Cảm hứng nhiếp ảnh (2)

(tiếp)

Chương thứ hai:       Trang bị máy, “nghệ tơ” còn méo mặt

Nâng cấp hàng, Artist cũng nhăn răng.

Cửa ải ban đầu còn đang lạch-bạch chưa qua, thì cái họa về “sắm đồ nghề”, nôm-na là “tìm công-cụ sản-xuất”, lù-lù ám ảnh trước “con đường nghệ-thuật” gây khó dễ như một trạm thu phí với giá vé tuốt-tuồn-tuột trên trời. Y tàn-nhẫn rỉa sạch vốn-liếng cho lắm anh cháy túi. Khốn-nạn thân anh như số phận của “Ulysse-muôn-vàn-trí-xảo” bị cảnh “Tomber de Charybde en Scylla” (1) do Poseidon trừng-trị.

Lúc lê chân ướt chân ráo chèm-nhẹp vào lớp là lúc cái tư-tưởng ngây-ngô như nai của anh bị chi-phối về việc chọn “hàng”. Thầy tận-tình vẽ đường dẫn lối. Chưa tìm ra “đồ” thì thầy dắt đến “vựa quen” mà mua. Có khi thầy đành rứt ruột “gả” phứt luôn máy của mình đang dùng để trò được việc, rồi thầy sẽ từ-từ sắm món khác sau. Hên nhờ xui chịu. Gặp “hàng tốt” thì cám-ơn thầy nức-nở. Giới-thiệu tiếp “mối” khác cho thầy vui, quảng-cáo thầy như thần-tượng. Xui thì khỏi nói. Máy trục-trặc lia-lịa. Càng sửa càng hư, tiếc ôm khư-khư , khổ thêm chôn vốn. Nhờ thầy đem đi sửa thì thợ đại tài của thầy có lúc cũng đành bó tay dù chạy-chữa tận-tình. Tiền kẹt, bán không ai dại mua lại máy mình. Đành năn-nỉ chịu lỗ trả lại. Chỉ trách mình xui, không ai nỡ trách thầy ác ý. Vì thầy là thầy. Thời buổi nạn nhân-mãn, cát vàng lẫn-lộn chẳng ai lường hết bất-trắc, kể cả thầy. Điều không ai muốn xảy ra.

Tiếp còn phải động não săn tìm “hàng độc” ngoài chợ trời Lê Lợi, Nguyễn Huệ để cập-nhật nâng cấp cho cái “của quý vật-chất” lên được “bằng chị bằng em”. Liệu hầu bao mà theo “phé”. Nhớ luôn xem thông-tin qua các cuộc thi, tài-liệu xem ảnh trúng giải bằng món gì để bắt-chước mua mà dùng cho mau lên tay. Nếu hàng không ưng thì chịu khó bù tiền đổi thứ khác hay ký gởi chờ đó. Khi thành “khách quen”, “mối ruột” thì có thể thương-lượng mua thiếu chịu chờ thời-gian huy-động vốn trả góp. Phải sòng-phẳng với nhau, tuyệt-đối cấm bắt-chước mấy gã nghệ-tặc tầm cỡ “lão gia” thiếu chịu thì thiếu thả ga mà mua thì kỳ-kèo từng đô một và bới lông tìm vết kiếm chuyện đì giá tiếp; mà lúc mua rồi bày đặt vòi-vĩnh quà khuyến mãi, filter, bao máy, pin hay tệ lắm là một cuồn film để test. Còn chưa kể nhiều lão Artist ma-đầu bày đặt giới-thiệu đứa-gọi-là “đệ tử” ra mua nhằm khỉa phần trăm để moi tiền sắm đồ chơi. Dân bán máy hay người mua chưa biết ai được thời hơn ai nhưng hàng độc thì không bao giờ thiếu, cứ chịu khó đợi từ-từ sẽ lòi ra. Thiệt là tức chết khi phô-bày món đồ nghề của mình thì:

–           Í ẹ ! Dính hàng “luộc” rồi ! Bị ai “thuốc” vậy?

–           Hiệu đó mà chơi gì .

–           Chọn NK hay CN đi, thầy nói có gì chơi chán cũng dễ bán lại không lỗ.

Bị khích tướng kế, tức chưa?

Thầy bảo, lại thầy bảo. Cái gì thầy nói phải đúng cả. Kinh-nghiệm đã khuyên nên nghe kỹ cái thầy nói và xem kỹ hàng khi mua cho khỏi mích lòng về sau.

Sau vài lần thất-bại trong việc sắm đồ thì trò cũng đạt một kinh-nghiệm ngang cơ với thầy, đủ sức ngẩng cao đầu trong Hội Khoe Của nếu có. Bạc tiền thì châm vô liên-tục và không hạn-chế. Nói dân nhiếp-ảnh nghèo là sai. Lắm anh nhờ bà-con nước ngoài viện-trợ về tiếp sức.

Tính chơi giả-sử cứ một anh cần trung-bình 3500 đô cho đồ nghề (2 thân máy: 1100$, 2 ống kính:1500$, 1 flash: 450$, 1 chân máy: 150$, 6 filters: 300$). Đất Sài-gòn nếu chỉ có 2000 phó-nháy thì tốn sơ sơ 7.000.000 đô; thống-kê số-lượng chính-xác trên toàn quốc ra tiền ta thì dữ-hội hơn, đếm mệt xỉu. Số tiền dư sức xây mấy bệnh-viện, trường-học cho dân nghèo kèm khuyến mãi một nhà dưỡng-lão cho Nghệ-sĩ.

Chơi nhiều, hồi vốn chưa kịp do hàng bị đề-mốt thì lại phải tiếp-tục đi đổi bù tiền. Thành ra giống như ai cũng tự-nguyện đóng một lệ-phí “cập-nhật thời thượng” cho dân bán máy. Lời đâu chưa thấy, mà theo quy-luật, lỗ là tất-yếu. Chưa kể gặp sự cố thì méo mặt thua trắng. Còn kinh-hoàng cái cảnh phe ta bị chìm xuồng khi đi sáng-tác trên hồ Lak năm nào. Cứ đi tìm phỏng-vấn các nạn-nhân hôm ấy thì rõ.

Mà trong cuộc chơi này, thầy lẫn trò , dù thắng hay thua, đều xem như một thú vui của mấy bà “đấu” đồ trang-sức. “Photographer Fashion” đầu thế kỷ 21 ghi như sau:

“Body AF, design thật quạu, đủ các chức-năng “Pro”. Ong kính AF dù fixe hay zoom phải là loại Internal Focus mới đúng điệu. Ong kính “For” được công-nhận là “Pro”do giá có loại đã cao hơn hàng hiệu với điều-kiện có Stab, HSM, LD, Aspherical… Filter UV, Skylight đã được thay bằng Dynamic cho trong hình. Polar các loại phải đầy-đủ mà phải là Circular. Filter màu cho đen trắng nay vẫn còn cần-thiết. Ai sắm càng nhiều loại filter thì càng tốt cho công-việc. Nhứt là nay cần thêm 3 loại red-green-blue enhancer cho lên màu. Đèn flash chỉ số cao, giá chót 40 để đánh xa với các chức-năng TTL, second curtain, stroboscopic,… kèm filter màu cho đèn, slave, dây synchro, pin sạc dung-lượng cao. Chân máy cao, chắc mà bảo-đảm gọn nhẹ kiểu poly-carbon. Máy đo sáng cầm tay đa chức-năng đủ để cầm nhấp lấy le. Thiết-bị studio càng mắc càng bảo-đảm. Nói chung cứ lấy giá hàng hiệu làm chuẩn tối-thiểu và theo châm-ngôn “tiền nào của nấy” là yên bụng. Film và giấy thì khuyên dùng thứ trùng tên hãng tài-trợ để tiện gởi ảnh dự thi. Máy lớn thì thiên hình vạn trạng khiến tự-điển không chép nổi. “Đồ” phải nâng niu giử kỹ phòng mất “gin” để ít lổ khi bán hay đổi lại. Còn riêng phục-sức cho Nghệ-sĩ sành điệu chỉ yêu-cầu độc nhứt một áo banh ngực, hở nách, đầy nhóc túi từ trước ra sau, màu tự chọn, tục gọi là “áo Khỉ”, nam nữ dùng chung. Sắm thêm mobile thì đạt tước-hiệu ECAP (Exellent-Call-Artist-Photographer) cho dễ làm ăn…”

Đến đây phải kể một chuyện truyền miệng tối quan-trọng ít ai biết vì không sử-gia nào dám chép do nhiều lý-do “tế-nhị”:

“Số là sách Tử-Vi Đẩu-Số của Hy-Dy Trần Đoàn từ hàng trăm năm nay đã chép rằng mạng số Nghệ-sĩ luôn có các sao Đào-Hồng-Tướng-Kỵ-Phục-Thai chiếu nên Nghệ sĩ hay được người khác phái ái-mộ vì tài. Và từ đó, họa Đào-Hoa cũng đã sinh ra…

Và thế nên khi đàn-bà con gái thuê Nghệ-sĩ chụp ảnh là bị dính “sự cố” rắc-rối hoài-hoài.

Và với các nữ Nghệ-sĩ tài-hoa, cái “cám-dỗ ngàn xưa” cũng chẳng nể mặt tí-ti nào.

Và thầy quen thói mời người mẫu đẹp đến lớp sáng tác để hổ-trợ trò hứng-thú mà dợt nghề cho mau lên. Khiến người mẫu mới vô nghề ưa mò tới mấy lớp sáng-tác đặng hy-vọng mau nổi tiếng, vừa khỏi sợ bị “ế độ”.

Và các Nghệ-sĩ hay về thăm thầy cũ để thừa dịp làm quen mỹ nhân mà thử lửa “hàng hiệu” mới “lên đời”.

Và cuối-cùng, một thầy đồ Nghệ ngồi nghía được nhiều “pha” vi-vu quá đã mắt đến nỗi ngẩn-ngơ quên chụp mà nổi hứng làm thơ như vầy (trích):

 

“…Huy-chương, tước-hiệu bề-bề,

Nghe hơi người mẫu cũng mê-mẫn người.

Nhìn trò (dàn) “dựng”, thầy ngồi bất-lực,

Ao đỏ xanh bức-xúc anh em,

Má đào bốc lửa cơn thèm,

Ngực (tấn) công, mông (phòng) thủ như thêm rơm, dầu.

Thầy chán-nản mà rầu méo mặt,

Cái khổ này thắc-mắc hỏi ai ?…”…

 

…để chọc thiên-hạ cười chơi. Thơ truyền tới tai chọc quê Tổ nên Tổ tức lắm vì không làm gì được. Lúc lâm chung, Tổ nguyền rằng nếu ai lấy đồ nghề chụp khỏa-thân vốn tràn-trề ô-uế mà chụp “đám” khác thì Tổ sẽ khiến bị ế độ cho bỏ ghét. (biết thân muốn tránh Tổ quở thì nên sắm thêm bộ đồ-nghề chỉ riêng chụp khỏa-thân mới yên).

Đệ tử lo-lắng hỏi về việc gởi ảnh khỏa thân dự thi, Tổ chỉ nói “Được, không cấm” rồi mỉm cười nhắm mắt từ-từ mà tịch.

Đệ tử lo chôn-cất tử-tế, không quên gom huy-chương, bằng tước-hiệu của Tổ đem đốt sạch như lời Tổ dặn. Tổ vốn biết trước để lại chẳng ích chi; bán ve-chai nó trả rẻ, lời lóm “giá thợ” chẳng bao nhiêu đếm tiền thêm tức. Tổ cũng không chịu để lại phim và tác-phẩm cho bất cứ ai vì ghét thiên-hạ nhìn mà bắt chước. Tổ cho phép đời sau tùy nghi định-đoạt quy-chế thi-cử…”

Chuyện thi-cử thế nào xem chương sau sẽ rõ.

 

Chương thứ ba:         Thi Grand Prix, thí-sinh tìm danh-vọng

                                    Chấm Cồng-cua, giám-khảo lãnh tiếng oan.

“Học thầy không tày học bạn”. Có bạn bè chỉ vẽ nhau học thêm vui, tăng hào-hứng lúc sáng-tác ban đầu. Thầy dù giấu nghề theo kiểu thầy. Nhưng bạn lại dấu cái thầy không dấu. Học bạn lại rẻ hơn học thầy, do miễn phí. Bạn có bạn tốt bạn xấu. Vớ trúng thằng “nổ” loại:

 

Nghề còn bưng-bít như hang thỏ,

Miệng đã tô-hô quá lổ trê…

 

…thì dẹp nó qua một bên tìm bạn tốt khác hạp ý vui hơn. Vả lại do cùng trang lứa nên khi cùng mài cùng mò lẫn nhau trong sáng-tác thì càng sung càng sướng, thêm hứng đôi bên.

Tất-nhiên những tác-phẩm , bầy con nghệ-thuật , phải ra đời. Dù con so thiếu tháng hay con rạ, chưa chắc con khôn cũng làm mát lòng rời-rợi. Vác khoe với anh em bạn bè, nhứt là trình thầy như một lể rửa tội tác-phẩm với các nghi-thức: thầy ngắm-nghía kiểm-tra nét, hỏi tham-khảo kỹ các chi-tiết thông-số kỹ-thuật cùng với hiệu máy, loại ống kính, hiệu film, hiệu filter, density/balance màu, nơi chụp, cắt cúp, đặt tên ảnh, khuyên vài điều rút kinh-nghiệm cho lần sau. Tất-nhiên người luôn khuyến-khích gởi ảnh dự thi. Tưởng-tượng nhà có gái đẹp là có người tới rủ-rê đi thi hoa-hậu để hy vọng “vớt” được một tấm chồng ngoại hay chồng giàu cho đã. Hỏi ai không thích?

