Nghĩa vụ luận KTS

 

Kiến-trúc-sư đòan Quốc-gia

Văn-phòng liên lạc: 156 Võ tánh Saigon. Đt: 21.787

Nghĩa-Vụ Luận (Được Thủ-tướng Chính-phủ duyệt-y để đính theo sắc-lệnh số 026-SL/CC ngày 27-2-1970)

VNCH

Phủ Thủ-tướng

Số: 026-SL/CC

Thủ-tướng chánh-phủ

 Chiếu hiến pháp VNCH ngày 1-4-1967;

Chiếu sắc lệnh số 394-TT/SL  ngày 1-9-1969 ấn định thành phần Chính-phủ;

Chiếu sắc luật số 13/65 ngày 1-9-1965 ấn-định thể-lệ hành nghề KTS tại VN và thành-lập KTS đòan Quốc-gia;

Chiếu đề-nghị của Hội-đồng KTS Đòan Quốc-gia;

Chiếu đề-nghị của Tổng-trưởng Công-chánh.

 Sắc-lệnh:

         Điều 1: Nay ban-bố để thi-hành tại VN:

NGHĨA-VỤ LUẬN NGHỀ KTS

Phụ-đính theo sắc-lệnh này.

Điều 2: Những điều-khỏan của Nghĩa-vụ luận nghề KTS áp dụng cho các KTS ghi tên trong danh-biểu KTS Đòan Quốc-gia.

Điều 3: Những vi-phạm trong các điều-khỏan trong Nghĩa-vụ luận này thuộc quyền tài-phán, kỷ-luật của Hội-đồng Đòan KTS.

Điều 4:  Tổng-trưởng Công-chánh, Tổng-trưởng Tư-pháp và Bộ-trưởng Phủ Thủ-tướng chiếu nhiệm-vụ, thi-hành Sắc-lệnh này.

Sắc-lệnh này sẽ được đăng vào Công-báo VNCH.

Saigon ngày 27-2-1970

Ký tên: Trần-Thiện-Khiêm.

 

Phụ Bổn:

Đổng-lý văn-phòng

Ký tên: Trương-Thới-Lai

Kiến-trúc-sư đòan Quốc-gia

NGHĨA-VỤ LUẬN

 Điều 1: Những điều-khỏan của Nghĩa-vụ luận nghề KTS áp dụng cho các KTS ghi tên trong danh-biểu KTS Đòan.

Chương 1:

Trách-vụ của Kiến-Trúc-Sư KTSĐ

Đối với bản-thân và đồng-nghiệp.

Điều 2: KTS sáng-tác những công-trình chỉnh-trang kiến-trúc, phối-trí, ấn-định hình thể các phòng-ốc, trang-hòang trong và ngòai, và –tùy trường-hợp – chỉ-huy việc thực-hiện và kiểm-sóat chi-tiêu.

KTS vừa là nghệ-sỹ, vừa là kỹ-thuật-gia, có nhiệm-vụ nghiên-cứu và sáng-tạo mọi công-trình – tùy trường-hợp – điều-khiển sự thực-hiện, kiểm-sóat về kỹ-thuật với sự cộng-tác của các kỹ-thuật-gia khác nếu cần và thanh-tóan chi-tiêu liên-hệ.

Điều 3: KTS hành-nghề tự-do không có tính-cách thương-mại. Nghề KTS bất khả kiêm-nhiệm với nghề thầu-khóan xây-cất nhà , kỹ-nghệ-gia hay nhà cung-cấp các lọai vật-liệu và dụng-cụ trong nghành kiến-trúc.

KTS chỉ lãnh thù-lao về công-việc thi-hành sứ-mạng của nghề mình như là thiết-lập đồ-án, điều-hành công-trường, ngòai ra, không lãnh tiền ở bất cứ nguồn-lợi liên-quan nào khác.

Điều 4: Nếu có bằng sáng-chế một sản-phẩm trong kỹ-nghệ kiến-trúc , KTS cũng không được tự mình khai-thác mà phải bán lại bản-quyền.

Điều 5: KTS không phải là thương-gia, là kinh-doanh nên không được họat-động môi-giới để lãnh tiền hoa-hồng hoặc chia lời trong nghành kiến-ốc.

KTS không làm quảng-cáo trên báo, bích-chương, biển-hàng hay mọi phương-tiện dùng trong thương-mại.

Điều 6: KTS không được tranh khách-hàng bằng những phương-tiện bất-chánh:

  • Nhân-nhượng về tiền-bạc.
  • Nhân-nhượng về nghệ-thuật và kỹ thuật.

KTS không được tìm việc bằng cách dành cho người giới-thiệu, quản-lý, người chạy việc tiền hoa-hồng hay lợi-lộc khác, – nói tóm lại, là phải tránh mọi hành-vi ám muội thiệt-thòi cho thân-chủ, hiện tại hay tương-lai.

Điều 7: Đối với đồng-nghiệp, KTS phải tôn-trọng bản quyền sáng-tác của đồng-nghiệp. KTS không được dành vị thế hay khách-hàng của đồng-nghiệp. Nếu một đồng-nghiệp mệnh-một, tự ý nghỉ việc hay bị giải-nghệ, KTS thay thế có bổn-phận gìn-giữ quyền-lợi và danh-dự của bạn, nếu sự gìn-giữ này không làm thiệt cho thân-chủ.

Điều 8: KTS phải dành ưu-tiên cho bạn đồng nghiệp về những cuộc hội-kiến. Khi nhóm họp về nghề-nghiệp thì nơi họp của KTS sẽ là Văn-phòng Đòan hoặc Văn-phòng của vị Niên-trưởng.

Điều 9: KTS có bổn-phận chỉ-dẩn cho các cộng-sự-viên về mỹ-thuật cũng như về kỹ-thuật giúp họ thấu-triệt những kinh-nghiệm trong nghề, đối-đãi thân-hữu với họ.

Điều 10: KTS chỉ nhận một số lượng công-tác hợp với khả-năng đảm-trách của văn-phòng mình.

Điều 11: KTS không được lợi-dụng chức-nghiệp và chữ-ký của mình để trực-tiếp hay gián-tiếp dung-dưỡng những hình thức hành nghề KTS bất-hợp-pháp của những người hay tổ-chức không đủ điều-kiện hành nghề.

Chương 2:

Trách-vụ của Kiến-Trúc-Sư KTSĐ

Đối với thân-chủ.

 Điều 12: KTS dành cho thân-chủ mình:

1- Tất cả khả-năng sáng-tác và kinh-nghiệm trong việc nghiên-cứu đồ-án, điều-khiển và kiểm-sóat công-trường.

2- Ý-kiến và khuyến-cáo với tất cả sự tận-tâm trong việc bảo-vệ quyền-lợi thân-chủ.

Tuy nhiên, dù có sự yêu-cầu của thân-chủ, KTS phải từ chối những việc có tính-cách xâm-phạm quyền-lợi của đệ-tam nhân hoặccó thể gây ra tai-nạn. Trong trường-hợp này, KTS phải cho thân chủ biết lý-do khước-từ của mình.

Điều 13:  KTS phải báo cho thân-chủ biết khi có sự tăng thêm chi-phí cho những đòi-hỏi thay đổi công-tác đã dự-trù.

Điều 14: KTS chỉ được lãnh tiền thù-lao và công-việc của thân-chủ giao cho mình. Như vậy KTS không được nhận thêm một số tiền bất cứ dưới hình-thức nào của nhà thầu, nhà cung-cấp vật-liệu, của đệ-tam nhân bán hay mua bất-động-sản đã ký-kết hay có thể ký-kết với thân-chủ. Khi bất-động-sản do KTS kiến-tạo đã chuyển-nhượng cho đệ-tam nhân, KTS cũng chỉ  lãnh tiền thù-lao còn thiếu ở thân-chủ mình rồi người này tùy-nghi bắt đệ-tam nhân hòan lại.

Điều 15: KTS giao cho thân-chủ mình các họa-đồ, điều-kiện sách, khế-ước dùng để đấu thầu và những công-tác đơn, hóa-đơn, chiết-tính của nhà thầu sau khi kiểm-sóat.

Điều 16: Về những công tác mới và những công-tác sửa-chữa đại quy-mô, KTS được nhận lãnh thù-lao từng phân-kỳ theo tỷ lệ với số chi-phí tương-ứng với công-tác.

Điều 17: Về những công-tác tu-bổ quản-lý, họat-vụ …v..v… KTS xuất-trình theo định-kỳ, một thanh đơn ghi số tiền thù-lao về mọi khỏan và lãnh ở thân-chủ số tiền thù-lao tương-xứng.

Điều 18: KTS phải khước-từ nếu được chỉ-định là Giám-định-viên trong một việc có liên-hệ đến thân-chủ mình. Khi được thân-chủ chỉ-định làm Giám-định-viên trong những vụ liên-quan đến bảo-hiểm, trước-bạ, …v…v… thì KTS lúc đó không phải là đại-diện ủy-quyền của thân-chủ mình, mà chỉ là Giám-định-viên thuần-túy thôi.

Khi được cử làm trọng-tài, cũng phải cư-xử như vậy.

Chương 3:

Trách-vụ của Kiến-Trúc-Sư KTSĐ

Đối với nhà thầu, nhà cung-cấp vật-liệu.

Điều 19: KTS dùng uy danh của mình để:

  • Điều hòa công trường.
  • Gây tình tương-thân, tương-trợ giữa những người có trách-vụ trong công-tác và bảo-vệ danh-dự cho họ.
  • Tìm phương-cách thuận-lợi cho việc thực-hiện công-tác.

Điều 20: KTS không được nhận dưới bất-cứ hình-thức nào, tiền-bạc hay đồ-vật của nhà thầu hay nhà cung-cấp vật-liệu.

Điều 21: KTS cũng khước-từ không được ghi vào điều-kiện sách hay khế-ước với nhà thầu, một điều-khỏan nào ràng-buộc họ phải chi-tiêu về tiền bồi-hòan phụ-phí chung hay riêng biệt, ngọai trừ tiền in thêm các bản-đồ, điều-kiện sách hay văn-kiện khác, nhưng việc này phải cho thân-chủ tri-tường trước và ký-nhận.

Điều 22:  KTS kiểm-ký nhà thầu những bản chiết-tính công-tác theo điều-kiện của khế-ước, nếu không có khế-ước thì tùy theo tiến-triển công-tác.

Trong việc thanh-tóan, KTS cho nhà thầu tường các chiết-tính đã kiểm-sóat và cùng nhà thầu giải-quyết những thắc-mắc-khiếu-nại , nếu có. KTS tiếp-nhận công tác và ký tên những biên-bản tiếp-nhận.

Điều 23: Khi KTS có thân-chủ là nhà thầu, hay có một Công-ty thầu không lãnh nhiệm-vụ làm trung-gian cho đệ-tam nhân , thì lúc đó KTS chỉ được lãnh riêng tiền thù-lao KTS mà thôi, mà không cần biết và chịu sự may rủi về tiền lỗ hay lãi của nhà thầu.

Điều 24: KTS khi đi thầu hay giúp việc nhà thầu với tư-cách nhân-viên, cán-sự, trắc-lượng hay kiểm-sóat viên, sẽ mất tư-cách KTS.

Chương 4:

Bảo-hiểm trách-nhiệm nghề-nghiệp.

Điều 25: Đối với những công-tác cần tới sự bảo-đảm mọi rủi-ro vì trách-nhiệm nghề-nghiệp mình, KTS sẽ ký một khế-ước bảo-hiểm mà thể-thức và các điều-kiện sẽ được một Hội-đồng mà thành-phần gồm có ông Trưởng Cơ-quan Kiến-thiết Trung-ương, Hội-đồng Đòan KTS và Hội-đồng các công-ty Bảo-hiểm ấn-định.

Làm tại Saigon ngày 23-1-1968.

Hội-đồng Đòan KTS Quốc-gia.

Chủ-tịch: Vũ-Tòng.

Tổng Thư-ký: Tôn-Thất-Cảnh.

DUYỆT-Y

Để đính theo sắc-lệnh số 026-SL/CC Ngày 27-2-1970

Saigon ngày 27-2-1970

Thủ-tướng Chánh-phủ

Ký tên: Trần-Thiện-Khiêm.

Phụ Bổn:

Đổng-lý văn-phòng

Ký tên: Trương-Thới-Lai

 

Advertisements

6.1 Khách hàng chọn KTS

6.1 Khách hàng chọn KTS

(Bài của Pat Rosenzweig)

 Giá trị của chủ đầu tư được thể hiện trên các tiêu chí của họ khi chọn công ty kiến trúc.

Khách hàng tương lai dù là cá nhân hay tổ chức, chọn KTS theo nhiều cách nhưng thường được nhóm theo bốn cơ sở thông dụng: giá, năng lực, giá trị và thuê trực tiếp. Thường các chỉ tiêu được pha trộn dựa trên bốn cơ sở trên nhưng ưu tiên trên một trong bốn cơ sở. Thường các nhân hay tổ chức tìm dịch vụ kiến trúc không nói trước chỉ tiêu đầu tiên mà họ chọn. Ngay cả khi khách hàng chia sẻ chỉ tiêu chọn lựa của họ thì cũng cần cân nhắc phán xét.

Khó cho người KTS là chỉ tiêu nào được chọn. Khách hàng quen cách làm việc ra sao ? Điều họ quan tâm đến dự án là gì ? Nhiều lúc, khi đã xong dự án và danh sách short list được đưa ra hay đã chọn xong, lý do cho việc chọn lựa là “tác động phức tạp giữa tâm lý và cảm tính phức tạp giựa hai bên (chemistry)”. Nhiều KTS diễn giải việc này vói ý xấu, nghĩ rằng nhờ cách trình bày dự thi hay do nhân viên bán hàng (salesmanship) mà thành công. Tuy nhiên trên thực tế công việc thành công nhờ sự khéo léo của nhóm thiết kế hiểu ý khách. Khi khách trở thành khách hàng, công ty có thể duy trì quan hệ bằng cách nhận thấy rằng nó luôn là rủi ro trừ phi công ty duy trì giá trị và trong đó sự lựa chọn được thực hiện qua suốt dự án.

Đánh giá việc chọn chỉ tiêu không phải luôn dễ dàng. Nhìn vào một RFP, người KTS có thể nghĩ rằng “đây là công trình văn phòng và đây là dự án QBS (qualification based selection). Chúng ta sẽ cho chủ đầu tư một cao ốc văn phòng”. Trong khi kinh nghiệm thiết kế cao ốc văn phòng của nhà nước là một chỉ tiêu mà KTS cần có thì không phải chỉ là một chỉ tiêu không thôi. Có còn các quan tâm về vận hành như khả năng quản lý quy mô dự án hay cần có thêm một nhóm phức hợp ? Chủ đầu tư có quan tâm về giá cả dự án ? Dự án có đi theo cấp độ chứng nhận LEED (năng lượng, môi trường) nào không ? Trong chỉ tiêu chọn về năng lực, câu hỏi là chất lượng cho cái gì ? Cùng lúc, người kTS phải xác định cách nào để đạt yêu cầu kỹ thuật và yêu cầu định dạng (formatting requirement) của thư mời và thể hiện tính phù hợp nămg lực cho khách hàng biết.

Việc thảo luận sao bao gồm các chỉ tiêu chọn lựa của KTS và các cách dề nghị để xác định giải pháp nào để đáp ứng cho khách hàng.

Cơ sở về giá

Giá cả luôn là vấn đề và khách hàng quyết định dựa trên giá mà KTS đưa ra.

Loại khách hàng chọn cơ sở về giá

Khách hàng có chương trình phức tạp, có kinh nghiệp với loại dự án này và các chuẩn thiết kế rõ ràng thường là (nhưng không phải luôn luôn) tiếp tay cho việc chọn lựa trên cơ sở giá cả. Tuy nhiên khách hàng mà KTS quan tâm là có vẻ xem xét đến các yéu tố khác hơn là giá cả. Việc chọn lựa trên cơ sở giá cả thường được dùng cho nhánh công trình phụ như nhà hàng, công trình bán lẻ tổ chức dịch vụ tài chánh, trung tâm dự liệu hay công trình xử lý công nghiệp mà khách hàng hay tổ chức nắm phần cơ khí hóa (mechanization).

Chủ đầu tư ít khi quyết định trên cơ sở giá thuần túy. Nhiều trường hợp, chủ đầu tư nghiên cứu năng lực của nhiều công ty. Danh sách ngán hay quyết định sau cùng sau đó sẽ rút ngắn lại về giá. Tương tư, nếu giá đưa ra giữa hai công ty sát nhau, chỉ tiêu khác – kinh nghiệm – sẽ là quyết định. Dù khách hàng có xem xét năng lực trước khi viết thư đề nghị, việc xem xét kinh nghiệm trước đó của KTS cũng có liên quan đến việc lựa chọn của khách hàng. Việc thiếu kinh nghiệm dự án tương tự về phần của KTS có thể để nghị rằng khách hàng sẽ trả tiền cho KTS học kinh nghiệm.

Xác định nếu giá cả là chỉ tiêu quan trọng nhất

Khách hàng không phải luôn nói ra quyết định làm cơ sở cho giá rẻ nhất. Do đó, người KTS phải tìm cách phán đoán sức mạnhh giá cả trong quyết định của khách hàng.

Có các câu hỏi trong RFP liên quan đến chi phí và kiểm soát chi phí, như liệt kê các thay đổi yêu cầu đặt hàng và các chi phí trong ngân sách và chi phí xây dựng sau cùng ? Một số câu hỏi như vậy cho thấy rằng khách hàng từng trong quá khứ vượt ngoài danh sách và lịch trình. Mặt khác, những khách hàng như vậy có thể từng không đánh giá hiệu quả các để xuất dự án sớm và không biết cách quản lý KTS và muốn bảo đảm rằng mình không lặp lại lỗi lần nữa. Họ hỏi các câu hỏi trong RFP và hỏi nhằm tìm ra một KTS tốt hơn.

Một RFP cho một dự án dù là tư nhân hay nhà nước có thể bao gồm thông tin trên một tình trạng dự án cũng như sự hiện hữu của một mặt bằng sàn đã khai triển, MB khu đất, hay mặt đứng và các chi tiết khác của chương trình. Nếu dự án là một phần của một chuỗi công trình tương tự, người KTS nên hỏi về sự hiện dựu và phạm vi của một dự án kiểu mẫu (prototype) hay các chuẩn thiết kế.

Đôi khi các câu hỏi về giá cả và lịch trình cuất hiện trong RFP tường như là ngoài lề. Việc này có thể xảy ra khi một tổ chức mượn bảng RFP từ người khác và không đáp ứng hoàn toàn nhu cầu của chủ đâu tư. Không có gì có thể giải quyết tranh chấp hay cãi vã trong ngôn ngữ của một RFP tốt hơn việc tiếp xúc trực tiếp với chủ đầu tư.

Nhiều chủ đầu tư không muón nói chuyện với KTS về cuộc thi thiết kế và tin rằng họ không có ràng buộc gì với KTS ngoài việc cung cấp tiêu chuẩn và đặc tính tính năng của công trình. Tương tự, một khách hàng có thể không nhận thấy rằng biết ai có thể giúp KS hiểu những gì khách hàng cần và cung cấp đủ thông tin trả lời cho RFP. Khác hah2ng luôn nghĩ “cuối cùg, các anh cũng làm giống nhau”. Cũng như một số chủ đầu tư tin rằng nếu nói chuyện với KTS thì có thể bị KTS chơi xấu qua mặt. Có ít khác biệt giữa những thái độ này. Chủ đầu tư biểu hiện giá cả và tiện nghi để chọn lựa thì người KTS đưa ra sự ngây ngô hay có lẽ là sự tôn trọng của người KTS góp phần giúp dự án thành công.

Mục tiêu đối thoại với khách hàng là biết càng nhiều càng tốt về dự án của chủ đầu tư, cách quản lý dự án và ai trong họ quyết định công việc. Đối với các dự án dự trên cơ sở giá cả, quan trọng là biết mọi thứ để KTS ra giá phù hợp.

