo cho ngân sách nhà trường làm bộ mặt trường ta tươi mát hẳn ra với một sự bội thu sinh viên và bội chi KTS chưa từng thấy.

Cuối thập niên 50, cả trường hàng năm chỉ có khỏang chưa đầy 50 sinh viên. Đến nay Số Kiến ra lò đến nay trung bình khỏang gần 200 sinh viên/khóa. Nếu dựa theo bảng kiểm điểm báo cáo của nhà trường như trên đã ghi thì trong 4 năm cuối thế kỷ 20 thôi, số sinh viên ra lò đã tương tương 100 năm đào tạo của ĐHKT Sài Gòn cũ.

Gớm chưa các cụ ?

Sự tiên tri của hai ông thầy Tàu đã ứng nghiệm rõ ràng. Khi nhà nước cho xây nhà thi đấu Phan Đình Phùng xóa sổ công viên “tươi mát” đối diện thì số lượng sinh viên Kiến tăng rõ rệt. “Lời nguyền độc địa” ngày xưa ở xóm công viên ấy đã được hóa giải triệt để kể từ ngày mấy “chị em” không còn đất hành nghề nữa.

Việc học trong trường ra sao, cứ xem hồi sau sẽ rõ.

Advertisements

Cảm hứng nhiếp ảnh (4)

(tiếp và hết)

Chương thứ sáu:       Thuốc sự-thật, bịnh kinh-niên lòi mặt,

Chuyện phủ-phàng, lời thắc-mắc nêu ra.

Đầu năm Dê, thay vì đúng điệu tặng mỗi người chai thuốc đặc trưng của năm, tôi lại xin lổi đã đùa dai mà “thuốc” (nói cho đúng chuyên-môn) anh em bằng một viên thuốc bọc nhiều đường, đang chờ ép-phê. Đã vậy viết xong thì tôi gom lại trong đầu vài thắc-mắc mà chẳng ai giải-thích cho suông tai…

 

Một ông vua trần-truồng đi trước thần dân mà vẫn hãnh diện tin rằng mình được mặc chiếc áo quý vô hình.Chẳng ai dám nói không thấy áo vì sợ bị bắt tội không thành-thật với vua. Tất cả lẫn nhà vua chỉ vở lẽ và can-đảm nhìn-nhận sự thật không chối cãi khi một thằng nhóc 3 tuổi thấy la lên: “Ô kìa, Hoàng-đế trần-truồng!…”   (Chuyện cổ của Andersen)

 

Bây giờ tôi nói nghiêm chỉnh…

Cái gọi là “góp ý xây-dựng” nghe ra-rả như cuốc kêu đã lâu mà đến nay cái cơ-sở từ thượng đến hạ tầng của “sân chơi” nhà ta vẫn đâu vào đấy. Thêm vào khi thành viên gia nhập đại-trà sinh ra bịnh nhân mãn. Dân đông thì dễ gây ô-nhiễm kèm với đủ tệ nạn, mà sân thì chẳng ai thèm dọn sạch để chơi chung dù gọi là nghĩa-vụ. Trong sân ai cũng giành quyền lợi làm “vua phá lưới” mà chẳng thấy thủ-môn hay hậu-vệ đâu. Trọng-tài thì chỉ toàn là “trọng-tài quen” lâu năm nên cứ đá vô tư khỏi sợ thẻ vàng, thẻ đỏ. Thấy nhà nước đã sáng-suốt cải-tổ liên-tục và thành công đáng kể. Còn nhà phe ta chưa thấy cải-cách cái chi-chi hầy cho nó “tới”.

Cảnh cụng hàng thường xuyên trong và giữa các triển-lãm cứ kéo lê từ năm này qua năm khác. Số trường-phái không nhiều, ý-tưởng lẫn danh sách hội-đồng BGK không thay đổi lâu năm vô tình tạo một công-thức sáng-tác khuôn mẫu gần như áp-đặt cũng là một nguyên nhân. Mà nghệ-thuật có tính máy móc như thế thì hết hay.

Việc đề-cao tính dân-tộc là đáng hoan-nghinh nhưng chưa có định-nghĩa nào cho thuyết-phục. Nhìn những tác-phẩm nổi tiếng thế-giới thì càng chẳng ai cắt-nghĩa thỏa-đáng dù là sơ-sài.

Cái phong-cách cá-nhân lại chưa khẳng-định được rõ nét trong từng tác-phẩm. Mà cách tự khẳng-định bằng huy-chương thì huy-chương cái nào cũng như cái nấy, chỉ khác ở số lượng và tên gọi. Để rồi khi ảnh giống nhau, ê-hề như hàng sida thì chẳng ai thèm mua nhứt là khi giá lại cao. Ế, ôm về chứa chật nhà. Chưa nói, ai cũng “nhái” ảnh được, ngay cả khách hàng. Đụng “sô” thì thợ thầy chơi xấu phá giá nhau rồi kẻ thắng người thua từ-từ đều lổ. Khách hàng cũng chẳng được chất-lượng mong-muốn vì ham của rẻ. Mất uy-tín lẫn nhau, đói lại chẳng thèm ôm nhau chờ chết. Thơ rằng:

 

“…Xin ai chớ được thời tự đắc,

                                    Lúc đói “sô” tức khắc biết liền,

                                    Còn tiền, “Nghệ” khí trung-kiên,

                                    Hết tiền, hết bạc Phật Tiên cũng từ…”

 

Chẳng thấy ai quy định một “barem” giá tối thiểu nào đó để bảo-vệ quyền-lợi cho anh em đủ sống. Theo nguyên-tắc là chúng ta nên lập một Nhiếp-ảnh đoàn để bảo-vệ quyền-lợi anh em nhiếp-ảnh. Mọi nhiếp-ảnh gia đều được tự-do đăng-ký vào trước khi hành nghề. Rủi có thưa kiện giửa thợ và khách thì Nhiếp-ảnh đoàn sẽ đứng ra phân-xử công-bằng cho hai phía. Vì trước mắt Hội nhà ta chỉ đủ sức bảo-vệ quyền-lợi về tước-hiệu cho hội-viên mà thôi. Còn số người xả thân vì quyền-lợi chung của anh em không đánh kể, chỉ lèo-tèo vài người trong các câu-lạc-bộ. Tôi cảm-phục và nhớ ơn những anh em ấy. Nhìn chung cái hục-hặc mất đoàn-kết nội-bộ càng ngày càng chồng-chất như trăm căn nhà đua nhau mọc chễm-chệ trên đê sông Hồng ngắm mùa nước lũ.

À, nguyên-nhân chính gây BỊNH:

–           Trình độ đa-số còn hạn-chế chưa đủ khả-năng đào sâu nghiên-cứu và chịu chấp-nhận cái mới.

–           Chưa có sức mạnh đoàn-kết và quá ít ngươì xả thân vì quyền-lợi chung.

–           Ảnh không bán được, thầy thợ không đủ khách để sống.

Đó ! Viên thuốc bọc đường của tôi, dù chẳng thần-sầu kiểu “thuốc Huê-kỳ” hay quỷ-khốc như Xuyên-Tâm-Liên, nhưng cũng giúp tôi chẩn đúng bịnh rồi đó! Nguyên-nhân kéo dài bịnh, tới đây ai cũng biết. Viết dài có người mệt óc không đọc, kẻ quê độ xé phứt bài đi vì tự -ái.

Xem bên Mỹ-thuật, chẳng ai sáng-tác giống ai, chẳng bao giờ có cụng hàng nên ai cũng có đất sống vì bán được tác-phẩm của mình, mà lại cao giá thì làm gì có lục-đục, ganh-tỵ ? Đại đa-số đều qua trường lớp bài-bản hẳn-hoi. Chẳng có “chạy đua vũ-trang”, mà chẳng họa-sĩ nào cần tự khẳng-định mình bằng huy-chương hay tước-hiệu vẫn nổi tiếng như thường (mà nếu có làm thì làm một lần thôi, làm hoài có ai thèm để-ý nữa đâu?). Họ vẫn có tác-phẩm để đời. Tôi thắc-mắc không biết mấy ông nhiếp-ảnh bậc thầy như Ansel Adam, Henri-Cartier Bresson hay Edward Weston… suốt cuộc đời có được mấy cái mề-đai loè thiên-hạ? Đồ nghề xịn mức nào?.. Mà sau khi mấy ổng qua đời, vẫn còn nghe người đời nhắc vanh-vách nhiều tác-phẩm của mấy ổng.

Tôi thắc-mắc là anh em nhà ta đang chơi ảnh hay là sưu-tập huy-chương và đấu hàng hiệu? Mà tác-phẩm để đời là cái chi chưa thấy. Cũng dân nhiếp-ảnh mà người với ta khác nhau quá cở.

Tôi thắc-mắc tiếp là với cái đà này thì ta sẽ có được cái gì để lưu cho hậu-thế thưởng-thức? Nhất là gần đây nghe giai cấp phó-nháy tiến-bộ truyền miệng mấy câu thơ như sau:

 

“…Chết rồi “của quý” vất đi,

Xách ra Lê Lợi, chúng chê “hết xài”.

Bằng tước hiệu, ve-chai xé sạch,

Đống huy-chương, thợ bạc còn chê…”

 

Thì tôi thấy tiếc cho thì-giờ và công sức mà mấy anh em đã phung-phí lâu nay. Mong rằng ta mau tỉnh-ngộ để mà tránh cảnh:

 

“Nghệ hỡi Nghệ, muôn năm sầu thảm,

Tước-hiệu (2) còn một nắm xương thôi,

Thân tàn ma dại đi rồi,

Rầu-rầu nước mắt bời-bời ruột gan.

Nghe hơi gió ôm ngang lấy gió,

Tưởng chừng như trong có huy-chương (3),

Của mình (4), mình quý (4), mình thương,    

Nào hay gió tạt chẳng vương-vấn gì…”                    (Hàn Mặc Tử)

 

Những anh còn u-mê mê-muội thì chắc phải mượn dùng tạm bài này nhờ ai hú gọi ba hồn chín vía của mấy anh về ngay mong rằng không quá muộn:

 

“…Hồn trở về mau mau hồn hỡi,

Hồn trở về tôi đợi tôi mong.

……

Hỡi hồn nước nước non non !

Hồn về tôi sẵn lòng son giúp hồn.

Tôi đây cũng không khôn cho lắm,

Nhưng cũng không dại lắm cho nhiều,

Tôi nay chỉ một lòng yêu,

Nên mong nên mỏi nên chiêu hồn về.

Hồn hỡi hồn ! – Hồn về hồn hỡi !

Hồn hỡi hồn ! – Hồn hỡi hồn ơi !

Đêm khuya cảnh vắng êm trời,

Khôn thiêng chăng hỡi hồn ơi hồn về !

Bút viết xong, tay nghe miệng đọc,

Miệng đọc xong giọt ngọc nhỏ sa.

Nhỏ sa nên chữ xóa nhòa,

Xóa nhòa nên mới in ra nghìn tờ.

In nghìn tờ mà đưa công-chúng,

Công-chúng xem mong bụng đổi dần,

Đổi rồi thúc kẻ xa gần,

Rằng mau nên trả nợ-nần non sông ! …”

(Trích “Chiêu Hồn Nước” của Phạm Tất Đắc 1927)

 

Ngẫm lại thấy thằng nhóc trong chuyện kể trên tuy là thường dân nhưng nó còn hơn cả dân thường vì đã làm cho vua tới dân sáng mắt.

Tôi liều mạng bắt-chước nó mà vọt miệng nói lên cái sự thật phủ-phàng – căn bịnh kinh niên đã bị lậm thuốc lâu năm.

Có anh khuyên phải thông-cảm cho phe ta còn non trẻ thỉnh-thoảng dính lỡ-lầm, từ-từ chơi riết mới có kinh-nghiệm, đòi hay liền sau được (?!)