Cái giai-đoạn hào-hứng của cuộc thi ảnh ở ta là lúc xem chấm công-khai mà trên thế-giới chưa và không hề có. Hay ở chổ ấy. Thử tưởng tượng các anh em từ tay non tới lão làng đều vây quanh khu vực ban giám-khảo (BGK) như xem thi hoa hậu. Cũng chấm vòng 1, vòng 2, vòng 3. Vui lắm chứ, như lể hội vậy! Các “thí-sinh” ảnh được BGK yêu-cầu trưng-bày ra từng loạt để duyệt cẩn-thận từng em một. Nhiều tấm được ông này chê úp lại, lão kia xuýt-xoa khen đẹp lại lật ngửa lên, bà nọ đi qua đỏ mặt thò tay úp lại… Up úp mở mở hoài làm nhiều “bậc cha sanh mẹ đẻ” lên ruột, hồi-hộp muốn bứt tim. Đôi tay lão-luyện BGK che tới che lui, sờ qua sờ lại từng ảnh vừa bàn nhau cắt-cúp thế này mới thấy “đã”, hay là nghiêng qua kia một tý cho “cân” … Làm anh chị em ta học được lắm điều bổ-ích nhứt là nắm ý từng vị BGK cho cuộc thi sau (lạ gì có một anh đứng cạnh tôi đã đoán trúng phóc hơn thầy Lăng Ông bức nào được vị nào ưa, và khuyên tôi rọi ảnh ở lab nào mới đúng ý BGK nữa kìa). Trách chi anh em chen-chúc đến xem bằng được như lể hành-hương Thánh Địa vậy.

Thế-giới xưa nay người ta chấm ảnh chỉ dùng “lý” mà chấm. Còn ta siêu hơn vì biết kết-hợp giữa “tình” và “lý”. Có một dạo truyền-hình quay lại một buổi chấm ảnh công-khai. Xem thì biết. Quả là phương-pháp “made in NSNA” siêu-việt mà thế-giới cần rút kinh-nghiệm: sau khi chấm mặt ảnh theo “lý” như cách phàm-tục xưa nay, cách chấm theo “tình” tiếp theo là lật lưng từng tấm để xem-xét cho thấu-đáo giá-trị nghệ-thuật đến tận cùng mặt trái của nó, bám sát hiện-thực, đúng theo câu: “tình lý cân phân”. Một anh đã từng trải nói tôi rằng cách này cực-kỳ công-bằng vì không bao giờ “đánh rớt lầm” nhân tài. Có bất-trắc thì phần “tình” vớt lại phần “lý”. Nếu không nhiều anh em phe ta rớt oan mạng, tội-nghiệp lắm!

Trước hết vẫn là tội BGK – các đại Nghệ sĩ cao thủ – đang đứng trước cái khó-khăn trên đường nghệ-thuật của chính mình. Cảnh “Sống làm Nghệ khắp người ta” đâu dễ. Chỉ mình mới tự hiểu mình thôi vậy. Tệ hại hơn là đâu có được xơ-múi bao-nhiêu tiền đâu? Mấy cha “khuất mặt khuất mài” dành chấm-mút hết sạch. Vì mê báo-cáo số-lượng ảnh dự thi cao hơn năm nước mà cuộc thi giang tay nhận ảnh thả ga không hạn-chế. Báo hại ban tổ-chức chọn ảnh, vô danh-sách mệt hả họng, rồi khi chấm xong lo “gói xác” vô bịch nylông chờ trả về tác-giả quản-lý. Chẳng ai thèm thông-cảm mà còn dám ba-que xỏ lá chơi “biển người” gởi một lần hàng trăm ảnh để hy-vọng “vô” một tấm mới chết người ta! Có ai nghĩ ra việc đóng kha-khá lệ-phí ảnh nhằm bồi-dưỡng riêng cho BGK đở lao tâm lao lực đâu? Họ chẳng có được một câu “cám-ơn” dù lạt như nước ốc. Tiền eo bạc hẻo chỉ trông chờ vào những đồng bạc bố-thí rỉ giọt của anh tài-trợ. Y có lúc cao hứng bổ-nhiệm một tay vừa dốt đặc về “Phô-tô-Ac” vừa vênh-váo kiểu Đài-Loan lựa vợ, vô ngồi gác cẳng ngang cơ với BGK mà chấm thi làm tổn oai, coi thường chân giá-trị phe ta lắm lắm! Nhưng vì ăn cơm Chúa thì phải múa thôi, tránh sao khỏi?

Còn trong lúc chấm thi, phe cổ-động bên ngoài cứ chọt câu này, xỉa câu nọ làm mất trật-tự và nhứt là công-kích linh-tinh vô văn-hóa với ngôn-từ phản nghệ-sĩ . BGK nghe tức trào máu mà phải câm họng chịu đòn. Bọn xấu lợi-dụng cơ-hội mà há mồm thối phịa đủ thứ: nào là thằng cha nọ đã “ngậm” tiền thí sinh X. , còn thằng Y. “đi đêm” trước với con mẹ nào đó rồi, mấy chả được mụ Z “tạm ứng” trước phần trăm tiền thưởng. Hỏi ai không tức khi bị xuyên-tạc nói xấu? Có vị đành phải ôm hận mang tiếng “lẻn trốn về” cho khuất mắt đám “trời đánh không chết” ấy. Việc đúng hay sai thế nào chẳng ai dám nói. Nhưng đâu hãy vào đấy vì đã chịu chơi phải đồng tình chấp nhận luật, xem BGK là cha là mẹ, hơn cả trọng-tài trên sân cỏ vì trọng-tài còn bị treo còi mà chửa ai có quyền treo ghế BGK cả. Hơn nữa, thấy không, họ không lợi-dụng “mồm kẻ sang có gang có thép” để cự với mấy “nghệ non háo thắng”, cũng chẳng dám đôi co tranh-luận với ai từ đó về sau. Thì phải tôn-trọng họ chứ , nhứt là khi họ đã lịch-sự với ta đến thế.

Nhờ vượng khí mả tổ độ mạng nên khiến “cái khó ló cái khôn” giúp BGK điều-nghiên ra một sáng-kiến tuyệt-vời xưa nay chẳng ai tưởng-tượng nổi để đối-phó với cái-gọi-là “chê BGK bất tài”. Nhớ rằng trong mọi ngành khác khi hành nghề thì người ta phải có giấy phép hay bằng-cấp phòng khi bị các cơ-quan chức năng “sờ gáy”. Ở đây, các ông bà Nghệ ta chẳng có giấy nào lận lưng quần để thủ thân, thơ tay lại càng không có vì chẳng có ai cao hơn để làm ô dù. Sáng-kiến được nhất trí là lấy đại vài tác-phẩm của mình ra treo chung-chạ với các ảnh dự treo. Có ba cái lợi:

– Thứ nhứt là tạo được tính đồng đẳng trước khi khẳng định bình đẳng giữa BGK và thí-sinh. Theo đó là sự khẳng-định thần-kỳ:

“Nhiếp-ảnh là môn ai chụp cũng được và ai chấm cũng được”.

– Thứ hai là thể-hiện cái điểm chuẩn cũng như cái nhìn của BGK, các thí-sinh cứ bám theo đó như trọng-tâm đề-cương ôn-tập là chắc ăn cho lần thi sau.

– Thứ ba quan-trọng nhứt là BGK tự khẳng-định trình-độ của mình. Mọi người cứ nhìn vào đấy mà uốn lưỡi ba lần, vừa tự xét ảnh mình trước khi công-kích. Nếu không thì chúng mày nên về đóng tiền học với chúng ông vài khóa rồi tính tiếp; chớ xỏ mồm vào làm rách việc người khác!

Một cái rất ngộ, ngộ lắm ! Một bức ảnh trúng giải ngoài các tiêu-chuẩn thông-thường ra sao thì không biết nhưng ta thấy thường còn kèm theo một yếu-tố ngoại-lệ: gây phẫn nộ dư-luận. Nhớ hồi khoảng năm 2000 gì đó , bức ảnh biệt danh “Ma Đói gắng sức Moi Đá” ẵm giải nhất làm dư-luận la-ó dữ-dội trước trò “ngựa bán độ về ngược” làm tiêu dênh số tiền cá-cược khổng-lồ. Mà “Hạ thủ bất huờn” thì chịu. Lạ và hay hơn nửa là sê-ri BGK cũng được nổi tiếng “ăn theo” với tác giả. Lời lý-giải nông-cạn duy nhứt theo thuyết nhân-quả là vì “ở hiền gặp lành” do dùng đúng “tình-lý”. Công-phu “xoay tròn quả phúc” lâu ngày đến khi “phúc ứng nhãn tiền” thì mới biết giá-trị “một chỉ vàng ròng hơn hòn đá tảng”. Đơn-giản cái phẫn-nộ là do cái ganh-tỵ tiểu nhân, chấp-nhất chi cho tổn thọ. Từ ấy mới thấy cuộc thi ảnh khác với thi hoa-hậu ở điểm là người ta, thường là đồng-nghiệp, hỏi phần ứng-xử ở BGK, hỏi hoài đến khi có câu đáp thỏa-đáng mới thôi. Hiểm độc thay, câu hỏi lần nọ quá hóc-búa đến nỗi ông cố chủ-tịch hội-đồng nhà ta đến lúc nhắm mắt vẫn chưa giải-đáp được cho thiên-hạ nhờ. Các nhà lý-sự phê-bình cũng đành mang tiếng “mít đặc”. Thương giới hậu-sinh tới nay tắc-tị y chang Trạng Quỳnh đứng ngắc-ngứ hoài trước cửa buồng tắm của Thị Điểm chỉ vì bí câu đối “Da trắng vỗ bì-bạch”.

Còn thi ngoài nước là một chuyện khác. Có bức ảnh thi trong nước thì đậu, mà khi đi ra ngoài thì rớt té nước. Và ngược lại. Chẳng lạ chi có anh thi nhiều lần ở nước ngoài với độc một bức ảnh mà ăn điểm lia lịa. Cứ ráng thi đủ tiêu-chuẩn tối thiểu trong nước, còn lại bao nhiêu lấy điểm quốc-tế bù vô cho đủ để vô “Trung-ương”. Quả là “xuất khẩu là chính”. Tới khi ăn giải cao thì nguồn chất xám bị lãng quên mới được khám-phá. Mà cũng lạ mấy tác-phẩm ấy lại chẳng gây ồn-ào dư-luận. Cũng buồn vì không có gì để bàn-tán chơi. Cái chông gai của khâu gởi ảnh nước ngoài thì nhiều hơn. Từ khâu gởi ảnh đi bằng đường bưu-điện phải tìm mẹo nào gởi kèm lệ-phí bằng tiền đô cho khỏi mất, nếu hên có ai đi nước ngoài cầm theo thì an-toàn tuyệt đối, khỏi bị kiểm-duyệt lôi-thôi mất thì-giờ , tiền bạc lẫn nước bọt để giải-thích. Nhưng bù lại khi ảnh trót-lọt thì thường với tấm ảnh nghiêm-chỉnh là anh ít nhiều cũng đậu. Ít thì 1 điểm, nhiều thì mười mấy điểm một lần, giống như giá xuất-khẩu thì phải cao hơn nhiều lần giá vựa gốc. Một vốn bốn lời thấy rõ nên nhiều anh chưa đầy một năm đã dư tiêu-chuẩn vô “Trung-ương”.

Mừng có thời gian, phó-nháy vô “Trung-ương” ồ ạt, rồi AFIAP, EFIAP, VAPA, PSA… ì xèo (chưa nghe nói tới ARPS, FRPS…chắc tại khó vô quá chăng?). Nhiều anh em “non tuổi đời, sáng ngời tuổi Nghệ” đã làm xứng danh “con hơn cha nhà có phúc”. Việc khiến mấy Nghệ thâm niên phải ghen-tỵ mà quở: làm sao vô nhanh vậy? Đông quá còn gì là cao quý nữa? Khiến nhiều anh “đắc-quả” bị mang tiếng “tu đường tắt”.

Rồi nghe đồn luật mới đưa ra dù được bao nhiêu điểm cho một lần thi thì anh chỉ được 1 điểm cho Trung-ương mà thôi, để hòng tránh nạn lạm-phát, giử giá Nghệ-sĩ . Theo tác-giả, tại sao không bắt-chước theo tiêu-chuẩn quy-hoạch, chiếu theo mật-độ dân cư từng vùng mà quy-định tỷ-lệ phần trăm số lượng nghệ-sĩ . Như vậy ít gây mất lòng hơn. Một khi số lượng Nghệ đã đủ thì những anh còn lại dù có đủ tiêu-chuẩn thì được xem như thành-phần Nghệ dự-bị chầu rìa. Cho mấy anh cứ ngồi nhà mặc sức cầu trời cho Nghệ nào chết đi để hy-vọng mình được trám vô ngồi như chức quan hậu-bổ. Cách này tuy gây thất thu nghiêm-trọng hội phí mà không ai ta-thán. Hơn nữa là không ai đổ-thừa địa-phương cho gia-nhập nhiều để dành lấy đa-số phiếu bầu trong đại-hội. Cần nghiêm-chỉnh bàn kỹ để hợp lòng anh em. Tốt hơn để cho bề trên lo-liệu.