Tiếp xúc với các bộ phận chuyên nghành mà chù đầu tư làm việc như các kỹ sư và nhà thầu có thể nắ được chủ đầu tư làm việc ra sao. Việc này cho phép người KTS ra giá phù hợp theo cách làm việc và dự kiến của chủ đầu tư.

Cách phản hồi chủ đầu tư dựa trên cơ sở giá cả

Người KTS đầu tiên điền vào bảng RFP. Trả lời các câu hỏi kỹ lưỡng. Cố hiểu quan điểm khách hàng. Chẳng hạn chọn các dự án với các tham chiếu nổi bật mà ngân sách và lịch trình phù hợp. Nhớ các câu hỏi khó thông báo việc quản lý giá cả khó khăn. Có vài hướng dẫn sau:

  • Cung cấp thông tin liên quan đến ngân sách ngay cả khi không có yêu cầu.
  • Trả lời nhưng câu có thể là vấn kề “ket” (chẳng hạn về việc thay đồi yêu cầu).
  • Cung cấp lịch trình chi tiết theo thông tin cho phép. Phí trương trực, chi phí xây dựng, lịch trình được liên kết chặt chẽ trong hệ thống giá trị của khách hàng. Nếu không đủ thông tin để cho lịch trình chi tiết, hãy cung cấp phương án lựa chọn và giải trình kỹ từng giả thiết đưa ra.
  • Chỉ cung cấp chi phí rõ ràng cho những phạm vi công việc theo yêu cầu. Nếu công ty tin tưởng sẽ có các dịch vụ bồ sung thêm hay các công việc quan trọng khách theo yêu cầu dự án thì nên trình bày riêng. Chẳng hạn, nếu người KTS nghĩ rằng dự án sẽ không hoàn thành theo RFP thể hiện, thì trong giải pháp phụ, người KTS đề nghị lý do để lập chương trình chặt chẽ hơn dữa trên các thông tin khác với thông tin chủ đầu tư đưa ra (thí dụ: lập thêm ban bệ hay tuyển thêm người).
  • Đối với nghiên cứu quy hoạch, nên xác định ý khách hàng sữ dụng bản vẽ. Tức là lập ngân sách thô hay thử nghiệm khả năng khu đất trước khi thực hiện một phương án ? Trong những trường hợp này, chi có chi phí khiêm tốn phù hợp để đánh giá yêu cầu hệ thống chính là phù hợp. Không nên có ý cung cấp thông tin nhiều hơn khách hàng cần. Tuy nhiên, nếu khách hàng cần trình đầ xuất cho cơ quan quản lý, bộ phân phân tích thì có thể cần thêm thông tin nhằm các cơ quan này đánh giá giá trị chi phí. Các nghiên cứu này đòi hỏi chi phí cao hơn là bản vẽ tổng thể (master plan) truyền thống thể hiện yêu cầu xây dựng sau này.
  • Đừng yêu cầu khéo để lập bảng giờ công và các kinh nghiệm liên quan của nhân sự. Các thông tin này chưa cần thiết. Các yêu cầu cho phép đánh giá giá cả có khả thi hay không (thí dụ: giờ công phù hợp không) để họ có thể có đủ thời gian với mức nhân sự phù hợp, để có thể biết phạm vi công việc và lịch trình có ước tính đúng chưa và cuối cùng là giá phù hợp hay không cũng như nhóm thiết kế có cùng kinh nghiệm như công ty hay không.
  • Nên có cùng nhận thức về chi phí vào trong cuộc phỏng vấn. Mang lịch trình theo. Xem lịch trình trình bày tốt chưa và cần thiết để thào luận hay không. Nếu nó là một phần của bảng trình bày, nên nhấn mạnh các giai đoạn quan trọng cũng như cảitiến để bảo đảm tiến độ và có thể giảm chi phí. Nên đánh dấu nhấn mạnh các biện pháp tiết kiệm chi phí trong thiết kế hay trong các dự án trước đó của công ty mà dùng miệng lưỡi để đưa ra giá cả. Khi RFP yêu cầu trình dữ liệu thê hiện giờ công làm việc của nhân viên theo dự án, biết rằng các thông tin bên trong bị đưa ra ngoài. Đối với các tập đoàn lớn, việc thảo luận thông tin này sẽ là vấn đề duy nhất trong cuộc phỏng vấn.

 

Những gì cần hỏi khách hàng

  • Ai là người trong ủy ban lựa chọn ? Ai là chủ tịch ủy ban lựa chọn ? Mổi người có mối quan tâm đặc biệt gì ?
  • Người mà công ty sẽ làm việc trên cơ sở từng ngày ?
  • Có thể cho chúng tôi biết một ít thông tin về người/nhóm/ủy ban có quyền quyết định ?
  • Có thể mô tả chương trình ? Chương trình theo từng phòng hay theo từng bộ phận ? Bao nhiêu người sẽ sử dụng công trình ? Việc đánh giá trên cơ sở nào ?
  • Đã xác định khu đất ? Ở đâu ? Nếu chư có khu đất, bao nhiêu kiểm soát trên vị trí đó ?
  • Mối lo lắng về dự án ?
  • Ông có lo lắng khi lựa chọn của ủy ban khác với ông ?
  • Vì sao ông làm dự án này vào lúc này ?

 

Việc lựa chọn trên cơ sở năng lực

Kinh nghiệm hay nang lực là điểm khởi đầu cho các loại chọn lựa, ngay cà trong việc chọn lựa trên cơ sở giá cả/ Ngược lại thì cuối cùng thì giá cả đóng vai trò trong việc chọn KTS trong hầu hết các dự án. Khách hàng dùng phương pháp đánh giá năng lực (QBS – qualifications-bases selection) để chọn KTS đầu tiên hết trên cơ sở những dự án tương tự mà KTS từng làm trước đó nhằm rõ ràng và cạnh tranh về giá cả trong việc thương thảo cũng như theo yêu cầu dự án.

Yêu cầu năng lực

Các dự án nhà nước cũng như tư nhân đường có yêu cầu về lựa chọn năng lực. Họ thường theo lịch trình ghi rõ các mức giá theo quy mô và độ phức tạp của công trình. Do đó, khi công ty được chọn, việc thương lượng giá cả tập trung vào phạm vi dự án hơn là năng lực của nhóm thiết kế.

Các cơ quan nhà nước sử dụng cơ sở chọn năng lực như là quy trình chính thức mà công ty phải tuân theo. Các quy trình được chọn gồm các điểm năng lực tuy thay đổi nhưng vẫn dựa trên các phạm vi dự án và vị thế của của dự án trong cộng đồng.

Các thay đổi của quy trình cơ sở lựa chọn năng lực (QBS) là “task order agreement” mà các trường đài học, cơ quan nhà nước và các tập đoàn hay dùng. Các công ty cạnh tranh để nằm trong danh sách các nhà chuyên môn được xem là có năng lực để thực hiện dự án thao tính chất và phạm vi dự án đưa ra. Để được xem xét cho một dự án đặc biệt, các KTS có năng lực có thể được yêu cầu đưa ra giá cạnh tranh. Trường hợp này, công ty thiết kế trình bảng liêt kê chi phí theo diện tích cho các chức năng và quy mô dự án khác nhau dù là cài tạo hay xây mới. Nếu chủ đầu tư yêu cầu thông tin này, các trình bày dự thi (competition) sau đó có thể sẽ không cần thiết nữa. Nếu thông tin đươc cung cấp từ đầu tại công ty, có thể cho phép thuê trực tiếp mà không cần có trình bày dự thi.

QBS tự nguyện

Chủ đầu tư dùng QBS thường tin rằng KTS của mình hiểu chương trình, vật liệu và nguồn cho các công trình đặc biệt hay loại công nghiệp của họ. Việc lựa chọn theo cách này có thể thể hiện sự đánh giá của chủ đầu tư đối với một quan hệ đã thiết lập với KTS hay sự quan tâm sâu rộng vào những gì mà chủ đầu tư đang làm. QBS đôi khi được dùng cho các dự án còn mơ hồ trong phân khúc thị trường.

Nhận dạng năng lực mà chủ đầu tư cần.

Ý kiến khách hàng về “kinh nghiệm có liên quan” và các năng lực phù hợ khác nhau từ từng phần khúc thị trường như nhiều loại kinh nghiệm tổng quátlà mội quan tâm chung của tất cả các khách hàng.

Kinh nghiệm với loại dự án. QBS thường báo cho thấy tầm quan trọng của kinh nghiệm trước đây của công ty. Vài bảng yêu cầu công việc cũng nói rõ chính xác yêu cầu như yêu cầu trình bày các công trình mà công ty từng thực hiện. Cũng có thể yêu cầu dưa ra những công trình tương tự về phạm vi công việc và mức độ phức tạp. Công ty có nhiều kinh nghiệm thường đáp ứng dễ dàng các yêu cầu này.

Các công ty từng có kinh nghiêm dự án cũng có thể gặp rủi ro nếu kinh ngihệm của mình không giống như kinh nghiệm khách hàng. Chẳng hạn, công ty có kinh nghiệm về hồ bơi và trung tâm cấp cứu vẫn chưa có thể có kinh nghiệm về thiết kế hồ bơi trong nhà cho trường đại học hay khu vực cấp cứu với quy mô nào đó. Hay một công ty từng thiết kế có trường K12 có thể chưa có kinh nghiệm thiết kế cho trường K8 hay trường có quy mô nhỏ hơn.

Kinh nghiệm với quy mô và độ phức tạp của công trình: Tầm quan trọng này có thể thế trong bảng yêu cầu công việc. Nếu chủ đầu tu cũng hỏi về giá cả thì không cần thiết đó là dấu hiệu việc lực chọn dựa trên giá cả. Đúng hơn có thể là hình dung ban đầu để loại bỏ nhanh các công ty công ty trong việc lựa chọn. Một khách hàng tinh tế có thể loại bỏ các ứng viên ra giá quá thấp do nhận thấy ứng viên không hiểu mục đích của khách hàng hày chưa nắm độ phức tạp của dự án.

Hiểu nhu cầu khách hàng: Khác hàng có thể muốn biết công ty tiếp cận công việc ra sao. Thường câu hỏi đưa ra nhàm muốn biết công ty sẽ tương tác với các bên thế nào. Khác hàng có thể biết công ty có quan tâm đến các cuộc họp theo yêu cầu, có thể tuân thủ lịch trình hay hiểu bản chất của tổ chức của chủ đầu tư và quy trình quyết định-thi hành hay không. Chủ đầu tư cũng có ý quan tâm ai trong công ty kiến trúc sẽ lãnh đạo các giai đoạn dự án. Thật sự đúng với các dự án lớn khi có nhiều các công ty tham ga như các dự án về y tế hay giáo dục cao.

Nghiên cứu giá trị của khách hàng

Những người khác mà khách hàng tương lai làm việc biết giá trị của khách hàng. Họ biết có bao nhiêu bên nằm trong trong dự án, tầm quan trọng của bộ phận tiếp thị, tuyển người, giữ người của chủ đầu tư; chủ đầu tư quyết định ra sao và ai trong đó, cũng như chủ đầu tư đối diện rủi ro ra sao.

Các web site của khách hàng cũng có thể cung cấp tính các của các công ty nhưng các thông tin quan trọng phải lấy từ nguồn khác, đặc biệt qua tiếp xúx khách hàng trực tiếp.

 

Dự thi thiết kế:

Thường dự thi thiết kế gồm một quy trình lựa chọn độc lập với bảng câu hỏi so với danh sách năng lực có liên quan. Tuy nhiên càng ngày việc này là bình thường sau khi lập danh sách ngắn thì các ứng viên được chọn để trình bày concept dự án của riêng mình. Nhưng cuộc thi được hạn chế và mục tiêu của khách hàng vẫn là tìm một ý tưởng mới trong thiết kế.

Dù cuộc thi gồm các ứng viên được chọn trong danh sách hay được thông báo công khai thì nó vẫn mang tính khốc liệt. Dù rằng người KTS đượctrả công cho các giai đoạn cuộc thi hay ít ra vào vòng cuối cùng thì ít khi nào tiền chi phí được lãnh đáp ứng theo ngân sách. Tương tư, nhiều cuộc thi vẫ không bảo đảm rằng dự án sẽ tiến trển hay công ty thắng giải được trúng thường.

Do đó vì sao các công ty lại tham gia dự thi? Vì đó là cách tốt nhất để lấy kinh nghiệ trong thị trường về loại công trình nào đó cho mình. Việc tham gia dự thi cung cấp việc thành lập nhóm thiết kế lợn và có thể thúc đẩu tinh thần nhân viên, đặc biệt là các KTS trẻ. Nhiều công ty không làm tiếp thị mà tham gia dự thi thiết kế do các phương án được in trên báo chí.

Các cuộc thi thiết kế thường bị phê bình, Các chỉ trích thường do các thông tin chương trình không đầy đủ cho các KTS thực hiện tốt công việc của mình và ban giám khảo bị dẫn dắt để tin rằng có một dự án nằm trong chi phí mong đợi ngay cả khi các ứng viên dự thi lại không để ý đến ngân sách này.

Càng chính xác thông tin chương trình dự thi thì một công ty thiêt kế tốt có thể đánh giá rủi ro tham gia dự thi. Một thư mời dự thi với đầy chương trình chi tiết, kế hoạch chi trả chính xác, các cơ hội gặp gỡ các tổ chức tài trợ, danh sách ban giám khảo, các quy định rõ ràng minh bạch về phương pháp trình bày và một ngân sách sẽ mang lại sự an toàn hơn là chỉ một bức thư mô tả mơ hồ về các khoản trên.

Hơn hết, các giải pháp thiết kế trong cuộc thi phải tạo cảm hứng và dễ hiểu. Nếu dánh sách ngắn đượ thực hiện mà không có  người trình bày, bảng trình bày hay mô hình thì như là một bản tự giới thiệu. Nên chắc chắn các chữ viết trên bảng trình bày cô đọng và đủ lớn dể đọc.

Đối với việc phỏng cấn dự án, người KTS nên nhớ rằng ban giám khảo quan tâm đến sự nhiệt tình và rỏ ràng của người KTS trình bày hơn là chú ý đến quá nhiều chi tiết.

Dựa vào lúc trả lời câu hỏi (Q&A) để giao tiếp với mọi người nhưng các ý tưởng cơ bản, logic và các thí dụ để minh họa ý tưởng đã được thể hiện trong thiết kế.

Quan trọng nhất vẫn là tuân thủ các quy định cuộc thi.

 

Cách phản hồi chủ đầu tư dựa trên cơ sở năng lực

Trả lời bảng yêu cầu công việc trong quy trình QBS yêu cầu công văn đề xuất đi theo các trình bày và phỏng vấn dự án.

Các yếu tố trong văn bảng đề xuất: thể hiện năng lực công ty và nêu những gì công ty có thể cung cấp cho dự án. Đầu tiên, thư ngỏ (cover letter) không bao giờ chỉ là một phiếu giao nhận hồ sơ. Nó cần phải tạo chú ý trực tiếp về năng lực và trình độ công ty có thể đáp ứng nhu cầu khách hàng. Và phải cụ thể: “Trong vòng 10 năm qua, chúng tôi đã thiết kế (bao nhiêu công trình..) Đặc biệt là công trình (…) được nêu trong chương (…) tương tự như công trình của quý ông yêu cầu…”

Một bảng tốm tắc cho phép người KTS trình bà năng lực đặc biệt của công ty mình và nó có thể có ích khi theo các quy định vốn không cho phép người KT có thể tỏa sáng. Chẳng hạn kh bàng yêu cầu công viẹc có giới hạn các trang, bảng tóm tắt có thể cho công ty thê khoảng trang để mô tả chiều dày kinh nghiệm. Tương tự, nếu bảng yêu cầu công việc không có các câu hỏi nó rõ các thiết kế hay quy trình mà người KT sẽ nổi trội trong đó, thì bảng tóm tắt coh phép người KTS thể kiện kinh nghiệm của mình.

Đọan thuật ngắn có thể dùng để thể hiện mối liên quan của các dự án trước đó và năng lực nhân viên tham gia. Đoạn giải trình này có thể giúp việc dùng mô tả các dự án. Giống như thí dụ sau:

  • “Chúng tôi được chọn cho những dự án này vì chúng thể hiện kinh nghiệm chúng tôi trong các dự án (,,,) và trong các dự án có chuẩn thiết kế cao”.
  • “Nhóm chúng tôi đượcchọn bao gồm những người đã từng quản lý các dự án mới quy mô như thế”.

Luôn cho khách hàng hình dung vì sao các dự án đặc biệt và các nhân sự được nằm trong đề xuất của mình. Các dự án được liệt kê tất nhiên bao gồm những gì có thể thể hiện năng lực tốt.

Triễn lãm giải trình: Các luật sư gọi các triễn làm này là những tài liệu thể hiện khoảng trống trong năng lực trực tiếp của công ty.

Một ma trận năng lực có thể được dùng để chứng minh công ty từng đạt các yêu cầu dự án tương tự trước đó. Các hạng mục của ma trận có thể cụ thể rõ từng hạng mục năng lực công ty cho khách hàng nắm. Chiến thuật này hữu ích khi công ty có kinh nghiệm với các yêu tố của dự án theo yêu cầu nhưng kh6ng thể thực hiện một dự án đòi hỏi phối hợp hoàn toàn các yếu tố trên.

Ma trận cũng hữu dụng khi một công ty muốn đề xuất một nhân viên dù mới thuê hay là chuyên gia vì nó cho phép công ty nhấn mạnh kinh nghiệm nhân sự có kinh nghiệm cho dự án trước đó dù công ty chưa từng thực hiện. Cuối cùng, ma trận có ích khi sự nghiên cứu cho thấy người quyết định chính có sự quan tâm ngắn gọn đến những gì mà công ty trình bày giới thiệu.

Sơ đồ ý tưởng hay mô hình khối càng ngày càng được dùng trong việc phỏng vấn dự án. Các nhóm phỏng vấn của công ty có thể ùng nó nhằm dễ bàn bạc về dự án. Ngoài ra trong giai đoạn yêu cầu của dự án (RFP stage), sơ đồ ý tưởng có thể tạo cảm hứng cho chủ đầu tư và thể hiện năng lực của công ty thiết kế rõ hơn là quan văn bản viết thông thường.

Sơ đồ có thể hữu ích khi porfolio của công ty đã thể hiện nhiều các dự án nhỏ và dự án để xuất được thể hiện lớn hơn. Chẳng hạn sơ đồ giải pháp thiết kế cho bải đậu xe và quy trình lối đi có thể hiệu quả hơn. Hay,, nếu công ty không biết về thiết kế đó, một mặt đứng hay bản phác thảo thể hiện ý tưởng cũng có thể nên được dùng. Nếu chủ đầu tư xã xác định một giải pháp cho vấn đề thi nên có bản vẽ mặt bằng có đầy đủ ghi chú,

Các câu hỏi phỏng vấn trên cơ sở năng lực: Thắng hay thua dự án thường nằm trong cuộc phỏng vấn. Thắng giai đoạn này thường liên quan đến việc nối kết giá trị và tính chất của chủ đầu tư hơn là dự thi thiết kế. Do đó, công ty kiến trúc cần nhất phải tìm ra cuộc thì trình bày cho ai và ai trong công ty sẽ trình bày. Khi cuộc thi kiến trúc đã được biết, công ty có thể hình dung nọi dung đề xuất và phương pháp phỏng vấn nhằm thể hiện điểm mạnh của mình.

Quan trọng nên biết ai đại diện chủ đầu tư trong cuộc phòng vấn, vai trò và quyền hạn cua người đó và họ liên quan đến quy trình chọn lựa dự án mức độ nào. Trong hầu hết các nhón, đó là người có quyêt định sau cùng, có kến thức và có tính thuyết phục. Rất khó biết người đó là ai nên cuộc phỏng vấn nên hình dung người đó quan tấm đến cái gì, Những gì xác định danh sách ngắn có thể không giống với những gì trong quyết định sau cùng. Đặcbiệt trong các dự án giáo dục công cộng, người quản lý quản lý danh dách ngắn nhưng hội đồng lại chọn công ty trúng giải. Nếu công ty kiến trúc không biết quan điểm thành viên thì nên nghiên cứu trên báo chí để nắm vị trí công việc, nghề nghiệp của từng hội đồng rõ ràng. Hầu hết các công ty tìm việc với các nhân viên nhà nước bằng cách tham gia các cuộc họp, không phải để được nhìn thấy, nhằm nắm rõ các vấn đề và vị trí từng thành viên.