Tôi bác-bỏ cái ngụy-biện ấy khi sự-việc đã kéo dài hơn nửa thế-kỷ, phe ta nay cũng đã sồn-sồn giá chót năm sáu chục tuổi thừa kinh-nghiệm để sáng mắt sáng nòng cỡ khẩu 1.2-2.8. Vả lại thời-đại thông-tin hiện nay cập-nhật cho ta cái mới để học và sửa sai liên-tục.

Tôi chỉ khả năng chẩn-đoán bịnh. Vì kinh-nghiệm hạn-chế nên không dám bạo tay trị dứt điểm bịnh bằng “dose d’attaque” trong ngày một ngày hai. Chờ thầy cao tay hơn. Ai cũng biết công-thức thuốc trị song pha-chế ra sao còn tùy.

Thấy thẹn vì chưa xứng-đáng với câu:

 

Thông-minh nhứt nam tử

Yếu vi thiên hạ kỳ…                (Nguyễn Công Trứ)

 

Vì trước mắt:

 

Phải tự chinh-phục mình trước khi chinh-phục người           (Vô Danh)

 

Ý đã cạn. Lai-rai món ăn tinh-thần đầu năm với anh em phe ta cho vui. Cũng giang rộng tay mời nhiều anh em phe khác cùng tự-do thưởng-thức. Thà khao mọi người món ăn không ngon còn hơn đóng cửa ăn một mình mang tiếng xấu bụng. Chúc anh em luôn làm ăn phát-đạt, mạnh khoẻ và nhất là đoàn-kết. Nay kính.

Viết xong ngày mùng 2 tết Quý Mùi , lúc 16 giờ (2-2-2003)

Vô Danh Nghệ.

– Chân thành cảm-ơn mọi sự giúp-đỡ , góp ý của tất cả các anh em trong quá-trình hoàn-chỉnh bài này.

– Bài viết có dùng và cải-biên một số văn thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du, Tú Xương, Hồ Dzếnh, Hàn Mặc Tử, Trạng Quỳnh, cadao Việt Nam và nhiều thơ vô danh cùng một số tư-tưởng, danh ngôn để phù-hợp với ý-tưởng bài.

– Tác giả chỉ chấp-nhận sự phê-bình của ai có lương-tâm thật sự trong sạch với anh em và ngành-nghề của mình.

 

“Đời Tôi để Lịch-Sử xử” (Nhất Linh).

 

Chú thích:

(1)        Tên cơn bão xoáy ở eo biển Messine. Dù tàu bè thoát được thì cũng bị trúng bãi đá ngầm Scylla rất gần đó. Ý gần như “họa vô đơn chí”.

Tôi cải-biên vài chữ cho hợp ý bài viết : (2) Bản gốc: “… trong đó có hương”; (3) Bản gốc: “Nhớ thương còn…”; (4) Bản gốc:”Của người mình nhớ…”

Cảm hứng nhiếp ảnh (3)

(tiếp)

Chương thứ tư:         Gà nhà bôi mặt, Cáo chực ngoài sân

                                    Bạng duật tương tranh, Ngư ông đắc lợi.

 

Lại nói về những vị tu dai “đắc đạo” thành Nghệ-sĩ , phải luôn đấu trí căng-thẳng với các đồng-nghiệp về mọi lãnh-vực để không bị thua sút và tồn-tại trong thời buổi mà cái gì cũng cạnh-tranh: tước-hiệu, đồ nghề , lớp dạy, học trò, khách hàng, chức-vị… Quân-tử gọi là “cầu-tiến” nhưng đời éo-le sinh thêm từ “bon-chen” sặc mùi tiểu-nhân đi song-song cho trọn đạo âm dương. Hên là mấy ông chưa bày trò lấy cung Điền-trạch của mình ra đấu nhau để rồi có nhiều ông phải hận đời tủi phận vì trọn đời cống-hiến tranh-đấu cho sự -nghiệp mà vẫn chưa có được một căn nhà cho nên thân, cuối đời vẫn còn phải ở căn hộ tập-thể ọp-ẹp (nếu đem cung Phu-thê ra đấu nhau nữa thì tận thế !)

Vốn chửa có trường nhiếp-ảnh chính-quy nào cho tới nay để phát một bằng-cấp có giá-trị ra hồn cho mấy vị, lo bằng cũng không có chổ mà chạy lo, thì chỉ còn cái mửng tự khẳng-định bằng số lượng huy-chương mà thôi. Như đếm sẹo trên đầu để biết chức-vị Hòa-thượng vậy. Xem báo thấy mấy ông bà tướng huy-chương đeo sệ ngực thiếu điều rách áo thì cả thiên-hạ chết vì khiếp. “Nhất tướng công thành, vạn cốt khô” mà! Nhưng huy-chương nhà binh thì đã dự tính để cài áo mà huy-chương Nhiếp-ảnh chửa ai tính tới. Ông nội design nhà ta nát óc tới nay vẫn chửa “binh” ra cách đeo nên đeo không được, đếm không xong trước một số-lượng lớn. Giả sử đeo được nếu áo quần không bị tuột rách vì nặng thì đeo tới đầu gối cũng chưa hết. Trò bất lịch-sự sẽ sinh ra khi người kính-cẩn quỳ xuống chân ta mà săm-soi nghía mấy cái “chiến tích oai-hùng”. Cái vòng lẩn-quẩn “Đếm lựa để đeo, đeo thì phải đếm” thật là phiền-toái kiểu bà già lẩm-cẩm đếm tiền suốt ngày mà chẳng biết tiêu đầu nào. Đợi đến đại-hội, muốn thuê xe ba-gác hiệu, tiêu-chuẩn “a-còng”, cộ hết đống cồ-lec-xông huy-chương lủ-khủ đi khoe thì phu xe nó không chịu đi vì chê trả “giá thợ” rẻ quá. Tệ hơn nữa là nếu ghi chức “hiệu” trên cạc-vi-sít những chử như Artist, EFIAP, VAPA… thì ai có tiền cũng có thể in y khuôn thì hơn nhau chỗ nào? Đụng hàng! Thêm một cái khó nữa. Kinh không, thưa bà con?

Từ lâu đã có thơ rằng:

 

“Một thương đồ hiệu hẳn-hoi

Hai thương nâng cấp “đồ” chơi hoài hoài,

Ba thương “sô lẻ” lai-rai,

Bốn thương “đám” đậm, dư xài dư ăn.

Năm thương dàn-dựng kỹ-càng,

Sáu thương có sẵn mặt bằng studio.

Bảy thương đông-đảo học-trò,

Tám thương người mẫu mong chờ, vấn vương…

Chín thương Nghệ-sĩ Trung-ương,

Mười thương, ủ sẵn huy-chương cả hầm”.

 

Nên nghĩ rồi đây chắc chắn mấy ổng bả sẽ nảy sáng-kiến đặt xì-tăng-đa “Phi Nghệ-sĩ bất thành phu phụ” thành văn-bản để chọn bạn đời giàu-sụ huy-chương cho môn đăng hộ đối.

Mà giàu huy-chương bắt buộc chứng-minh từ đâu mà có như phải khai nguồn-gốc tài-chánh cho thanh-tra. Chỉ có làm triển-lãm. Báo hại nhiều anh muốn nổi tiếng phải tổ-chức triển-lãm cá-nhân mà phùng xoè trước đối-phương, phải rặn bụng bóp hầu-bao thuê làm ảnh khổng-lồ, ép la-mi-na theo lệ ngày nay cho sang, tăng phần áp-đảo. Còn phải in thiệp mời, bờ-rồ-sua tặng quan khách. Nếu in sách được nữa thì ngon vì dễ bán hơn bán ảnh. Quan-trọng là phải có kèm “liên-hoan nhẹ” thì khách mới hứng-thú tới đông-đảo. Nên có triển-lãm thì anh lab và anh lamina hốt bạc trước. Kế đó là đám bạn-bè khách-khứa được dịp nhào vô đánh chén một chầu bí-tỉ như giổ làng. Các tăng nhậu chén thù chén tạc tiếp sau đó, kết hợp “Kàrà-OK” về khuya càng không hề thiếu, thậm chí diễn ra gần như hàng hôm để củng cố quan-hệ làm ăn với nhau. Rồi để tiết-kiệm kinh-phí thì nhiều người hay nhóm liên-kết triển-lãm theo kiểu làm ăn tập-thể cho tăng hiệu-quả. Thành-công thì không ai thèm nói. Nhưng thỉnh-thoảng có ép-phê ngược khá nghiêm-trọng do nạn đụng hàng trong khi lựa ảnh chuẩn-bị triển-lãm. Nếu hòa-giải êm-thấm thì lúc trình làng cũng sinh chuyện khác. Là do nể mặt nhau rồi anh em đặt ảnh xen-kẽ giửa các nhóm cho có tính hòa-đồng mà chẳng dè các chủ-đề của từng bức ảnh tự đá nhau chơi khiến cụt hứng người xem dễ sợ. Cứ hệt như cái trò mời ăn dĩa trái cây chua sau một món bánh ngọt (chưa dám nói giống như ăn măng-cụt non chấm đường cát cho ngọt miệng). Chưa thấy ai để ý góp ý-kiến trước cái trò cù-léc cắc-cớ này. Chỉ thương mấy nghệ-sĩ có thực tài mà nghèo không tiền làm triển-lãm bị thiên-hạ coi thường ra mặt.

Từ những cái đó mà rau muống rau lang hục-hặc với nhau. Chẳng ai dám trao-đổi kỹ-thuật gì ráo vì sợ bị ăn cắp nghề. Ít nói thì họ mới nghĩ mình cao siêu. Không nói ra thì chẳng ai biết mà nói nhiều như vẹm thì càng bị lộ tẩy, lòi đuôi. Chèn đét ơi, lại khổ nửa! Thôi vậy, mạnh ai nấy lo tích-lũy huy-chương cùng lúc với đầu-tư đồ nghề hết ga như kinh-phí quốc-phòng bắt-buộc. Riết cũng chẳng ai hơn được ai. Lợi-lộc chưa thấy mà bao nhiêu tiền vốn tiền lời đều khăn gói rủ hết nhau ra Lê Lợi, Nguyễn Huệ. Hàng mới về tay mình không lâu rồi cũng trở về vựa cả. Giống như nhà cái gom sạch tiền con bạc. Ai nấy đều o-bế mấy chủ tiệm để riêng “hàng độc” cho mình. Hễ dành được nó trong tay rồi thì tin đồn phát ra làm mình thêm nổi tiếng như thắng đấu giá. Mà hễ xui làm hư đồ chơi thì không khéo chúng hê ầm rằng mình chơi ẩu bị “banh nòng” cho thối óc. Vì design ấn-tượng nên đồ nghề được đeo sao cho “bặm-trợn” mỗi khi có dịp. Cũng kè-kè chân máy như xạ-thủ vác M60 đi càn quét. Cũng xỏ “áo khỉ” nhét đầy “đạn” (film). Mô-bai lâu lâu móc ra “a-lô” như truyền tin điện-đài. Ai cũng xem mình là “người hùng Charlie” vừa “đánh” quảng-cáo về vậy. Oai chứ !