Trở về trận Vũ Môn nội địa đầy căng-thẳng. Cái cảnh “đau như đòn hằn, rát như lửa bỏng” thì thôi nhiều khỏi nói. Nếu tỷ-lệ đậu gần 100% kiểu thi tú-tài thì còn gì hay? Hễ “vô” là được giá chót 1 điểm “gối đầu”. Trước để vui với anh em dù là nằm dự treo trong góc. Sau là lãnh thưỡng ít tiền để gỡ vốn cho kỳ sáng-tác sau và khao anh em cùng vui vài xị. Kế là nở mày nở mặt khi thấy thiên-hạ đến bình ảnh của mình. Cái sợ nhứt là cảnh cụng hàng trong khi chấm ảnh. Để rồi khi ảnh mình lọt vô mà ảnh anh em mình rớt (hay ngược lại) thì thiên-hạ lại nói tới lui làm mích lòng dể xa nhau lắm. Mà trong nghệ thuật phải “dĩ hòa vi quý” nên cái khó khăn (lại thêm một khó khăn) là làm sao đừng cho ai biết trước mình sẽ gởi ảnh nào cũng như phải giấu cái chổ sáng-tác, cái ý-tưởng mình sản-sinh ra. Dấu, dấu thật kỹ như Photo chi-bảo ! Mang tiếng “mèo dấu cứt” cũng phải nhịn nhục vì đại-sự. Lủ bạn xấu mà biết thì chúng tìm lại vị-trí mình đã sáng-tác để dàn dựng lại “tới” hơn (có kẻ uống máu liều phá tiêu cái tiền cảnh đẹp sau khi chụp để khỏi ai mò tới). Chưa kể thằng đểu sẽ “đạo ý” y khuôn, hay tệ hơn tìm cách “chôm” phăng cái phim của mình cho khoẻ nhằm gởi dự thi chổ khác. Có lúc ảnh mình sẽ bị chúng “phổng tay trên” đem đăng báo kiếm nhuận-ảnh mua phim chơi. Cái đó người ta hay la làng hoài chưa kể lâu lâu thấy trong sách ảnh này có một tác-phẩm đề tên tác-giả này, sang sách của cuộc thi khác thì ảnh na-ná 90-99% lại mang tên tác-giả khác. Sĩ và Nghệ giận nhau cũng từ đó. Anh này buộc tội anh kia là Daguerre cướp công phát-minh nhiếp-ảnh của Niépce. Thành ra cái “tội tổ-tông” hóa thần Trùng mãi đeo-đẳng nhà photo ta mà chẳng thầy bà nào đủ cao tay ấn mà ếm cho yên chuyện. Khổ thật, khó mà tránh ! (Lại cứ KHÓ-KHỔ, nghe nói mãi, mệt thật!)

Trách nạn cụng hàng với lý-do chủ quan thì phải phân-tích bào-chữa cho tới nơi tới chốn qua hoàn-cảnh khách quan. Số là số lượng thầy và lò luyện thi NSNA rất khiêm tốn, chưa kể kiến-thức ai ai cũng hạn-chế, anh em tay ngang đông-đảo, ít trường-phái mà được duy-trì trên nửa thế-kỷ. Công-thức sáng-tác kiểu từ-chương của Thánh-hiền Xì-tin Phô-tô-ngáp được bóp-nặn tinh-hoa từ vài kiểu ảnh đã trúng giải. Vô-tư “nối gót cha anh” theo đúng rặt bài là chắc ăn, khỏi sợ bị đàm-tiếu. Như Tôn Tử đã khuyên tập-trung quân đánh riết một chổ của địch tất giải được vây, chuyển bại thành thắng.

Do tính công-nghiệp hóa đậm-đà màu-sắc dân-gian của cương-lĩnh sáng-tác như vậy nên tất-nhiên dù không chụp chung thì cũng đừng trách tệ nạn “cụng hàng”. Hay thay cái “tình” của BGK – giải-pháp thay thế cách bốc thăm quá may rủi để quyết định thắng bại. Càng lạ hơn khi tới nay chửa có lời chứng-minh thoả đáng:

 

Tình chỉ đẹp khi còn dang-dở,

Đời mất vui khi đã vẹn câu thề         (Hồ Dzếnh)

 

Và cái thằng tôi này sực nhớ là phải viết thêm hai câu thơ của cụ Nguyễn Công Trứ cho đủ bộ:

 

Chử tình là cái chi chi

Dầu chi chi cũng chi chi với tình.

 

Ôi ! Cuộc đời đầy phức-tạp.

Cái độc đạo dự thi nhằm thăng tiến lên Nghệ-sĩ hệt như đường khoa-bảng tự ngàn xưa. Cũng có giải nhất oai như trạng-nguyên, vinh-quang trước bá-tánh. Vì chế-độ đa thê bị cấm nên trạng-nguyên không được nhà vua (nay là BGK) gả công chúa mà chỉ được lãnh ít tiền còm hay tấm mề-đay để nhà ngắm. Lý do chính một phần là ngày nay nhiều anh đổ đầu hàng trăm lần, thậm chí có nhiều cô bình đẳng với nam giới cũng vô giải nhứt ì-xèo. Hoan-hô giải-pháp “của đi thay người”! Nếu không liệu BGK lẫn nhà tài-trợ có đủ số con gái, và thậm chí luôn cả con trai hàng năm để mà gả nhiều đợt trong thời-đại “Thuận vợ thuận chồng, đẻ con đông nuôi mệt nghỉ” nhường chổ cho “kế hoạch hóa”? “Huợn cơ” hơn nữa khi thấy có vài vị tầm-cỡ sếp sòng trong làng photo với chức-vị bén rể rậm-rịch như cây si cổ thụ, vẫn còn lom-lem gởi ảnh dự thi. Hỏi thì họ nói ” để vui thôi mà”. Phải công-nhận mấy ổng bả còn “sung độ” hết biết. Chưa kể khi tuổi trên 60,70 vào cõi thọ mà vẫn:

“… Canh bố cục, nạp phim, đo sáng,

Đoán mây mưa, xoạc cẳng, lên nòng,

Đồ chơi lủng-lẳng, lòng-thòng,

Phất-phơ “áo Khỉ”, một lòng ra đi…”

…sáng-tác không thua gì dân trai tráng. Bỏ bạc triệu đi săn ảnh đối với mấy vị “ghiền đậm” ấy chỉ là “thổi kèn tý đỡ buồn”, chả thấm-tháp vào đâu. Ay là cái phong-độ “Thân lão, Tâm bất lão” . Bài viết đầu năm Con Dê khiến tác-giả cầm bút phải run tay vì bụng lên cơn rậm rực, sôi máu thèm-thuồng cái mà ca-dao ông bà xưa tả:

“Ông già, già tóc, già hơi

Già răng, già lợi, ĐỒ CHƠI không già“.

Xin mạn phép tiếp-tục lãi-nhãi là làm NSNA khó lắm. Khó từ thuở ban đầu, khi mộng thành hiện thực vẫn khó bởi nhiều việc linh-tinh. Từ-từ đọc nghiền ngẫm chương sau mà biết thêm. Đừng xem quá vội mà hết hay.

Advertisements

Cảm hứng Nhiếp Ảnh (1)

11 năm trước, viết tầm phào chơi. Phải ẩn danh sợ thiên hạ chửi.

Tới giờ, mọi chuyện không đáng giấu vì nó đã đúng như dự đoán.

Dòng Cảm-Hứng với Nhiếp-Ảnh.

 

Ai không mê Nghệ-sĩ Nhiếp-Ảnh?

Một sai lầm to lớn.

Con nít còn ham.

Gọi đại một thằng bé đến là biết ngay.

Đưa nó xem máy ảnh. Mắt của nó sẽ dòm vô viseur, tò-mò như tìm hiểu “lổ đen vũ trụ” bí hiểm.

Dàn-dựng nó để chụp. Nó khoái chí “quậy” đủ kiểu. Sau đó nó sẽ hãnh-diện kể chuyện lại với bạn-bè. Anh trở thành một thần-tượng của nó, hay đúng hơn, máy ảnh đã chinh-phục nó từ giây phút đầy chất nghệ-sĩ đầu-tiên.

Anh trả tiền cho nó . Chưa chắc nó quan-tâm.

Đó! Nó đã mê anh và mê máy của anh hơn nữa…

Cái mình cần thì không có. Cái mình có thì không cần.

Chổ oái-oăm đó tạo cảm-hứng viết bài này khi thử đặt mình trong trường hợp …

…tôi ra đời dưới một ngôi sao lạ – ngôi sao “Không-có-số-làm-Nghệ-sĩ”.

Thượng đế đã, đang và mãi trừng-phạt con người bằng cách khiến họ luôn không thỏa-mãn cái mình có.

Câu ông bà nói “Đứng núi này trông núi nọ” không phải là quá đáng.

Thành Nghệ-sĩ Nhiếp-Anh khó lắm chứ. Khó từ thuở ban đầu, khi mộng thành hiện-thực vẫn khó bởi nhiều việc, dù linh-tinh chẳng vào đâu.

Nguyễn Trãi đã từng viết:

“Trời thử-thách trao cho việc lớn

Ta quyết chí khắc phục gian-nan…”

Đọc Tây Du, vì nghe kinh ngủ gục, Đường tăng bị đọa đầu-thai lãnh 81 nạn trong 14 năm mới đến được Tây Phương thành Phật.

Xem Odyssée, Poseidon hành-hạ Ulysse ,vì tội làm mù mắt Polyphème con mình, phải lênh-đênh trên biển 20 năm mới về tới quê-hương.

Trong nghiệp nhiếp-ảnh, ta gặp khó-khăn suốt đời vì nỗi đam-mê vô bờ bến …

Viết thoọc-lét chọc anh em cười vui cho đã bụng … Ai nghĩ sao thì nghĩ.

 

Chương thứ nhứt:     Bài căn-bản, lắm gian-nan rình-rập

                        Sách chân-truyền, bao công-thức bày ra.

Khi mới học, bài vỡ-lòng cũng làm nhiều anh chị nản chí. Ba cái lý-thuyết lăng nhăng về tốc độ/khẩu độ, đo sáng điểm, đo sáng vùng, nào là phân loại máy ảnh nhóm 1, nhóm 2, nào là hiệu máy, filter, test ống kính… đủ làm phát điên cái đầu non-nớt. Cái chử mà ông thầy dạy nghề tận lực truyền cho cũng không thể nào làm anh hấp-thụ tới nơi tới chốn. Nói ra chẳng ai tin, nhưng về lâu dài, anh sẽ thông-cảm vì chính thầy cũng không ít chới-với với cái thầy truyền đạt. Vì “nói” và “làm” là hai phạm-trù khác biệt. Nguyên-nhân sẽ nói sau. Lâu lâu, thấy một hãng danh tiếng nào đó mời một thầy đi hợp-tác quảng-cáo hay đào-tạo nhân viên, có thể chắc ăn 100% trình-độ căn-bản của thầy ấy “nhỉn” hơn mấy thầy khác, và dĩ nhiên do đó có số-lượng học-trò theo đông hơn. Nói đùa như ta mừng khi được bảng “test thầy” chưa tài-liệu nào có.

Gặp thầy tận-tình thì coi thầy hơn cha. Xui-xẻo nếu gặp ông nào giấu nghề thì học mãn khóa cũng “công cốc” với câu cửa miệng của thầy khi nghe trò thắc-mắc quá nhiều: “Học khóa tới là biết “. Có lý ! Vì khóa sau sẽ có cái cần học. Phải nhớ : chỉ có ở khóa sau chứ khóa hiện-tại chả giải đáp được cái anh thắc-mắc. Thôi thì đành tự an-ủi vì kiến-thức không phải là “vốn tự có” nên thầy phải ráng giử để sống, dạy “bứt cụt vốn” thì nồi cơm thầy cũng tanh-bành vì ai thèm học thầy nữa? Thầy cũng biết điều sau một chầu nhậu do trò thết thì vui bụng rặn ra vài “mửng vặt” để trả công sòng-phẳng theo đúng luật Kinh-tế thị-trường “Nhất tự vi sư, mãi tự vi sư”.

Tiếc thay tác giả tối dạ, không ai quen biết nâng-đở, ảnh thi đâu rớt đó, nản chí sinh lười nên chỉ nhớ trài-trại “Photo Tam Thiên Tự” như sau (nên hùn tiền mua thầy CD bản gốc bài chân-truyền đọc cho chắc ăn):

“Bước đầu sáng-tác thì chụp người mẫu. Chọn thiếu nữ trẻ đẹp áo xanh áo đỏ cùng nón lá. Hay bà già vú mớm lòng-thòng, da nhăn nheo, giống ma vú dài càng hay. Hoặc ông già móm-mém, có râu dài thêm hấp-dẫn. Gặp con nít thì chụp sao cho thấy cặp mắt nhìn đứng tròng mới ra vẻ ngây-thơ ngơ-ngác. Chụp ngược sáng để lấy sáng ven mà vẫn đủ chi tiết phần tối và không bị halo mới là có ống kính xịn. Gặp mây đẹp thì đặt vòng polar cho lên mây. Chụp “nê” thì đánh dư 1 khẩu và kêu lab rọi đậm cho rực màu. Nắng to dùng 125-11. Trong studio dùng 60-5.6. Chụp đời thường thì cứ thế mà phăng, miễn sao có người và áo xanh, đỏ tạo điểm nhấn. Đi đây đó sáng-tác thì nên lận lưng một tờ giấy giới-thiệu để bảo-kê phòng khi bị chính-quyền “vịn” làm khó dễ. Chụp cảnh đồng quê phải un khói mịt-mù để cho nắng chiếu vào (liệu hồn đừng chọc bà Hỏa ngứa nghề thì tù cả đám, giấy giới-thiêụ không chạy án nổi, nói trước). Chưa chắc ăn bố-cục thì chụp wide thật rộng rồi lab sẽ tự “cúp” lại dùm cho khoẻ. Ảnh triển-lãm phải làm la-mi-na khổ thật to, chừa bo thật rộng mà áp-đảo phủ đầu bà con. “Tâm-lý chiến” khuyên bán ảnh nên chém giá bạo tay thì mới thấy giá-trị nghệ-thuật cao, nhằm mau gỡ vốn. Tên ảnh phải ấn-tượng và tràn-trề đậm-đặc tính dân-tộc. Y-tưởng phải tích-cực cao độ nếu không đám kiểm-duyệt nó hoạnh thì khỏi treo (hiện-thực bắt buộc phải là tốt kiểu “đẹp khoe, xấu che”, nhớ chưa ?!)”