Nhiều người KTS có chiến lược lớn đã mất chi tiết này. Các lỗi thông thường trong phỏng vấn như sau:

  • Sơ đồ tỏ chức không rõ ràng. Chủ 9ầu tư muốn biết ai có trách nhiệm và nên chỉ có một người lãnh đạo dự án.
  • Người trình bày dự án kém nằng ở vị trí quan trọng: thường xảy ra trong giai đoạn RPF. Công ty nên lường trước phỏng vấn khi cho thành viên nhóm dự án. Nếu việc quản lý là giải pháp chính, người quản lý dự án hay giám đốc cần quyết đoán và có phương pháp. Người thiết kế cần có cảm hứng, Quản lý tin nhắn và thời gian cho từng người theo khả năng của họ nhằm quản lý tốt.
  • Cuộc phỏng vấn không tập trung vấn đề: phỏng vấn lặp lại các câu trả lời của RFP. Nên thể hiện các vấn đề quan trọng đối với chủ đầu tư hơn là đối với mình. Đối với hần thiết kế, người KTS chỉ nên bàn về nững phần dự án mà chủ đầu tư quan tâm cụ thể hơn là nhấn mạnh một loạt danh sách các dự án. Quan trọng là mỗi cái nhìn không nên có hai suy nghĩ.
  • Nhóm, đặc biệt là người quan lý dự án, đã đi vào các chi tiết không cần thiết: một cuộc phỏng vấn nhăm nối kết với người nghe về các giải pháp liên quan nhằn phù hợp mục tiêu của khách hàng. Chú ý không nên quá nhàm chán. Nên thể hiện sự tôn trọng thời gian của chủ đầu tư và biết điểm nào quan trọng.
  • Trong khi trả lời các câu hỏi, trưởng nhóm không thể kiểm soát các câu trả lời hay cũng như kấn át. Trừ phi các câu hỏi được hỏi trực tiếp đến các thành viên nh1m, trưởng nhóm nên nắm từng câu hỏi và trực tiếp chỉ định người trong nhóm trả lời. Nếu người khác trong nhóm nhảy vào trả lời ó nghĩa là họ không tin tưởng trưởng nhóm, nhưng nếu trưởng nhó trả lời hết các câu hỏi, khách hàng có thể thác mắc về thực lực của nhóm.
  • Trả lời các câu hỏi lòng vòng. Nên trả lời ngắn gọn và trực tiếp. Câu trả lời nên đi theo với “Tôi có thể trả lời câu hỏi của ông được không ?”

 

Việc lựa chọn dựa trên cơ sở giá trị

Cở sở lựa chọn trên giá cả và năng lực thấy như là tương tự nhau. Tuy nhiên, có hai sự khác biệt đáng kể giữa khách hàng chọn cơ sở nang lực và cơ sơ giá trị. Nhóm khách hàng chọn cơ sở giá trị tìm KTS không những có năng lực và còn đóng vai trò lãnh đạo giúp khách hàng 9dạt mục đích của mình:

  • Khách hàng có một dự án có vai trò chiến lược nhưng khách hàng không có kinh nghiệp trong dự án ány. Nên họ tìm KTS có ý tưởng nhằm làm việc với các khách hàng sáng tạo khác, Thường một quyết định về địa ốc chưa được thực hiện và chương trình cũng không hoàn chỉnh, việc này giúp người KTS có cơ hội cung cấp kiến thức và lời khuyên bên ngoài các yêu cầu khi khách hàng quen thuộc với loại dự án này.
  • Khách hàng quan tâm nhiều hơn trong thiết kế. Khách hàng nhà nước tìm các kTS có thể cung cấp những ý tưởng cao hơn, công trình có nét mỹ quan hơn và có ự nhạy cảm cao trong ngữ cảnh và lịch sử – nói cách khác, một giá trị cao hơn.

Tiếp xúc khách hàng hầu hết bắt buộc phải phân biệt chỉ tiêu giá trị từ chỉ tiêu năng lực thuần tủy. Khách hàng thật ra có thể chưa ý thức rằng người kTS có thể dẫn nhóm thiết kế nhằm dạt nhu cầu chiến lược của khách hàng. Chẳng hạn, một cuộc bàn luận có thể gợi cho khách hàng không biết có nên cho thuê, hay mua, hay phát triển nhằm thu lợi cho dự án. Một công ty kiến trúc có kiên nghiệm kiến thức có thể thấy việc nay từ cuộc thi bằng cách đưa ra các câu trả lời có các thông tin liên quan lấy từ các công ty địa ốc chuyên nghiệp.

Các trả lời cho các khách hàng lựa chọn trên cơ sở giá trị

Các câu trả lời nên chứng minh khả năng lãnh đạo. Nó vẫn còn có câu trả lời trên cơ sở năng lực, nhưng mô tả dự án nên được rút từ quan tâm đầu tiên của khách hàng. Chẳng hạn, nếu ưu tiên của khách nhằm biểu diễn với đồng nghiệp của mình (như thực hiện một trường nhạc tốt nhất), công ty có thể giới thiệu những dự án đã thực hiện nhằm nhấn mạnh cho khách hàng thấy. Khách hàng quan tâm biết những gì trên bài dự thi thiết kế và để nghị người KTS cung cấp những thông tin như vậy.

Nếu khách hàng quan tâm khả năng lãnh đạo quy trình thì cau trả lời bảng yêu cầu công việc sẽ có nhiều sự pha trộn rộng trong các dự án. Chẳng hạn, nếu dự án yêu cầu lập trình một công trình khoa học sẽ mang đến phòng ban chấm thi trước đây, khách hàng có thể sợ rằng khó đạt thỏa thuận gữa các phòng ban và leo thang dự án (program creep). Do đó bảng yêu cầu công việc có thể bao gồm các thí dụ dự án nhằ thể hiện năng lực của công ty có thể dẫn dắt quy trình bằng cách trình bày sự quan tâm và đáp ứng như càu trong khuôn khổ thời gian, như thiết kế dự án nhằm sá nhập hai công ty có văn hóa khác nhau.

Thể hiện vai trò người KTS đối với khách ah2ng chú ý cơ sở giá trị, các trang dự án tiêu chuẩn nên phù hợp với đề xuất. Bức thư ngỏ hay bảng tóm tắt rất cần cho hội đồng tuyển chọn hiểu vì sao người KTS đang dùng công trình để chứng minh kinh nghiệm liên quan đến thiết kế của dự án khách hàng.

Nhằm minh họa vai trò lãnh đạo quy trình, công ty cũng cần nhận dạng và mô tả các bước trong quá trình giao hồ sơ dù chủ đầu chưa yêu cầu. Nêu rõ ai trong nhóm sẽ dẫn dắt quy trình trong từng giai đoạn và quan hệ của họ với khách hàng cùng các bên liên quan. Việc này được thể hiện qua sơ đồ với giải thích ngắn gọn, rõ ràng.

 

Thuê trực tiếp

Mộ t63 chức thường thuê một kTS từng làm việc với họ trước đó mà không cần yêu cầu người kTS trình bày dự án. Tuy nhiên, ít khi chủ đầu tư thiết lập một quan hệ mới với một KTS mà không thông qua quy trình tuyển chọn kiểu truyền thống.

 

Khách hàng mới

Khi công ty tìm khách hàng mới không toh6ng qua dự thi, giống như đồng nghiệp của khách hàng đã khen ngợi người kTS trước đó, Nhưng vẫn khó kho người KTS hiểu các yêu cầu, sự ưu tiên, tình trạng, ngân sách… của chủ đầu tư đối với người KTS trước đó trước khi có thỏa thuận sơ bộ. Nên chuẩn bị rút lui nếu tính khi khách hàng và các dự kiến có dấu hiệu mang đến các quan hệ xấu sau đó. Nên nhớ thuận lợi lớn của quy trình chọn lựa truyền thống là nhiều thông tin như vậy sẽ bộc lộ trong khi người kTS theo đuổi dự án.

 

Khách hàng hiện hữu

Gữ khách hàng hiện hữu là cách cơ bản nhiều kTS thực hiện. Để duy trì quan hệ tốt, không bao giờ xem khách hàng là người ban ơn. Người KTS nên hiểu rằng quan hệ của họ với khách hàng luôn có rủi ro giống như giữ các khách hàng này. Các quan hệ không thể tồn tại chĩ với khách hàng trung thành đơn độc. Do đó uan trọng là người KTS nên quan hệ với các khách hàng hiện hữu với cùng một lòng nhiệt tình, sáng tạo và thận trọng khi họ mang đến quan hệ khách hàng mới. Người KTS nên duy trì quan hệ khách hàng như sau:

  • Sáng tạo quy trình và thiết kế, đừng chờ khách hàng hỏi
  • Đưa ra các xem xét về chi phí, đừng để bị kẹt.
  • Duy trì nhóm ổn dịnh và báo khách hàng khi nhóm phải thay đổi.
  • Nên cho người chủ trì phát triển quan hệ cá nhân với khách hàng.

Dù gì chăng nữa khách hàng có thể vẫn hỏi công ty quen về dự án của mình. Việc này có thể xảy racho một số lý do gồn cả việc có trường nhóm mới trong tổ chức của khách hàng, một cấn đề trong dự án trước đây, mong muốn của khách hàng nhằm “duy trì sự thành thật”, hay chính sách công ty khách hàng cần xem lại các quan hệ. Với mọi lý do của khách hàn để đấu thầu dự án, công ty kiến trúc nên dùng lợi thế của thực lực để tìm ra vì sao khách hàng tìm cái mới và cố giải quyết vấn đề. Chẳng hạn:

  • Nếu khách hàng thay đổi hệ thống hành chánh, người đứng đầu có thể có quan hệ hiện hữu với KTS khác. Nên biết người quản lý mới và để họ biết kinh nghiệm và năng lực công ty mình. Biết ưu tiên mới, đặc biết chú ý đến quy trình, giá cả, quản lý và tìm ra các thay đổi hoạt động bên trong mà hệ thống hành chánh muốn thay đổi. Hình dung sự đế xuất hay phỏng vấn nhằm vào người mới – nên nhìn tối mà hông nhìn lui.
  • Nếu hệ thống hành chánh không đổi và không có một biểu hiện khác, công ty nên tìm ra các gì mới trong tình hình của khách hàng và dùng việc đó để đề nghị thay đổi hay cải tiến. Nên thận trọng nhằm tránh phê bình hành động của khách hàng.
  • Nếu khách hàng đã đến giai đoạn phỏng vấn với một KTS khác vì đã biết các vấn đề cu công ty mình, thì đã quá trễ để duy trì quan hệ nhưng cũng còn hy vọng. Nê tìm ra nếu công ty có luật sư trong hội đồng tuyển chọn. nên thừa nhận vấ đề và xin thời gia thử thách để giải quyết. Công ty cũng nên xem xét chỉ định người mới để liên lạc với khách hàng. Hai việc này thử thách sự khéo léo của người KTS khi giới thiệu sự thay dổi mà không cần bị đưa ra câu hỏi: ‘Vì sao các ông đã không làm việc này ?”

 

Tóm lại:

Khi khách hàng tìm KTS, họ chắc chắn đã có dự kiến nào đó về quan hệ nào đó với công ty kiến trúc. Dự kiến này, hoặc là giá trị được htể hiện trong tiêu chí họ tìm chọn KTS. Để nối kết với khách hàng và đáp ứng cá yêu cầu công việc cũng như việc phỏng vấn, công ty nên đánh giá chính xác giá trị khách hàng bằng cách phân tích các thông tin có được trong quá trình lựa chọn.

 

Theo The Architect’s Handbook of Professional Practice của Joseph  A. Demlin, AIA, Executive Editor)

Chiến lược quản lý rủi ro (tiếp)

9.1 Chiến lược quản lý rủi ro (tiếp)

 

NGUỒN TÀI LIỆU CƠ SỞ (BACKGROUNDER)

 

Cách dùng bảng đánh giá rủi ro (Trang 360)

(Richard D. Crowell, Hon. AIACC)

 

Các bảng này được lập nhằm giúp các công ty kiến trúc nhận đạnh đánh giá rủ ro và mô tả cách quản lý rủi ro. Từ đó có thể giúp từng nhân viên công ty quản lý rủi ro từ một viễn cảnh chung.

Phỏng theo từ Victor O. Schinnerer & Company, Ins, các bảng này là công cũ hữu ích để quản lý rủi ro công ty của bạn, Ta có thể xác định và cập nhật chúng nhằm tiện lợi hơn cho mình. Nhớ rằng các công ty thnàh công nhất là những công ty học các hquản lý rủi ro hiệu quả nhất.

 

Điền vào các bảng

Bảng A cũng cấp mẩu từ phân tích ngắn về công ty của bạn. Các bảng sau (B đến G) gồm các yếu tố căn bản để nhận dạng rủi ro và chọn khách hàng, dự án, hợp đồng, tư vấn, nhà thàu và các thành viên nhóm thiết kế.

Các tiêu đề in đậm trong từng bảng nhận dạng các vấn đề cụ thể trong từng hạng mục rộng. Các hạng mục dưới tiêu đề có thêm những câu hỏi chi tiết về các vấn đề. Các bảng này có thể được thay đổi phù hợp riêng các công ty hay dự án khác nhau  bằng cách thêm hay bớt các vấn đề / câu hỏi sao cho thích hợp.

 

Bước 1: Đánh giá

Trong cột đầu tiên từng bảng, mức rủi ro được đánh giá. Có thể định mức rủi ro trên thangđiểm 1-10 với 1 là rủi ro thấp và lên cao dần. Thang điểm dùng để tổng hợp mức rủi ro khi phân tích dự án theo mức tổng điểm từ những hạng mục kết hợp. Tuy nhiên có thể khai triển theo thệ thông riêng từng người (như đánh giá mức thấp-trung bình- cao). Và nên luôn học cách đánh giá theo cách tốt nhất cho công ty mình.

 

Bước 2: phân tích

Cột thứ hai dùng để khai triển các câu trả lời trong cột 1 bằng cách đánh giá mức quan trọng của vấn đề hay bằng cách ghi chú thêm, đặt câu hỏi hoặc viết mối quan tâm của mình về từng vấn đề. Vài vấn đề đủ đơn giản được phân loại một cách  hiệu quả chỉ bằng cách dùng điểm số.

 

Bước 3: trả lời

Cột thứ 3 và cột cuối cùng là quan trọng nhất. Nếy ở đây bạn ghi nhận cách mà công ty phản ứng trước từng rủi ro đã được nhận dạng và đánh giá. Chiến lược quản lý rủi ro  có thể áp dụng gồm:

  • Quyết yêu cầu các điều khoản hợp đồng nhằm giảm nhẹ rủi ro.
  • Thuê chuyên gia tư vấn các vấn đề kỹ thuật quan trọng.
  • Tăng cường số lần họp với chủ đầu tư nhằm bảo đảm tốt thông tin.
  • Nghiên cứu các giải pháp bảo hiểm lựa chọn như chính sách dự án, nếu có.

Khi cân nhắc dự án mới, nhiều thông tin cần phải điền đủ trong các bảng có thể không thât sự có sẵn. Tuy nhiên ác bảng này được thiết kế nhằm tạo điều kiện cho bước quản lý kiểm soát rủi ro. Các bảng có thể cập nhật và đánh giá lại trong quá trình thực hiện dự án.

 

Bước 4: Đánh giá tổng hợp

Cuối mỗi bảng là khoảng trống để ghi nhận lại đánh giá chung từng hạng mục rủi ro cũng như khoảng trống để liệt kê các yếutố có liên quan chưa sẵn sàng được bao gồm trong việc nhập liệu vào bảng. Khoảng trống đánh giá chung cũng được dùng để nhận dạng loại dự án nào rủi ro nhất. Các thông tin này có thể giúp lập ra chiến lược quản lý rủi ro cho công ty mình.

Bước cuối cùng là qua các bảng đánh giá dự án, là tổng kết đánh giá nhằm có hình ảnh chính xác mức rủi ro trong dự án. Phân tích chung củabạn sẽ được nhập vào hàng chữ đánh nhãn “Kết quả chung”. Từ đó, bạn có thể hoàn tất phần “khuyến cáo”.

 

Bước 5: Khuyến cáo

Phần này tương tự như bảng hiệu chỉ đường.

  • “Thực hiện” là đèn xanh. Dự án có thể thuận lợi khi theo chiến lược quản lý rủi ro đã xác định.
  • “Chỉ thực hiện với các thay đổi” là đèn vàng. Có các vấn đề sẽ làm bạn quan tâm nhưng nó có thể được giải quyết với các thay đồi phù hợp. Bạn có thể kiểm tra các thay đổi theo khuyến cáo ngay trên các bảng đã lập.
  • “Không thực hiện” là đèn đỏ. Có quá nhiều rủi ro và không đủ chiến lược để quản lý rủi ro để thực hiện dự án.

Nhiều công ty thường dùng những mẫu này cho các khách hàng cũ và mới. Họ thường có nhiều thành viên công ty hoàn tất riêng các mẫu và kiểm tra tổng hợp kết quả để lấy quyết định về dự án. Người chủ trì thường được chỉ định để chắc chắn rằng các trả lời về quản lý rủi ro được thông qua. Công ty cũng giữ các hồ sơ tham chiếu khi có các cơ hội phát sinh trong tương lai đối với các dự án hay khách hàng tương tự.

 

Bảng A: đánh giá công ty

 

Vấn đề Mức

rủi ro

Tầm

Qu.trọng

Q.lý

rủi ro

1.Khả năng:

*Công ty có đù năng lực thực hiện dự án ?

Nếu không đủ người có năng lực, có thể thuệ thêm người hay tư vấn ?

* Thuê người mới sẽ là gánh nặng về quản lý hay nhân sự khi tuyển người, huấn luyện và giám sát ?

     
2. Kinh nghiệm với loại dự án này:

* Công ty/nhóm thiết kế từng có kinh nghiệm với loại dự án này chưa ?

* Nằm trong điều kiện tương tự ?

* Nếu chưa từng kinh nghi65m, có bước phù hợp nào để giảu quyết vấn đề trong quá khứ để thực hiện thành công dự án ?

     
3. Các yếu tố khác của công ty      
Đánh giá chung về công ty.      

 

Bảng B: Đánh giá khách hàng.

 

Vấn đề Mức

rủi ro

Tầm

Qu.trọng

Q.lý

rủi ro

1. Tài lực

* Tiếng tăm tài chánh của khách hàng ?

* Khách hàng có khả năng trả tiền dịch vụ cho công ty ?

* Khách hàng có thể kham nổi dự án ?

     
2. Mục tiêu dự án

* Mục tiêu khách có minh bạch trong dự án ?

* Khách hàng có khả năng rõ ràng trong dự án ?

     
3. Kinh nghiệm khách hàng:

* Khác hàng có qen quy trình xây dựng chung ?

* Loại dự án này một cách cụ thể

* Có kính nghiệp trước đó tốt cho khách hàng ?

* Đối với kiến trúc trước đó ?

* Nếu không, khách hàng có thể hiểu rõ tại sao ?

     
4. Kinh nghiệm với công ty của bạn

* Có phải là khách hàng cũ có quan hệ tốt với công ty bạn ?

     
5. Lịch sữ kiện cáo:

* Với côngty thiết kế, khách hàng có tiếng khó khăn khi làm việc hay ưa kiện ?

* Khách hàng nổi tiếng với công việc gì ?

* Khách hàng kiẻm soát tranh chấp trong côngviệc ra sao ?