Mấy quán “cà-phê cóc” xưa nay vốn là bãi đáp khoe máy, tranh-luận hàng, ai đến cũng được. Trước lạ sau quen là chuyện thường tình. Lâu lâu cũng có đụng trận choảng nhau qua-quít do bất đồng ý-kiến. Nhưng vì “tứ hải giai huynh-đệ” và “đánh đau mới biết bạn hiền” nên dù có sứt đầu bể trán cở nào thì cũng được giảng-hòa ổn-thỏa. Xưa nay chưa nghe chú nào bị “phú-lích” xúc do ẩu-đả cả. Thông-tin thì dồi-dào. Thầy thợ ta ưa nghe tin-tức “trong luồng” từ “Đài tiếng nói Nghệ-sĩ Chính-Quy” kết hợp tin “ngoài luồng” của “Đài phát thanh Cây-Dầu Tự-Do”. Hai đài cạnh-tranh phục vụ bá-tánh nhiều bài vừa giựt gân, vừa tràn trề mê-ly cụp-lạc mà vẫn chính-xác tuyệt-đối. Internet giúp nhiều người sáng mắt khi tham-khảo chất-lượng, giá-cả hàng mới ra. Cái hay hơn là từ đó giúp học-trò tỉnh-ngộ mà tẩy-chai bớt đám “thầy-giáo máu con buôn” để bảo-vệ danh-dự mấy thầy chân-chính.

Mà hễ chụp thì có ảnh. Khởi đầu khi sáng-tác, cái chiêu nhắm mắt bóp ra-phan, nhấp bracket tốn hàng chục, hàng trăm cuộn kiểu “bắn lầm không bỏ sót”, nòng 72,77 ly thụt tới bắn lui xối-xả, sàng qua chỉa lại đủ “trente-six modes” dợt bao người mẫu mê-mệt phủ-phê và “khè” người xem lé xanh mắt. Bỏ phịch một rổ phim trong lab bảo “làm hết” thì chủ lab mừng rơn trong bụng dù giá thợ rẻ bèo. Vác hình về một bao thì được tiếng “đại-gia” chơi xộp. Nghe đồn có “đại-gia” to gan bao lab làm trọn buổi để rọi ảnh lớn cho mình tốn cả chục triệu.

Gần hết hạn gởi ảnh dự thi thì các lab làm việc hết hơi, bơi không hết việc. Mấy anh thợ làm hình thủ-công đen-trắng cũng bị quay như dế vô guồng máy để kịp thời hạn. Tiền nghệ-sĩ đổ tràn vô lab như triều cường. Đến coi tiệm giao hình cũng đã mắt nhưng đừng tò-mò hỏi chi vì tác giả ảnh thường làm-biếng trả lời linh-tinh mất thì-giờ “hiệu” cho cái thằng tôi chẳng đáng cái đinh gì.

Cuối năm, thời-tiết mát-mẻ là vô mùa trai gái hè nhau ôm cưới ồ-ạt. Ay là lúc thợ thầy dưới tỉnh, trên thành đua nhau chạy lên lab làm hình nườm-nượp. Lab bấm tới khuya cũng chẳng hết khách. “Lab gổ”, “lab hộp” nhờ vậy mà được theo đuôi kiếm sống đở khổ.

Anh làm xong, nghèo thì vô album 10×15, khá hơn thì ép pờ-lát-tích, giàu nữa thì la-mi-na, xì-can ảnh vô CD. Thứ nào cũng có thầy dạy để phục-vụ nhu-cầu của thợ. Có thầy thứ gì cũng dạy (trừ món trang điểm người mẫu vì quá vụng tay), hốt tiền đã ! Giá cả, chất-lượng thượng vàng hạ cám cạnh-tranh tá lả. Lời ít cũng tạm đủ sống. Cái gì mà “đời chỉ có một lần” thì thầy thợ vẽ mắm muối chi chi khách cũng OK xì tiền tới bến đặng nở mặt với bà con với hy-vọng đoạt danh “nhà vô địch”. Đúng là nghệ-thuật vô giá, văn-hóa hữu tồn. Các dịch-vụ dài hạn “ăn theo” hay chung sống với nghề ảnh như studio, “tút” hình, thuê áo cưới, thuê xe, thuê phòng, nhà hàng, khách-sạn, rồi nhà bảo-sanh, phục-hồi ảnh người chết, trại hòm, thầy chùa,…vân vân… nhiều không kể xiết mà đặc biệt là Photoshop được cơ hội nhập trận ngon lành. Ay là chuyện về sau.

Mấy ông khổng-lồ sản-xuất thiết-bị photo lợi-dụng cái cơ-hội béo ngậy này để tung vào đủ thứ hàng hiệu “thơm như mít” mà thầy thợ nhìn là phải mua cho được vì nhu-cầu sinh-sống và chưa kể khách hàng nó đòi mới khổ (lại KHỔ !). Có anh chỉ mới nghía sơ hàng rồi về nhà nằm tương-tư mê mệt; “chịu không nổi” đành nổi máu vét hết tiền lãnh “sô” ra tậu hàng về như nạp thiếp. Vợ cũng phải thông-cảm vì nếu không e chồng mình khó sống. Rồi thêm mấy cú tài-trợ, khuyến-mãi làm ai nấy cứ nhắm mắt vung tay bỏ tiền ra tham dự còn hơn mua vé số cặp. Người trúng đã mừng, người trật cũng ưng vì được hàng tốt. Mấy tờ “lá cải” cũng nhờ tài trợ mà lấy sức lết dài tuổi thọ. Chung cuộc chỉ mấy ông khổng-lồ “trúng mẻ lưới” đậm hơn ai hết.

Dân nhiếp-ảnh cạnh-tranh làm ăn với nhau là nhiều ngành khác thừa cơ hốt bạc như diều gặp gió. Lại được cái hay ở mùa dịch-vụ, hể có hái ra tiền là thế chân vạc nghệ-thầy-thợ vững-vàng. Hết chuyện kèn-cựa ganh-tỵ. Người nào cũng được dịp may gỡ vốn nên tích-cực làm ăn với sự bình đẳng trên thương-trường. Phong-trào “hàng hiệu” tạm lắng chờ thời vậy.

Rồi “chiến-tranh lạnh” trở lại sau mùa dịch-vụ. Mấy Nghệ, nay “hết khứa” trở lại rảnh-rang cùng cái túi bạc dày cộm giấy “xăng” (tờ 100). Sau nhiều trận bất phân thắng bại thì cái giải-pháp chót là đấu chức-vị trong chốn quan-trường. Mấy thầy chú chóp-bu vì thế đau đầu vì lo đối-phó mãi hệt nhà vua trước cảnh bầy con tranh-giành ghế Đông cung Thái-tử .

Tới năm có đại-hội kiểu Đại-Hội Anh-Hùng Võ-lâm bình-bầu đại bang-chủ thì có “chuyện dài Nhân-dân Tự-vệ” kể hoài chẳng dứt. Cảnh vận-động, cải-cách một ít vào giờ chót cuối nhiệm kỳ, hứa-hẹn để lấy lòng cử-tri rồi đắc cử tính sau đúng theo chiêu-bài bầu-cử tổng-thống Cờ-Hoa làm xôn-xao toàn giới Sĩ Phô Nghệ Sởi. Vì cửa chính Hội đầu-não nhà ta vốn nằm trúng cung Khẩu-Thiệt nên ở năm “khí vượng” này, các chiêu võ mồm từ công-khai, bán công-khai đến bí-mật của các bang-hội được tung ra hết công lực. Nhưng đây là dịp được tài-trợ vé xe tàu đi đại-hội tiện bề sáng-tác luôn thể nên ai nấy cũng vui bụng “cố đấm ăn xôi” vừa có tác-phẩm ôm về rải dự thi tứ xứ.

Đọc sử Việt ai cũng đau xót ám ảnh một câu lặp tới lui hoài đại-khái : “Nhân lúc nước Nam loạn-lạc thì phương Bắc lăm-le dòm ngó” mà loạn Mười Hai Sứ-quân tương-tàn huynh-đệ là điển-hình để so-sánh với bầy gà Nghệ mãi-mê bôi mặt xanh, tô móng đỏ, mài cựa sắt đá lộn ì-xèo nhau. E rằng có một tay Sĩ cáo già đang canh me cả đàn đang “mất phương-hướng” mà xổ ra thịt trọn bầy đặng ôm phức cái “danh-vị” về riêng mình. Thầy bói bảo lúc thấy gà mái gáy trước cửa Hội phó-nháy là coi chừng. Đầy huyền-bí dị-đoan bố ma nào hiểu để mà tin vớ-vẩn. Nhưng dù đúng hay sai thì dự-phòng vẫn hơn. Miễn đừng ai ngu ham “mút vòi” mà “rước voi” phe khác, sờ lầm chổ, voi điên giày đừng trách!

Thương anh em vùng tỉnh xa vì kinh-tế khó-khăn, đói thông-tin nên cứ hít hơi bắt chước “đại-gia Sài-Gòn” như Tư Ếch của La Fontaine ráng phổng trướng bụng để mong to bằng Sáu Bò đặng rồi quên cái khôn David của mình đã thừa sức hạ gục Goliath. Phe ta ở thành thị có “đụng trận” nhau thì miểng “moọc-chê pháo-kích lạc đạn” cũng làm xính-vính anh em miệt dưới với tư -tưởng…

 

“…Hàng đại-gia dùng đều là hàng độc,

Tài đại-gia giống như ngọc như vàng,

Ruộng cò thẳng cánh chẳng màng,

Anh mê Fi-ap, bỏ nàng mà dự thi” …

 

…khiến kinh-tế nhà nhà đã khốn-đốn càng thêm khốn-đốn. Lý-do vì ngươì người lo è lưng xoáy nòng ép dên nhắm mắt đua theo đuôi các “đại-gia”. Cái biệt tài David của các anh đâu mất? Khiến qua chờ hoài không thấy và lăm-le chọc mấy anh “xuất chiêu” để học-hỏi nữa kìa. Cái độc-lập tư-tưởng, tự cường thực-lực của mấy anh bị dú rục bởi bùa mê ngãi lú của mấy “đại-gia lụi” ấy sao? Chưa nói là cuộc đua ngày nay đã tới cực điểm bằng Digital của thời-đại thông-tin thì ai theo hoài nổi ? Cứ xem chương sau biết ngay !

 

Chương thứ năm:      Photoshop tung-hoành trên tác-phẩm

                                    Digital thao-túng khắp thị-trường

Cái anh nhà Photoshop cũng tiện đáo-để nhứt là giải-quyết cho tác-phẩm anh em ta cái chuyện điều-chỉnh sáng tối, tương-phản, đổi sang đen trắng, đổi trắng sang đen, “tút hình”… Mấy ông bà khuất núi ngậm cười vì con cháu nó có dịp phục-hồi lại ảnh sinh-tiền của mình cho đẹp mà đặt lên bàn thờ với giá phải chăng. Người mẫu sung-sướng khi chân-dung láng-e vì hết tàn nhang, mụn nhọt lẫn nốt ruồi “sát phu”. Cái câu “tiền nào của nấy” thành vô nghĩa vì từ mười ngàn rồi xuống bẩy ngàn đồng-bạc ta là mua dễ-dàng một cd Photoshop có khuyến mãi thêm hàng chục phần mềm khác để dùng, có lúc bạn-bè cho chép “chùa” thêm khoẻ. Cái còn lại là học thêm một ít để thao-tác. Rẻ hơn giá tờ báo lá cải mà anh em ta thường mua đọc khi ế độ chờ khách.

Mà cái thực-tế hơn cho nữa là anh Photoshop sẵn-sàng xóa luôn cả tiền cảnh hậu cảnh, dọn “rác” trên ảnh sạch tưng khiến ảnh trở nên đúng chóc câu” nổi bật chủ-đề” theo sách thầy dạy. Mà nếu phim bị xuống cấp thì anh Photoshop cũng phục-hồi “láng” cả. Cứ scan vào rồi tha-hồ chế-biến ra sao thì ra. Anh sửa xong thì mướt-rượt, dở cũng thành hay. Thành ra nhiều người khoái, tự nguyện đăng-ký hay mua sách đi học làm “lao-công photo”, tệ lắm cũng mở-mang kiến-thức ít nhiều để khỏi bị người khác chơi qua mặt.