Để giúp thầy thợ đừng quên nghề, xin lỗi phải “bép-xép” nhái Sư phụ:

“Thợ lúc nào cũng cần phãi học để cho tác-phẩm luôn độc-xẹt hơn người. Gặp thời buổi ế “khứa” nên thợ nản lòng rồi xuống tay nghề và quên bài vở. Tổ buồn lắm. Thần Bạch Mi thấy thương tình nên hiện báo mộng giúp Tổ. Thức dậy, Tổ nhớ lời Thần dạy bèn lật Tố-Nữ Kinh cũa Trung-Hoa mà nghiên-cứu ra một bí-kíp thần-sầu truyền cho hậu-thế gọi là “Photo-Artist Kinh” chỉ vẻn-vẹn một câu Kiều cực-kỳ bí-hiểm:

 

Vành ngoài bảy chử, vành trong tám nghề”.(Câu 1210)

 

Thợ hỏi: “Vậy nghĩa là sao?”

 

Tổ giảng: “Bảy chử là:

–           Thuyết            (ta quen gọi là Thuốc: Thuyết-phục, dụ khách);

–           Thủ                 (Nhanh tay);

–           Nhãn               (Lanh mắt);

–           Tài                  (Dùng tiền để sắm hàng hiệu xịn “tới nóc”);

–           Di                    (Chịu khó đi đây đó sáng-tác cho lên tay);

–           Ý                      (Nghiên-cứu ý-tưởng, kỹ-thuật chụp);

–           Ém                  (Ém kỹ tác-phẩm sợ bị đạo ý – phòng Photo tặc)”

 

Thợ nói: ” Quả thật là hay”.

Tổ giảng: “Còn tám nghề là:

–           Chụp đám.

–           Chụp người mẫu.

–           Chụp quảng-cáo.

–           Chụp báo-chí.

–           Chụp lịch.

–           Chụp hình thẻ.

–           Chụp sáng-tác dự thi.

–           Chụp triển-lãm phong-trào”.

 

Rồi Tổ kết luận: “Đó là cái gốc giúp thợ giử vững tay nghề căn-bản. Công-phu lâu ngày sẽ thành Nghệ, rồi Đại Nghệ. Chứ cái sự học thì vô cùng. Ta không tài nào giảng hết vậy”.

Thợ nói:”Quả thật là hay”.

 

Lý-thuyết chỉ bấy nhiêu song đầy ý nội, ý ngoại, nghĩa đen, nghĩa bóng, huyền bí hơn sấm Trạng, mỗi thời đều có nhận-thức khác nhau và bàn theo cách riêng. Biết thâm-sâu vậy để không nên trách thầy cũng còn lọng-cọng.

Tới đây, anh em có người sẽ tò-mò muốn biết tôi sẽ viết “cái gì nữa dzậy ?”.

Lên bản mặt đạo-mạo như thầy, tôi nói: “Đọc chương sau thì biết”.

10 Bí quyết thành công của người Do Thái.

10 Bí quyết thành công của người Do Thái.

1.Coi trọng trí tuệ hơn tri thức

2.Kiên trì học tập suốt đời

3.Tri thức quý hơn tiền bạc

4.Nghịch cảnh – một cơ hội trong đời

5.Quý trọng thời gian hơn tiền bạc

6. Căm ghét quyền uy, bản thân không uy quyền

7.Khéo đối nhân xử thế, thỏa mãn với bản thân

8.Nghe quan trọng hơn nói

9.Giữ lập trường khác người

10. Tuyệt đối không được ngược đãi đồng tiền

6 bài học từ các tổng thống Mỹ

6 bài học từ các tổng thống Mỹ

Chúng ta có thể học hỏi được kinh nghiệm nghề nghiệp quý báu từ những bài học ở trường, từ đồng nghiệp, từ công việc đã trải qua, và cả từ các cựu lãnh đạo của Nhà Trắng trên đất Mỹ xa xôi.

Bài học thứ nhất: Chế ngự nỗi sợ hãi
“Điều duy nhất mà chúng ta phải sợ chính là nỗi sợ” – Franklin D. Roosevelt đã phát biểu như vậy trong buổi lễ nhậm chức của ông năm 1933 – thời điểm cuộc đại suy thoái kinh tế Mỹ đang ở giai đoạn cao trào. Để chứng minh rằng việc chế ngự nỗi sợ hãi là hành động đúng đắn trong mọi trường hợp, Franklin D. Roosevelt đã có những nước cờ đầy mạo hiểm nhưng rất tỉnh táo để kéo nước Mỹ thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế cũng như củng cố thêm sức mạnh quân sự của Mỹ trong thời chiến. Vì vậy, mỗi khi đương đầu với nỗi sợ, bạn hãy tự nói với bản thân: Đây chính là yếu tố kìm giữ bạn trên con đường thăng tiến, hãy vượt qua và can đảm bắt tay vào việc hiện thực hóa những mong muốn của mình – sẽ không bao giờ là thất bại cho đến khi bạn quyết định từ bỏ.

Bài học thứ hai: Thức thời
“Chúng ta đang ở trong hoàn cảnh mới nên chúng ta phải nghĩ khác và làm khác” – câu nói này là một minh chứng hùng hồn cho khả năng phân tích và nhận biết thời cuộc của Abraham Lincoln – một trong những vị tổng thống vĩ đại nhất của nước Mỹ. Để chứng minh nhận định: “Chế độ nô lệ sẽ thất bại và cáo chung, tương lai của nền dân chủ sẽ được bảo đảm, và chính quyền của dân, do dân, vì dân sẽ không lụi tàn khỏi mặt đất” ngoài Bản Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ, Abraham Lincoln còn là vị Tổng thống đầu tiên thông qua lệnh cầm tù không qua xét xử những người bị nghi là ủng hộ phe Liên minh trong cuộc nội chiến Mỹ. Vượt qua nhiều tranh cãi, Lincoln đã góp phần đưa nước Mỹ thành một cường quốc dân chủ phát triển hàng đầu thế giới như hiện nay.
Vậy, nếu bạn có óc quan sát nhạy bén và khả năng thích ứng cao thì đừng bao giờ tự “cột” mình vào một công việc nhàm chán bạn nhé!

Bài học thứ ba: Giữ đôi tay “sạch sẽ”
Mặc dù bị phản đối từ cả hai phía Mỹ và Việt Nam trong cuộc chiến tranh Việt Nam, nhưng cuộc đời chính trị của Tổng thống Richard Nixon cũng cho chúng ta một bài học về sự trong sạch: “Hãy giữ mình trong sạch nếu không muốn dính dáng vào các vụ bê bối và nhanh chóng bị hạ bệ hoặc bị kẻ khác chơi xấu”.
Những việc làm sai trái không sớm thì muộn cũng sẽ bị lôi ra ánh sáng. Do đó, nếu bạn không muốn phá hỏng tiền đồ của mình, hãy cư xử đúng mực và minh bạch trong mọi việc làm.

Bài học thứ tư: Cảnh giác với tình yêu công sở
Hẳn bạn còn nhớ cuộc tình đầy tai tiếng của Tổng thống Bill Clinton và Monica Lewinsky. Sau khi vụ bê bối này bị phơi bày trên các phương tiện thông tin đại chúng, vị tổng thống được lòng dân Mỹ nhất đã phải “cuống cuồng” bảo vệ không chỉ danh tiếng, hạnh phúc gia đình mà cả chiếc ghế tổng thống đang lung lay. Nhiều người vẫn thường nói, Bill Clinton sẽ thất bại bởi chính vụ bê bối này nếu không có sự hẫu thuẫn vững chắc của vợ mình – cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton.
Bạn có thể sẽ nói vì mình không nổi tiếng như Bill Clinton nên không cần lo lắng về bài học này. Nhưng bạn thân mến, tiền đồ của mỗi người dù là Tổng thống hay Nhân viên công sở cũng đều quan trọng như nhau, đừng bao giờ mạo hiểm “ăn vụng” nơi công sở để rồi bị tiêu tan cả hạnh phúc gia đình lẫn sự nghiệp bạn đã nhọc công gầy dựng lâu nay.

Bài học thứ năm: Học hỏi từ những sai lầm
Sau lễ nhậm chức, Tổng thống John F. Kennedy đã ngay lập tức phê chuẩn việc phát động chiến tranh xâm lược Cuba để lật đổ Fidel Castro. Cuộc xâm lược này sau đó thất bại thảm hại và chính quyền Kennedy rơi vào thế bế tắc. Thay vì câm lặng và để cho điều sỉ nhục này làm tiêu tan sự nghiệp chính trị của mình, Kennedy đã lên tiếng nhận trách nhiệm và người Mỹ tôn trọng ông vì điều đó. Cho đến nay, Kennedy vẫn là một trong những Tổng thống được mến mộ nhất nước Mỹ.
Trong công việc hàng ngày, không thiếu những lúc chúng ta mắc phải sai lầm dẫn đến thất bại. Nhưng đừng im lặng bi quan và tuyệt đối tránh tìm cách đổ lỗi cho người khác. Hãy dũng cảm nhận trách nhiệm để đưa ra giải pháp khắc phục, với cách làm này bạn sẽ khiến các đồng nghiệp nể phục và được cấp trên ghi nhận. Hơn nữa, bài học kinh nghiệm bạn rút ra từ những thất bại trên cũng sẽ là “vốn” kiến thức đáng giá cho sự nghiệp của bạn.

Bài học thứ sáu: Nổi bật trong đám đông
Các Tổng thống Mỹ như Chester Arthur, John Tyler và James Polk thường bị liệt vào danh sách “những Tổng thống bị lãng quên” do họ quá mờ nhạt trong thời gian nhậm chức. Ngược lại, gần như cả thế giới đều biết đến những cái tên như George Washington, Abraham Lincoln hay Franklin D. Roosevelt, họ không chỉ còn mãi trong ký ức nhân dân Mỹ mà còn là những nhân vật lịch sử bất diệt. Vậy, điều gì khiến họ được ghi nhớ hơn những người khác? Câu trả lời rõ ràng là do họ không ngại bày tỏ quan điểm của riêng mình, không ngại thay đổi. Họ nỗ lực để xây dựng một hình ảnh riêng và cống hiến không ngừng để để lại dấu ấn trong vài năm đương nhiệm ngắn ngủi.

Vậy còn bạn, bạn nhút nhát và không chịu lên tiếng? Bạn ẩn mình trong các cuộc họp? Bạn ngại đưa ra ý kiến vì sợ sai? Bạn sợ va chạm với đồng nghiệp? Bạn luôn hài lòng với vị trí hiện tại của mình? Nếu câu trả lời là đúng cho phần lớn các hỏi trên, bạn đang tự đưa mình vào danh sách “những nhân viên bị lãng quên” rồi đấy!

http://advice.vietnamworks.com/vi/career/bai-hoc-thanh-cong/6-bai-hoc-tu-cac-tong-thong-m.html?utm_source=JSNL&utm_medium=JSNL_Article_Title&utm_campaign=JSNL_01APR13

Sĩ diện là vấn đề lớn nhất của các đại gia Việt

http://ttxva.org/si-dien-la-van-de-lon-nhat-cua-cac-dai-gia-viet/

 

Sĩ diện là vấn đề lớn nhất của các đại gia Việt

Hơn 40 năm lăn lộn trên thương trường quốc tế, tiến sỹ Alan Phan với cái nhìn thẳng thắn, đã có những chia sẻ xung quanh câu chuyện làm giàu, cũng như đạo đức trong kinh doanh hiện nay.

– Năm 2012 nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn của Việt Nam rơi vào thua lỗ nặng nề. Nhiều đại gia Việt làm ăn chụp giật, tài sản ảo cũng đã làm lộ rõ nguyên hình. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào ?

Tiến sỹ Alan Phan: Tôi không ngạc nhiên về hiện tượng này, bởi không riêng gì các nhà kinh doanh Việt Nam mà phần lớn trên thế giới cũng hay bị bệnh của lòng tham và sự hoang tưởng. Con người thường có hoang tưởng khi thành công trong một vài lĩnh vực là có thể thành công trong nhiều lĩnh vực khác, hay khi có chút tiền trong tay thì thường họ nghĩ mình phải làm ăn lớn, phải đầu tư nhiều thứ.

Ngoài ra, còn do tư duy làm ăn chụp giật, manh mún. Nhưng cũng không trách được vì trong một cơ chế như hiện nay, phần lớn dựa trên quan hệ thay vì mồ hôi nước mắt của sáng tạo của sự nỗ lực. Có thể chỉ từ một vài quan hệ có thể đem đến cả triệu USD nên người ta dám lao vào lĩnh vực trái nghành, không phải thế mạnh của mình.

Nhiều người còn đầu tư, làm ăn theo đám đông, bầy đàn. Chẳng hạn, khi thấy vài người kiếm được tiền trong chứng khoán thì nhà nhà lên sàn chơi. Nhưng khi chứng khoán đi xuống, lại thấy nhiều người kiếm bộn từ địa ốc thì lại ào ào đổ vào bất động sản. Nhưng cũng vì nhanh nên cũng dễ bề tan rã.