 

     
5. Người ra quyết định

* Ai là đại diện khách hàng mà công ty sẽ phải báo cáo.

* Có một người duy nhất hay một hội đồng để quyết định ?

* Họ có dứt khoát ?

* Họ có quen quy trình xây dựng ?

* Họ có dễ tiếp cận ?

* Họ có quyền làm quyết định ràng buộc ?

* Họ có thể đi quá mức ?

* Do ai ?

     
7. Thái độ khách hàng

* Dự tính của khách hàng về dự án có hiện thực và tích cực ?

* Có sự cởi mở trong liên lạc giựa khách hàng và công ty ?

* Nếu là khách hàng là doanh nghiệp xây dựng mới, họ có thiện chí và có khả năng biết về điều này ?

* Giá trị cao nhất của khách hàng: chất lượng, lịch trình hay ngân sách ?

* Nếu so với hệ thống công ty bạn thì thế nào ?

* Thiết kế và kỹ năng giao hàng của doanh nghiệp xây dựng ?

     
8. Tương thích hệ thống

* Khách hàng yêu cầu gì trong việc lập hóa đơn công ty, kế toán và hệ thống thiết kế ?

* Nếu dự liệu là trau đổi, hệ thống công ty bạn có tương thích ?

* Nếu có thay đổi hay bổ sung, thời gian, chi phí và rủi ro ra sao ?

     
9. Tác động đôi bên

* Công ty và khách hàng có cảm tình tốt lẫn nhau ?

* Các liên lạc có cởi mở và đáng tin cậy.

* Có tin tưởng tôn trọng lẫn nhau ?

     
10. Các yếu tố liên quan khác đến khách hàng.      
Đánh giá chung về khách hàng.      

 

Bảng C: đánh giá dự án

 

Vấn đề Mức

rủi ro

Tầm

Qu.trọng

Q.lý

rủi ro

1. Loại dự án:

* Dự án thuộc loại rủi ro cao ?

     
2. Quy mô và thời gian

* Quy mô và thờ gian có tạo thêm rủi ro ?

     
3. Tài chánh tương xứng

* Khách hàng có vốn phù hợp xho dự án ?

* Nếu không thì vốn có thể đạt tới mức tương xứng được không ?

* Ngân sách dự án có tương xứng theo dự tính của khách hàng đưa ra ?

* Mục đích và mục tiêu của khách hàng đưa ra ?

* Khách hàng quản lý dòng tiền của mình ra sao ?

     
4. Sự phức tạp trong thiết kế:

* Công ty có khả năng quản lý sự phức tạp của dự án ?

* Mức độ khó khăn của dự án công ty ?

* Công ty tốn bao nhiêu thời gian để cân đối phạm vi, chất lượng, thời gian và ngân sách ?

* Yê ucầu dự án là duy nhất, phức tạp hay thử thách về tính hiện đại ?

     
5. Sự phức tạp trong thi công:

* Đội ngũ dự án có khả năng quản lý sự phức tạp trong thi công ?

     
6. Yêu cầu độc đáo:

* Có yêu cầu độc đáo nào cua dự án đặt rủi ro nhiều hơn ?

     
7. Phạm vi dịch vu:

* Bạn có được thuê để cung cấp toàn bộ dịch vụ cho dịch vụ bạn nghĩ cần cho dự án ?

* Bạn vẽ cung cấp tối thiểu vài giai đoạn dịch vụ xây dựng ?

* Có có một quản lý thi công hay nhà thầu trong nhóm thiết kế, thì dịch vụ bạn sẽ bị ảnh hưởng ra sao ?

     
8. Lịch trình:

* Có vấn đề lịch trình đặc biệt nào hay deadline làm tăng rủi ro ?

* Tổng thời gian dự án có tương xứng ?

* Thời gian giàn cho thiết kế có tương xứng ?

     
9. Thù lao hợp lý

* Thù lao có tương xứng với dịch vụ ?

* Thù lao có trang trải các chi phí và mang lại lợi nhuận chấp nhận được ?

* Nếu không thì công ty có chịu lỗ ?

* Có nhóm dự phòng thiết kế ?

* Có tương xứng chưa ?

     
10. Sản phẩm và công nghệ mới

* Sản phẩm và công nghệ mới có được yêu cầu hay dự kiến trong thiết kế và thi công dự án ?

* Chúng đã được nghiên cứu và thử nghiệm ?

     
11. Chế độ giao sản phẩm

* Bạn có thấy dể chịu với chế độ giao sản phẩm (thiết kế – đấu thầu – thi công, thiết kế – thi công … v … v…) ?

* Vai trò trách nhiệm của các bên có được xác định phù hợp ?

* Bạn có hài lòng vai trò được chỉ định cho mình ?

     
12. Cân nhắc điều kiện địa lý

* Xem xét điều kiện địa lý, thời tiết, địa chất thế nào ?

     
13. Cân nhắc điều kiện môi trường

* Các yếu tố môi trường có thể phát sinh trong quá trình thực hiện dự án ?

* Nhóm thiết kế đã chuẩn bị về các vấn đề này chưa ?

     
14. Thuộc tính người sử dụng

* Dự án là loại công trình mà người sử dụng sau đó có thể kiện mình ?

* Có khả năng đây là những người dùng sau cùng không hài lòng ?

* Có thể đây là những vụ kiện tập thể ?

 

     
15. Quan hệ cộng đồng

* Công đồng nhìn dự án ra sao ?

* Có phản đối và sự nhạy cảm của công đồng có thể gây rắc rối ?

* Cộng đồng nhìn khách hàng ra sao ?

* Các cộng đồng và chính quyền có kiểm tra dự án ?

* Khách hàng có khả năng giúp đỡ trong các quy trình này ?

* Quan hệ khách hàng với cộng đồng; khách hàng có gắn liền lâu dài với công trình ?

     
16. Các yếu tố khác về dự án      
Đánh giá chung về dự án      

 

Bảng D: đánh giá về thỏa thuận

 

Vấn đề Mức

rủi ro

Tầm

Qu.trọng

Q.lý

rủi ro

1. Phạm vi công việc rõ ràng

* Các thỏa thuận dịch vụ có phạm vi công việc rõ ràng và đủ chi tiết ?

* Có phù hợp yêu cầu dự án ?

     
2. Cân đối giữa trách nhiệm và quyền hạn

* Các mẫu hợp đồng có rõ ràng và cân đối trách nhiệm ?

* Mẫu có thương thích và phối hợp giữa các bên ?

     
3. Điều khoản chi trả minh bạch

* Các điều khoản chi trả có được giao dịch minh bạch ?

* Có nêu lên hậu quả khi không chi trả hay chi trả chậm ?

* Có điều khoản để tổng hợp chi phí gồm cả phí pháp lý ?

     
4. Dịch vụ phụ và chi phí

* Có điều khoản về chi phí phù hợp cho các dịch vụ phụ ?

* Cho dịch vụ phụ của đội ngũ ?

* Cho chi phí trực tiếp ?

     
5. Dòng tiền

* Điều khoản chi trả (thời gian, tần suất) có phù hợp với nhu cầu dòng tiền của công ty ?

*Thời gian và tần suất chi trả tùy thuộc vào sự phê duyệt của đơn vị khác bên ngoài ?

* Bạn có khả năng xuất hóa đơn nhanh chóng đúng hạn cho các dịch vụ ?

* Có yêu cầu khác để duy trì các công tác khác theo tiến độ ?

     
6. Các điều khản kết thúc công bằng và minh bạch

* Có điều khoản cho phép một bên nào đó kết thúc hợp đồng cần thiết  ?

     
7. Điều khoản giải quyết tranh chấp:

* Hợp đồng có điều khoản giải quyết tranh chấp công bằng và hợp lý ?

     
8. Cân bằng giữa rủi ro và ban thưởng

* Toàn bộ hợp đồng có xác định rõ rủi ro và ban thưởng ?

* Có điều khoản nào đầy rủi ro từ bên khác qua công ty của bạn mà không có đền bù và sự kiểm soát tương xứng ?

     
9. Bảo hiểm

* Loại hình và giới hạn bảo hiểm yêu cầu có tương thích với công việc của công ty ?

* Các điều khoản (bồi thường, bào hành, chứng nhận) tạo nên các câu hỏi về tầm bảo hiểm hay thể hiện tráhcn hiệm pháp lý nghề nghiệp không chắc chắn cũng như chung chung ?

     
10.  Các yếu tố hợp đồng khác      
Đánh giá chung về hợp đồng      

 

Bảng E: đánh giá tư vấn

 

Vấn đề Mức

rủi ro

Tầm

Qu.trọng

Q.lý

rủi ro

1, Tính hiệu lực của tư vấn có năng lực

* Tư vấn có sẵn sàng có khả năng cung cấp dịch vụ và công việc theo yêu cầu ?

* Tư vấn có đủ nhâ lực có năng lực khi bạn cần dịch vụ của họ ?

     
2. Kinh nghiệm với tư vấn

* Công ty có kinh nghiệm với tư vấn này ?

* Quan hê của bạn và tư vấn này có tương thích để có thể làm việc ?

     
3. Tiếng tăm

* Tư vấn có ytiếng tốt trong cộng đồng thiết kế ?

     
4. Được bảo hiểm tương xứng

* Tư vấn có được bảo hiểm trách nhiệm pháp lý tương xứng ?

* Giới hạn trách nhiệm của họ ?

* Tấm mức bày có phù hợp ?

* tư vấn này có vụ kiện này đang bị treo ?

     
5. Hệ thống tương thích

* Hệ thống quản lý công ty và dự liệu của công ty của bạn có tương thích với bên tư vấn ?

     
6. Giá trị chia sẽ

* Tư vấn có chia sẽ cùng giá trị (chất lượng, dịch vụ, danh tiếng, đồng bộ thời gian) với côngty của bạn ?

* Bạn dành bao nhiêu thời gian để xây dựng nhóm ?

     
7. Sự kiểm soát của khách hàng

* Bạn có được yêu cầyu làm việc với tư vấn được chọn hay tư vấn làm việc trực tiếp với chủ đầu tư ?

* Bạn vẽ phối hợp trách nhiệm cho tự vấn không nằm trong ự kiểm soát của bạn ?

* Bạn sẽ được đền bù cho việc phối hợp này ?

     
8. Cảm nhận

* Bạn càm thấy sao về tư vấn bạn sẽ giữ lại ?

* Tư vấn làm việc có phối hợp với công ty của bạn ?

* Bạn có thể phụ thuộc và tư vấn để nhận dạng rắc rối và tranh chấp sớm và cùng với bạn giải quyết chúng ?

     
9. Các yếu tố khác về tư vấn      
Đánh giá chung về tư vấn      

 

Bảng F: Đánh giá nhà thầu

 Ghi chú: nếu bạn lúc đầu không biết nhà thầu nào thì khi đã biết nhà thầu thì bạn cần nên đánh giá nhà thầu.

Vấn đề Mức

rủi ro

Tầm

Qu.trọng

Q.lý

rủi ro

1. Danh sách đánh giá trước

* Các nhà thầu có đượcđánh giá trước ?

* Nếu có, theo quan điểm nghề nghiệp của bạn, có xem xét chấp nhận được khi lập danh dách cáccông ty được đánh giá trước ?

     
2. Quy trình đấu thầu

* Được tổ chức ra sao ?

* Nhà thầu được chọn sẽ như thế nào ?

* Chĩ tiêu chọn thầy và theo tứ tự nào ?

     
3. Sự tham gia chọn lực của bạn

* Bạn có đủ dữ kiện trong bảng xét thầu và lựa chọn của chủ đầu tư ?

     
4. Giá thầu phù hợp

* Nhà thầu đấu thầu có trách nhiệm ?

     
5. Tài lực phù hợp

* Nhà thầu có đủ tài lực để gắn bó và hoàn thành dự án ?

     
6. Kinh nghiệm với loại dự án

* Nhà thầu từng có kinh nghiệm với dự án tương tự với điều kiện dự đoán công trường ?

* Có nhân viên phù hợp ?

* Quản lý dự án ?

     
7. Các yếu tố khác của nhà thầu      
Đánh giá chung về nhà thầu      

 

Bảng G: Đánh giá đội ngũ dự án

 

Vấn đề Mức

rủi ro

Tầm

Qu.trọng

Q.lý

rủi ro

1. Quản lý dự án

* Sẽ có quản lý dự án cho dự án này ?

* Có biết người này chưa ?

* Vai trò người đã được xác định tương xứng ?

* Bạn có kinh nghiệm dự án với người này ?

* Họ có kinh nghiệm tốt ?

* Người này đủ năng lực đảm nhiệm vai trò quản lý dự án ?

     
2. Tư vấn đặc biệt

* Có tư vấn đặc biệt nào theo yêu cầu ?

* Ai chọn những người này ?

* Họ sẽ làm việc cho ai ?

* Năng lực những người này đủ cho bạn chưa ?

* Bạn có chấp nhận chịu trách nhiệm pháp lý cho những tư vấn này ?

* Ai sẽ phối hợp công việc với các tư vấn đặc biệt này ?

     
3. Các yếu tố khác về nhóm dự án      
Đánh giá chung về nhóm dự án.      

 

Bảng tổng hợp đánh giá

 

Vấn đề Mức

rủi ro

Tầm

Qu.trọng

Q.lý

rủi ro

A. Đánh giá công ty      
B. Đánh giá khách hàng      
C. Đánh giá dự án      
D. Đánh giá về thỏa thuận      
E. Đánh giá tư vấn      
F. Đánh giá nhà thầu      
G. Đánh giá nhóm thiết kế      
Kết quả chung      

Khuyến cáo:

Tiến hành:…

Tiến hành với sự hạn chế …

Tiến hành chỉ với các thay đổi:…

Không tiến hành: …

 

Ngươi thực hiện bảng đánh giá: …(ký tên).

 

Theo The Architect’s Handbook of Professional Practice của Joseph  A. Demlin, AIA, Executive Editor)

Chiến lược quản lý rủi ro dành cho KTS

9.1 Chiến lược quản lý rủi ro

(Bài của Richard D. Cronell, Hon., AIACC)

 

Quản lý rủi ro hữu hiệu là một tư duy – phương pháp rộng khắp, hàng ngày và có tính khẳng định trong khi hành nghề KTS được liên tục công nhận, đánh giá và đối phó với các rủi ro vốn có. Mục đích là chấp nhận các rủi ro trong một giới hạn hợp ký,mà người KTS phải gánh chịu, hay quản lý và làm giảm nhẹ, hóa giải hay tránh các rủi ro không chấp nhận được.

 

Từ “rủi ro” có nghĩa là những thiệt hại có thể xảy ra từ tình huống biết trước. Quản lý rủi ro có vẻ là một mâu thuẫn mà chúng ta phải quản lý việc không thể đoán trước. Nhưng trong nhiều cáh, người KTS có thể, và trong thực tế, phải biết tiên liệu và biêt nguyên nhân các rủi ro nghề nghiệp nếu mình muốn trờ thành một KTS chuyên nghiệp. Các công ty thành công đều biết rằng các rủi ro không thể hoàn toàn được điều khiển có thể hóa giải sang các bên khác một cách thích hợp.

 

Vì sao phải quản lý rủi ro ?

Xã hội xem KTS là một tiêu chuẩn cao qua giấy phép hành nghề và các khả năng đó tiếp tục nâng cao. Việc dự thi các thiết kế công trình làm tăng áp lực thiết kế phí và lịch trình (schedule). Mỗi dự án là duy nhất – với sự phối hợp công nghệ, vật liệu, quan hệ, dự kiến giữa các bên cùng với chi phí cuối cùng chưa được biết đến. Người kTS không thể quản lý việc xây dựng, thời tiết, nhân công, giá vật liệu. Nhiều khi những thay đổi đó có thể biến một dự án thành thảm họa.

Các vụ liện KTS và tự vấn luôn ở mức cao dù có nhiều nổ lực chuyên môn cũng như bảo hiểm, pháp lý nhằm giảm rủi ro. Chi phí kiện có thể khổng lồ ngay cả khi người KTS không có lỗi. Các chi phí này gồm cả bảo hiểm, pháp lý, thờ gian cho nhân viên để chuẩn bị kháng cáo, khả năng tăng cao của phí bảo hiểm hay mất uy tín, mất khách hàng. Ngoài ra, và chi phí khác có thể nặng hơn nhằm đánh giá hay làm sa sút tinh thần nhân viên, làm lỏng quản lý, mất lòng tin công đồng, mất cơ hội tiếp thị và khó khăn tuyển nhân sự sau này.

Trong môi trường rủi ro cao, các KTS không thể không kham nổi chiến lược quản lý rủi ro. Nếu không thì đó là thảm họa tài chánh. Nếu việc này xem như là bề ngoài bi quan thì chỉ cần nói với các KTS chịu bị kiện. Dễ tìm những người này vì hầu hết các công ty đề từng bị kiện ít nhất một lần.

 

Bắt đầu từ đâu ?

Quản lý rủi ro bắt đầu bằng một kế hoạch nhằm xác định và đáh giá các hình thức rủi ro, thời gian, vật chất cần để đánh giá rủi ro được nhận thấy tại từng giai đoạn dự án và nắm rỏ trách nhiệm từng người trong từng cấp. Các KTS phải học cách đối phó một cáhc quyết đoán và đây kỹ năng với rủi ro của riêng mình nếyu họ tính trước tráhc nhiệm nghề nghiệp trong môi trường làm việc hiện nay.

 

Kế hoạch cho rủi ro

Mỗi dự án đều có rủi ro vốn có, nhưng rủi ro quá đáng thường có nguy cơ ở mặt tài chánh, vật lý, tinh thần của công ty và nhân viên của mình. Khi nhận biết điều này, người KTS nên sẵn sàng có kế hoạch đối phó với chúng.  Chẳng hạn, nhiề ucông ty giàu kinh nghiệm để khai triển chính sách về các kiểu rủi ro mà họ sẽ phải chấp nhận, quy trình quyết định hay không, và cách truyền đạt cho nhân viên phải quản lý rủi ro thế nào.

 

Nhận dạng và đánh giá rủi ro

Các công ty thành công thường có một bộ công cụ để nhận dạng và đánh giá rủi ro khi theo một dự án đặc biệt hay khi tiếp cận khách hàng mới hay khi đưa ra dịch vụ trong thị trường mới. Chúng nhằm hổ trợ các phương pháp hữu hiệu để nhận dạng và đánh giá rủi ro. Thường các danh sách câu hỏi hay checklists được các nhân viên công ty trả lời và đánh giá, sau đó so sánh và phân tích để tìm ra rủi ro. Các công cụ như thế được gọt đẽo cho công việc và triết lý của từng công ty để cân nhắc việc chấp nhận rủi ro, khả năng tài chánh để chấp nhậm và chịu lỗ,

 

Phương pháp quản lý rủi ro

Nhiều rủi ro vốn có trong nổ lực của con người. trong khi hành nghề kiến trúc, rủi ro thiệt hai hay mất mát là có thật và phải được chủ động giải quyết. Các nhân viên bảo hiểm và những người quản lý rủi ro nhận dạng 4 cách để đối phó rủi ro:

Giữ lại. Nếu có chút khả năng một sự kiện sẽ xảy ra, nguy cơ thiệt hại thấp và người KTS đủ khả năng quản lý tình huống nhằm ngăn ngừa hay giảm thiểu nó, người KTS thường nhận  mộ tả các rủi ro mà KTS thường giữ lại trách nhiệm việc này. Hồ sơ AIA về các thỏa thuận chủ đầu tư-KTS mô tả các rủi ro mà KTS thường giữ lại và rủi ro này chủ đầu tư thường phải chấp nhận.

Làm giảm nhẹ. Vài rủi ro có thể được kiểm soát, giới hạn hay giảm thiểu với kế họach hợp lý, cung câp các dịch vụ tăng cường (như thăm công trường thường xuyên hơn) hay dùng chuyên gia (để kiểm tra thiết kế hệ thống đòi hỏi công nghệ tiên tiến). Ngoài ra, các biều hiện tiềm tàng liên quan đế rủi ro có thể được giới hạn qua hợp đồng hay các hquản lý nào khác thông qua giới hạn trách nhiệm pháp lý và các điều khoản từ chối thiệt hại.