Học lâu cũng thành cao thủ. Mấy anh áp-dụng luôn các kỹ-thuật phòng tối: solar, tram hạt, phân sắc…Khiến mấy anh làm phòng tối thủ-công hay rọi hình đen trắng thấy vậy mà lo sốt vó vì sợ khách ngày càng ít đi. Thêm nay giấy đen trắng không tiêu-thụ được nhiều nên mấy “ông khổng lồ” chẳng đoái-hoài tới.

Học cao hơn nữa thì biết thêm trò ảo-thuật không thành có, có thành không, ghép tới ghép lui chế tác-phẩm mới, khỏi sợ mệt vì chạy đi sáng-tác. Anh nào ưa xuất thần nhập “Cõi Thiên-Thai” mà bày đặt ghép bậy-bạ thì đừng trách bị Văn-Hóa nó “gõ”. Ảnh được xử-lý “tới bến” thì bị quở là làm “sạch” quá lòi tẩy dàn-dựng mất hết tự-nhiên (?!). “Lưởi không xương nhiều đường lắt-léo” lo chi mệt óc. Vui là cứ chơi trò “đi mây về gió” đủ kiểu trên ảnh rồi gởi dự thi để cắc-cớ test tài năng BGK. Chọc cho chư vị quê độ vì bị “chơi” qua mặt lia-lịa để rồi Photoshop bị cấm như cấm tài-liệu trong thi-cử. Nhưng đâu lại hoàn đấy vì hàng giả luôn đẹp hơn hàng thiệt. Khi ảnh trúng giải mà có ai biết tác-giả có móc-ngoặc với Photoshop thì dư luận phản-ứng lung-tung, làm ung nhọt tầy-huầy. Nhưng trăm sự đều êm xui vì BGK biết khôn mà hoan-hỉ ngậm bồ-hòn làm ngọt. Trừ trường-hợp quá đáng khi lấy ảnh chụp nơi này ghép qua cảnh nơi khác để dự thi thì xạo quá mức nên phải loại thẳng tay cho công-bằng, nhân tiện rửa quê luôn thể. Chung quy người chấm lầm chứ người thi không bao giờ lầm. Oan mạng cho các anh chơi ảnh kỹ-thuật kiểu truyền-thống chân-chính cứ bị “chụp mủ” tòng phạm với Photoshop hoài. Cái gì lạ là bảo Photoshop làm. May là còn ảnh contact làm chứng cứu bồ. Hay hay dở, hể lạ là đổ đầu Photoshop đại trước cái đã rồi tính tiếp. Photoshop vào huyền-thoại như thế đó.

Rồi trong phong-trào vi-tính bột phát, máy ảnh Digital được tung vào thị-trường như một cuộc cách-mạng. Hễ Digital là hay. Giá càng “bay”, khách càng say vì “thuốc”. Mà nạn nhân trước hết là khách hàng của giới nhà ta. Báo hại cho một số anh em phải chạy lo nâng cấp hay đúng hơn là chuyển hệ từ-từ để đáp-ứng nhu-cầu thị-trường. Bù lại thì khách hàng bắt buộc chi tiền nhiều hơn vì chất lượng, hay đúng hơn là vì thời-cuộc đòi hỏi; mà không chịu theo thì bị mang tiếng không “thời thượng”. Mà mua máy digital phải mua phụ-tùng kèm theo, điển hình là cái máy vi-tính tệ lắm cũng phải có chức-năng để lưu ảnh và chép cd cho khách. Cái máy vi-tính cho ra hồn cũng tròm-trèm một ống kính loại khá. Lại tốn tiền học vi-tính trong khi tiền vô chưa nên thân. Nay thêm dịch vi-rút hoành-hành vì “chít-chát” internet bừa-bãi. Trúng liều “Photo bí sử” bằng “meo pháo-kích” thì cơn ghiền của giới thầy chú lên cực độ, gây nổi mề-đay toàn thân mà chẳng xác-định được đâu dù là chỉ để khều-khều cho đã ngứa. Tức căm gan khi bọn xấu thừa cơ chơi “truyền đơn” bịa đặt bêu-rếu một cách vô văn-hóa chuyện riêng-tư của “con kia, thằng nọ” cho bất cứ ai mà chúng ganh-tỵ. Nghệ hay thì đã quá muộn vì sự đã nổ tùm-lum, đố mà bưng-bít. Rồi tiếp là cái trò…

 

“…Truyền tay, phổ-biến, photo,

F3, F4 chử mờ vẫn phô.

Biết bao tin lạ không ngờ,

Theo đường bưu-điện gởi vô tận nhà…”

 

… từng anh khiến mấy hai “đài phát thanh” cũng phải tăng-cường chạy đôn chạy đáo săn thêm tin để cạnh-tranh phòng mất khách.

Cái đáng nói hơn cả là cuộc đua vũ-trang vẫn tiếp-tục dưới hình-thức vốn có của nó nhưng bảo-đảm sẽ khốc-liệt hơn vì trước mắt hàng digital xuống giá liên-tục. E rằng kế sách “bù tiền đổi máy” theo hoài không nổi. Tạm chấp-nhận cái tiêu-chuẩn “5 chấm” hiện nay như mức khởi điểm, nhưng tồn-tại bao lâu? Các bảng test máy digital được cập-nhật hoài khiến thầy thợ đọc lòi cặp mắt mà chưa kịp có quyết-định nào cho chắc cú. Mà đọc vậy chứ chưa chắc hiểu bao nhiêu. Bí-quyết khuyên chỉ cần đọc đoạn kết luận “mấy sao” là đủ để không sợ ai cười mình lạc-hậu. Lúc giao thời, thầy cũng cố-gắng học qua mặt trò mà mở lớp. Thợ thì ráng đầu-tư lập thêm một “phòng nhì” digital để thả câu mồi chài khách sộp. Ai nấy đều ào-ào đổ xô vào cái digital mới lạ như phong-trào chim cút hay patin rùm-beng ở Saigon một dạo. Không biết có ai rủ nhau bán đổ bán tháo hết đồ nghề củ của mình để sang digital làm cho toàn bộ máy-móc truyền-thống hạ giá đồng-loạt hay chưa? Sự việc mới xảy ra chưa lâu nên chưa có ý gì nhiều để bàn-tán. Cứ chờ. Chỉ biết vắn-tắc: lịch-sử lặp lại theo đường xoắn-ốc với mức độ cao dần. Thế thôi. Chương này tạm dứt.

Cảm hứng nhiếp ảnh (2)

(tiếp)

Chương thứ hai:       Trang bị máy, “nghệ tơ” còn méo mặt

Nâng cấp hàng, Artist cũng nhăn răng.

Cửa ải ban đầu còn đang lạch-bạch chưa qua, thì cái họa về “sắm đồ nghề”, nôm-na là “tìm công-cụ sản-xuất”, lù-lù ám ảnh trước “con đường nghệ-thuật” gây khó dễ như một trạm thu phí với giá vé tuốt-tuồn-tuột trên trời. Y tàn-nhẫn rỉa sạch vốn-liếng cho lắm anh cháy túi. Khốn-nạn thân anh như số phận của “Ulysse-muôn-vàn-trí-xảo” bị cảnh “Tomber de Charybde en Scylla” (1) do Poseidon trừng-trị.

Lúc lê chân ướt chân ráo chèm-nhẹp vào lớp là lúc cái tư-tưởng ngây-ngô như nai của anh bị chi-phối về việc chọn “hàng”. Thầy tận-tình vẽ đường dẫn lối. Chưa tìm ra “đồ” thì thầy dắt đến “vựa quen” mà mua. Có khi thầy đành rứt ruột “gả” phứt luôn máy của mình đang dùng để trò được việc, rồi thầy sẽ từ-từ sắm món khác sau. Hên nhờ xui chịu. Gặp “hàng tốt” thì cám-ơn thầy nức-nở. Giới-thiệu tiếp “mối” khác cho thầy vui, quảng-cáo thầy như thần-tượng. Xui thì khỏi nói. Máy trục-trặc lia-lịa. Càng sửa càng hư, tiếc ôm khư-khư , khổ thêm chôn vốn. Nhờ thầy đem đi sửa thì thợ đại tài của thầy có lúc cũng đành bó tay dù chạy-chữa tận-tình. Tiền kẹt, bán không ai dại mua lại máy mình. Đành năn-nỉ chịu lỗ trả lại. Chỉ trách mình xui, không ai nỡ trách thầy ác ý. Vì thầy là thầy. Thời buổi nạn nhân-mãn, cát vàng lẫn-lộn chẳng ai lường hết bất-trắc, kể cả thầy. Điều không ai muốn xảy ra.

Tiếp còn phải động não săn tìm “hàng độc” ngoài chợ trời Lê Lợi, Nguyễn Huệ để cập-nhật nâng cấp cho cái “của quý vật-chất” lên được “bằng chị bằng em”. Liệu hầu bao mà theo “phé”. Nhớ luôn xem thông-tin qua các cuộc thi, tài-liệu xem ảnh trúng giải bằng món gì để bắt-chước mua mà dùng cho mau lên tay. Nếu hàng không ưng thì chịu khó bù tiền đổi thứ khác hay ký gởi chờ đó. Khi thành “khách quen”, “mối ruột” thì có thể thương-lượng mua thiếu chịu chờ thời-gian huy-động vốn trả góp. Phải sòng-phẳng với nhau, tuyệt-đối cấm bắt-chước mấy gã nghệ-tặc tầm cỡ “lão gia” thiếu chịu thì thiếu thả ga mà mua thì kỳ-kèo từng đô một và bới lông tìm vết kiếm chuyện đì giá tiếp; mà lúc mua rồi bày đặt vòi-vĩnh quà khuyến mãi, filter, bao máy, pin hay tệ lắm là một cuồn film để test. Còn chưa kể nhiều lão Artist ma-đầu bày đặt giới-thiệu đứa-gọi-là “đệ tử” ra mua nhằm khỉa phần trăm để moi tiền sắm đồ chơi. Dân bán máy hay người mua chưa biết ai được thời hơn ai nhưng hàng độc thì không bao giờ thiếu, cứ chịu khó đợi từ-từ sẽ lòi ra. Thiệt là tức chết khi phô-bày món đồ nghề của mình thì:

–           Í ẹ ! Dính hàng “luộc” rồi ! Bị ai “thuốc” vậy?

–           Hiệu đó mà chơi gì .

–           Chọn NK hay CN đi, thầy nói có gì chơi chán cũng dễ bán lại không lỗ.

Bị khích tướng kế, tức chưa?

Thầy bảo, lại thầy bảo. Cái gì thầy nói phải đúng cả. Kinh-nghiệm đã khuyên nên nghe kỹ cái thầy nói và xem kỹ hàng khi mua cho khỏi mích lòng về sau.

Sau vài lần thất-bại trong việc sắm đồ thì trò cũng đạt một kinh-nghiệm ngang cơ với thầy, đủ sức ngẩng cao đầu trong Hội Khoe Của nếu có. Bạc tiền thì châm vô liên-tục và không hạn-chế. Nói dân nhiếp-ảnh nghèo là sai. Lắm anh nhờ bà-con nước ngoài viện-trợ về tiếp sức.

Tính chơi giả-sử cứ một anh cần trung-bình 3500 đô cho đồ nghề (2 thân máy: 1100$, 2 ống kính:1500$, 1 flash: 450$, 1 chân máy: 150$, 6 filters: 300$). Đất Sài-gòn nếu chỉ có 2000 phó-nháy thì tốn sơ sơ 7.000.000 đô; thống-kê số-lượng chính-xác trên toàn quốc ra tiền ta thì dữ-hội hơn, đếm mệt xỉu. Số tiền dư sức xây mấy bệnh-viện, trường-học cho dân nghèo kèm khuyến mãi một nhà dưỡng-lão cho Nghệ-sĩ.