– Vậy ông nghĩ gì về những kiểu thể hiện đẳng cấp, sự xa hoa của đại gia Việt với những kiểu chơi ngông như sắm siêu xe, mua các CLB bóng đá, hay tổ chức đám cưới cho con hàng chục tỷ đồng?

Tiến sỹ Alan Phan: Khi tôi còn trẻ mới có chút tiền nên cũng hay thích khoe, nó bắt đầu từ tiềm thức về một quá khứ thua kém. Ở xứ Mỹ và các nước châu Âu, thực tình ai muốn khoe cứ việc khoe và vẫn có những người giàu khoe của. Nhưng vì xã hội có quá nhiều người giàu có nên bỏ ra 1-2 triệu USD để tổ chức tiệc cưới hay sắm siêu xe thì người Mỹ cũng không quan tâm.

Ngược lại, những tỷ phú Mỹ sống tằn tiện thì lại được ca ngợi. Chẳng hạn, như ông Warren Buffett, người giàu có nổi tiếng của thế giới hiện có tới 39 tỷ USD nhưng vẫn đi chiếc xe mua 15 năm trước với giá 18.000 USD. Và nếu đem ông Warren Buffett đứng cạnh các đại gia Việt chơi siêu xe như báo chí hay đưa tin thì họ sẽ khóc ngay.

Ông là Việt kiều đầu tiên đưa công ty tư nhân của mình lên niêm yết sàn chứng khoán Mỹ (1987) – Công ty Hartcourt đạt trị giá 670 triệu đôla vào năm 1999. Ông là tác giả của 9 cuốn sách tiếng Anh và tiếng Việt về kinh tế tài chính của các nền kinh tế mới nổi.
Nói chung câu chuyện thể hiện thì mỗi người một kiểu, nhưng phần lớn thường gặp phải một vấn đề là sĩ diện. Bởi đã là đại gia thực sự thì họ không còn nghĩ đến tiền nữa mà họ chỉ quan tâm đến những sở thích của mình chứ không phải kiểu chơi ngông. Tôi cho rằng, những kiểu khoe giàu quá mức hay tiêu xài quá mức của các đại gia sẽ gây phản cảm. Họ cũng nên kín đáo hơn trong tiêu xài của mình.

– Ở nhiều nước có các đại gia truyền đời, các tập đoàn truyền qua nhiều thế hệ. Càng đời sau họ lại càng giàu và đạt được nhiều thành tựu hơn đời trước. Vậy theo ông, để hình thành những đại gia giàu bền vững cần phải như thế nào?

Tiến sỹ Alan Phan: Những cuộc phỏng vấn các đại gia Việt trên báo chí cho thấy nhiều người có một mộng ước là làm tỷ phú đô la. Theo bảng ước tính của tạp chí Forbes, chỉ có tất cả 1.080 tỷ phú đô la trên thế giới. Do đó, nếu được ghi danh vào bảng phong thần này, thì các đại gia Việt có thể tự nhủ là đã thỏa mãn tự ái và hoài bão của vợ con, gia đình mình. Nhiều doanh gia Việt đã hãnh diện nhận đủ thứ giải thưởng ở nước nhà, nhưng dường như chưa ai lên được bảng vàng của Forbes hay Fortune.

Thực ra, ở nước ngoài có nhiều cô cậu trẻ đã có thể sở hữu một tài sản kếch xù, đa phần là thừa hưởng từ gia đình nhưng cũng có những đứa trẻ đã tự mình trở thành triệu phú ngay từ khi rất nhỏ. Đặc biệt là họ để con cái tự do hơn về tư duy, về cách học hỏi. Thành ra đứa trẻ nào cảm thấy thích thú trong việc kiếm tiền, nó có thể kinh doanh rất sớm và nó được hình thành trên nền tảng lớn, trên một đạo đức xã hội lâu bền.

Tôi vẫn thường nêu ra một bản nghiên cứu của Harvard năm 1998 cho thấy đạo đức và kỷ cương đóng góp về lâu dài một niềm tin tốt đẹp từ khách hàng, từ nhân viên, từ đối tác, từ nhà đầu tư, từ cộng đồng. Thiếu đạo đức và kỷ cương quản trị, doanh nghiệp biến thành một công ty của cơ hội, của chụp giật, của đầu cơ… Mọi thành công sẽ tạm bợ.

– Được biết ông đã có nhiều hoạt động liên quan đến giới trẻ ở Việt Nam. Những lần gặp gỡ giới trẻ, ông muốn truyền thụ cái gì cho họ, nhất là các bạn trẻ muốn khởi nghiệp kinh doanh ?

Tiến sỹ Alan Phan: Mỗi lần tiếp xúc với giới trẻ, tôi luôn muốn đem đến cho họ một tư duy mới, một tư duy cởi mở, chấp nhận những suy nghĩ khác người, chấp nhận những thay đổi trên bối cảnh kinh tế toàn cầu để họ có thể tiến bước, bắt kịp những người trẻ trên thế giới. Với những bạn kém may mắn đang tranh đấu vất vả để tìm sự nghiệp hay cơ hội kinh doanh, hãy tin vào con người thực và định mệnh của mình. Phải kiên trì, biết đứng dậy và tiếp tục đi tới khi vấp ngã. Không ai có thể từ chối mãi một con người có ý chí.

Tôi cũng thường nói với các bạn trẻ rằng nhiều thứ có thể giải quyết được bằng tiền. Người ta dùng tiền có thể mua địa vị, quyền chức nhưng không thể mua được sự kính trọng. Họ có thể mua lâu đài, tòa nhà sang trọng, nhưng không có nghĩa có tiền sẽ cho được mái ấm của gia đình, của trí tuệ

Theo Giáo dục

 

 

Thiện Ác đổi ngôi.

Khi thiện và ác đổi ngôi

Phóng Viên:Thưa ông, điều gì khiến ông cho rằng xã hội hiện nay biến loạn đến mức trầm trọng?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng,

Hằng ngày trên các trang thông tin đại chúng, đâu đâu cũng có những chuyện cướp của, giết người, vô nhân tính. Cái ác hoành hành khắp nơi, khắp chốn một cách ngang nhiên. Điều đó cho thấy kháng thể của xã hội trong cuộc chiến chống cái xấu cái ác đang bị xuống cấp trầm trọng. Chính bản thân tôi cũng có kinh nghiệm chẳng lành. Một lần khi đi rút tiền từ ngân hàng, trên đường về bằng xe gắn máy có người cố tình ép sát tôi làm tôi té ngả. Họ là một đám chuyên trấn lột người đi đường gồm 4 thành viên. Người thứ tư thừa lúc tôi đôi co với kẻ gây tai nạn lặng lẽ làm động tác móc ví. Những kẻ côn đồ này đã hành động nhanh chóng trên một đoạn đường đông đúc người đi qua lại. Đó là đoạn đường giữa ngã tư Nguyễn Đình Chiểu và Cách mạng tháng 8 vào lúc hơn 2 giờ chiều chứ không phải đêm hôm khuya khoắt. Rất nhiều bạn bè tôi cũng từng bị như vậy. Một vị giáo sư Bỉ qua đây dạy, ngày nghỉ ông tranh thủ đi chụp hình kỷ niệm tại sân Tao Đàn. Khi chiếc để camera vừa đặt xuống để mở túi, ông bị giật luôn. Kẻ cướp hành xử ngay chốn đông người, còn vị giáo sự nọ cũng không kịp than vãn và phỉ bác. Ông tự an ủi với tôi rằng “thôi thì cái máy của tôi cũ quá rồi, đây là dịp để mua cái mới”. Một người bạn khác, ra chợ Bến Thành bị móc ví. Ông ấy hới ha hớt hải vì mất hộ chiếu và giấy tờ tùy thân. Được một lúc sau có người vỗ vai nói nhỏ bằng tiếng Anh hẳn hoi, rằng ví của ông đang ở góc bên kia đường. Ông đi đến và thấy ví của mình đó, tiền mất nhưng may mắn là còn giấy tờ. Ông ấy hài hước: “đám ăn cướp Việt Nam văn minh đấy”.

Phóng Viên: Nhưng ở đất nước nào cũng có những chuyện tương tự như vậy thưa ông?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng,

Ở Châu Âu những năm 1960, 1970 dường như rất ít tệ nạn. Cho tới khi bức tườngBerlinsụp đổ, dân Đông Ấu có thể tràn qua các nước Châu Âu và từ đó tệ nạn xuất hiện nhiều hơn. Bởi tệ nạn xã hội thường xuất phát nhiều ở các nước Đông Âu. Các quốc gia ở Đông Âu kinh tế kém phát triển, nền giáo dục cũng chưa cao. Khi sang Tây Âu họ thấy ở đây giàu quá, dân hiền quá, xe đạp để ngoài đường không cần khóa nên họ lấy. Nhưng vấn đề của chúng ta lại khác, tình trạng đến mức trầm trọng khi người ta sẵn sàng giết cha mẹ vì vài trăm ngàn. Hay những hành động côn đồ xảy ra giữa chợ mà không ai phản đối… đó là sự băng hoại về đạo đức.

Phóng Viên: Vậy thưa ông, cái ác bắt đầu đến từ đâu?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng,

Trộm, cướp… đến từ cuộc sống khó khăn nhưng sự chiếm đoạt của các ác lại nằm ở giáo dục và khi giá trị đạo đức bị hủy hoại, tha hóa rõ ràng. Bởi kinh tế khó khăn thì sau thời gian suy thoái sẽ vực dậy. Địa ốc đóng băng thì có ngày phục hồi. Đồng tiền mất già và từ giá mới sẽ vươn lên. Nhưng nền giáo dục của ViệtNam đang lầm đường lạc lối. Nền giáo dục không tạo được con người có nhân cách, có niềm tin đạo đức, biết sống lương thiện, biết sống thương yêu… Thay vào đó là từ ngay tấm bé trẻ con đã thấy một xã hội vị kỷ, thực dụng, chỉ thấy tiền là chính. Một chuyện nhỏ thế này, cô bạn tôi kể rằng, con gái mình về nhà bảo mẹ sao không mua quà bánh trung thu đến tặng cô giáo. Nếu cô giáo không tìm cách để hối thúc học sinh phụ huynh phải cung phụng mình thì tại sao đứa trẻ lại lại hỏi mẹ như vậy. Thay vì chúng ta đem ánh trăng vàng, là câu chuyện về chị Hằng nga, chú Cuội để con nít biết mơ mộng sáng tạo thì lại dạy cho chúng về lòng tham muốn vật chất. Đứa trẻ sẽ nghĩ gì về cô của nó và trong tương lai chắc chắn nếu có điều kiện đứa trẻ đó sẽ móc tiền, của bằng địa vị và chỗ đứng của mình. Đây là những chuyện mà khi chúng tôi còn học phổ thông không hề có. Và chính cô giáo kia vì hoàn cảnh xã hội, vì điều kiện kinh tế đã vô tình tiếp tay phá hoại nền giáo dục quốc dân. Đây là không còn là câu chuyện nhỏ mà là một vấn đề trầm trọng. Các em lớn lên trong một môi trường giáo dục như thế, xã hội biến chất, đảo điên như thế. Bởi vậy nên mới có chuyện con giết cha mẹ để có tiền chơi game. Đây là đỉnh điểm của sự bấn loạn rất khó tưởng tượng là có thể đi đến điểm nào tệ hơn nữa.

Khi con người không được bảo vệ

Phóng Viên: Vậy ông có nhận xét gì khi gần đây trên nhiều tờ báo có viết về những hành động “tự xử” của người dân thay vì báo công an?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng,

Đó là hậu quả phải chờ đợi. Tội phạm không sợ bị trừng trị, không sợ bị lên án, Họ đánh mất lòng tự trọng nên thay vì xấu hổ và lo sợ chúng lại quay ra thách thức xã hội, hành hung những người dám ngăn cản mình. Từ năm 2007 khi ấy tôi tham gia giảng dạy cho lớp cao học khoa quốc tế của Trường đại học Bách Khoa. Trong số đó có một sinh viên luận văn yếu quá nên không đạt điểm. Bởi vậy tôi đề nghị ra các em làm lại để chấm lại. Tuy nhiên trong số đó có một học sinh không chịu làm mà muốn qua môn. Phụ huynh đã đến gặp nhưng tôi từ chối. Tôi bảo tôi chỉ có thể tiếp khi đã thi xong. Nhưng cũng từ đó ngày nào tôi cũng bị mấy cuộc điện thoại dọa giết, dọa đâm xe… Sau một thời gian không chịu nổi tôi báo công an, kèm với các đoạn băng ghi âm cuộc nói chuyện dọa nạt để công an làm rõ. Nhưng kết cục công an có làm hay không tôi không biết nhưng mặc tôi cứ giải trình vụ việc vẫn không dừng lại và ngày càng nhiều cuộc điện thoại hơn. Sau mấy tháng như vậy tôi cảm thấy rất mệt mỏi và đành tự giải quyết. Hôm ấy có vị giáo sư bạn từ Hà Nội vào tôi đã kể về chuyện này. Sau đó tôi nhờ ông nếu có cuộc điện thoại dọa nạt đến, ông hãy nghe dùm tôi. Ông hãy nói mình là công an từ Hà Nội vào giúp tôi giải quyết sự việc.Và xác định với đầu giây bên kia rằng ông đã ghi lại tất cả các cuộc điện thoại dọa nạt và biết tác giả là ai, địa chỉ ở đâu. Cho nên sắp tới sẽ có những cuộc thăm hỏi từ phía công an. Sau đó bên kia cúp máy và từ đó không bao giờ tôi còn bị làm phiền và dọa giết nữa. Tuy nhiên, cũng mất ròng rã 4 tháng trời. Câu chuyện của tôi tương tự như sự việc vừa qua, người dân Nghệ An đã đốt xe tên trộm chó. Qua những điều này cho thấy công an dần dần xa rời nhiệm vụ chính của mình là bảo vệ người dân lương thiện. Hiện trạng này ngày càng nguy ngập…