Chuyển thiệt hại: Nếu rủi ro không thể giữ lại cũng như làm giảm nhẹ, có thể chuyển sang bên khác có khả năng kiểm soát hay chịu rủi ro đó. Người kTS có thể thực hiện qua việc sử dụng các khoản bối thường hợp đồng, quy trách nhiệm đến bên khác theo hợp đồng hay mua bảo hiểm nghề nghiệp.

Tránh né.  Nhiều rủi ro không thể giữ lại, hóa giải hay chuyển cho bên khác. Khi hậu quả nghiêm trọng và khả năng xảy ra cao, người KTS có không còn lựa chọn khác ngoài quay lưng với một số thiệt hại, việc thù cao cao thế nào cũng không còn là vấn đề lúc này. Việc này có thật cho một rủi ro cự án cá nhân (như từ chối cung cấp dịch vụ kiểm tra vật liệu và quy định rằng việc này nằm trong thỏa thuận chủ đầu tư – KTS), cũng như đơn giản là rủi ro khi gặp chủ đầu tư hay loại dự án cho một KTS.

Các phương pháp cơ bản đối phó rủi ro được các bên sử dụng cho một sự án dựa trên kinh nghiệm từng trải và thiện chí chấp nhận rủi ro. Mỗi bên phải đánh giá rủi ro khi tham gia dự án trước khi lập phạm vi công việc, ngân sách, lịch trình và các khoản hợp đồng. Do đó mỗi bên phải quyết định phương pháp nào, hay phối hợp các phương pháp trên về các rủi ro của dự án.

 

Đánh giá của công ty

Đầu tiên tron việc đánh giá rủi ro là công ty phải đánh giá khả năng của mình. Thường, các KTS chạy sốt vó sau dự án hay sau khi khách hàng hỏi về khả năng ngoài tầm của KTS. Do KTS quên bo thì giờ hỏi các câu hỏi sau:

  • Công ty có kinh nghiệm, năng lực cho dự án đặc biệt này hay không ? Nếu không, có thể lấy kinh nghiệm và kỹ năng từ tư vấn có năng lực nào khác để bù vào?
  • Công ty có để thời gian cho nhân viên (quản lý, thiết kế, dịch vụ) để thực hiện dự án mới ? Nếu không, có cần tuyển, thuê, huấn luyện thêm người torng thời gian hạn chế với chi phí chấp nhận được ?
  • Công ty có đủ khả năng tài chánh đê theo dự án và duy trì đến khi nhận đù thù lao ?
  • Công ty có thành công dự án tương tự trước đây ? (Sự thành công được tính qua sự hài lòng của khách hàng, chất lượng sản phẩm, lợi nhuận, dánh tếng công ty, tin hthần nhân viên, hoàn thành đúng hạn, đúng ngân sách và không bị kiện).

Người KTS phải đánh giá thực lực công ty mình để có thể biết khả năng công ty có thể làm được và không được việc gì. Việc này không thể nói là công ty không thể phát triển với thị trường mới, lấy kinh nghiệm dự án mới hay mở rộng. Mục đích là đánh giá rõ ràng vị trí công ty ở đâu vào lúc này.

Thỉnh thoảng người KTS nên đánh giá công ty trên cơ sở chiến lược rộng hơn. Đây là một phần cập nhật kế hoạch hàng năm hay lâu dài hay là một bài tập kế hoạch chiến lược. Nhiều công ty thường tự phân tích mình để biết mảng nào công ty nên tập trung để lấy dự án mới cũng như phát triển theo hoạch định.

 

Chọn khách hàng

Thay vì theo đuổi tất cả khách hàng muốn thuê mình, các KTS thành công để tự kiểm soát mình bằng cách chọn lực khách hàng mà họ muốn phục vụ. Dối với các công ty biết cách chọn khách hàng, việc này giúp họ thành công một cách xứng đáng.

Chon khách hàng có lẽ là các hhay nhất để quản lý rủi ro. Do đó KTS cũng có thể giảm đáng kể rủi ro bị kiện. Nếu việc này quá rộng để thống kê, thì cân nhắc việc này: tối thiểu 2/3 thời gian là khách hàng nộp đơn kiện KTS. Nếu việc này có thể giảm xuống phân nửa hay 1/3, thì nên xem xét hiệu quả có thể có ở công ty.

Khách hàng không ai giống ai. Khách hàng khác nhau ở các mức phức tạp, trình độ nhận thức về quy trình xây dựng, vai trò KTS và trách nhiệm pháp lý về các bên. Khách hàng cũng có người quản lý tài chánh và khả năng tài chánh khác nhau. Do đó rất khó đaể đán hgiá hết mọi vấn đềnày và các vấn đề khác trong khi chọn quy trình.

Người KTS có thể kiểm soát việc chọn khách hàng. Việc này không nên là việc đánh giá thấp hay hoạt động thụ động. Thật sự việc chọn khách hàng là một quyết định đúng đắn quan trọng dựa theo chỉ tiêu  mục tiêu rõ rệt. Nhưng nhiều KTS lại lạc quan có thể đáp ứng với mọi khách hàng và xem tính cách khách hàng qua các manh mối sơ sài. Thực tế rằng qua vài hiện tượng đã giúp người KTS quyết định khách hàng tương lai nào mình sẽ chọn hay từ chối.

 

Điều gì tạo nên khách hàng tốt ?

Khách hàng tốt là khách hàng muốn đối thoại cởi mở về dự án của mình và mục tiêu sâu xa cũng như giải thích sự phù hợp của dự án trong chiến lược làm ăn của họ, Dù họ có thể có những giải thích rõ ràng về sự thành công của dự án, khách hàng lý tưởng có tính linh động và có thiện chí nghiên cứu các giải pháp và bàn cãi các phương án với nhóm thiết kế. Họ chào đón các quan điểm mới và tìm ý mới từ người KTS.

Người khách hàng tốt đến với dự án như một quy trình phối hợp. Họ hiểu vai trì và trách nhiệm của mình cũng như vai trò trách nhiệm các bên trong dự án. Họ dành thời gian để dự các cuộc họp, có quyết định đúng lúc, chỉ định người có khả năng vào dự án, trả tiền đúng lúc, và cung cấp thông tin dữ liệu cần thiết cho KTS. Họ cũng đồng ý chấp nhận một hợp đồng công bằng mà không đẩy trách nhiệm mình sang các bên khác.

Một cách lý tưởng, khách hàng sẽ muốn toàn bộ khả năng dịch vụ của KTs và hiểu việc này sẽ làm tăng giá trị dự án của mình. Cuối cùng khách hàng tốt hiểu rằng các vấn đề và các trnah chất sẽ phát sinh trong quá trình dự án và họ có thiện chí làm việc để giài quyết chúng nhanh chóng và thân thiện.

Không phải khách hàng nào cũng có tính cách lý tưởng như trên. Tuy nhiên, nếu một khách hàng tương lai hoàn toàn thiếu các yếu tố trên, thì không có mức phạm vi phụ trội, chi phí, lịch trình có thể giải quyết bù vào được và các khoản hợp đồng chặt chẽ hơn cũng chẳng giúp gì khá hơn.

 

 

Hình: Ai kiện KTS ( dựa theo các vụ kiện đã khép từ 1998-2002 cung cấp bởi Nhóm thiết kế chuyên nghiệp của công ty bảo hiểm XL)

 

Tìm khách hàng tương lai.

Người KTS bắt đầu tìm khách hàng từ đâu ? Bằn cách tự đặt câu hỏi về các khách hàng trực tiếp hay về những người với  những kinh nghiệm trước đó mang lại tiềm năng (qua các loại dự án đề xuất, mức độ kiến thức về quy trình xây dựng, quan điểm về chất lượng, mức danh tiếng về sự thành thật và vô tư, lịch sử pháp lý và cách giao tiếp).

Biết khách hàng có thể qua nhiều cách. Quy trình giúp người KTS tạo quan hệ với khách hàng, thiết lập một mặt bằng chung và cải thiện các giao tiếp.

 

Cách nhận biết một khách hàng không mong muốn

Biết một khách hàng tốt chỉ là phân nửa thử thách. Cần nhận biết những khách hàng không mong muốn và học cách nói không nếu thấy tiềm ẩn rủi ro trong tương lai. Ma trận đánh giá khách hàng là công cụ tốt nhất để xác định khách hàng có phù hợp với đặc tính khách hàng lý tưởng của công ty hay không và giúp công tý đánh giá chỉ tiêu chọn khách hàng của mình theo cách có tổ chức và thích hợp.

Kiểm tra lại các khách hàng hiện hữu cũng là cách quản lý rủi ro quan trọng. Vì kinh nghiệm, sự quen thuộc và mong muốn duy trì quan hệ tốt, người KTS có thể lỏng lẻo trong hợp đồng, thiếu liên lạc chính thức và thiếu tài liệu chi tiết khi làm việc với khách hàng lâu dài vủa mình. Tuy nhiên. Những khách hàng lâu dài cũng có thể kiện KTS. Do đó, vài công ty xem lại danh sách khách hàng hiện hữu của mình hàng năm và đánh giá lại qua cùng chỉ tiêu mà dùng để đánh giá các khách hàng tương lai. Họ nhân thấy rằng mức điểm 5-10% khách hàng, dựa theo chất lượng quan hệ, lợi nhuận công việc thực hiện trong năm trước, các vấn đề nảy sinh, cách giải quyết vấn đề, lịch sữ kiện cáo, việc chi trả nhanh chóng, sự tôn trọng lẫn nhau, và sự tin tưởng. Kết quả việc đánh giá có thể được xem xét khi công ty được những khách hàng này đề nghị dự án mới. Đánh giá mỗi quan hệ khách hàng theo định kỳ giúp các KTS nhắm vào những khách hàng mà họ đánh giá cao nhất.

 

Chọn dự án

Có vài loại dự án khét tiếng phát sinh tranh chấp và kiện cáo. Trong đó là các chung cư, các cơ sở có rủi ro cao, các dự án khắc phục có amiang, và dự án bị công chúng trnah cãi. Do đó các KTS nên cân nhắc kỹ các dự án như vậy. Nhưng dự án có rủi ro cao hơn có thể ít hiển nhiên hơn. Chẳng hạn hầu hết các dự án được công chúng dùng rộng rãi (như thể thao, giải trí, cáccơ sở hội nghị), các dự án có vị trí khó khăn hay điều kiện thời tiết khắc nghiệt, hay dự án dùng vật liệu hay công nghệ tiên tiến cũng thường phát sinh kiện cáo và chi phí cũng cao hơn.

????????????????????????????????????

Các dự án có rủi ro cao (theo các vụ kiện đã khép 1998-2002 của Design Professional group của công ty XL Insurance)

Nhà tù/cơ quan an ninh/nhà trừng giới: 1.8%

Chung cư (mới): 5,1%

Trường đạ học/ cao đẳng: 4.7%

Bãi đỗ xe: 1.6%

Công trình thể thao/giải trí/hội nghị: 4.6%

Bệnh viện: 4.1%

Xí nghiệp/nhà xưởng sản xuất: 2.5%.

 

Các dự án khó

Nhiều dự án được viết về các vụ kiện và các vấn đề liên quan đến các chung cư. Tuy nhiên, vài KTS nghĩ rằng các nhà tù, cơ sở sản xuất kỹ thuật cao, trường đại học, cao đẳng và các dự án dính đến công nghệ và vật liệu hiện đại mới có rủi ro cao. Những dự án lớn, phức tạp, kéo dài cũng có rũi ro cao hơn do có nhiều cơ hội phát sinh kiện cáo. Các dự án khác cần tăng cường chú ý để các rũi ro thất thoát do đặt tại khu vực nhiều gió, khi hậu khắc nghiệt, động đất, sạt lở và phức tạp khác.

Nếu phải tham gia vào dự án quá khắt khhe nhạy cảm, người KTS nên cân nhắc rủi ro có thể xảy ra từng ngày, ngoài ra còn gây ra nhiều vụ kiện cáo khác.

Cuối cùng người kTS nên cân nhắc hiệu quả (tốt hay xấu) khi tham gia các dự án khó khăn bằng cách xác định nó có phù hợp mục đich tiếp thị lâu dài của công ty hay không và nó có ảnh hưởng uy tín cũng như vị thế công ty như thế nào.

 

Thực hiện việc chọn dự án

Công ty nên chọn dự án của mình cẩn thận cũng như chọn khách hàng.Nên tìm dự án mình muốn hơn là chỉ chấp nhận dự án đến. Việc này sẽ giúp KTS quản lý rủi ro cho mình. Các chỉ tiêu chọn dự án có thể thể hiện kinh nghiệm bản lĩnh công ty qua các loại dự án, sẳn sàng đối đầu rủi ro, vị trí chiến lược liên quan đến thị trường và khách hàng và khả năng chấm nhận chịu lổ.

Chỉ tiêu chọn dự án của công ty sẽ thay đổi tùy thời điểm và cần cập nhật thường xuyên. Nếu công ty có nhiều công việc dưới hợp đồng, quan hệ tốt với các khách hàng quan trọng và có vị trí tốt trong thị trường qua các kỳ dự thi, thì có thể không cần phải chấp nhận một dự án phụ như dự án nhà tù tại vị trí nhạy cảm nơi mà dân chúng phản đối. Mặt khác, các dự án phòng thì nghiệm trường đại học có thể thú vị hơn nếu công ty giãn việc, trường đại học cũng là nguồn khách hàng lâu dài và công ty phải cố trình bày để lấy được dự án từ trường đại học.

Việc sử dụng ma trận đánh giá dự án có thể giúp bảo đảm thấy rõ và phân tích các rủi ro trong dự án. Ngoài ra, các công ty bảo hiểm cũng cân nhắc để đánh thêm dấu cộng cho dự phòng rủi ro cho công ty,

 

Chọn hợp đồng

Việc cẩn thận chọn hình thức thỏa thuận và các khoản hợp đồng để thực hiện dịch vụ cũng giúp KTS dự phòng các rủi ro. Thật vậy, một trong các công cụ quản lý rủi ro ít để ý tới và xem thường là thõa thuận chủ đầu tư – KTS và các bước dẫn đến hoàn tất hợp đồng.

Nhiều KTS may mắn khi khách hàng đồng ý sử dũng các thỏa thuận theo mẩu của AIA cho dự án. Có khách hàng cố thương lượng và điều chỉnh các thỏa thuận cho từng dự án với hình thức mẫu riêng từ phía mình. Nhưng cũng có các KTS bị bắt nhận bản hợp đồng theo mẫu của khách hàng hay tệ hơn là một cái đơn đặt hàng và được bảo rằng “nhận hay là không nhận”.

Người KTS phải chủ động nhận thấy rủi ro khi sử dụng những mẫu hợp đồng không theo chuẩn (như về các điều khản bồi thường hay bảo hành) và tìm cách để giảm tránh các rủi ro này. Chẳng hạn một cách cho KTS thương lượng với các rủi ro trong dự án chung cư là đề nghị trong hợp đồng phải có tính bảo vệ người KTS hơn. Hay khi thương lượng với khách hàng ít tiền, hợp đồng nên gồm thêm hóa đơn tích cực (agressive billing) và các điều khoản thu. Người KTS có thể cân nhắc thêm việc đưa vào giới hạn của điều khoản pháp lý dành cho các dự án có rủi ro mức trung bình và cao.

Chú ý rằng quy trình thương thảo hợp đồng là cơ hội tốt kiểm soát rủi ro qua sự quan sát cách khách hàng giải quyết vấn đề (thái độ của họ cũng như mức độ tin tưởng KTS của họ, mức độ tôn trọng nghề nghiệp KTS và thiện chí khi phân chia rủi ro cho các bên và khách hàng) .

Khi hợp đồng ít khi đề cập đến việc dẫn đến hay dự phòng việc kiện, thì các hợp đồng cũng lập r quy định, vai trò và phân bổ rủi ro giữa các bên trong dự án. Nhiều công ty chỉ định người chủ trì được huấn luyện lo về hợp đồng để chuẩn bị và kiểm tra các khả năng rủi ra của các hợp đồng không theo chuẩn. Các công ty này cũng dùng tư vấn luật để tham gia diễn dịch hợp đồng và thương thảo và các đại diện công ty bảo hiểm xác định các rủi ro qua ngôn ngữ hợp đồng. Ngoày ra nhiều công ty dùng danh sách kiểm tra để hỏi nhằm kiểm tra các thỏa thuận không theo chuẩn trước khi ký.

 

Chọn nhóm thiết kế

Khi đánh giá dự án và khách hàng thì KTS nên cẩn thậm khi chọn người lập nhóm thiết kế. Đó là bước quan trọng. Nhiều vụ kiện sinh ra do nhóm thiết kế không đủ năng lực, kinh nghiệm cũng như không hiểu nhu cầu khách hàng hay khác.

 

Chọn nhân viên

Khi đánh giá dự án để xác định nhóm nào có nang lực hơn hết, người KTS xem xét các câu hỏi sau:

  • Kỹ năng và năng lực đặc biệt nào cần cho dự án ?
  • Ai có các yếu tố trên hay đang thực hiện dự án nào khác trong lúc đó.
  • Nếu không đủ người, có thể thuê thêm người ?
  • Có thể thực hiện cùng lúc với việc huấn luyện thêm người đưa vào nhóm ?
  • Những nhân viên đó có kỹ năng nào khác (giao tiếp, giải quyết tranh chấp) để làm cho dự án. Vì những kỹ năng này quan trọng cho sự thành công của dự án.

 

Chọn người quản lý dự án

Năng lực người quản lý dự án quan trọng cho chất lượng dự án, làm khách hàng hài lòng và cho sự thành công chung của công ty. Nhiều vụ kiện chống lại công ty kiến trúc do việc chọn người quản lý dự án thiếu năng lực và kinh nghiệm. Nên cân nhắc những tố chất sau:

  • Kỹ năng lãnh đạo.
  • Kinh nghiệm cho dự án tương đương hay phạm vi công việc tương đương.
  • Khả năng xác định và làm hài lòng khách hàng.
  • Kỹ năng lên kế hoạch, tính toán tiền bạc và quản lý hồ sơ.
  • Khả năng tiên liệu, giải quyết các vấn đề khó khăn.
  • Kỹ năng viết và nói tốt.
  • Hiểu và có khả năng quản lý rủi ro.

 

Chọn tư vấn

Đối với dự án lớn và phức tạp, người KTS thường có yêu cầu dịch vụ thẩm định (kết cấu, M&E, thiết kế bền vững, …) và phải thuê các chuyên gia làm tư vấn cho nhiều hạng mục khác nhau.

Nhiều trước hợp KTS phải có trách nhiệm về các tư vấn của mình vì họ làm thuê cho tư vấn. Khái niệm này gọi là tráhc nhiệm pháp lý ủy nhiệm (vicarious liability), là trách nhiệm pháp lý của một bên (KTS) về hành động của bên khác (tư vấn). Với khái niệm này, nếu tư vấn gây thiệt hại và lỗi do sơ suất thì KTS phải chịu trách nhiệm cũng như chính KTS làm sơ suất. Do đó, người kTS cần thận trọng khi chọn tư vấn. Giống như các hquản lý rủi ro khác,, danh sách kiểm tra hay ma trận kiểm soát rủi ro là công cụ hữu ích để đánh giá tư vấn trước khi thuê.

Việc lựa chọn tư vấn – thường bị không cân nhắc kỹ – rất quan trọng nhằm giảm rủi ro liên quan đến tư vấn mà KTS phải chịu. Dù hầu hết các KTS có thể  cãi rằng dịch vụ của mình nên được giữ lại qua việc chọn trên cơ sở đánh giá năng lực, nhiều KTS thuê tư vấn dựa chặt chẽ trên giá cả.