Chơi nhiều, hồi vốn chưa kịp do hàng bị đề-mốt thì lại phải tiếp-tục đi đổi bù tiền. Thành ra giống như ai cũng tự-nguyện đóng một lệ-phí “cập-nhật thời thượng” cho dân bán máy. Lời đâu chưa thấy, mà theo quy-luật, lỗ là tất-yếu. Chưa kể gặp sự cố thì méo mặt thua trắng. Còn kinh-hoàng cái cảnh phe ta bị chìm xuồng khi đi sáng-tác trên hồ Lak năm nào. Cứ đi tìm phỏng-vấn các nạn-nhân hôm ấy thì rõ.

Mà trong cuộc chơi này, thầy lẫn trò , dù thắng hay thua, đều xem như một thú vui của mấy bà “đấu” đồ trang-sức. “Photographer Fashion” đầu thế kỷ 21 ghi như sau:

“Body AF, design thật quạu, đủ các chức-năng “Pro”. Ong kính AF dù fixe hay zoom phải là loại Internal Focus mới đúng điệu. Ong kính “For” được công-nhận là “Pro”do giá có loại đã cao hơn hàng hiệu với điều-kiện có Stab, HSM, LD, Aspherical… Filter UV, Skylight đã được thay bằng Dynamic cho trong hình. Polar các loại phải đầy-đủ mà phải là Circular. Filter màu cho đen trắng nay vẫn còn cần-thiết. Ai sắm càng nhiều loại filter thì càng tốt cho công-việc. Nhứt là nay cần thêm 3 loại red-green-blue enhancer cho lên màu. Đèn flash chỉ số cao, giá chót 40 để đánh xa với các chức-năng TTL, second curtain, stroboscopic,… kèm filter màu cho đèn, slave, dây synchro, pin sạc dung-lượng cao. Chân máy cao, chắc mà bảo-đảm gọn nhẹ kiểu poly-carbon. Máy đo sáng cầm tay đa chức-năng đủ để cầm nhấp lấy le. Thiết-bị studio càng mắc càng bảo-đảm. Nói chung cứ lấy giá hàng hiệu làm chuẩn tối-thiểu và theo châm-ngôn “tiền nào của nấy” là yên bụng. Film và giấy thì khuyên dùng thứ trùng tên hãng tài-trợ để tiện gởi ảnh dự thi. Máy lớn thì thiên hình vạn trạng khiến tự-điển không chép nổi. “Đồ” phải nâng niu giử kỹ phòng mất “gin” để ít lổ khi bán hay đổi lại. Còn riêng phục-sức cho Nghệ-sĩ sành điệu chỉ yêu-cầu độc nhứt một áo banh ngực, hở nách, đầy nhóc túi từ trước ra sau, màu tự chọn, tục gọi là “áo Khỉ”, nam nữ dùng chung. Sắm thêm mobile thì đạt tước-hiệu ECAP (Exellent-Call-Artist-Photographer) cho dễ làm ăn…”

Đến đây phải kể một chuyện truyền miệng tối quan-trọng ít ai biết vì không sử-gia nào dám chép do nhiều lý-do “tế-nhị”:

“Số là sách Tử-Vi Đẩu-Số của Hy-Dy Trần Đoàn từ hàng trăm năm nay đã chép rằng mạng số Nghệ-sĩ luôn có các sao Đào-Hồng-Tướng-Kỵ-Phục-Thai chiếu nên Nghệ sĩ hay được người khác phái ái-mộ vì tài. Và từ đó, họa Đào-Hoa cũng đã sinh ra…

Và thế nên khi đàn-bà con gái thuê Nghệ-sĩ chụp ảnh là bị dính “sự cố” rắc-rối hoài-hoài.

Và với các nữ Nghệ-sĩ tài-hoa, cái “cám-dỗ ngàn xưa” cũng chẳng nể mặt tí-ti nào.

Và thầy quen thói mời người mẫu đẹp đến lớp sáng tác để hổ-trợ trò hứng-thú mà dợt nghề cho mau lên. Khiến người mẫu mới vô nghề ưa mò tới mấy lớp sáng-tác đặng hy-vọng mau nổi tiếng, vừa khỏi sợ bị “ế độ”.

Và các Nghệ-sĩ hay về thăm thầy cũ để thừa dịp làm quen mỹ nhân mà thử lửa “hàng hiệu” mới “lên đời”.

Và cuối-cùng, một thầy đồ Nghệ ngồi nghía được nhiều “pha” vi-vu quá đã mắt đến nỗi ngẩn-ngơ quên chụp mà nổi hứng làm thơ như vầy (trích):

 

“…Huy-chương, tước-hiệu bề-bề,

Nghe hơi người mẫu cũng mê-mẫn người.

Nhìn trò (dàn) “dựng”, thầy ngồi bất-lực,

Ao đỏ xanh bức-xúc anh em,

Má đào bốc lửa cơn thèm,

Ngực (tấn) công, mông (phòng) thủ như thêm rơm, dầu.

Thầy chán-nản mà rầu méo mặt,

Cái khổ này thắc-mắc hỏi ai ?…”…

 

…để chọc thiên-hạ cười chơi. Thơ truyền tới tai chọc quê Tổ nên Tổ tức lắm vì không làm gì được. Lúc lâm chung, Tổ nguyền rằng nếu ai lấy đồ nghề chụp khỏa-thân vốn tràn-trề ô-uế mà chụp “đám” khác thì Tổ sẽ khiến bị ế độ cho bỏ ghét. (biết thân muốn tránh Tổ quở thì nên sắm thêm bộ đồ-nghề chỉ riêng chụp khỏa-thân mới yên).

Đệ tử lo-lắng hỏi về việc gởi ảnh khỏa thân dự thi, Tổ chỉ nói “Được, không cấm” rồi mỉm cười nhắm mắt từ-từ mà tịch.

Đệ tử lo chôn-cất tử-tế, không quên gom huy-chương, bằng tước-hiệu của Tổ đem đốt sạch như lời Tổ dặn. Tổ vốn biết trước để lại chẳng ích chi; bán ve-chai nó trả rẻ, lời lóm “giá thợ” chẳng bao nhiêu đếm tiền thêm tức. Tổ cũng không chịu để lại phim và tác-phẩm cho bất cứ ai vì ghét thiên-hạ nhìn mà bắt chước. Tổ cho phép đời sau tùy nghi định-đoạt quy-chế thi-cử…”

Chuyện thi-cử thế nào xem chương sau sẽ rõ.

 

Chương thứ ba:         Thi Grand Prix, thí-sinh tìm danh-vọng

                                    Chấm Cồng-cua, giám-khảo lãnh tiếng oan.

“Học thầy không tày học bạn”. Có bạn bè chỉ vẽ nhau học thêm vui, tăng hào-hứng lúc sáng-tác ban đầu. Thầy dù giấu nghề theo kiểu thầy. Nhưng bạn lại dấu cái thầy không dấu. Học bạn lại rẻ hơn học thầy, do miễn phí. Bạn có bạn tốt bạn xấu. Vớ trúng thằng “nổ” loại:

 

Nghề còn bưng-bít như hang thỏ,

Miệng đã tô-hô quá lổ trê…

 

…thì dẹp nó qua một bên tìm bạn tốt khác hạp ý vui hơn. Vả lại do cùng trang lứa nên khi cùng mài cùng mò lẫn nhau trong sáng-tác thì càng sung càng sướng, thêm hứng đôi bên.

Tất-nhiên những tác-phẩm , bầy con nghệ-thuật , phải ra đời. Dù con so thiếu tháng hay con rạ, chưa chắc con khôn cũng làm mát lòng rời-rợi. Vác khoe với anh em bạn bè, nhứt là trình thầy như một lể rửa tội tác-phẩm với các nghi-thức: thầy ngắm-nghía kiểm-tra nét, hỏi tham-khảo kỹ các chi-tiết thông-số kỹ-thuật cùng với hiệu máy, loại ống kính, hiệu film, hiệu filter, density/balance màu, nơi chụp, cắt cúp, đặt tên ảnh, khuyên vài điều rút kinh-nghiệm cho lần sau. Tất-nhiên người luôn khuyến-khích gởi ảnh dự thi. Tưởng-tượng nhà có gái đẹp là có người tới rủ-rê đi thi hoa-hậu để hy vọng “vớt” được một tấm chồng ngoại hay chồng giàu cho đã. Hỏi ai không thích?

Cái giai-đoạn hào-hứng của cuộc thi ảnh ở ta là lúc xem chấm công-khai mà trên thế-giới chưa và không hề có. Hay ở chổ ấy. Thử tưởng tượng các anh em từ tay non tới lão làng đều vây quanh khu vực ban giám-khảo (BGK) như xem thi hoa hậu. Cũng chấm vòng 1, vòng 2, vòng 3. Vui lắm chứ, như lể hội vậy! Các “thí-sinh” ảnh được BGK yêu-cầu trưng-bày ra từng loạt để duyệt cẩn-thận từng em một. Nhiều tấm được ông này chê úp lại, lão kia xuýt-xoa khen đẹp lại lật ngửa lên, bà nọ đi qua đỏ mặt thò tay úp lại… Up úp mở mở hoài làm nhiều “bậc cha sanh mẹ đẻ” lên ruột, hồi-hộp muốn bứt tim. Đôi tay lão-luyện BGK che tới che lui, sờ qua sờ lại từng ảnh vừa bàn nhau cắt-cúp thế này mới thấy “đã”, hay là nghiêng qua kia một tý cho “cân” … Làm anh chị em ta học được lắm điều bổ-ích nhứt là nắm ý từng vị BGK cho cuộc thi sau (lạ gì có một anh đứng cạnh tôi đã đoán trúng phóc hơn thầy Lăng Ông bức nào được vị nào ưa, và khuyên tôi rọi ảnh ở lab nào mới đúng ý BGK nữa kìa). Trách chi anh em chen-chúc đến xem bằng được như lể hành-hương Thánh Địa vậy.

Thế-giới xưa nay người ta chấm ảnh chỉ dùng “lý” mà chấm. Còn ta siêu hơn vì biết kết-hợp giữa “tình” và “lý”. Có một dạo truyền-hình quay lại một buổi chấm ảnh công-khai. Xem thì biết. Quả là phương-pháp “made in NSNA” siêu-việt mà thế-giới cần rút kinh-nghiệm: sau khi chấm mặt ảnh theo “lý” như cách phàm-tục xưa nay, cách chấm theo “tình” tiếp theo là lật lưng từng tấm để xem-xét cho thấu-đáo giá-trị nghệ-thuật đến tận cùng mặt trái của nó, bám sát hiện-thực, đúng theo câu: “tình lý cân phân”. Một anh đã từng trải nói tôi rằng cách này cực-kỳ công-bằng vì không bao giờ “đánh rớt lầm” nhân tài. Có bất-trắc thì phần “tình” vớt lại phần “lý”. Nếu không nhiều anh em phe ta rớt oan mạng, tội-nghiệp lắm!