Phóng Viên: Nghĩa là lòng tin từ dân bị mất mát thưa ông?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng,

Đúng vậy, chưa bao giờ lòng tin của người dân mất mát ghê gớm đến thế. Từ anh lái taxi, đến anh đi xe ôm hay người thợ xắt tóc… đều mang tâm trạng lo âu về cuộc sống. Người ta lo không biết mình sẽ sống thế nào đây, thu nhập thế này có đủ sống không. Họ cũng theo dõi báo đài, họ cũng đặt niềm tin vào việc chống tham nhũng của Chính Phủ. Nhưng mọi chuyện dường như lại đâu vào đó. Điều đó cho thấy họ chờ đợi sự thay đổi mà sự thay đổi ở đây không phải thay đổi căn cơ chế độ mà ít ra thay đổi nhân sự. Những người không kiềm chế được tham nhũng không làm được gì với tham nhũng phải được thay thế, nhường chỗ cho những người giỏi hơn với quyết tâm cao hơn, với tinh thần vì dân tỏ rõ nét hơn…

Phóng Viên: Nhưng không phải tất cả mọi câu chuyện đều giống nhau thưa ông?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng,

Thời điểm Pháp thuộc, đất nước ta bị bóc lột, dân Việt bị bần cùng hóa. Đây là lý do chính nghĩa của cuộc đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc. Hiện thực xã hội lúc đó cũng có thể là thời điểm đen tối nhưng cũng có nhà văn phản tỉnh, trí thức tả chân. Cụ thể như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố trong tác phẩm của họ tố cáo trước dư luận những tội ác của thực dân và sự cùng cực của dân tộc bị trị . Nhưng những cuốn sách ấy được xuất bản, và truyền lại cho hậu thế. Còn bây giờ tôi không thấy những cuốn sách như vậy. Không phải không có những người tài mà những cuốn sách đó khó được in ấn xuất bản một cách chính diện. Người tốt giờ đây phải co cụm lại, im lặng…

Phóng Viên: Nghĩa giá trị và quy luật thiện thắng ác đang bị đảo ngược thưa ông? .

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng,

Đúng, nhưng cái ác hành hoành, người tốt, người có đạo đức, vốn là rường cột của xã hội họ lại phải lui về thúc thủ, bàn quan. Bởi vì nếu can thiệp họ sẽ gặp tai họa, gặp rắc rối. Chúng ta vẫn biết những câu chuyện về những nhà báo viết về chống tiêu cực phải vào tù, chúng ta biết những người viết ca khúc chống Trung Quốc bị bắt. Còn những người làm thất thoát hàng trăm tỷ đồng chẳng bị sao cả, có chăng cũng chỉ đi tù sơ sơ. Điều đó làm xã hội đang đi xuống chứ không phải đi lên. .

Phóng Viên: Nhưng tại sao nhiều người nước ngoài tới Việt Nam lại bảo an ninh ở đây tốt thưa ông?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng,

Ở một số nước như Philippin, Indonesia, Pakistan, Thái Lan… thường hay có các phe quá khích hồi giáo, chống phương Tây. Người có đạo Hồi giáo theo phe quá khích oán hận các nước phương Tây vì nhiều lý do lịch sử. Họ tổ chức khủng bố trên bình diện quốc tế, nhất là trong thế giới Hồi giáo. Còn ở ViệtNamchính trị ổn định, Phật giáo hiền hòa, Công giáo cũng vậy nên người nước ngoài tới đây yên tâm là không bị khủng bố. Nhưng chuyện cướp, giật đường phố, bạo lực học đường thì ngày càng trầm trọng.

Nền giáo dục tự hoại

Phóng Viên: Nhưng chúng ta không thể đổ hoàn toàn cho giáo dục. Bởi trong ca dao vẫn dạy “anh em như thể chân tay, thương người như thể thương thân…” Và vẫn còn nhiều tấm gương tốt trong xã hội?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng,

Hồi cách mạng năm 1789 ở bên Pháp, giáo dục nằm trong tay nhà thờ. Cách mạng thành công, trường học được giải phóng, việc giáo dục trở thành lĩnh vực của thế nhân, chính quyền dân sự. Tuy nhiên, người Công giáo vẫn có có quyền mở lớp riêng cho họ… Những người theo đạo có quyền đi học ở mọi trường lớp và đức tin của những con chiên được nhà nước đảm bảo và tôn trọng. Xin kể một kinh nhgiệm cá nhân mà tôi đã thâu thập tại Bỉ. Tôi là người theo đạo Phật, vợ tôi là người Công Giáo. Các con tôi theo đạo bố nhưng vì trường công giáo rất nghiêm, tôi ghi tên các con theo học tiểu và trung học tại đây. Nhưng không vì thế mà chúng bị phân biệt. Ở trường con tôi đứng đầu lớp về môn học giáo lý công giáo, tuy chúng nó thưa với thầy cô là chúng nó theo đạo Phật. Những nhưng thầy cô ở đây nói rằng: Con tin vào điều gì hãy giữ vừng niềm tin đó. Đằng này chúng ta đưa chính trị vào trường học, nhồi nhét quan điểm một chiều trong trường học. Thay vì khuyến khích yêu thương nâng đỡ nhau để giải quyết các vấn đề thì có một thời ta lại khuyến khích đấu tranh để sống còn. Mà đấu tranh giai cấp là tiêu diệt kẻ thù, tiêu diệt thế lực thù địch… Thói ghen ghét, đố kỵ ở đâu cũng có, nhưng tôi có cảm nhận tại ViệtNam ngày nay, những tật xấu này có phần gay gắt một cách không bình thường.

Phóng Viên: Nghĩa là dù thế nào con người cũng phải sống với một niềm tin thưa ông?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng,

Vâng tôi có cảm tưởng niềm tin ở con người, ở tổ chức xã hội bị đánh mất. Khoảng trống không có gì bồi đắp nhất là khi lòng tin ở tâm linh bị phá vỡ hay không được vun xén nữa. Hậu quả nhãn tiền là người ta ngày càng coi trọng vật chất hơn là những giá trị tinh thần. Đã có một thời, không xa lắm, những giá trị tâm linh, tôn giáo bất cứ từ xu hướng nào bị bài bác. Thái độ vị kỹ, thực dụng trở thành bao trùm. Phạm trù thần linh phai mờ trong tâm thức con người và dần dần lòng tham lam của thân xác, của dục vọng sẽ không có gì ngăn cản nữa. Lương tâm con người chìm xuống, cái ác lên ngôi. Chẳng những kỷ cương xã hội bị phá vỡ mà luân thường đạo lý gia đình tan biến. Đây chính là hậu quả phải chờ đợi của việc đánh mất niềm tin, xoá bỏ đức tin…

Phóng Viên: Nghĩa vấn đề nằm từ gốc chứ không phải ngọn thưa ông?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng,

Đúng thế. Một một lớp học tiểu học, sự giàu nghèo thể hiện ngay trong ăn mặc, trong những tiệc sinh nhật của từng đứa trẻ. Những đứa trẻ con nhà giàu có nếu không được dạy phải thương bạn, tôn trọng bạn, chúng sẽ ra sao khi trưởng thành. Những đứa trẻ nghèo khó luôn tự hỏi tại mẹ sao không mua cho con áo đẹp, tại sao mẹ không mua cho con cặp đẹp. Tất cả những cái đó nếu không được giải tỏa bằng các bài học thường trực hàng ngày thì lâu dần sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách của một đời người. Giáo dục thường thức, giáo dục công dân đang có vấn đề. Tuổi trẻ xao nhãn học văn, ngán gẫm học sử vì bài học, vì sách giaó khoa quá ư cứng nhắc, một chiều, không hấp dẫn, không sinh động. Giới trẻ ngày nay không biết sử ta, nhưng khi mở ti vi lên, khắp mọi kênh chiếu toàn phim Trung Quốc. Tình trạng này đang dẫn đến tai hoạ trước mắt là tuổi trẻ ta hiểu biết lịch sử Trung Quốc hơn là lịch sử ViệtNam. Đó là điều không thể chấp nhận được.

Phóng Viên: Bởi vậy ông cho rằng xã hội hiện nay giống một câu chuyện cổ tích mà kết thúc là thảm họa?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng,

Tôi nói có ngoa đâu. Ba tôi, những người cùng thời với ông cả đời đi theo cách mạng. Trên đôi vai của họ là những vì sao, là khát vọng về một xã hội công bằng, là dân tộc độc lập, tự do và hạnh phúc. Lý tưởng sống ngày đó là tổ quốc trên hết, mình vì mọi người mọi người vì mình. Còn bây giờ mọi thứ lại dường như đi ngược lại hết. Ai có nhiều quyền người ấy có nhiều lợi ích nhất. Chứ người dân chân lấm tay bùn thì chẳng có gì để tham nhũng.

Phóng Viên: Vậy theo ông, bài học trường trực trong nhà trường phải nói về yêu thương?

GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng,

Đúng vậy, ở trường hiện nay tôi thấy ít có chủ trương dạy con thương yêu cha mẹ. Chỉ thấy dạy yêu tổ quốc nhưng người Việt Nam cũng như các dân tộc khác, căn bản là gia đình. Trẻ con phải được dạy yêu thương cái nôi là yêu cha mẹ, yêu anh em, yêu ông bà rồi mới yêu cái cây đa, yêu cái đình làng, cánh đồng lúa chin, con sông nho nhỏ uốn quanh làng quê, con đường phố rợp bóng mát cây xanh, rồi mới đến yêu tổ quốc với tất cả những yếu tố văn hoá, lịch sử đi theo: Tuyên ngôn độc lập của Lý Thường Kiệt trên sông Như Nguyệt, Bình ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du…. Vì với trẻ con tổ quốc là điều gì rất mông lung. 5, 6 tuổi biết thế nào là tình yêu tổ quốc. Tuổi này nó cần bàn tay ấm áp của mẹ, sự vuốt ve của cha, sự nâng đỡ của anh và bài học giáo dục mỗi ngày ở nhà, ở trường cũng phải thường xuyên như vậy. Nhưng dường như bài học thương yêu, đề cao những tâm hồn cao thượng, tình tương thân tương ái, nhiễu điều phủ lấy giá gương, thương người như thể thương thân, đã bị làm cho mờ nhạt từ lâu. Một môi trường như vậy mà bạo lực không xuất hiện mới là điều lạ.

Tân Sơn Nhất ngày 13/11/2012

YÊN TRANG (Thực hiện)

http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/khi-thin-ngi.html

Trông người ngẫm đến ta…

Cuộc sống ở Nhật Bản

Viết bài này, tôi không hề có ý định nói về cuộc sống của người Việt Nam nói chung tại Nhật. Tôi chỉ nêu nhận xét chủ quan của riêng tôi đối với những điều tai nghe mắt thấy tác động trực tiếp đến cuộc sống của cá nhân và gia đình tôi tại Tokyo. Vì thế nếu các ý kiến của tôi khiến một số quý vị không đồng tình, mong các quý vị bỏ qua.

Trước khi tới xứ sở của hoa anh đào, tôi đã sống 18 năm thời niên thiếu của mình rồi sau này làm việc vài năm tại Việt Nam, 11 năm tại Liên xô cũ, một thời gian tại châu Âu, và thăm một số trường đại học tại Hoa kỳ. Cuộc sống ở nhiều nước đã giúp tôi kiểm chứng trong một chừng mực nhất định độ tin cậy của câu ngạn ngữ tôi thường nghe thời còn là sinh viên tại Nga:

Ba năm đi Pháp bằng một giáp đi Nga.
Năm năm ở Tây bằng một giây ở Nhật.

Theo tôi, cái “may mắn” lớn nhất của thần dân xứ Phù Tang có lẽ là nước Nhật đã thua trong Đại chiến thứ Hai. Về mặt tâm lý, thất bại đó khiến người Nhật cảm thấy nhục nhã, và quyết tâm đưa dân tộc mình vươn lên về mọi mặt để “rửa hận”. Thất bại đó cũng khiến dân tộc Nhật trở nên khiêm tốn, nhún nhường hơn trong giao tiếp vì có lẽ họ không có “chiến thắng oanh liệt” nào để họ có thể “vênh váo” với thế giới, và quá khứ thê thảm của Đệ Nhị Thế Chiến không để lại gì để họ có thể trở thành “ăn mày dĩ vãng” [1]. Về chính trị, thất bại đó khiến nước Nhật ngay sau chiến tranh “bị” đặt dưới sự kiểm soát cuả Hoa kỳ. Từ đó Nhật bản được Hoa kỳ giúp đỡ về mọi mặt và trở thành đồng minh chặt chẽ của Hoa kỳ. Bản Hiến pháp của Nhật sau Đại chiến thứ Hai là do người Mỹ viết năm 1946 [2]. Đó là một bản hiến pháp hết sức dân chủ.Người Nhật, từ ông thủ tướng (và gia đình, họ hàng ông ta) đến cậu học sinh tiểu học, tất cả đều rất tôn trọng pháp luật và thực hiện đúng Hiến pháp. Đó là điều mấu chốt đưa đến những ưu điểm dưới đây.