Các tư vấn tốt, cũng giống các KTS, cảm thấy rằng rất khó để trình bày khi giá cả chỉ là một chỉ tiêu. Có lẽ nhiều KTS và chủ đầu tư không nhận ra rủi ro với các tư vấn đưa ra “giá thầu thấp” có thể bị buộc phải khi không được trả tiền đủ đề làm kỹ. Vi65cchọn tư vấn dựa trên các hệ số đánh giá là bước quan trọng để quản lý rủi ro và tránh bị kiện.

Một phương pháp chọn tư vấn tốt là lập một danh sách ngắn các tư vấn chất lượng cao trong các hạng mục với mục đích lập quan hệ lâu dài với họ. Kết quả những quan hệ đó nhờ các liên lạc, giải quyết tranh chấp,và phối hợp tốt lẫn nhau.

Dù KTS hay tư vấn thực hiện các dự án một hay nhiều lần, thì các dự án cũng nên có các thỏa thuận bằng văn bản được hai bên ký. Các thõa thuận KTS-tư vấn theo mẫu của AIA rất hữu ích để bắt đầu vì hai bên sẽ được một hởp đồng cân đối có phân định rõ rủi ro và có lông ghép các hợp đồng khác dùng trong dự án.

Cuối cùng, là vấn đề bảo hiểm. Do KTS thường dính đến các vụ kiện do lỗi tư vấn, nên KTS cần chọn các tư vấn có mức bảo hiểm pháp lý với cấp độ phù hợp. Phù hợp ở đây là khoản tương đối có thể dựa trên các yếu tố như quy nô công ty tư vấn, quy mô dự án thực hiện, rủi ro tương đối của hạng mục thực hiện, và mức độ công việc dành cho KTS. Nên nhớ rằng chính sách trách nhiệm pháp lý nghề nghiệp có giới hạn chung hằng năm về tầm mức năm chính sách, giới hạn tối đa về số vụ kiện có thể xảy ra.

Người KTS có thể cần tư vấn qua tư vấn bảo hiểm của mình và luật sư về giới hạn bảo hiểm yêu cầu cho tư vấn. Thường các tư vấn nên có bảo hiểm phù hợp trong quá khứ và có thiện chí tiếp tục bảo hiểm cho một thời gian phù hợp trong tương lai. Các yêu cầu này được viết trong hợp đồng KTS-tư vấn cùng với các khoản bồi thường phù hợp theo yêu cầu của tư vấn  pháp luật của công ty và được tư vấn luật kiểm tra lại. Các chứng nhận bảo hiểm có thể được yêu cầu cho các tư vấn như là bằng chứng cho tầm mức của mình.

 

Chọn nhà thầu

Dù người KTS không kiểm soát nhà thầu được chủ đầu tư chọn, quyết định của chủ đầu tư cũng ảnh hưởng đến rủi ro cho KTS khi thực hiện dự án. Các nhà thầu và thầu phụ chiếm 10% trong các vụ kiện và 13% tiền đã tốn cho việc kiện cáo. Các nhà thầu thiếu kinh nghiệm do chủ đầu tư chọn thường dựa trên giá thầu thấp chiếm phần lớn. Theo tài liệu AIA A305 vvề thống kê đánh gia nhà thầu được khai triển giúp chủ đầu tư đánh giá các nhà thầu sẽ thuê. Các KTS nên đề nghị chủ đầu tư dùng biểu mẫu này nhắm giúp chủ đầu tư giảm rủi ro cho họ và cho mình.

Quy trình đầu thầu cũng là việc xem xét quản lý rủi ro. Nhiều chủ đầu tư sáng mắt khi phát hiện việc chọn thầu có năng lực là một lựa chọn cám dỗ với giá thầu thấp và khi bắt đầu công việc, đã bắt đầu sinh chuyện phát sinh, thay đổi đơn hàng và thay thế. Chủ đầu tư kể cả KTS khi tham gia chọn thầu nên có chọn lựa tốt hơn nhằm cho dự án thành công. Tuy nhiên người kTS có thể tham gia việc chọn thầy trong hầu hết các dự án nhà nước, có nghĩa là có thể đối đầu rủi ro cao hơn với các vụ kiện liên quan đến nhà thầu trong những dự án này.

 

Chọn các tư vấn khác

Chủ đầu tư thuê các chuyện gia tư vấn (địa kỹ thuật, môi trường, khảo sát) Trường hợp này người KTS it dính lúi pháp lý với các dịch vụ của tư vấn trên. Tuy nhên người KTS có khả năng dính đến mức độ chính xác và mức 9dầy đủ về mặt kỹ thuật về các dự liệu và khuyến cáo của các tư vấn mà chủ đầu tư thuê.

Nếu chủ đầu tư thuê một quản lý xây dựng, người KTS nên ý thức việc này trước cũng như các dàn xếp có thể ảnh hưởng để sự đánh giá rủi ro của người KTS. Ngoài ra, bổn phận trách nhiệm của quản lý xây dựng này có thể được nêu trong thỏa thuận giữa chủ đầu tư và KTS và người KTS nên cảm thấy tin tưởng rằng người quản lý này có năng lực trong dự án.

 

Quản lý rủi ro dự án

Giả sử người KTS đã qua kỹ lưỡng quy trình đánh giá rủi ro gồm các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cua công ty, rủi ro tiềm tàng về khách hàng/dự án/hợp đồng trong tương lai và các rủi ro với các bên tham gia. Dựa trên các đánh giá, bảng tổng kết, chiến lược quản lý rủi ro, công ty quyết định tiếp tục và ký thỏa thuận với khách hàng. Lúc này là lúc cần tăng cường quản lý rủi ro cao nhất. Các công ty liên  tực nhắm đến qua trình quản lý rủi ro trong suốt  dự án sẽ gặp ít vụ kiện và ít  lỗ khi xảy ra kiện. Đó là tại sao các công ty bảo hiểm trách nhiệm pháp lý nghề nghiệp đánh giá các biện pháp phòng ngửa thất thoát mà công ty đang theo đuổi và đặt sự nhấn mạnh vào các công ty ty khi xác lập phú bảo hiểm.

Nhiều công ty bảo hiểm phát triển sổ tay hướng dẫn phòng thất thoát dựa trên kinh nghiệm các vụ kiện từng trải. Vài công ty bảo hiểm mở hội thảo dự phòng thất thoát trên toàn quốc va theo yêu cầu có thể huấn luyện tại nhà cho các khách hàng lớn hay nhóm khách hàng. Ngoài ra nhiều chuyên gia môi giới bảo hiểm trên toàn quốc giới thiệu các khóa huấn luyện phòng chống thất thoát. Các công ty được tư vấn để huấn luyện các nhân viên cùa mình về quản lý rủi ro. (nhiều chương trình được AIA công nhận như chứng chỉ đào tạo liên tục theo yêu cầu của AIA).

Khi dự án thực hiện từ quy hoạch để thiết kế và thi công đến các dịch vụ sau khi công và đến các dịch vụ kiến trúc mà công ty có thể cung cấp, mỗi sịch vụ có các chế độ riêng về các  bước và quy trình quản lý rủi ro riêng.

Tin vui là hầu hết các KTS làm việc có năng lực, Ít rắc rối phát sinh do lỗi kỹ thuật. Nhiều vụ kiện và tranh chấp phát sinh từ các mảng không liên quan đến kỹ thuật:

  • Liên lạc thông tin không đầy đủ và chính xác.
  • Quan hệ đổ vỡ.
  • Hoạt động kinh doanh tồi.

Các vấn đề phát sinh khi người KTS không thực hiện quy trình tốt hay không theo quy trình mình có. Triết gia Pogo từng nói: “Chúng đa gạp kẻ thù, đó là chúng ta”. Và may mắn người kYS có thể làm tốt hơn trong những mảng công việc với đù nhận thức, nổ lực và ý chí. Người KTS có thể trau đồ nghề nghiệp mình bằng cách tập trung và nổ lực vào việc phát triển chiến lược quản lý rủi ro một cách hiệu quả.

 

Các thông tin khác (không dịch) – trang 359.

 

Làm chung cư hay không làm chung cư …

Vì sao thuật ngữ “chung cư” như dấu hiệu đỏ trong nghề ? Vì sao một số công ty bảo hiểm từ chối bảo hiểm cho các KTS thực hiện nhiều hơn một vài dự án chung cư, làm tăng định mức yêu cầu của họ cho KTS làm dịch vụ này hay viết cảnh báo nguy hiểm cho KTS ? Câu trả lời đó là vì các vụ kiện – nhiều, rất nhiều vụ kiện tốn kém. Dù có nhiều KTS thiết kế chung cư rất thành công. Như vậy có uẩn khúc gì ?

Câu trả lời là khi hiều yếu tô nào gây ra nhiều vụ kiện trong loại hình dự án này/ Đầu tiên, chúng ta hãy nhìn tại vải điểm tổng quát. Xem xét các dự án và những người sử dụng/chủđầu tư sau cùng. Thường các chung cư là nhà giá rẻ được những người mua nhà lần đầu, những người mua nhà có tuổi và những người tìm mua nhà giá rẻ. Việc ước tính những khách hàng này dựa trên chương trình tiếp thị của chủ đầu tư mà chương trình này thường là cao, đôi lúc không hiện thức và thường không được đáp ứng. Đối với nhiều người thì mua nhà có thể là sự đầu tư đầu tiên và lớn nhất trong đời họ và họ còn lại ít tiền sau khi giải quyết vấn đề, Thường người mua nhà không đủ kinh phí sửa chửa cũng như bảo trì. Hiệp hội cũng có quyền đánh giá những người mua nhà và thúc đẩy và bò tiền kiện chủ đầu tư, nhà thiết kế, nhà thầu vì đã gây ra lỗi. Chi phí này có thể không cần đến nhưng vì nhiều công ty luật chuyên môn trong việc kiện kiểu này. Hầy hết các công ty luật tiếp thị dịch vụ của họ trên cơ sở không rủi ro.

Kế đến hãy xem xét khách hàng. Khách hàng mua chung cư thường là nhà đầu tư, chỉ đầu tư cho một dự án và có thể biến mất sau khi căn hộ cuối cùng đã được bán. Động lực duy nhất của các chủ đầu tư này là lợi dụng bán nhanh các căn hộ. Các khách hàng như vậy không quan tâm đến chất lượng thiết kế và thi công do họ không bao giờ sống hay sử dụng công trình cũng như không quan tâm đến nhu cầu người mua đến đâu. Nhà đầu tư có thề không muốn KTS thực hiện nhiều hơn tài liệu thiết kế tối thiểu (chỉ nhằm có được giấy phép) và chắc chắn họ cũng không muốn trả tiền cho các dịch vụ giải đoạn xây dựng nào khác. Hợp đồng ký với KTS không dựa trên các mẫu của AIA và có thể có nhiều khoản bồi thường và bảo hành có lợi cho chủ đầu tư hơn. Khi dự án có phép, nhà đầu tư có thể tìm cách xây căn hộ rẻ hơn và nhanh hơn nữa. Họ có thể thực hiện dự án với một phần hay toàn bộ nhân công của họ hay họ sẽ chọn nhà thầu có giá thấp nhất.

Việc này nghe thấy rất quen ? Có thể là quen thuộc khi công ty của bạn đã thiết kế nhiều dự án chung cư. Nay thử nhìn lại vấn đề chọn dự án, chọn khách hàng và chọn hợp đồng. Danh sách kiểm tra rất hữu ích – có khi còn hơn thế – khi cân nhắc làm hay không làm chung cư. Biết rằng các lịch sử về các vụ kiện liên quan đến chung cư sẽ đánh giá câu trả lời cho câu hỏi một cách nghiêm khắc. Do đó không có lý do hay ho này để chấp nhận một hợp đồng chung cư hoặc một khách hàng cũng như một dự án nằm dưới mức lý tưởng.

Tuy nhiên có những nhà đầu tư chung cư tốt. Đó là những nhà đầu tư danh tiếng với sản phẩm của họ, đã phục vụ cùng một cộng đồng trong một thời gian đáng kể và sẽ có mặt nếu có phát sinh vấn đề sau này. Họ cũng quan tâm chất lượng thiết kế và các dịch vụ của các giai đoạn xây dựng, sử dụng những hợp đồng hợp lý và xem xét các nhu cầu của KTS để quản lý rủi ro và có hiện chí với các biện pháp bảo vệ như ủng hộ KTS về việc tính đến nhà dành cho người vô gia cư. Cuối cùng, những nhà đầu tư như vậy đã chọn nhà thầu chất lượng và chi trả sòng phẳng.

Nếu tìm được dự án chung cư chấp nhận được với khách hàng đáng hoàng và có khả năng thương thảo tốt, có các bước khác để người KTS có thể giảm thiểu rủi ro khác điển hình:

  • Bố trí nhân lực có năng lực cho dự án.
  • Phát hành tài liệu có chất lượng.
  • Giám sát công trường thường xuyên và xuyên suốt.
  • Lưu tất cả giấy tờ liên quan đến dự án, đặc biệt các quyết định thiết kế, chấp nhận thay thế, lựa chọn của khách hàng, các thay đổi được và không được duyệt.

Dự án chung cư với hệ thống bảo vệ hợp đồng như trên cùng với khách hàng tốt cũng vẫn còn  mang đến rủi ro dù thấp hơn.

 

Thỏa thuận miệng

Trong khi hành nghề, khó tưởng tượng rằng các KTS có thể thực hiện dự án không có hợp đồng viết ra. Kết quả có thể gây rắc rối cho các bên nhưng đặc biệt là cho KTS do thực hiện công việc, ngân sách, chi trả không có tài liệu chứng minh. Những dự án như vậy là cơ hội tốt cho các luật sư nhằm cố tìm các khoản thỏa thuận qua các chứng cứ và hành động các bên. Và các kết quả này thường không hợp pháp cho KTS khi không có viết hợp đồng.

(Theo The Architect’s Handbook of Professional Practice của Joseph  A. Demlin, AIA, Executive Editor)

Viện KTS Hoa Kỳ (AIA)

Viện KTS Hoa Kỳ (AIA)

 (Theo The Architect’s Handbook of Professional Practice của Joseph  A. Demlin, AIA, Executive Editor – trang 20)

 

AIA được thành lập theo quy ché ngành nhằm “Tổ chức và thống nhất các thành viên nghề kiến trúc sư theo tồ chức (in fellowship) tại Hoa Kỳ; nhằm nâng cao tính mỷ quan, khoa họa và thực tiễn của nghề; nâng cao khoa học và nghệ thuật trong quy hoạch và xây dựng bằng cách nâng tiêu chuẩn đào tạo kiến trúc, huấn luyện và thực hành; phối hợp công nghiệp xây dựng và nghề kiến trúc để bảo đảm nâng cao tiêu chuẩn sống qua môi trường được cải thiện của mình; nhằm giúp nghề nghiệp không ngừng phát triển phục vụ xã hội”. AIA đạt được hình ảnh đương đại qua cái nhìn lịch sữ và nhiệm vụ qua các dịch vụ, sản phẩm và sự hổ trợ của mình trong nghề kiến trúc.

 

Thành viên tham gia

Ngày nay, AIA đã có hơn 80.000 thanh viên trên toàn thế giới trong nhiều lĩnh vực gồm cả kiến trúc sư, liên kết (Associate), liên kết quốc tế, danh dự (Emeritus) và thành viên liên minh (Allied member). AIA hổ trợ thành viên của mình trong việc phát triển nghề nghiệp trong sáng tạo, phát triển nghề nghiệp và cung cấp thông tin giúp các thành viên cp1 thể duy trì sự phát triển công ty bền vững. AIA cũng hồ trợ công việc kiến trúc bằng phúc lợi như bảo hiểm.

Các thành viên AIA có thể tham gia ở bacấp bậc thành viên: quốc gia, tiều bang và địa phương. Ngoài ra, theo vai trò quản lý truyền thống (thành viên hội đồng, ùy ban hay giám đốc vùng), các thnàh viên có thể tham gia AIA qua các cộng đồng kiến thức được tổ chức để thực hiện công việc nào đó ( như bảo tồn di sản, công tác nhỏ, khoa học và tính năng xây dựng và kiến trúc cho đào tạo) và các nhóm quan hệ thành viên (như Thảo luận KTS trẻ) được tổ chức trong quy mô nào đó với khoảng thời gian trong nghề. Qua AIA, có nhiều khả năng tham gia; chẳng hạn các cơ hội để phục vụ gồm cả các vai trò như sau:

  • Chủ tọa chương trình giải thưởng thiết kế của tiểu bang.
  • Giám đốc liên kết vùng của ỉu ban liên kết quốc gia.
  • Liên kết vùng thảo luận KTS trẻ (Young architect forum)
  • Thành viên ban AIA địa phương.
  • Thành viên ủy ban quốc gia của nhóm tư vấn môi trường.
  • Phó chủ tịch tiểu bang.
  • Thủ quỹ vùng.
  • Giám đốc vùng cấp quốc gia.
  • Đoàn thể của quỹ nghiên cứu sinh (Collge of Fellow bursar).

Trong các thành viên AIA có các KTS với hàng chục năm phục vụ ở vai trò cấp địa phương, tiểu bang và quốc gia.

 

Chương trình AIA

AIA luôn nghiên cứu tìm dịch vụ, sản phẩm và cơ hội nào cho thành viên của mình có thể thực hiện được. Đặc biệt, AIA đánh giá nhu cầu thành viên mỗi 6 tháng, Thăm dò ý kiến thành viên về các vấn đề vận động mỗi năm và phân tích dữ liệu kinh tế và các tác động ảnh hường để kiến trúc và xây dựng mỗi tháng. Từ các thông tin này, AIA phát triển các thống kê, sản phẩm, dịch vụ, chương trình và các nguồn khác thành định dạng nhằm đáp ứng như cầu nhanh chóng cho các thành viên. Vài hạng mục có trên web của AIA torng khi vài mục khác được in ra; hơn nữa (đặc biệt là việc đào tạo liên tục)  được giới thiệu tận tay thành viên. Biết rằng không phải sản phẩm, dịch vụ hay chương trình nào cũng đáp ứng nhu cầu thành viên mọi lúc. Nhưng mục đích nhằm cung cấp đám ứng nhu cầu cho đa số thành viên.

Đào tạo liên tục. AIA có nhiều chương trình đào tạo cấp quốc gia, tiểu bang và địa phương và hổ trợ hệ thống đào tạo liên tục (Continuing education system – CES) phục vụ thành viên và cả người cung cấp chương trình. AIA/CES giúp các thành vi6n truy cập cácchương trình cho phép các thành viên có thể đạt yêu cầu được đào tạo liên tục theo yêu cầu AIA (18 đơn vị/năm trong đó 8 đơn vị liên quan đến sức khỏe, an toàn, và phúc lợi của công chúng), cũng như đào tạo liên tục nhằm đáp ứng đến phép hành nghề. AIA/CES đăng ký các hổ trợ chương trình với các công ty, bộ phận AIA và các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo. Ngoài ra, AIA/CES cung cấp hệ thống của bên thứ ba để ghi nhận các hoạt động học chuyên môn.

Hội nghị AIA và triển lãm thiết kế. Mỗi năm, hội nghị AIA và triển lãm mang đến các thanh viên cơ hội đào tạo quan trọng. Sự kiện 4 ngày liên tục với các hội nghị (seminar, workshop, tour). Sự kiện mạng và xã hội (tiếp dón cấp vùng và thu hút sinh viên), trình bày các vấn đề quan trọng hay các buổi trình bày của các KTS nổi tiếng, vinh danh và tặng thưởng, và triển lãm thương mại. Các thành viên có thể được các đơn vị đào tạo liên tục theo yêu cầu của năm trong khi tham gia hội nghi cấp quốc gia.

Các cộng đồng kiến thức và nguồn kiến thức. Các thành viên có thể truy cập các kiến thức chuyên môn qua các cộng đồng này. Các nhóm này gôm các thành viên chia sẻ các mối quan tâm chung trong một lĩnh vực nào đó và phối hợp tài trợ các  cơ hội giáo dục và hoạt động mạng (networking) với những ai cùng ý nghĩ. Hơn 20 công đồng kiến thức với các mối quan tâm trong các lĩnh vực khác nhau của các hoạt động nghề nghiệp. Các nhóm hình thành quanh các vấn đề như hành nghề quốc tế, quan tâm vươn lên trong nghề, quản lý hành nghề, bả tồn fi sản, vai trò lãnh đạo cho KTS, và thiết kế bền vũng và môi trường cũng như các loại công trình cụ thể (như kiến trúc cho giáp dục, y tế, tôn giáo, nội thất, nhà ở, thương mại và giải trí).