Trước hết vẫn là tội BGK – các đại Nghệ sĩ cao thủ – đang đứng trước cái khó-khăn trên đường nghệ-thuật của chính mình. Cảnh “Sống làm Nghệ khắp người ta” đâu dễ. Chỉ mình mới tự hiểu mình thôi vậy. Tệ hại hơn là đâu có được xơ-múi bao-nhiêu tiền đâu? Mấy cha “khuất mặt khuất mài” dành chấm-mút hết sạch. Vì mê báo-cáo số-lượng ảnh dự thi cao hơn năm nước mà cuộc thi giang tay nhận ảnh thả ga không hạn-chế. Báo hại ban tổ-chức chọn ảnh, vô danh-sách mệt hả họng, rồi khi chấm xong lo “gói xác” vô bịch nylông chờ trả về tác-giả quản-lý. Chẳng ai thèm thông-cảm mà còn dám ba-que xỏ lá chơi “biển người” gởi một lần hàng trăm ảnh để hy-vọng “vô” một tấm mới chết người ta! Có ai nghĩ ra việc đóng kha-khá lệ-phí ảnh nhằm bồi-dưỡng riêng cho BGK đở lao tâm lao lực đâu? Họ chẳng có được một câu “cám-ơn” dù lạt như nước ốc. Tiền eo bạc hẻo chỉ trông chờ vào những đồng bạc bố-thí rỉ giọt của anh tài-trợ. Y có lúc cao hứng bổ-nhiệm một tay vừa dốt đặc về “Phô-tô-Ac” vừa vênh-váo kiểu Đài-Loan lựa vợ, vô ngồi gác cẳng ngang cơ với BGK mà chấm thi làm tổn oai, coi thường chân giá-trị phe ta lắm lắm! Nhưng vì ăn cơm Chúa thì phải múa thôi, tránh sao khỏi?

Còn trong lúc chấm thi, phe cổ-động bên ngoài cứ chọt câu này, xỉa câu nọ làm mất trật-tự và nhứt là công-kích linh-tinh vô văn-hóa với ngôn-từ phản nghệ-sĩ . BGK nghe tức trào máu mà phải câm họng chịu đòn. Bọn xấu lợi-dụng cơ-hội mà há mồm thối phịa đủ thứ: nào là thằng cha nọ đã “ngậm” tiền thí sinh X. , còn thằng Y. “đi đêm” trước với con mẹ nào đó rồi, mấy chả được mụ Z “tạm ứng” trước phần trăm tiền thưởng. Hỏi ai không tức khi bị xuyên-tạc nói xấu? Có vị đành phải ôm hận mang tiếng “lẻn trốn về” cho khuất mắt đám “trời đánh không chết” ấy. Việc đúng hay sai thế nào chẳng ai dám nói. Nhưng đâu hãy vào đấy vì đã chịu chơi phải đồng tình chấp nhận luật, xem BGK là cha là mẹ, hơn cả trọng-tài trên sân cỏ vì trọng-tài còn bị treo còi mà chửa ai có quyền treo ghế BGK cả. Hơn nữa, thấy không, họ không lợi-dụng “mồm kẻ sang có gang có thép” để cự với mấy “nghệ non háo thắng”, cũng chẳng dám đôi co tranh-luận với ai từ đó về sau. Thì phải tôn-trọng họ chứ , nhứt là khi họ đã lịch-sự với ta đến thế.

Nhờ vượng khí mả tổ độ mạng nên khiến “cái khó ló cái khôn” giúp BGK điều-nghiên ra một sáng-kiến tuyệt-vời xưa nay chẳng ai tưởng-tượng nổi để đối-phó với cái-gọi-là “chê BGK bất tài”. Nhớ rằng trong mọi ngành khác khi hành nghề thì người ta phải có giấy phép hay bằng-cấp phòng khi bị các cơ-quan chức năng “sờ gáy”. Ở đây, các ông bà Nghệ ta chẳng có giấy nào lận lưng quần để thủ thân, thơ tay lại càng không có vì chẳng có ai cao hơn để làm ô dù. Sáng-kiến được nhất trí là lấy đại vài tác-phẩm của mình ra treo chung-chạ với các ảnh dự treo. Có ba cái lợi:

– Thứ nhứt là tạo được tính đồng đẳng trước khi khẳng định bình đẳng giữa BGK và thí-sinh. Theo đó là sự khẳng-định thần-kỳ:

“Nhiếp-ảnh là môn ai chụp cũng được và ai chấm cũng được”.

– Thứ hai là thể-hiện cái điểm chuẩn cũng như cái nhìn của BGK, các thí-sinh cứ bám theo đó như trọng-tâm đề-cương ôn-tập là chắc ăn cho lần thi sau.

– Thứ ba quan-trọng nhứt là BGK tự khẳng-định trình-độ của mình. Mọi người cứ nhìn vào đấy mà uốn lưỡi ba lần, vừa tự xét ảnh mình trước khi công-kích. Nếu không thì chúng mày nên về đóng tiền học với chúng ông vài khóa rồi tính tiếp; chớ xỏ mồm vào làm rách việc người khác!

Một cái rất ngộ, ngộ lắm ! Một bức ảnh trúng giải ngoài các tiêu-chuẩn thông-thường ra sao thì không biết nhưng ta thấy thường còn kèm theo một yếu-tố ngoại-lệ: gây phẫn nộ dư-luận. Nhớ hồi khoảng năm 2000 gì đó , bức ảnh biệt danh “Ma Đói gắng sức Moi Đá” ẵm giải nhất làm dư-luận la-ó dữ-dội trước trò “ngựa bán độ về ngược” làm tiêu dênh số tiền cá-cược khổng-lồ. Mà “Hạ thủ bất huờn” thì chịu. Lạ và hay hơn nửa là sê-ri BGK cũng được nổi tiếng “ăn theo” với tác giả. Lời lý-giải nông-cạn duy nhứt theo thuyết nhân-quả là vì “ở hiền gặp lành” do dùng đúng “tình-lý”. Công-phu “xoay tròn quả phúc” lâu ngày đến khi “phúc ứng nhãn tiền” thì mới biết giá-trị “một chỉ vàng ròng hơn hòn đá tảng”. Đơn-giản cái phẫn-nộ là do cái ganh-tỵ tiểu nhân, chấp-nhất chi cho tổn thọ. Từ ấy mới thấy cuộc thi ảnh khác với thi hoa-hậu ở điểm là người ta, thường là đồng-nghiệp, hỏi phần ứng-xử ở BGK, hỏi hoài đến khi có câu đáp thỏa-đáng mới thôi. Hiểm độc thay, câu hỏi lần nọ quá hóc-búa đến nỗi ông cố chủ-tịch hội-đồng nhà ta đến lúc nhắm mắt vẫn chưa giải-đáp được cho thiên-hạ nhờ. Các nhà lý-sự phê-bình cũng đành mang tiếng “mít đặc”. Thương giới hậu-sinh tới nay tắc-tị y chang Trạng Quỳnh đứng ngắc-ngứ hoài trước cửa buồng tắm của Thị Điểm chỉ vì bí câu đối “Da trắng vỗ bì-bạch”.

Còn thi ngoài nước là một chuyện khác. Có bức ảnh thi trong nước thì đậu, mà khi đi ra ngoài thì rớt té nước. Và ngược lại. Chẳng lạ chi có anh thi nhiều lần ở nước ngoài với độc một bức ảnh mà ăn điểm lia lịa. Cứ ráng thi đủ tiêu-chuẩn tối thiểu trong nước, còn lại bao nhiêu lấy điểm quốc-tế bù vô cho đủ để vô “Trung-ương”. Quả là “xuất khẩu là chính”. Tới khi ăn giải cao thì nguồn chất xám bị lãng quên mới được khám-phá. Mà cũng lạ mấy tác-phẩm ấy lại chẳng gây ồn-ào dư-luận. Cũng buồn vì không có gì để bàn-tán chơi. Cái chông gai của khâu gởi ảnh nước ngoài thì nhiều hơn. Từ khâu gởi ảnh đi bằng đường bưu-điện phải tìm mẹo nào gởi kèm lệ-phí bằng tiền đô cho khỏi mất, nếu hên có ai đi nước ngoài cầm theo thì an-toàn tuyệt đối, khỏi bị kiểm-duyệt lôi-thôi mất thì-giờ , tiền bạc lẫn nước bọt để giải-thích. Nhưng bù lại khi ảnh trót-lọt thì thường với tấm ảnh nghiêm-chỉnh là anh ít nhiều cũng đậu. Ít thì 1 điểm, nhiều thì mười mấy điểm một lần, giống như giá xuất-khẩu thì phải cao hơn nhiều lần giá vựa gốc. Một vốn bốn lời thấy rõ nên nhiều anh chưa đầy một năm đã dư tiêu-chuẩn vô “Trung-ương”.

Mừng có thời gian, phó-nháy vô “Trung-ương” ồ ạt, rồi AFIAP, EFIAP, VAPA, PSA… ì xèo (chưa nghe nói tới ARPS, FRPS…chắc tại khó vô quá chăng?). Nhiều anh em “non tuổi đời, sáng ngời tuổi Nghệ” đã làm xứng danh “con hơn cha nhà có phúc”. Việc khiến mấy Nghệ thâm niên phải ghen-tỵ mà quở: làm sao vô nhanh vậy? Đông quá còn gì là cao quý nữa? Khiến nhiều anh “đắc-quả” bị mang tiếng “tu đường tắt”.

Rồi nghe đồn luật mới đưa ra dù được bao nhiêu điểm cho một lần thi thì anh chỉ được 1 điểm cho Trung-ương mà thôi, để hòng tránh nạn lạm-phát, giử giá Nghệ-sĩ . Theo tác-giả, tại sao không bắt-chước theo tiêu-chuẩn quy-hoạch, chiếu theo mật-độ dân cư từng vùng mà quy-định tỷ-lệ phần trăm số lượng nghệ-sĩ . Như vậy ít gây mất lòng hơn. Một khi số lượng Nghệ đã đủ thì những anh còn lại dù có đủ tiêu-chuẩn thì được xem như thành-phần Nghệ dự-bị chầu rìa. Cho mấy anh cứ ngồi nhà mặc sức cầu trời cho Nghệ nào chết đi để hy-vọng mình được trám vô ngồi như chức quan hậu-bổ. Cách này tuy gây thất thu nghiêm-trọng hội phí mà không ai ta-thán. Hơn nữa là không ai đổ-thừa địa-phương cho gia-nhập nhiều để dành lấy đa-số phiếu bầu trong đại-hội. Cần nghiêm-chỉnh bàn kỹ để hợp lòng anh em. Tốt hơn để cho bề trên lo-liệu.

Trở về trận Vũ Môn nội địa đầy căng-thẳng. Cái cảnh “đau như đòn hằn, rát như lửa bỏng” thì thôi nhiều khỏi nói. Nếu tỷ-lệ đậu gần 100% kiểu thi tú-tài thì còn gì hay? Hễ “vô” là được giá chót 1 điểm “gối đầu”. Trước để vui với anh em dù là nằm dự treo trong góc. Sau là lãnh thưỡng ít tiền để gỡ vốn cho kỳ sáng-tác sau và khao anh em cùng vui vài xị. Kế là nở mày nở mặt khi thấy thiên-hạ đến bình ảnh của mình. Cái sợ nhứt là cảnh cụng hàng trong khi chấm ảnh. Để rồi khi ảnh mình lọt vô mà ảnh anh em mình rớt (hay ngược lại) thì thiên-hạ lại nói tới lui làm mích lòng dể xa nhau lắm. Mà trong nghệ thuật phải “dĩ hòa vi quý” nên cái khó khăn (lại thêm một khó khăn) là làm sao đừng cho ai biết trước mình sẽ gởi ảnh nào cũng như phải giấu cái chổ sáng-tác, cái ý-tưởng mình sản-sinh ra. Dấu, dấu thật kỹ như Photo chi-bảo ! Mang tiếng “mèo dấu cứt” cũng phải nhịn nhục vì đại-sự. Lủ bạn xấu mà biết thì chúng tìm lại vị-trí mình đã sáng-tác để dàn dựng lại “tới” hơn (có kẻ uống máu liều phá tiêu cái tiền cảnh đẹp sau khi chụp để khỏi ai mò tới). Chưa kể thằng đểu sẽ “đạo ý” y khuôn, hay tệ hơn tìm cách “chôm” phăng cái phim của mình cho khoẻ nhằm gởi dự thi chổ khác. Có lúc ảnh mình sẽ bị chúng “phổng tay trên” đem đăng báo kiếm nhuận-ảnh mua phim chơi. Cái đó người ta hay la làng hoài chưa kể lâu lâu thấy trong sách ảnh này có một tác-phẩm đề tên tác-giả này, sang sách của cuộc thi khác thì ảnh na-ná 90-99% lại mang tên tác-giả khác. Sĩ và Nghệ giận nhau cũng từ đó. Anh này buộc tội anh kia là Daguerre cướp công phát-minh nhiếp-ảnh của Niépce. Thành ra cái “tội tổ-tông” hóa thần Trùng mãi đeo-đẳng nhà photo ta mà chẳng thầy bà nào đủ cao tay ấn mà ếm cho yên chuyện. Khổ thật, khó mà tránh ! (Lại cứ KHÓ-KHỔ, nghe nói mãi, mệt thật!)