1) Cuộc sống ở Nhật rất an toàn

Hồi còn đi học, tôi đọc sách thấy nói mô hình của xã hội giàu có thanh bình là thời vua Nghiêu vua Thuấn bên Tàu, tiền rơi ngoài đường không có ai thèm nhặt. Lúc đó tôi đã tự hỏi không biết bao giờ và ở đâu mới lại có được một xã hội như vậy. Nhật bản là câu trả lời khẳng định cho tôi. Ở đây nếu đi tàu mà bạn vô tình quên túi (trong đó có thể có tiền, máy ảnh, điện thoại di động v.v.) trên tàu, bạn chỉ cần báo cho nhân viên nhà ga. Sau đó họ sẽ gọi điện nhắn bạn đến nhận vì thông thường là họ sẽ tìm thấy đồ bạn để quên, do không có ai đụng đến nó cả. Một lần chúng tôi đi tàu ra sân bay. Sau khi chúng tôi lên tàu rồi, trong lúc chờ tàu khởi hành, bỗng một nhân viên nhà ga xuất hiện, tay dơ cao một cái túi và nói to đủ để tất cả hành khách đều nghe thấy: “Cái túi này của ai đây?”. Vợ tôi giật mình nhận ra đó chính là túi của mình để quên trên ghế phòng đợi tàu, vội chạy tới nhận, chỉ vài giây trước khi tàu chuyển bánh. Một lần khác, vợ tôi đi chợ và đánh rơi ví. Trong ví có tiền, giấy căn cước, chìa khóa nhà, v.v. Hai hôm sau, người gác cửa báo xuống nhận. Người nhặt được ví và mang đến trả tận nơi là một sinh viên. Con trai tôi có lần đi chơi cũng đánh rơi ví trong đó có thẻ học sinh và chìa khoá vào nhà. Mấy hôm sau, những thứ cháu đánh rơi đã được ai đó tìm thấy và gửi đến địa chỉ nhà tôi mà không đề địa chỉ người gửi. Năm 1999 chúng tôi tổ chức một hội thảo quốc tế tại viện nghiên cứu vật lý hóa học Nhật bản (gọi tắt là viện RIKEN) – nơi tôi làm việc từ 1995 tới nay. Một nhà vật lý Italia đại biểu hội nghị, trong khi đi chơi ở Tokyo, đã đánh rơi hộ chiếu của mình. Anh ta hết sức hốt hoảng vì chỉ sau hai ngày anh ta sẽ phải bay về nước. Chúng tôi nói anh cứ yên trí, gọi điện báo cho Đại sứ quán Italia, rồi ngồi chờ. Quả nhiên ngày hôm sau, Đại sứ quán Italia gọi điện nói có người đã nhặt được hộ chiếu của anh và gửi đến Đại sứ quán, anh chỉ việc đến nhận lại hộ chiếu. Anh ta thốt lên: “Thật là không thể tin được!”. Anh đã lên đường về nước đúng như lịch trình.

Mặc dù đôi khi đọc báo hay xem TV tôi cũng thấy tin nói về các vụ kẻ trộm đột nhập nhà ở, kẻ cướp cướp nhà băng, kẻ cắp móc túi người say rượu trên các chuyến tàu vắng khách về khuya, nhưng tôi chưa hề bị hoặc chứng kiến bất cứ một vụ ăn cắp vặt nào ở nơi công cộng tại Nhật, kể cả trên những chuyến tàu chật cứng người vào giờ đi làm sáng sớm. Mới đến Nhật người ta có thể lấy làm lạ là mọi người ra đường để đồ đạc của mình rất hớ hênh: ví tiền bỏ túi sau không cài, nhô cả ra ngoài, điện thoại di động nhét túi sau với cả một đám dây trang trí như mời gọi kẻ móc túi, vào tiệm ăn thì vứt túi lên ghế rồi bỏ đấy đi nhà vệ sinh, mà không hề sợ là túi sẽ “bốc hơi” lúc mình vắng mặt. Sau khi đã sống ở Nhật một thời gian, người ta hiểu rằng sẽ không có chuyện gì xảy ra với những “sơ ý” đó, vì xã hội ở đây rất an toàn. Hầu như không có ai động đến sở hữu của người khác. Đi chơi ban đêm mà bị trấn lột là chuyện khó xảy ra ở Tokyo.
Người Nhật không ồn ào, không nói chuyện oang oang hoặc gọi nhau í ới ngoài phố, và tất nhiên là tôn trọng luật đi đường. Nếu họ chẳng may đụng phải nhau, thì cả hai cùng cúi xuống xin lỗi nhau với một thái độ thực sự thành khẩn. Xe cộ rất nhiều nhưng hầu như không nghe thấy tiếng còi xe hơi. Nếu xe hơi hay xe máy quệt phải nhau thi họ cũng từ tốn giàn xếp hoặc chờ cảnh sát tới. Tôi có lần chứng kiến một xe hơi đi từ hẻm ra đường lớn, chẳng may đụng phải một thanh niên đang phóng xe máy phân khối lớn. May thay anh ta không việc gì, vì nhảy vọt được ra khỏi xe, như trong phim Holywood vậy. Chỉ có xe máy là bẹp. Người lái xe hơi chắc chắn là sai. Ngay cả khi đó, anh thanh niên, trông rất “ngầu”, cũng không hề to tiếng. Cả hai bên để nguyên hiện trường chờ cảnh sát tới giải quyết.

2) Quan chức hành chính và cảnh sát thực sự là các đầy tớ của nhân dân

Điều 15 trong Hiến pháp của Nhật quy định “tất cả các quan chức và nhân viên hành chính là đầy tớ của toàn thể cộng đồng” [2].  Bộ máy hành chính của Nhật cũng khá cồng kềnh, và mọi việc giấy tờ không phải khi nào cũng nhanh. Tuy nhiên, những quan chức và nhân viên hành chính bao giờ cũng cố gắng giải quyết công việc một cách tốt nhất cho dân, với một thái độ rất lịch sự, niềm nở, kể cả khi “dân” là một cậu bé kém họ hai ba chục tuổi. Nếu không giải quyết được ngay ngày hôm đó, thì họ bao giờ cũng hẹn chính xác ngày có  kết quả, và không bao giờ sai hẹn. Họ hiểu rất rõ là họ làm việc để phục vụ nhân dân. Lương của họ là do dân đóng thuế mà có. Bất cứ người dân nào cũng có thể phát đơn kiện nếu họ phục vụ kém, và họ sẽ bị thải hồi ngay. Bất lịch sự, cửa quyền, sai hẹn, chứ chưa nói “ăn hối lộ”, là điều xa lạ đối với hệ thống hành chính cơ sở ở đây. Không bao giờ có hiện tượng nhân viên hành chính lại dám “lên lớp” cho người dân.

Con trai tôi có lần thốt lên: “Công an ở Nhật hiền thật, bố nhỉ!”. Đấy là sau cái lần cháu đi chơi đánh mất chìa khoá xe đạp. Vì lúc đó đã muộn, các hiệu chữa xe đạp đã nghỉ, nên cháu phải bê xe đến đồn cảnh sát gần đấy cầu cứu các chú cảnh sát. Họ phải dùng kìm cộng lực cắt khóa để cháu đạp xe về nhà. Nói chung, tôi chưa gặp trường hợp nào cảnh sát giao thông chặn người xét hỏi vô cớ giữa đường, huống hồ là hành hung người dân. Họ luôn từ tốn, lịch sự chỉ đường kỹ càng khi được hỏi, vì các đồn cảnh sát thông thường là nơi người đi đường vào hỏi đường. Họ có đầy đủ bản đồ chi tiết của khu vực họ. Chuyện cảnh sát tìm cách chặn xe để phạt tiền là chuyện không có ở Nhật. Người lái xe bị phạt nếu họ thật sự phạm luật, gây tai nạn, v.v. Cảnh sát Nhật không được phép dùng vũ khí nóng (như súng) để uy hiếp dân chúng. Trong những cuộc dẹp rối loạn trật tự công cộng, họ chỉ được dùng quá lắm là gậy bằng gỗ.

3) Khách hàng thực sự là vua

Ở Nhật người bán hàng hết sức lễ phép và thực sự chiều chuộng khách hàng, cho dù khách hàng chỉ xem, không mua gì, hoặc giá trị của thứ mua chỉ vài trăm yên (vài USD). Không bao giờ người bán hàng nhận xét, bình phẩm về sự lựa chọn của khách hàng. Sau khi khách hàng mua, trả tiền xong, họ đều gói ghém hết sức cẩn thận trước khi trao hàng cho khách, sau đó chắp hai tay trước bụng cúi chào cung kính, mắt nhìn xuống. Nếu những người bán hàng đó đi mua hàng (đi chợ chẳng hạn), họ cũng là khách hàng như bạn và cũng được những người bán hàng khác phục vụ tử tế như vậy.

Ít lâu sau khi tôi vừa đến Nhật, một lần tôi ghé hiệu Yamano Music – một hiệu bán nhạc cụ nổi tiếng ở khu Ginza – Tokyo. Tại hiệu này có bán các đàn đại dương cầm Yamaha, Steinway, Bechstein giá hàng trăm ngàn US dollars. Nhưng thứ mà tôi mua chỉ là một miếng dạ đỏ để phủ phím đàn piano. Giá miếng dạ đó là 600 yen (khoảng 6 USD). Tôi gọi người bán hàng. Ông ta dạ ran chạy đến. Tôi lại không có tiền lẻ, nên tôi đưa ông ta 10,000 yen (khoảng 100 USD). Ông ta cúi người, hai tay đỡ lấy tờ tiền, nói: “Xin quý khách đợi cho một lát”, sau đó chạy nhanh vào phía trong. Một khoảnh khắc sau, ông ta quay lại, hai tay cầm một cái đĩa sứ nhỏ trên để miếng dạ đã được gói cẩn thận, hóa đơn thanh toán, tiền thừa. Rồi ông ta lại cung kính cúi mình hai tay nâng cái đĩa lên ngang mặt để tôi dễ lấy. Sau đó, ông ta lại cúi rạp xuống một lần nữa, miệng nói to: “Xin cảm tạ quý khách!”
Rất ấn tượng về điều này, tôi kể chuyện đó với một giáo sư Nhật. Ông ta nói: “Đấy là tiêu chuẩn phục vụ thông thường ở đây, nhất là tại các cửa hàng nổi tiếng như Yamano Music. Anh trả tiền và anh có quyền được hưởng sự phục vụ tốt nhất”. Sau này tôi thấy đó là trình độ phục vụ rất chuyên nghiệp của xã hội Nhật bản, vượt xa tất cả các nước khác mà tôi đã đến (là Việt Nam quê hương tôi, Trung Hoa, Nga Xô, Ấn độ, Pháp, Đức, Hà Lan, Italia, Hy lạp, Tây Ban Nha, và Hoa kỳ).

Miếng dạ là thứ nhỏ. Bây giờ tôi kể đến thứ to hơn một chút. Cách đây vài năm tôi mua một cái đàn đại dương cầm (grand piano) ghép kỹ thuật số gọi là GranTouch cuả hãng Yamaha, giá ngót nghét 6,000 USD (kể cả ghế ngồi). Sau khi đàn được vận chuyển đến nhà, tôi chơi vài hôm và phát hiện ra một trục trặc nhỏ là khi chơi một hợp âm nhiều nốt, độ vang của một hai nốt thỉnh thoảng bị cắt sớm hơn các nốt khác. Tôi gọi điện phàn nàn với cửa hàng. Sau vài hôm, hãng Yamaha cử chuyên gia tới nhà tôi dùng máy để kiểm tra, vì hiện tượng này rất khó phát hiện, và không phải lúc nào cũng xảy ra. Sau khi xác nhận là có trục trặc thật, họ vận chuyển một cái đàn khác, cũng mới tinh đến, để cạnh cái đàn kia để tôi chơi cả hai để so sánh. Sau một hồi đắn đo, tôi đã chọn cái đàn họ mới mang đến. Họ lại vui vẻ đem cái đàn kia đi. Mỗi lần vận chuyển như vậy xe cần trục phải trục cả cái đàn to tướng lơ lửng qua bao-lơn nhà (balcony). Một tốp gồm ba người đàn ông lực lưỡng, và một chuyên gia kỹ thuật cùng làm việc. Tôi không phải trả thêm bất cứ một yen nào. Thấy họ lao động vất vả, tôi mời họ uống nước giải khát. Họ lễ phép từ chối với lý do là họ đang làm công vụ.

Vợ tôi luôn cảm kích mỗi khi nhớ lại lần phải nằm bệnh viện nhà nuớc (công) ở Nhật. Tất cả mọi người – từ bác sỹ, y tá, hộ lý, đến nhân viên phục vụ, quét dọn – đều rất lịch sự, dịu dàng, quan tâm chăm sóc như thể cả bệnh viện chỉ có mỗi một mình vợ tôi là bệnh nhân vậy, khiến vợ tôi nói: “Mình thật sự cảm thấy mình là một con người với ý nghĩa đầy đủ của nó.” Máy móc ở bệnh viện đều rất tối tân. Phần lớn các bác sỹ nói được tiếng Anh. Một số bác sỹ trẻ nói tiếng Anh giỏi. Mấy người bạn Việt Nam khác ở đây, từng vào bệnh viện Nhật, cũng đồng ý với chúng tôi như vậy. Đến khi vợ tôi kể chuyện này với một người bạn Nhật, bà này chẳng tỏ vẻ gì là ngạc nhiên cả. Bà ta cho điều đó là tất nhiên. Bà ta bảo: “Người bệnh là người ốm yếu, đầy lo lắng ưu tư, nên bác sỹ, y tá phải có nhiệm vụ làm dịu đi sự băn khoăn đó”. Nghe nói bệnh viện tư nhân phục vụ còn tốt hơn thế.
Chuyện phục vụ tốt trên mặt đất ở Nhật kể không hết. Phục vụ trên trời cũng “siêu” không kém. Ai đã bay Japan Air Lines (JAL) có thể dễ dàng nhận thấy điều đó. Các cô chiêu đãi viên của Nhật bao giờ cũng hết sức nhã nhặn, lịch sự, nói như rót mật vào tai. Có lần tôi đang ngồi trên một chuyến bay của JAL từ Tokyo sang châu Âu, thì một con muỗi từ đâu đó xuất hiện vo ve trước mặt tôi. Tôi đành vỗ hai bàn tay đập chết con muỗi. Ngay lúc đó một cô chiêu đãi viên xinh đẹp tình cờ đi ngang qua nhìn thấy. Cô ta lập tức cúi xuống, miệng mỉm cười, bàn tay trắng muốt xòe ra để … đỡ lấy cái xác con muỗi đem vứt đi.