AIA cũng cung cấp kiến thức cho thành viên của mình qua các thư viện và văn khố, website và ẩn bản của các bên hợp tác (partnership). Với John Wilet & Sons, AIA xuất bản quyển the Architect’s Handbook of Professional Practice và Architectural Graphic Standards và hồ trợ in ấn các sách khác như bộ sách Architect’s Essential. Với Taunton Press, AIA phát hành các công việc chuyên ngành về kiến trúc nhà ở nhằm cho công chúng làm quen với ích lợi khi làm việc với KTS.

Vận động hành lang (lobbying). AIA ủng hộ các vấn đề về pháp lý, quy định và các vấn đề có liên quan về tầm quan trọng của thành viên AIA trước chính quyền liên bang, tiểu bang và địa phương và các cơ quan lập chính sách. Các nổ lực này gồm cả việc vận động hành làng về mặt pháp lý hồ trợ hoạt động của thành viên (như cắt giảm thuế cho các doanh nghiệp nhỏ) hay các giải pháp cao hơn mà các KTS cho rằng quan trọng (giảm tiêu thụ năng lượng trong công trình). Các hoạt động ủng hộ đã có tại Washington trước Quốc Hội Hoa Kỳ về các vấn đề như tín dụng thuế liên bang nhằm duy trì bảo tồn thiết kế và di sản, bảo hiểm sức khỏe cho các doanh nghiệp nhỏ, nghiên cứu giao thông và quyền củal iên bang nhằm bảo đảm các công trình liêch sữ bị hư hoại do thiên tai có thể được phục chế. Các ban của AIA cũng vận động hành lang tại ấp tiểu bang và địa phương. Việc này diễn ra dưới hình thức ủng hộ để phòng danh hiệu “KTS” bị giành lấy vởi các nhà thiết kế chuyên nghiệp khác không đạt chuẩn KTS về trình độ, kinh nghiệm và kiểm tra.

Chương trình để vươn lên trong nghề nghiệp. AIA hổ trợ các thành viên trẻ khi vào nghề và khuyến khích họ hoàn thành thực tập và cố gắng hoàn thành quy trình kiểm tra đăng ký KTS (Architect registration examination – ARE). Do đó, AIA cung cấp các khóa chuẩn bị ARE, công cụ tham gia hoàn thành chương trình phát triển thực tập (Intern Development program – IDP) , hướng dẫn thông tin và Emerging Professional’s Companion (công cụ học oline để có tín chỉ IDP bổ sung).

Chương trình tài liệu hợp đồng AIA. Với lịc hsử 120 năm, các tài liệu hợp đồng AIA là “tiêu chuẩn vàng” cho thiết kế và xây dựng tại Hoa Kỳ. Hơn 100 hợp đồng và mẫu được phát triển qua sự đồng thuận của chủ đầu tư, nhà thầu, luật sư, kỹ sư và các bên khác cũng như của KTS. Tài liệu thiết lập quan hệ giữa KTS và các bên nhằm bảo vệ quyền lợi các bên. AIA không ngừng cập nhật tài liệu để phù hợp với khuynh hướng và thực tiễn trong công nghiệp xây dựng.

Chương trình vinh danh và tặng thưởng. AIA công nhận các công tác nổ bật của các thành viên trong nghề nghiệp qua một số chương trình khác nhau qua đoàn thể quỹ nghiên cứu sinh, Danh dự và giải thưởng AIA và giải thưởng Huy Chương Vàng và Công ty Kiến Trúc.

Đoàn thể quỹ nghiên cứu sinh vinh danh các KTS thành viên về những công tác đặc biệt cống hiến nghề nghiệp ngoài giờ. Điển hình trong các lĩnh vực: thiết kế, đào tạo, phục vụ nghề, phục vụ cộng đồng và tiến bộ kỹ thuật của nghề nghiệp. Những người đó được phép dùng chức danh “FAIA” sau tên của mình trên danh thiếp và trong vị thế nghề nghiệp (professional settings).

Ngoài việc công nhận đóng góp của cá nhân, Đoàn thể quỹ nghiên cứu sinh hổ trợ nghiên cứu nghề qua giải Latrobe. Giải thưởng diễn ra hai năm một lần vào năm lẻ, dành cho các KTS hay nhóm KTS làm việc cho các viện khoa học hay hàn lâm để phát triển kiến thức khoa họaa áp dụng cho kiến trúc. Giải Latrobe vừa qua nhằm vào phương pháp luận, khoa học neuron và chăm sóc sức khỏe.

Chương trình giải thưởng vàvinh danh của AIA tìm cách công nhận tác phẩm tôt nhất về kiến trúc, nội thất và thiết kế vùng và đô thị. Các nhóm khác trong viện AA công nhận các dự án cụ thể tốt nhất qua hội đồng chấm thi. Chẳng hạn, Housing Knowledge Community công nhận thiết kế nhà hay nhất mỗi năm và ủy ban về thiết kế danh dự môi trường có chỉ tiêu cụ thể cho thiết kế bền vững như việc dùng sản phẩm tái sinh các yếu tố xanh.

Huy chương vàng AIA được ban quốc gia AIA (National AIA board) tặng cho cá nhân cho tác phẩm quan trọng về ảnh hưởng lâu dài trên lý thuyết và thực hành kiến trúc. Giải thưởng công ty kiến trúc là danh dự cao nhất mà AIA dành cho côngty kiến trúc để công nhận việc tạo ra liên tục các công trình kiến trúc phân biệt.

 

Lợi ích thành viên

Cài nổ lực của AIA rơi vào các hạng mục của ích lợi thành viên hơn là chương trình liên quan đến hành nghề kiến trúc.

AIA thành lập AIA Trust vào 1962 như một vbộ phận riêng để phát triển và tại giá trị cao nhất có thể, bảo hiểm và các chương trình lợi ích khác cho thành viên và các ban của AIA và nhằm quản lý các nguồn rủi ro trong hành nghề kiến trúc. AIA Trust cho các chương trình thành viên với các tư vấn độc lập nhằm đạt cao chuẩn chất lượng, giá trị, ổn địn tài chánh, dịch vụ và tầm ảh hưởng của mình.

Các thành viên cũng dùng dịch vụ của các đối tác AIA. Đó là các công ty và nhà cung cấp dịch vụ (công ty cung cấp máy tính, dịch vụ giao hàng trong gói đặc biệt, cho thuê xe) để phục vụ cho các thành viên AIA với giá ưu đãi. Nhiều công ty nhỏ đã tiết kiệm được tiền qua các chương trình này.

 

Liên danh các KTS cùng ý nghĩ (consortium of like-minded professional)

Đối các với thành viên AIA, nhiều vấn đề mà các KTS phải đối mặt giống nhau khi AIA được thành lập. Mỗi năm, AIA và các thành viên tìm giải pháp mới cho các vấn đề “vũ” cũng như khởi xướng lên, làm việc với các bên và công đồng để tạo mội trường sống là làm việc an toàn, khỏe mạnh, bền vững. Tham khảo thêm thông tin AIA tại www.aia.org.

Quy định hành nghề chuyên môn KTS

2.2 Quy định hành nghề chuyên môn

(Bài của Joseph H. Jones Jr., Esq., AIA)

 Xã hội cho phép chuyên môn được vài quyền hạn nhưng bù lại bắt buộc phải đạt chuẩn hạnh kiểm nghề nghiệp.

 Việc phối hợp luật, đạo luật, quy chuẩn ảnh hưởng và điều hành hạnh hiểm của KTS hành nghề. Vài sự quản lý là bắt buộc, một cài cái khác là do tự nguyện. Tất cả đều quan trọng và thường diễn ra đồng thời. Các quản lý bắt buộc được bao gồm trong luật hành nghề của tiểu bang. Các đạo luật chống độc quyền cấp liên bang cũng bảo vệ việc hành nghề của KTS. Các KTS bầu chọn vào hội nghề nghiệp phải ký tên và quy định đạo đức do hội nghề nghiệp lập ra.

Các KTS có thể đóng góp vào các quy định pháp lý, nghề nghiệp, đạo đức phù hợp với việc hành nghề dược lập ra và được quản lý. Chẳng hạn, các KTS thường tham gia torng những chương trình công nhận cấp chuyên môn, phục vụ ban đăng ký (registration board), kiểm tra ứng viên đăng ký, lập quy chuẩn đạo đức và xét xử các trường hợp vi phạm đạo đức. Một trong những bắt buộc của các chấp nhận nghề nghiệp trong một xã hội lớn hơn là nhằm quản lý chuẩn đạo đức chuyên môn.

Đăng ký các đạo luật và quy định

Trong hệ thống chính phủ Mỹ, chính phủ ban hành pháp luật bảo vệ sứckhỏe công cộng, an tòn, an sinh – gồm cả quyền để quy định nghề nghiệp – được thực hiện chủ yếu bời các tiểu bang vá các cấp thẩm quyền các (the District of Columbia và lãnh thổ Mỹ). Các dự luật (Bill of Rights) dự trù cho các tểu bang các quyền chưa được hiến pháp ban cụ thể cho chính phủ liên bang và việc bảo vệ sức khỏe công cộng, an toàn và an sinh thường là một trong những quyền đó. Do đó, các quy định về thiết kế và xây dựng cũng nằm trong cấp tiểu bang.

Mỗi quyền hạn đã ban hành pháp luật quản lý việc đăng ký KTS qua các quy định và luật lệ. Các đạo luật quản lý việc đăng ký KTS thường minh bạch qua mẫu và đơn. Điển hình là:

  • Xác định việc hành nghề kiến trúc và giới hạn nó cho những ai đăng ký KTS trong phạm vi quyền hạn này.
  • Hạn chế việc danh hiệu KTS cho những ai được hành nghề kiến trúc.
  • Lập các yêu cầu khi vào nghề.
  • Cho ban đăng ký quyền lập quy định và luật lệ hành nghề.
  • Chỉ định cho các KTS đã đăng ký trong các quyền tài phán khác có thể được đăng ký để thực hiện quyền tài phán.
  • Xác định đạo đức nghề nghiệp.
  • Lập chế tài cho những KTS vi phạm theo quyền tài phán.

Luật đăng ký có thể miễn cho vài kết cấu như nông trại hay công trình nhà ở nhỏ theo yêu cầu của luật. Luật có thể cho nhóm nghề nghiệp khác (như kỹ sư chuyên môn) quyền thiết kế công trình. Luật cũng quy định hình thức đòan thể (corporate) trong hành nghề kiến trúc.

Quy định quản lý cũng bổ sung luật đăng ký quyền hạn cho các hoạt động thực tập, chi tiết đăng ký kiểm tra, và các yêu cầu cụ thể về con dấu KTS, gồn cả các thiết kế, nội dung thông tin và vị trì trên bản vẽ và tài liệu kỹ thuật. Chẳng hạn một quy định hành chánh có thể quy định vị trí chữ ký KTS cũng như con dấu trên bản vẽ. Các quy định này thường được khai triển và quản lý qua ban đăng ký tiểu bang.

Quy định hạnh kiểm nghề nghiệp

Trong các quy định hành nghề cho KTS, quyền tài phán cũng công bố quy định hạnh kiểm nghề nghiệp. Quy định này nhằm trong việc sử dụng con dấu của KTS, tranh chấp quyền lợi, vạch ra quyền lợi tài chánh trong dự án và các khía cạnh về hãnh kiểm nghề nghiệp.

Từng quy định tài phán bao gồm việc dự trù đệ trình vụ kiện, điều tra lý do vụ kiện, lắng nghe đôi bên và chế tài vi phạm quy định. Thường bất cứ ai – một công dân, một KTS khác, tiểu bang – đề có thể đệ trình vụ kiện. Hâu hết các vi phạm quy định xem như hành vi phạm tội. Chúng được cơ quan chức năng điều tra và xét xử (có quyền cảnh cáo, khiển trách một KT hay treo cũng như cấm hành nghề).

Các KTS vi phạm có thể bị kiện theo luật dân sự. Chẳng hạn một KTS với một dự án không đúng quy chuẩn có thể bị kiện do vi phạm hợp đồng, không bảno đảm an toàn và do sơ suất. Nếu các KTS cũng là thành viên AIA, có thể bị xem là vi phạm luật đạo đức nghề nghiệp của AIA và sẽ bị dẫn đến bị phạt.

Quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp của AIA

Nhằm hổ trợ các thành viên đạt chuẩn nghề nghiệp cao nhất với sự chính trực và năng lực, Viện KTS Mỷ (AIA) lập quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp. Tài liệu này, hướng dẫn và quy định các thành viên bảo đảm bồn phận của mình với công chúng, khách hàng và người sử dụng công trình. Đối với đồng nghiệp, nghề nghiệp và công nghiệp xây dựng.

Chuẩn đạo đức nghề nghiệp của AIA áp dụng cho các hoạt động của các thánh viên AIA với ba phần:

Tiêu chuẩn (Canon) là nguyên tắc hạnh kiểm. Năm tiêu chuẩn nêu trách nhiệm ngh62 nghiệp nói chung về kỷ luật, công chúng, khách hàng, nghề nghiệp và đồng nghiệp.

Chuẩn đạo đức (Ethical Standards) là mục đích cụ thể mà các thành viên cần có trong công việc và hạnh kiểm. (chẳng hạn chuẩn đầu tiên dưới tiêu chuẩn III (canon III) bổn phận với khách hàng như sau: các thành viên nên phục vụ khách hàng với cách cư xử có năng lực và kịp thời).

Quy định đạo đức thực hiện các tiêu chuẩn (canon) và chuẩn đạo đức. Các tiêu chuẩn và chuẩn đạo đức được nêu trong các điều khỏa cần có. Các quy định (rule) là lệnh (mandatory) và mô tả mức sàn mà các thành viên không được ở mức thấp hơn. Chỉ có việc vi phạm các quy định cụ thể về hạnh kiểm có thể là cơ sở để AIA quyết định kỷ luật (chẳng hạn theo Chuẩn 3.1: Các thành viên không được thay đổi phạm vi hay mục tiêu của dự án nếu không có sự đồng ý của khách hàng).

Quy dịnh đạo đức nghề nghiệp của AIA bao trùm nhiều vấn đề. Việc đọc qua các quy chuẩn giúp làm rõ rằng dù có luật đạo đức nhưng khi áp dụng, cũng không thể trả lời dứt khoát được “đây có phải là hành động đạo đức ?”. Các tiêu chuẩn quy định đạo đức nghề nghiệp như là phương tiện giúp KTS cân nhắc trước khi làm việc gì. Tiêu chuẩn đạo đứng nghề nghiệp của AIA là cái khung giúp các KTS cân nhắc quyết định của mình trước khu thực hiện.

Chống độc quyền

Người KTS cũng như các cơ sở làm ăn khác bị luật liên bang cấm tham gi các hoạt động ngăn cản kinh doanh hay khác nhằm chống cạnh tranh. Hiểu rằng nguyên tắc cơ sở của luật chống động quyền quan trọng để tránh làm việc phi pháp theo luật này,

Nguyên tắc cơ sở. Nguyên tắc căn bản đầu tiên của luật chống độc quyền là cấm các KTS có các thỏa thuận giữa các đối thủ với nhau. Vì các thỏa thuận giữa các đối thủ với nhau là bất hợp pháp nếu mục đích hay tác động của chúng có ảnh hưởng với nhau.

Cố định và giữ giá: “Giá cố định” gồm các thỏa thuận nhằm tăng, giảm giá hay giữ giá tối thiểu hay tối đa mà các bên cạnh tranh trả cho sản phẩm hay dịch vụ, hay cố định các giá khác kliên quan đến các khoảng và điều kiện dịch vụ như: giảm giá, tiền trợ cấp, hay tính dụng (credit). Người ta không phản đối khi giá cả hợp lý hay có đủ lý do vì sao giá được ra như vậy. Tòa án có thể suy đoán một thỏa thuận để cố định giá từ một chỉ đạo ngay cả khi không có biểu hiện thỏa thuận nào đạt được. Các KTS và công ty phải có quyết định độc lập về giá cả cho dịch vụ cũng như sản phẩm của mình.

Tẩy chay một đối thủ hay khách hàng. Một thỏa thuận hay việc hiểu giữa các KTS cạnh tranh nhau khi họ không thương lượng với bên thứ ba (như một KTS, một khách hàng đặc biệt, hay một nhà cung cấp dịch vụ) Các rủi ro sẽ dính vào luật chống độc quyền.

Chỉ định công việc hay khách hàng.  Người KTS hay công ty mọt mình hành động có thể quyết định cụ thể công việc hay theo bất kỳ một công việc mình chọn, nhưng một thỏa thuận giữa các KTS cạnh tranh nhằn chia chác hay chỉ định khách hàng hoặc thị trường (như chia theo địa lý, hay công việc chuyện môn) là không hợp pháp ngay cả khi những thỏa thuận thuận này không chính thức hay được biết không qua văn bản.

Các hoạt động chung đòi hỏi có kiểm tra (review).  Và chủ đề dính đến quyền lợi của KTS như phí, giá thầu, thì thiết kế và khảo sát thông tin gần như luôn tiềm ẩn dính líu đến luật chống độc quyền. Do đó các KTS cạnh tranh nhau làm việc hợp tác trên một dự án cần phải cân nhắc kỹ hàm ý chống độc quyền trong những lĩnh vực trên.

Phí. Không một tổ chức chuyên nghiệp nào của các KTS cạnh tranh nhau cho phép có một kế hoạch tính phí bắt buộc (mandatory fee schedule) hay phát hành bản hướng dẫn phí đề nghị (recommended fee guideline) . Lập bảng kế hoạch phí (fee schedule) nhằm cạnh tranh giá có thể bị đưa đến mức cố định giá sai luật. Đối với vài điều kiện, các KTS có thể phối hợp cung cấp thông tin về loại bố trí giá (như tổng giá quy định, giờ công…). Tuy nhiên phí hiện hữu là vấn đề mà chủ đầu tư và KTS cần phải thương lượng.

Đấu thầu. Quy trình mà KTS và chủ đầu tư thỏa thuận là chủ đề của luật chống động quyền. Khi các KTS cạnh tranh đồng từ chối không trình ra giá dịch vụ là sai luật. Các cá nhân KTS và công ty có thể tự quyết định chính sách đấu thầu của mình.

Dự thi thiết kế . Từ nhiều năm nay, AIA khuyến cáo về đạo đức khi dự thi. Người KTS cần có cái nhìn phối hợp và kinh nghiệm về chủ đề có thể lấy tài trợ cho dự án, Việc thầy phù hợp cho các KTS biết làm sao có thể tự quyết định có tham gia dự thi hay không. Nhưng nếu một nhóm KTS khuyến khích hay tổ chức cho các thành viên từ chối tham gia trong cuộc thi nào đó hay loại hình dự thi nào đó, thì nhóm KTS có thể dính vào việc tẩy chai bất hợp pháp.

Khảo sát thông tin.  Các tổ chức nghề nghiệp thu thập thông tin từ các thành viên về công việc của mình. Việc thu thập thông tin được cho phép ngoại trứ nếu nó được dùng để cản trở công việc nào đó sau này. Nhằm bảo đảm tuân theo luật chống độc quyền và các yêu cầu, các thăm dò các thông tin nhạy cảm như chi phí giá cả nên hạn chế như là dữ liệu lịch sử (không phải hiện hành hay tương lai) và nên được báo cáo dưới hình thức bảng tổng hợp không nêu rõ tên hay cho phép xác định rõ các nhân hay tập thể nào.

(Theo The Architect’s Handbook of Professional Practice của Joseph  A. Demlin, AIA, Executive Editor)

KTS trong chính trị.