Trách nạn cụng hàng với lý-do chủ quan thì phải phân-tích bào-chữa cho tới nơi tới chốn qua hoàn-cảnh khách quan. Số là số lượng thầy và lò luyện thi NSNA rất khiêm tốn, chưa kể kiến-thức ai ai cũng hạn-chế, anh em tay ngang đông-đảo, ít trường-phái mà được duy-trì trên nửa thế-kỷ. Công-thức sáng-tác kiểu từ-chương của Thánh-hiền Xì-tin Phô-tô-ngáp được bóp-nặn tinh-hoa từ vài kiểu ảnh đã trúng giải. Vô-tư “nối gót cha anh” theo đúng rặt bài là chắc ăn, khỏi sợ bị đàm-tiếu. Như Tôn Tử đã khuyên tập-trung quân đánh riết một chổ của địch tất giải được vây, chuyển bại thành thắng.

Do tính công-nghiệp hóa đậm-đà màu-sắc dân-gian của cương-lĩnh sáng-tác như vậy nên tất-nhiên dù không chụp chung thì cũng đừng trách tệ nạn “cụng hàng”. Hay thay cái “tình” của BGK – giải-pháp thay thế cách bốc thăm quá may rủi để quyết định thắng bại. Càng lạ hơn khi tới nay chửa có lời chứng-minh thoả đáng:

 

Tình chỉ đẹp khi còn dang-dở,

Đời mất vui khi đã vẹn câu thề         (Hồ Dzếnh)

 

Và cái thằng tôi này sực nhớ là phải viết thêm hai câu thơ của cụ Nguyễn Công Trứ cho đủ bộ:

 

Chử tình là cái chi chi

Dầu chi chi cũng chi chi với tình.

 

Ôi ! Cuộc đời đầy phức-tạp.

Cái độc đạo dự thi nhằm thăng tiến lên Nghệ-sĩ hệt như đường khoa-bảng tự ngàn xưa. Cũng có giải nhất oai như trạng-nguyên, vinh-quang trước bá-tánh. Vì chế-độ đa thê bị cấm nên trạng-nguyên không được nhà vua (nay là BGK) gả công chúa mà chỉ được lãnh ít tiền còm hay tấm mề-đay để nhà ngắm. Lý do chính một phần là ngày nay nhiều anh đổ đầu hàng trăm lần, thậm chí có nhiều cô bình đẳng với nam giới cũng vô giải nhứt ì-xèo. Hoan-hô giải-pháp “của đi thay người”! Nếu không liệu BGK lẫn nhà tài-trợ có đủ số con gái, và thậm chí luôn cả con trai hàng năm để mà gả nhiều đợt trong thời-đại “Thuận vợ thuận chồng, đẻ con đông nuôi mệt nghỉ” nhường chổ cho “kế hoạch hóa”? “Huợn cơ” hơn nữa khi thấy có vài vị tầm-cỡ sếp sòng trong làng photo với chức-vị bén rể rậm-rịch như cây si cổ thụ, vẫn còn lom-lem gởi ảnh dự thi. Hỏi thì họ nói ” để vui thôi mà”. Phải công-nhận mấy ổng bả còn “sung độ” hết biết. Chưa kể khi tuổi trên 60,70 vào cõi thọ mà vẫn:

“… Canh bố cục, nạp phim, đo sáng,

Đoán mây mưa, xoạc cẳng, lên nòng,

Đồ chơi lủng-lẳng, lòng-thòng,

Phất-phơ “áo Khỉ”, một lòng ra đi…”

…sáng-tác không thua gì dân trai tráng. Bỏ bạc triệu đi săn ảnh đối với mấy vị “ghiền đậm” ấy chỉ là “thổi kèn tý đỡ buồn”, chả thấm-tháp vào đâu. Ay là cái phong-độ “Thân lão, Tâm bất lão” . Bài viết đầu năm Con Dê khiến tác-giả cầm bút phải run tay vì bụng lên cơn rậm rực, sôi máu thèm-thuồng cái mà ca-dao ông bà xưa tả:

“Ông già, già tóc, già hơi

Già răng, già lợi, ĐỒ CHƠI không già“.

Xin mạn phép tiếp-tục lãi-nhãi là làm NSNA khó lắm. Khó từ thuở ban đầu, khi mộng thành hiện thực vẫn khó bởi nhiều việc linh-tinh. Từ-từ đọc nghiền ngẫm chương sau mà biết thêm. Đừng xem quá vội mà hết hay.

Cảm hứng Nhiếp Ảnh (1)

11 năm trước, viết tầm phào chơi. Phải ẩn danh sợ thiên hạ chửi.

Tới giờ, mọi chuyện không đáng giấu vì nó đã đúng như dự đoán.

Dòng Cảm-Hứng với Nhiếp-Ảnh.

 

Ai không mê Nghệ-sĩ Nhiếp-Ảnh?

Một sai lầm to lớn.

Con nít còn ham.

Gọi đại một thằng bé đến là biết ngay.

Đưa nó xem máy ảnh. Mắt của nó sẽ dòm vô viseur, tò-mò như tìm hiểu “lổ đen vũ trụ” bí hiểm.

Dàn-dựng nó để chụp. Nó khoái chí “quậy” đủ kiểu. Sau đó nó sẽ hãnh-diện kể chuyện lại với bạn-bè. Anh trở thành một thần-tượng của nó, hay đúng hơn, máy ảnh đã chinh-phục nó từ giây phút đầy chất nghệ-sĩ đầu-tiên.

Anh trả tiền cho nó . Chưa chắc nó quan-tâm.

Đó! Nó đã mê anh và mê máy của anh hơn nữa…

Cái mình cần thì không có. Cái mình có thì không cần.

Chổ oái-oăm đó tạo cảm-hứng viết bài này khi thử đặt mình trong trường hợp …

…tôi ra đời dưới một ngôi sao lạ – ngôi sao “Không-có-số-làm-Nghệ-sĩ”.

Thượng đế đã, đang và mãi trừng-phạt con người bằng cách khiến họ luôn không thỏa-mãn cái mình có.

Câu ông bà nói “Đứng núi này trông núi nọ” không phải là quá đáng.

Thành Nghệ-sĩ Nhiếp-Anh khó lắm chứ. Khó từ thuở ban đầu, khi mộng thành hiện-thực vẫn khó bởi nhiều việc, dù linh-tinh chẳng vào đâu.

Nguyễn Trãi đã từng viết:

“Trời thử-thách trao cho việc lớn

Ta quyết chí khắc phục gian-nan…”

Đọc Tây Du, vì nghe kinh ngủ gục, Đường tăng bị đọa đầu-thai lãnh 81 nạn trong 14 năm mới đến được Tây Phương thành Phật.

Xem Odyssée, Poseidon hành-hạ Ulysse ,vì tội làm mù mắt Polyphème con mình, phải lênh-đênh trên biển 20 năm mới về tới quê-hương.

Trong nghiệp nhiếp-ảnh, ta gặp khó-khăn suốt đời vì nỗi đam-mê vô bờ bến …

Viết thoọc-lét chọc anh em cười vui cho đã bụng … Ai nghĩ sao thì nghĩ.

 

Chương thứ nhứt:     Bài căn-bản, lắm gian-nan rình-rập

                        Sách chân-truyền, bao công-thức bày ra.

Khi mới học, bài vỡ-lòng cũng làm nhiều anh chị nản chí. Ba cái lý-thuyết lăng nhăng về tốc độ/khẩu độ, đo sáng điểm, đo sáng vùng, nào là phân loại máy ảnh nhóm 1, nhóm 2, nào là hiệu máy, filter, test ống kính… đủ làm phát điên cái đầu non-nớt. Cái chử mà ông thầy dạy nghề tận lực truyền cho cũng không thể nào làm anh hấp-thụ tới nơi tới chốn. Nói ra chẳng ai tin, nhưng về lâu dài, anh sẽ thông-cảm vì chính thầy cũng không ít chới-với với cái thầy truyền đạt. Vì “nói” và “làm” là hai phạm-trù khác biệt. Nguyên-nhân sẽ nói sau. Lâu lâu, thấy một hãng danh tiếng nào đó mời một thầy đi hợp-tác quảng-cáo hay đào-tạo nhân viên, có thể chắc ăn 100% trình-độ căn-bản của thầy ấy “nhỉn” hơn mấy thầy khác, và dĩ nhiên do đó có số-lượng học-trò theo đông hơn. Nói đùa như ta mừng khi được bảng “test thầy” chưa tài-liệu nào có.

Gặp thầy tận-tình thì coi thầy hơn cha. Xui-xẻo nếu gặp ông nào giấu nghề thì học mãn khóa cũng “công cốc” với câu cửa miệng của thầy khi nghe trò thắc-mắc quá nhiều: “Học khóa tới là biết “. Có lý ! Vì khóa sau sẽ có cái cần học. Phải nhớ : chỉ có ở khóa sau chứ khóa hiện-tại chả giải đáp được cái anh thắc-mắc. Thôi thì đành tự an-ủi vì kiến-thức không phải là “vốn tự có” nên thầy phải ráng giử để sống, dạy “bứt cụt vốn” thì nồi cơm thầy cũng tanh-bành vì ai thèm học thầy nữa? Thầy cũng biết điều sau một chầu nhậu do trò thết thì vui bụng rặn ra vài “mửng vặt” để trả công sòng-phẳng theo đúng luật Kinh-tế thị-trường “Nhất tự vi sư, mãi tự vi sư”.

Tiếc thay tác giả tối dạ, không ai quen biết nâng-đở, ảnh thi đâu rớt đó, nản chí sinh lười nên chỉ nhớ trài-trại “Photo Tam Thiên Tự” như sau (nên hùn tiền mua thầy CD bản gốc bài chân-truyền đọc cho chắc ăn):

“Bước đầu sáng-tác thì chụp người mẫu. Chọn thiếu nữ trẻ đẹp áo xanh áo đỏ cùng nón lá. Hay bà già vú mớm lòng-thòng, da nhăn nheo, giống ma vú dài càng hay. Hoặc ông già móm-mém, có râu dài thêm hấp-dẫn. Gặp con nít thì chụp sao cho thấy cặp mắt nhìn đứng tròng mới ra vẻ ngây-thơ ngơ-ngác. Chụp ngược sáng để lấy sáng ven mà vẫn đủ chi tiết phần tối và không bị halo mới là có ống kính xịn. Gặp mây đẹp thì đặt vòng polar cho lên mây. Chụp “nê” thì đánh dư 1 khẩu và kêu lab rọi đậm cho rực màu. Nắng to dùng 125-11. Trong studio dùng 60-5.6. Chụp đời thường thì cứ thế mà phăng, miễn sao có người và áo xanh, đỏ tạo điểm nhấn. Đi đây đó sáng-tác thì nên lận lưng một tờ giấy giới-thiệu để bảo-kê phòng khi bị chính-quyền “vịn” làm khó dễ. Chụp cảnh đồng quê phải un khói mịt-mù để cho nắng chiếu vào (liệu hồn đừng chọc bà Hỏa ngứa nghề thì tù cả đám, giấy giới-thiêụ không chạy án nổi, nói trước). Chưa chắc ăn bố-cục thì chụp wide thật rộng rồi lab sẽ tự “cúp” lại dùm cho khoẻ. Ảnh triển-lãm phải làm la-mi-na khổ thật to, chừa bo thật rộng mà áp-đảo phủ đầu bà con. “Tâm-lý chiến” khuyên bán ảnh nên chém giá bạo tay thì mới thấy giá-trị nghệ-thuật cao, nhằm mau gỡ vốn. Tên ảnh phải ấn-tượng và tràn-trề đậm-đặc tính dân-tộc. Y-tưởng phải tích-cực cao độ nếu không đám kiểm-duyệt nó hoạnh thì khỏi treo (hiện-thực bắt buộc phải là tốt kiểu “đẹp khoe, xấu che”, nhớ chưa ?!)”