4) Không ai xâm phạm quyền tự do biểu hiện

Điều 21 trong Hiến pháp cuả Nhật [2] đảm bảo hoàn toàn không có bất cứ một sự kiểm duyệt nào đối với quyền tự do biểu hiện của mỗi người dân. Vì vậy, ở Nhật không có bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào có quyền bắt bạn cắt xén sáng tạo của bạn, hoặc ngăn cấm bạn triển lãm hoặc in ấn tác phẩm của mình vì những gì bạn viết hoặc vẽ ra trong tác phẩm của bạn. Nếu có tranh chấp liên quan xảy ra, thì cả hai phía: phía muốn kiểm duyệt và phía tác giả hoặc nhà xuất bản đều bình đẳng trước pháp luật, tức là đều có quyền mời luật sư và giải quyết tranh chấp tại tòa án (Như vụ con gái một chính khách kiện một nhà xuất bản đã đăng vụ ly dị của cô ta lên báo gần đây). Tiêu chuẩn duy nhất để một bức tranh được treo tại triển lãm tập thể của một hội mỹ thuật nào đó, tại một địa điểm công cộng nào đó như bảo tàng mỹ thuật, gallery, v.v. là nghệ thuật thuần tuý, và chỉ có nghệ thuật mà thôi. Tranh đẹp thì được treo. Tranh xấu (hoặc không đẹp bằng) thì bị loại. Tất nhiên đẹp hay xấu còn tuỳ thuộc vào thẩm mỹ của hội đồng nghệ thuật. Vì thế để giảm tối thiểu sự thiên vị của một vài “ủy viên hội đồng nghệ thuật”, các hội mỹ thuật ở Nhật thường mời tất cả các hội viên (vài trăm người) cùng họp để chọn tranh, bằng cách dơ tay biểu quyết. Tranh nào được nhiều hội viên chọn thì được treo.

5) Hệ thống văn hoá giáo dục và các viện nghiên cứu:

Nhật bản là nước có tỷ lệ người biết đọc biết viết cao nhất thế giới, tới 99% dân số. Người Nhật kể cả tầng lớp lao động ít học cũng hành xử rất có văn hóa. Mọi người nói năng rất lịch sự. Không thấy ai nói tục chửi bậy ở nơi công cộng. Trên các phương tiện giao thông công cộng, ngoài phố, rất khó phân biệt người giàu người nghèo, vì ai nấy đều ăn mặc đẹp đẽ, lịch sự như nhau, tuy là không ai giống ai. Những người làm cho các công ty thường mặc “com-lê” đeo “cà-vạt”. Giới trẻ ăn mặc hiện đại, lố lăng hơn, nhưng không hề có ai dám tỏ ý phê bình, chê bai, chứ chưa nói là cấm đoán, dù là với bất cứ lý do gì kể cả “thuần phong mỹ tục”. Ai cũng hiểu đó là quyền tự do cá nhân được hiến pháp tôn trọng tuyệt đối. Một số ít trường không cho phép học sinh trung học nhuộm tóc. Nhiều trường khác không hề ngăn cấm.  Có lần một thày giáo bị bố mẹ một học sinh kiện vì đã bắt con của họ gội sạch mái tóc nhuộm, vì như vậy là vi phạm tự do thân thể của học sinh. Trừ một số người “vô gia cư” (homeless) sống thường trực tại công viên Ueno ở trung tâm Tokyo, ngoài phố hầu như không gặp người rách rưới hoặc người ăn xin. Trong quan hệ giao tiếp, người Nhật thường rất nhún nhường, ít khi nói về mình, về gia đình con cái mình. Đặc biệt họ không bao giờ khoe khoang, nhất là khoe giàu, khoe giỏi hơn người khác, vì họ tránh hết sức lòng ghen tị [3]. Họ đánh giá cao tình hữu nghị lâu dài. Sau khi họ đã tin tưởng bạn, họ giúp đỡ bạn vô điều kiện.
Nói chung học sinh Nhật rất tôn trọng thầy cô giáo và các học sinh lớp trên. Hệ thống tiểu học của Nhật khá nhẹ nhàng, học như chơi. Lên trung học thì bắt đầu căng hơn vì phải học để thi vào các trường cao học (cấp 3) tốt thì mới có cơ may thi được vào các trường đại học tốt. Tốt nghiệp các trường đại học danh tiếng (như ĐHTH Tokyo, ĐHTH Waseda, v.v.) thì khả năng tìm được việc làm ở các công ty tốt sẽ lớn hơn. Vì thế học sinh Nhật cũng “học thêm” ở các trung tâm luyện thi bên ngoài. Nhưng những thầy dạy ở các trung tâm “học thêm” đó tuyệt đối không được dạy tại các trường học chính quy. Hoàn toàn không có việc một thầy (cô) giáo sáng dạy chính khóa, chiều lại dạy “thêm” cho chính học sinh lớp mình. Giáo giới được xã hội rất tôn trọng, và được trả lương khá cao, tăng lương định kỳ, và được tiền thưởng hàng năm bằng 5 tháng lương. Lương một giáo viên độc thân 23 – 24 tuổi mới vào nghề là khoảng 3 triệu yen (27 ngàn USD) mỗi năm. Một giáo viên 40 tuổi có một vợ và 2 con hưởng lương khoảng 5.5 triệu yen (50 ngàn USD) mỗi năm, tương đương lương phó giáo sư đại học (không quá 35 tuổi) khoảng 5 triệu yên (45 ngàn USD) mỗi năm [4].

Sách vở, thiết bị phục vụ cho việc học ở Nhật rất đẹp, hiện đại và đầy đủ. Lớp học thường được trang bị các phương tiện nghe nhìn như TV, video, v.v. Đặc biệt các môn ngoại khóa rất đa dạng. Tất cả học sinh từ trung học trở lên đều tham gia hoạt động ngoại khóa tại các câu lạc bộ khác nhau (âm nhạc, hội họa, thể thao: bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, bóng chầy, tennis, badminton, bơi, judo, karate, aikido, kiếm thuật, bắn cung, v.v.). Tất cả đều được trang bị rất chuyên nghiệp và luyện tập hàng ngày (Người Nhật đã làm gì thì thích làm rất “chuyên nghiệp”, ít nhất là về trang bị dụng cụ.).
Khá nhiều trẻ con Nhật được bố mẹ cho học nhạc, tuy không phải tất cả theo được đến cùng. Nhiều gia đình có đàn piano đứng (upright piano), thậm chí đàn grand piano (đại dương cầm). Hãng Yamaha có một mạng lưới dạy âm nhạc trên toàn nước Nhật. Các cô giáo đều tốt nghiệp đại học âm nhạc, tài nghệ cao, trình độ sư phạm rất giỏi, và không bao giờ quát mắng học trò. Một cô giáo piano, khi giảng cho học sinh phải chơi không rung cổ tay, đã để một cục tẩy lên cổ tay mình rồi chạy ngón mà cục tẩy vẫn nằm trên cổ tay cô, không rơi xuống đất (!) Học sinh học piano đến giờ lên lớp bao giờ cũng được chơi đại dương cầm Yamaha. Nhiều người khi vào đại học đã học 10 -12 năm piano, sau đó lại tiếp tục học thêm, tuy không trở thành nhạc sỹ chuyên nghiệp. Vì thế trình độ âm nhạc nghiệp dư của người Nhật khá cao. Các kinh điển của các nhà soạn nhạc cổ điển như Bach, Mozart, Beethoven, Mendelssohn, Chopin, Listz, các nhạc sỹ nghiệp dư này đều chơi như “cháo” cả. Ở Tokyo có nhiều phòng hoà nhạc cho các nhạc sỹ nghiệp dư biểu diễn không mất tiền, hoặc phải trả rất ít tiền, nhưng nhạc cụ bao giờ cũng là hạng đầu bảng như Steinway hoặc Yamaha concert grand piano. Tất nhiên, không phải xin phép bất cứ một cơ quan văn hoá nào để trình diễn ca nhạc. Mọi việc đều do ca sĩ, nhạc công và chủ phòng hòa nhạc quyết định.

Các viện nghiên cứu quốc gia lớn của Nhật thường giầu có hơn các trường đại học. Ví dụ là viện RIKEN đã nói ở trên. Đây là một viện nghiên cứu hàng đầu trên thế giới. Viện này có khoảng 5,500 người làm việc, trong đó chỉ có khoảng 700 nhân viên hành chính phục vụ các nhà nghiên cứu. Viện có 5 cơ sở đóng tại Wako (ngoại ô Tokyo), Tsukuba, Harima, Yokohama, và Kobe. Kinh phí nghiên cứu của viện hàng năm, chủ yếu do Nhà nước cấp, vào khoảng 80 – 85 tỷ yên (ngót ngét 800 triệu USD), tức là trung bình chi phí cho mỗi đầu người làm việc tại RIKEN là khoảng 150 ngàn USD mỗi năm [5].

Khối cán bộ hành chính của RIKEN làm việc đúng như “các đầy tớ của các nhà khoa học”. Ở đây không hề có chuyện phòng “Tổ chức cán bộ” hay vụ “Hợp tác quốc tế” “tác oai” các cán bộ nghiên cứu. Các nữ thư ký đều hiểu rất rõ vị trí và chức năng của mình. Một số người trong số họ cũng đã từng tu nghiệp ở Anh, Hoa Kỳ, nói tiếng Anh như người Anh người Mỹ. Họ luôn luôn niềm nở, rất lịch sự, khiêm tốn, và rất thành thạo trong công việc của mình. Mỗi lần tôi đi công tác nước ngoài (dự hội nghị quốc tế, hợp tác nghiên cứu), bất kể đó là Hoa kỳ, châu Âu, Trung quốc, hay Việt Nam v.v., tôi chỉ phải làm hai động tác. Đầu tiên là thông báo cho giám đốc của laboratory của tôi. Sau khi giám đốc đồng ý (thường là bằng miệng), tôi phải điền vào một trang A4 in sẵn hành trình, thời gian công tác của tôi, kèm theo một dự báo giá vé máy bay của hãng du lịch. Tất cả mọi việc còn lại là công việc của cô thư ký và bộ phận tài chính của viện. Họ sẽ tính tiền công tác phí chi cho tôi (gồm chi phí ăn, ở, đi lại) cộng với tiền vé máy bay. Sau đó toàn bộ số tiền đó sẽ được viện tự động chuyển tới tài khoản cá nhân của tôi tại ngân hàng, trước khi tôi đi công tác. Sau khi đi công tác về, nếu có những khoản chi tiêu khác liên quan tới công việc, viện sẽ thanh toán nốt theo biên lai. Trong 9 năm trời làm việc ở RIKEN tôi chưa bao giờ thấy họ chậm trễ trong việc chi trả đó. RIKEN quan niệm rằng việc một cán bộ khoa học của RIKEN được mời dự hội nghị quốc tế, hoặc hợp tác quốc tế, là một cơ hội để phát triển khoa học nói chung, đồng thời đem lại lợi ích, danh giá cho RIKEN nói riêng trong cộng đồng quốc tế. Quà cáp biếu xén sau khi đi công tác về là điều “bất ngờ”, không chờ đợi, và không phải thông lệ ở đây, ngoại trừ đó là ý thích của cá nhân người đi công tác. Và cũng không phải vì thế mà người đó được đối xử tốt hơn hoặc tồi hơn so với người khác.

Một xã hội cho dù có văn minh đến đâu cũng có cả mặt tốt lẫn mặt xấu. Bài này chỉ liệt kê một số mặt tốt của xã hội Nhật bản.
Một anh bạn Việt Nam mới sang Nhật cùng vợ và con trai học lớp 1. Tôi hỏi cháu: “Cháu thấy trường Nhật khác với trường Việt Nam thế nào?” Cháu trả lời: “Ở trường Nhật cháu cảm thấy được nói năng tự do thoải mái.” Tôi nhớ lại câu chuyện không lấy gì làm vui của chính con trai mình. Cháu nói với tôi là cháu đã nói dối lần đầu tiên khi cháu học lớp 1 ở Hà Nội. Hôm đó cô giáo quát: “Ai quên mang lọ mực để tay lên bàn”. Các bạn để tay lên bàn đều lãnh một vụt thước kẻ của cô vào tay rất đau. Con tôi cũng quên mực, nhưng không muốn ăn vụt, nên cháu đã nói dối: “Thưa cô, sáng nay lúc em chuẩn bị lọ mực đi học, mẹ em đã đánh đổ mất!”. Cháu được cô tha. Dạy dỗ dựa trên sự sợ hãi không cảm hóa được con người mà chỉ làm con người trở nên dối trá, thủ đoạn.

Không thể xây dựng một xã hội tự do, văn minh, hạnh phúc dựa trên sự sợ hãi của người dân. Có lẽ người Nhật hiểu rất rõ điều đó khi xây dựng xã hội của họ.

Nguyễn an Hùng
Tokyo, 12 tháng 8 năm 2004

http://baomai.blogspot.com.au/2013/01/cuoc-song-o-nhat-ban.html