1/4. KTS trong chính trị: (the Architect in the Political Process) (bài của Soren D. Simonsen, AIA, AICP, LEED AP) – (trang 25)

Kiến thức và kỹ năng của KTS có thể ứng dụng trong nhiều trường hợp nhằm tham gia tích cực vào chính trường.

 Kiến trục bản chất cũng là chính trị, và KTS thường phù hợp trng việc tham gia chính trị. KTS thường có ảnh hường cửa mình qua các dự án, kế hoạch cộng đồng và các chính sách chung, vốn phù hợp lĩnh vực công cộng và thướng có mục đích gia tăng việc giám sát công cộng. Khả năng của KTS phục vụ tốt trong vị trí này một phần có thể do việc giáo dục và huấn luyện nghề nghiệp. Nó cũng do bản chất của công việc KTS, như việc giải quyết vấn đề (problem solving), sự phối hợp và định hướng kết quả.

Các tài năng có liên quan của KTS

Cũng như nghề nghiệp của mình, người KTS có thể đư ra một viễn cảnh đặc biệt hay thiết thực tác động đến chính trị bằng cách thức đẩy kỹ năng cũng như khả năng của mình với một số mô tả ở đây:

Tưởng tượng một viễn cảnh:

Trong quá trình dự án xây dựng hay quy hoạch, người KTS thường được nhờ “tưởng tượng”. KTS tưởng tượng các ý trừu tượng hay ý tưởng và đưa ra hướng dẫn để hoàn thành dự án hiện tại. Tương tự, việc biến ý tưởng trừu tượng  thành tác phẩm là một phần quan trọng của việc tham gia chính trị. Các ý tưởng trong chính trị thường bao gồm các chính sách quy định và các dịch vụ nhưng cũng bao gồm các sản phẩm cụ thể như công trình, đường sá, hạ tầng.

Người điều tiết / tạo điều kiện có kinh nghiệm

Người KTS vốn làm quen việc tại điều kiện cho việc thiết kế và quy hoạch. Hầu hết các dự án công trình dù lớn hay nhỏ, đều cần kỹ năng thương lượng để mang đến các quan điểm khác nhau nhằm đạt mục thiêu chung. Các kỹ năng này (như tạo đồng thuận cho dự án với các ban ngành và chủ đầu tư) rất cần thiết cũng như khi người KTS phải đáp ứng ý của chủ đầu tư lẫn các quy định của cơ quan chức năng. Các kỹ năng này rất cần cho việc khai triển bản vẽ và hồ sơ đặc tính kỹ thuật (specification) và việc thể hiện và phối hợp các bản vẽ cho nhà thầu chính và phụ để thi công.

Giải quyết vấn đề một cách sáng tạo

Tùy theo điều kiện khác nhau: điều kiện công trường, quy định xây dựng, yêu cầu khách hàng và như cầu người sử dụng, người KTS thường xuyện bắt đầu thiết kế mà chưa rõ chính xác tác phẩm của mình sẽ ra sao. Việc giải quyết vấn đề gồm việc hỏi các câu hỏ ichính xác cũng như hỏi đúng người (cả hai vào đúng thời điểm). Các việc này thường yêu cầu tìm ra giải pháp từ nhiều góc độ và đôi lúc phải thay đổi hoàn toàn quan điểm khi thấy rõ giải pháp tối hơn nằm theo hướng khác. Torng chính trị, câu trả lời dễ dàng không phải luôn là câu trả lời đúng và khả năng hỏi câu hỏi đúng và tìm giải pháp từ các quan điểm khác nhau là quá trình khó khăn.

Tạo môi trường sống tốt

Trách nhiệm đầu tiên của chinh quyền là đề cao hiến pháp và bảo vệ quyền công dân. Bênh cạnh đó, các giải pháp chính trị nhằm giúp nâng cao cuộc sống hay tạo ra một cộng đồng đáng sống. Các giải pháp về an toàn, an ninh, sức khỏe, xã hội, kinh tế, môi trường như là một bài toán phức tạp. Các giải pháp này gây nhiều tranh cãi ở các cấp chín hquyền. Công việc người kTS thường phải sưy nghĩ, khai thác và ra ý tưởng tạo ảnh hưởng hình thái đô thị, cho hàng xóm qua hình thể nhà và vị trí góp phần vào hoạt động cộng đồng (giáp dục, y tế, quản lý, giải pháp xã hội). Do đó người KTS giống như một lãnh đạo và cũng là người vận động trong việc tạo ra cũng như bổ sung các chính sách giúp tạo nên môi trường đáng sống cho cộng đồng.

 Nhà quản lý tài chánh

Ngân sách quyết định quan trọng cho dự án. Người KTS có thể tìm tòi rút ra vấn đề quan trọng trong ngân sách ảnh hưởng đến vấn đề thiết kế. Tuy nhiên, vài KTS lợi dụng cơ hội những khó khăn này để nghĩ đến một vấn đề bao quát và tìm giải pháp có thể ngoài phạm vi công việc của mình. Các hoạt động của chính quyền gần như bị ràng buộc bời các khó khăn tài chính. Ngân sách hàng năm của các tổ chức và chính quyền là một trong những mối quan tâm lớn kế hoạch chung. Việc suy nghĩ sáng tạo trong việc xử lý tài chánh rất hữu ích như là việc dùng ngân sách để thuê giải quyết các vấn đề môi trường.

CHÍNH TRƯỜNG

Dù tốt hay xấu hôn thì các quy định và quản lý ảnh hưởng đến kiến trúc. Từ quy định hạnh kiểm khi hành nghề để quy định quy họach xây dựng, người KTS có nhiều thứ để được và nhiều thứ để góp phần vào việc phát triển chính sách mang hình ảnh của mình làm. Các quan chức khai triển chính sách ảnh hưởng đển môi trường xây dựng không phải lúc nào cũng có tầm nhìn và chuyên môn để thực hiện các ảnh hưởng lâu dài của chính sách họ đưa ra. Tiếng nói của người KTS trên bàn, dù chính thức hay không, cũng góp một phần quan trọng.

Tại các cấp chính quyền, có nhiều cơ hội cho KTS có thể tham gia chính trị. Đôi lúc, cấp độ chính quyền dành cho văn phòng bầu cử được xem như là một sự tiến bộ. Nếu sự quan tâm của anh nằm trong nghề làm chính trị, chắc chắn có thể việc này là một trường hợp. Lập cử tri, lập nhận diện tên, lập hồ sơ theo dõi chính trị thường xảy ra trong quá trình chính trị từ cấp dưới lên trên. Tuy nhiên các cơ hội tại từng cấp chính quyền có thể hay không trong việc yêu cầu tìm kiếm văn phòng bầu cử hay theo đuổi nghề làm chính trị chuyên môn.

Chính quyền địa phương

Đối với nhiều KTS, việc tham gia chính trị có thể là cách hữu hiệu để ảnh hưởngđến các chính sách do các chính sách, vốn tạo hình cho môi trường mình đang sống và làm việc, được chính quyền địa phương ảnh hưởng đáng kể.

Nhiều dự án chịu ảnh hưởng bởi các quy định chính quyền địa phương. Các quy định này không chỉ ảnh hưởng đến công trình mà còn ảnh hưởngđến thiết kế, phát triển và đến các công tác bảo trì khu vựccông cộng (đường sá, công viên). Lãnh đạo chính quyền địa phương thường quản lý trực tiếp hay gián tiếp các hệ thống hạ tầng kỹ thuật.

Ngoài việc quản lý môi trường xây dựng, các quan chức địa phương cũng có trách nhiệm đến xã hội, môi trường và giải pháp kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống. Các giải pháp như vậy gồm cả việc quản lý các dịch vụ khẩn cấp cảnh sát, PCCC, cứu thương) nhằm bảo đảm an toàn trật tự cho xã hội, chính sách nhà ở và việc làm.

Việc tham gia trong chính quyền địa phương có thể là cơ hội chính trị đầy thử thách cũng như đáng làm hơn cả, Ngoài ra, văn phòng bầu cử địa phương ít giống công việc toàn thời gian và giúp người KTS còn thì giờ duy trì công việc nghề nghiệp của mình hợp lý.

Chính quyền cấp vùng

Tính chất chính quyền cấp vùng rất đa dạng và thường được xác định bới các quy định của nhà nước cấp tiểu bang. Vài tiểu bang cho phép chính quyền cấp dưới có quyền quan trọng. Thường thì trách nhiệm của các cấp này bao gồm quy định sử dụng đất đai và hệ thống giao thông, quy hoạch vùng và giám sát pháp lý về chất lượng nước và không khí. Chính quyền cấp vùng cũng có thể chia sẽ quyền cai trị đia phương về mặt an toàn, an ninh và y tế.

Chính quyền cấp quận và tỉnh cũng có trách nhiệm về các dịch vụ sống (sức khỏe công cộng, giáo dục, giao thông và phát triển kính tế). Các dịch vụ này gồm cả việc phát triển và quản lý các công trình công cộng (trường học, bệnh viện, thư viện, bảo tàng và các công trình văn hóa giải trí).

Một quan tâm về tầm quan trọng phát triển đô thị là như cầu nhắm đến các giải pháp bền vững và hiểm họa. Người KTS có thể là những tiếng nói quan trọng là là nguồn lực cũng như trách nhiệm cho chính quyền nhắm đến việc tiêu thụ và tiết kiệm năng lượng, hệ thống giao thông hữu hiệu, chính sách sử dụng đất , phát triển không gian và bảo tồn nông nghiệp, chất lượng nước không khí, quản lý năng lượng, giải quyết thiệt hại và dự trù các cơ sở cứu trợ.

Chính quyền cấp tiểu bang

Chính quyền cấp tiểu bang phổ biến các giải pháp, trong đó có nhiều giải pháp ngoài tầm của KTS và các kế hoạch có ảnh hưởng đến nghề nghiệp của KTS (quy định hành nghề). Luật tiểu bang quy đĩnh hay cung cấp khuôn khổ cho công việc và thương mại, gồm cả giấy phép, luật lệ công ty và đạo đức nghề nghiệp. Hầy hết các tiểu bang còn quy định chính sách sử dụng đất và giao thông được áp dụng ở cấp địa phương hay cấp vùng và việc này có thể tác động gián tiếp đến quyết định chính quyền địa phương. Quy định và quản lý vốn cho giao thông, hạ tầng thường được thực hiện ở cấp tiểu bang. Các cơ quan tiểu bang thực hiện nhiều dự án trong đó bao gồm việc xây dựng, cải tạo, bảo trì các công trình,  mà KTS có ảnh hưởng quan trọng.

Không giống như quan chức địa phương thường gồm vài quan chức được bầu ra, các quan chức tiểu bang gồm đại diện nhiều giai cấp nên đã dẫn đến nhiều dạng liên minh. Khi người KTS không có kiến thức về phạm vi nào thì họ cũng biết tìm ai rành phạm vi đó khi cần đến. Do đó, người KTS có khả năng thấu hiểu và chuyên môn trong nhiều lĩnh vực chính trị.

Chính quyền cấp liên bang

Chính quyền liên bang có tầm ảnh hưởng cao nhất. Các quan chức và chính sách liên bangthường nằm dưới con mắt công chúng. Sự tin tưởng và trách nhiệm đáng kể là vốn có và cần thiết có tầm suy nghĩ rộng. Trong lịch sử, chính quyền liên bang nhằm lo về quốc phòng, thương mại liên tiểu bang, bảo vệ tự do, nhân quyền . Trong các thập niên gần đây, chính quyền liên bang không ngừng quan tâm đến các chính sách giao thông, giáo dục, môi trường, xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cá nhân, công việc làm ăn và cộng đồng.

Do đó, liên minh xây dựng ở cấp quốc gia rất cần thiết. Trong các giải pháp liên quan đến phát triển cộng đồng (nghiên cứu, chính sách công cộng, vốn dự án), người KTS phải đóng góp nhiều vào liên minh bằng kiến thức và khả năng lãnh đạo của mình. Người KTS cũng phải được nhiều từ các thành lập các liên minh mạnh xung quanh các giải pháp (như các quy định khác nhau ảnh hưởng đến nghề kiến trúc).

Kinh nghiệm kiến thức và thực hành của người KTS có thể giúp KTS linh động góp phần vào các cuộc tranh cãi liên quan đến các chính sách quốc gia quan trọng. Các công trình có phầ nquan trọng trong sử dụng năng lượng quốc gia, tiêu thụ tài nguyên, suy thoái môi trường. Với sự chia sẻ kiến thức và tạo khuôn khổ cho các giải pháp, người KTS có thể giúp tạo hình chính sách và quy định hữu ích cho thế hệ công dân tương lai.

Hình thức tham gia chính trị

Ảnh hưởngcủa người KTS trong chính trường khá rộng. Tiếng nói tập thể của người KTS qua các tổ chức nghề nghiệp (như nổ lực vận động gia tăng hữu hiệu của Viện KTS Hoa Kỳ) được tăng lên qua ảnh hưởng cá nhân của các KTS chọn ra để làm đại diện. Các KTS này có thể có ảnh hưởng trong việc lập pháp và thi hành mà không cần phải nắm văn phòng vầu cử. Các mức hoạt động đòi hỏi các cấp cam kết về thời gian và nguồn lực. Nó rất quan trọng để hiểu mức độ cam kết khi dấn thân vào.

Sự vận động

Sự vận động là hình thức căn bản nhất trong tham gia chính trị. Gồm các hoạt động như người phát ngôn trả lời truyền thông, nhà hùng biện trước công chúng hay mit-tinh chính trị, hay chủ động tham gia tại nơi công cộng để ủng hộ hoặc chống lại một chính sách hay một hành động lập pháp nào đó. Vận động là vai trò phù hợp của người KTS các ban kế hoạch hay trong chính quyền, hội đồng…, vì họ đã quen đứng bảo vệ quyền lợi khách hàng.

Khi việc vận động là quan trọng thì đã là một phần của sự liên mình – đặc biệt khi liên minh cử tri – có thể bẻ cong bất kỳ kết quả lớn hơn. Việc xây dựng liên minh cần thiết trong hầu hết các hoạt động chính trị dù là như một công dân có liên quan hay một viên chức chính trị.

(Hội đồng hành động chính trị: ảnh hưởng lập pháo ảnh hưởng tại bất kỳ cấp nào đòi hỏi có một tiếng nói trên bàn. Các viên chức địa phương thường nhận thức việc này, khi tham gia tại cấp độ tiều bang và liên bang thường đòi hỏi sự ủng hộ tài chánh để đạt các đối thoại quan trọng. Đạt thành công trong khởi xướng chính trị thường do cơ hội có tiếng nói khi một ứng viên có chính sách tạo hình ảnh sớm trong chiến dịch. Luật liên bang cấm việc dùng hội phía của thành viên AIA để lập quỹ (như quỹ tài chánh ủng hộ chiến dịch). Do đó AIA có ủy ban hành động chính trị có tổ chức – archiPAC – cho phép Viện tham gia trong hoạt động chính trị qua việc đóng góp chính trị. ArchiPAC là chương trình tình nguyện cho các thành viên AIA tham gia. Quỹ archiPAC dùng để tham gia ủy ban chiến dịch liên bang để tạo vây cánh và ủng hộ ứng viên chia sẽ và ủng hộ các giá trị quan trọng cho các thành viên AIA. Sự ủng hộ archiPAC tăng cao trong những năm gần đây và cho phép có ảnh hưởng tích cực trong việc lập pháp gồm cả các quy định làm việc và sáng kiến môi trường. Vài bộ phận của tiểu bang và địa phương cũng tổ chức PACs để có tiếng nói mạnh hơn với các nhà lập pháp tiểu bang và địa phương/ Tổ chức và ủng hộ PAC là một cách để tăng sự nhận thức của giá trị thành viên AIA)

Ủng hộ lập pháp

Người KTS có thể tham gia việc chuẩn bị và kiểm tra ngôn ngữ các khoảng lập pháp cụ thể (sắc lệnh, dự luật). Khi thực hiện, người KTS nên thấy rằng ảnh hưởng đến sự khai triển một văn bản lập pháp dễ hơn thay đổi nó sau này nhiều.

Nhằm hiệu quả nhất, việc đưa quan điểm của mình hay của liên minh rất quan trọng để tiên lượng việc phản đối việc lập pháp đề xuất như thế nào. Từng khía cạnh của việc lập pháp sẽ được đưa cho công chúng soi xét và được thấy minh bạch, vô tư, hợp hiến.

Ủng hộ chiến dịch

Người KTS có thể tham gia trong chiến dịch cho các sáng kiến cụ thể như là việc nối kết hệ thống quá cảnh công cộng hay một công trình công cộng quan trọng, hay cho một viên chức được bầu có thể thông cảm với các giá trị cá nhân KTS hay với các lý do tổ chức.

Người KTS có thể ủng hộ các chiến dịch sdưới nhiều hình thức kể cả ủng hộ tài chánh, đóng góp hiện vật phục vị, tình nguyện hay tư vấn. Thường thì mức tin tưởng mà ứng viên có ở người KTS trong sự ràng buộc ở mức ủng hộ thời gian và nguồn  lực. Khi anh xây dựng lòng tin với ứng viên, ứng viên có thể có thể dựa thêm vào anh để ủng hộ trong các thông điệp chiến dịch hay giải pháp nền tảng mà trong đó anh thể hiện kiến thức và khả năng của mình.

Văn phòng được bầu cử

các ban kế hoạch hay trong chính quyền, hội đồng…Đi vào chính trường trực tiếp sẽ cho người KTS có ảnh hưởng cá nhân của mình. Vài KTS tìm cơ hội và sự kính trọng trong công vụ qua văn phòng bầu cử lẫn được thưởng và được tiếp sức. Văn phòng bầu cử đòi hỏi có trách nhiệm và mức độ dấn thân cá nhân cũng như nghề nghiệp rất cao. Trong khi vài văn phòng bầu cử làm việc bán thời gian ( có thể được trả lương hay không), một số văn phòng khác làm toàn thời gian và đòi hỏi có các sở thích chuyên môn. Tuy nhiên, bên cạnh các trách nhiệm, các cơ hội đáng kể điến nhằm giúp các chính sách của nhóm nghề có tác động đến đến dân chúng, môi trường và sự hạnh phúc chung.

Bắt đầu bằng sự tình nguyện.

Nhiều bộ phân AIA cấp tiểu bang và địa phương có các ủy ban có tỗ chức nhằm vào các giải pháp của chính phủ. Có thể bao gồm các ủy ban về vấn đề chính phủ hay lập pháp  nhằm giải quyết các hoạt động lập pháp của tiểu bang hay cộng đồng, thiết kế quy hoạch đô thị và hay ủy ban chính sách công nhằm vào quy định hoạt động xây dựng quy hoạch địa phương.

Tham gia ủy ban tổ chức AIA là một sự giới thiệu tốt để tham gia chính trị. Người KTS có thể được gọi lên xem xét hay phản đối một chính sách lập pháp, tiếp xúc với nhà lập pháp để tạo liên minh hay ủng hộ một sáng kiến đặc biệt, hay tổ chức một cuộc vận động cho chiến dịchchính trị quan trọng. Nếu tổ chức có một ủy ban chính sách công hay lập pháp được tổ chức tốt, có thể dễ dáng bước vào và có trách nhiệm. Nếu tổ chức chưa được ốtt, nên cần người có năng lực thiết lập khởi động tổ chức.

 

Để biết thêm thông tin

Trung tâm vận động chính phủ của AIA có nhiều nguồn để ủng hộ các hoạt động vấn đề tiểu bang và địa phương từ tuyên bố chính sách đến hệ thống các vấn đề chính phủ cấp tiểu bang. Các khởi xướng vận động của AIA như AIA Center for Communities by Design, đã in các nguồn giúp thành viên AIA và các ủy ban thực các các thông điệp quan trọng liên quan đến chính sách chính quyền địa phương. Các thông tin khác có thể tìm tại www.aia.org .

 

(Theo The Architect’s Handbook of Professional Practice của Joseph  A. Demlin, AIA, Executive Editor)