Để giúp thầy thợ đừng quên nghề, xin lỗi phải “bép-xép” nhái Sư phụ:

“Thợ lúc nào cũng cần phãi học để cho tác-phẩm luôn độc-xẹt hơn người. Gặp thời buổi ế “khứa” nên thợ nản lòng rồi xuống tay nghề và quên bài vở. Tổ buồn lắm. Thần Bạch Mi thấy thương tình nên hiện báo mộng giúp Tổ. Thức dậy, Tổ nhớ lời Thần dạy bèn lật Tố-Nữ Kinh cũa Trung-Hoa mà nghiên-cứu ra một bí-kíp thần-sầu truyền cho hậu-thế gọi là “Photo-Artist Kinh” chỉ vẻn-vẹn một câu Kiều cực-kỳ bí-hiểm:

 

Vành ngoài bảy chử, vành trong tám nghề”.(Câu 1210)

 

Thợ hỏi: “Vậy nghĩa là sao?”

 

Tổ giảng: “Bảy chử là:

–           Thuyết            (ta quen gọi là Thuốc: Thuyết-phục, dụ khách);

–           Thủ                 (Nhanh tay);

–           Nhãn               (Lanh mắt);

–           Tài                  (Dùng tiền để sắm hàng hiệu xịn “tới nóc”);

–           Di                    (Chịu khó đi đây đó sáng-tác cho lên tay);

–           Ý                      (Nghiên-cứu ý-tưởng, kỹ-thuật chụp);

–           Ém                  (Ém kỹ tác-phẩm sợ bị đạo ý – phòng Photo tặc)”

 

Thợ nói: ” Quả thật là hay”.

Tổ giảng: “Còn tám nghề là:

–           Chụp đám.

–           Chụp người mẫu.

–           Chụp quảng-cáo.

–           Chụp báo-chí.

–           Chụp lịch.

–           Chụp hình thẻ.

–           Chụp sáng-tác dự thi.

–           Chụp triển-lãm phong-trào”.

 

Rồi Tổ kết luận: “Đó là cái gốc giúp thợ giử vững tay nghề căn-bản. Công-phu lâu ngày sẽ thành Nghệ, rồi Đại Nghệ. Chứ cái sự học thì vô cùng. Ta không tài nào giảng hết vậy”.

Thợ nói:”Quả thật là hay”.

 

Lý-thuyết chỉ bấy nhiêu song đầy ý nội, ý ngoại, nghĩa đen, nghĩa bóng, huyền bí hơn sấm Trạng, mỗi thời đều có nhận-thức khác nhau và bàn theo cách riêng. Biết thâm-sâu vậy để không nên trách thầy cũng còn lọng-cọng.

Tới đây, anh em có người sẽ tò-mò muốn biết tôi sẽ viết “cái gì nữa dzậy ?”.

Lên bản mặt đạo-mạo như thầy, tôi nói: “Đọc chương sau thì biết”.

10 Bí quyết thành công của người Do Thái.

10 Bí quyết thành công của người Do Thái.

1.Coi trọng trí tuệ hơn tri thức

2.Kiên trì học tập suốt đời

3.Tri thức quý hơn tiền bạc

4.Nghịch cảnh – một cơ hội trong đời

5.Quý trọng thời gian hơn tiền bạc

6. Căm ghét quyền uy, bản thân không uy quyền

7.Khéo đối nhân xử thế, thỏa mãn với bản thân

8.Nghe quan trọng hơn nói

9.Giữ lập trường khác người

10. Tuyệt đối không được ngược đãi đồng tiền

6 bài học từ các tổng thống Mỹ

6 bài học từ các tổng thống Mỹ

Chúng ta có thể học hỏi được kinh nghiệm nghề nghiệp quý báu từ những bài học ở trường, từ đồng nghiệp, từ công việc đã trải qua, và cả từ các cựu lãnh đạo của Nhà Trắng trên đất Mỹ xa xôi.

Bài học thứ nhất: Chế ngự nỗi sợ hãi
“Điều duy nhất mà chúng ta phải sợ chính là nỗi sợ” – Franklin D. Roosevelt đã phát biểu như vậy trong buổi lễ nhậm chức của ông năm 1933 – thời điểm cuộc đại suy thoái kinh tế Mỹ đang ở giai đoạn cao trào. Để chứng minh rằng việc chế ngự nỗi sợ hãi là hành động đúng đắn trong mọi trường hợp, Franklin D. Roosevelt đã có những nước cờ đầy mạo hiểm nhưng rất tỉnh táo để kéo nước Mỹ thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế cũng như củng cố thêm sức mạnh quân sự của Mỹ trong thời chiến. Vì vậy, mỗi khi đương đầu với nỗi sợ, bạn hãy tự nói với bản thân: Đây chính là yếu tố kìm giữ bạn trên con đường thăng tiến, hãy vượt qua và can đảm bắt tay vào việc hiện thực hóa những mong muốn của mình – sẽ không bao giờ là thất bại cho đến khi bạn quyết định từ bỏ.

Bài học thứ hai: Thức thời
“Chúng ta đang ở trong hoàn cảnh mới nên chúng ta phải nghĩ khác và làm khác” – câu nói này là một minh chứng hùng hồn cho khả năng phân tích và nhận biết thời cuộc của Abraham Lincoln – một trong những vị tổng thống vĩ đại nhất của nước Mỹ. Để chứng minh nhận định: “Chế độ nô lệ sẽ thất bại và cáo chung, tương lai của nền dân chủ sẽ được bảo đảm, và chính quyền của dân, do dân, vì dân sẽ không lụi tàn khỏi mặt đất” ngoài Bản Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ, Abraham Lincoln còn là vị Tổng thống đầu tiên thông qua lệnh cầm tù không qua xét xử những người bị nghi là ủng hộ phe Liên minh trong cuộc nội chiến Mỹ. Vượt qua nhiều tranh cãi, Lincoln đã góp phần đưa nước Mỹ thành một cường quốc dân chủ phát triển hàng đầu thế giới như hiện nay.
Vậy, nếu bạn có óc quan sát nhạy bén và khả năng thích ứng cao thì đừng bao giờ tự “cột” mình vào một công việc nhàm chán bạn nhé!

Bài học thứ ba: Giữ đôi tay “sạch sẽ”
Mặc dù bị phản đối từ cả hai phía Mỹ và Việt Nam trong cuộc chiến tranh Việt Nam, nhưng cuộc đời chính trị của Tổng thống Richard Nixon cũng cho chúng ta một bài học về sự trong sạch: “Hãy giữ mình trong sạch nếu không muốn dính dáng vào các vụ bê bối và nhanh chóng bị hạ bệ hoặc bị kẻ khác chơi xấu”.
Những việc làm sai trái không sớm thì muộn cũng sẽ bị lôi ra ánh sáng. Do đó, nếu bạn không muốn phá hỏng tiền đồ của mình, hãy cư xử đúng mực và minh bạch trong mọi việc làm.

Bài học thứ tư: Cảnh giác với tình yêu công sở
Hẳn bạn còn nhớ cuộc tình đầy tai tiếng của Tổng thống Bill Clinton và Monica Lewinsky. Sau khi vụ bê bối này bị phơi bày trên các phương tiện thông tin đại chúng, vị tổng thống được lòng dân Mỹ nhất đã phải “cuống cuồng” bảo vệ không chỉ danh tiếng, hạnh phúc gia đình mà cả chiếc ghế tổng thống đang lung lay. Nhiều người vẫn thường nói, Bill Clinton sẽ thất bại bởi chính vụ bê bối này nếu không có sự hẫu thuẫn vững chắc của vợ mình – cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton.
Bạn có thể sẽ nói vì mình không nổi tiếng như Bill Clinton nên không cần lo lắng về bài học này. Nhưng bạn thân mến, tiền đồ của mỗi người dù là Tổng thống hay Nhân viên công sở cũng đều quan trọng như nhau, đừng bao giờ mạo hiểm “ăn vụng” nơi công sở để rồi bị tiêu tan cả hạnh phúc gia đình lẫn sự nghiệp bạn đã nhọc công gầy dựng lâu nay.

Bài học thứ năm: Học hỏi từ những sai lầm
Sau lễ nhậm chức, Tổng thống John F. Kennedy đã ngay lập tức phê chuẩn việc phát động chiến tranh xâm lược Cuba để lật đổ Fidel Castro. Cuộc xâm lược này sau đó thất bại thảm hại và chính quyền Kennedy rơi vào thế bế tắc. Thay vì câm lặng và để cho điều sỉ nhục này làm tiêu tan sự nghiệp chính trị của mình, Kennedy đã lên tiếng nhận trách nhiệm và người Mỹ tôn trọng ông vì điều đó. Cho đến nay, Kennedy vẫn là một trong những Tổng thống được mến mộ nhất nước Mỹ.
Trong công việc hàng ngày, không thiếu những lúc chúng ta mắc phải sai lầm dẫn đến thất bại. Nhưng đừng im lặng bi quan và tuyệt đối tránh tìm cách đổ lỗi cho người khác. Hãy dũng cảm nhận trách nhiệm để đưa ra giải pháp khắc phục, với cách làm này bạn sẽ khiến các đồng nghiệp nể phục và được cấp trên ghi nhận. Hơn nữa, bài học kinh nghiệm bạn rút ra từ những thất bại trên cũng sẽ là “vốn” kiến thức đáng giá cho sự nghiệp của bạn.

Bài học thứ sáu: Nổi bật trong đám đông
Các Tổng thống Mỹ như Chester Arthur, John Tyler và James Polk thường bị liệt vào danh sách “những Tổng thống bị lãng quên” do họ quá mờ nhạt trong thời gian nhậm chức. Ngược lại, gần như cả thế giới đều biết đến những cái tên như George Washington, Abraham Lincoln hay Franklin D. Roosevelt, họ không chỉ còn mãi trong ký ức nhân dân Mỹ mà còn là những nhân vật lịch sử bất diệt. Vậy, điều gì khiến họ được ghi nhớ hơn những người khác? Câu trả lời rõ ràng là do họ không ngại bày tỏ quan điểm của riêng mình, không ngại thay đổi. Họ nỗ lực để xây dựng một hình ảnh riêng và cống hiến không ngừng để để lại dấu ấn trong vài năm đương nhiệm ngắn ngủi.

Vậy còn bạn, bạn nhút nhát và không chịu lên tiếng? Bạn ẩn mình trong các cuộc họp? Bạn ngại đưa ra ý kiến vì sợ sai? Bạn sợ va chạm với đồng nghiệp? Bạn luôn hài lòng với vị trí hiện tại của mình? Nếu câu trả lời là đúng cho phần lớn các hỏi trên, bạn đang tự đưa mình vào danh sách “những nhân viên bị lãng quên” rồi đấy!

http://advice.vietnamworks.com/vi/career/bai-hoc-thanh-cong/6-bai-hoc-tu-cac-tong-thong-m.html?utm_source=JSNL&utm_medium=JSNL_Article_Title&utm_campaign=JSNL_01APR13