Tại sao người Việt không khá nổi ? (1)

Tại sao người Việt không khá nổi ? – Cổ Minh Tâm (8-2012)

“Thuốc đáng dã tật, sự thật mất lòng” (Tục ngữ VN)

“Tout dire pour tout connaître, pour tout guérir” (E.Zola)

…“Cái văn-minh Âu-châu cao hơn ta, là vì người Âu-châu cũng có bấy nhiêu dại, nhưng mà người ta biết dại, mà cách xét học sự dại sâu sắc vô cùng”… “Ta chớ nên làm như người bệnh quá nặng, mà cứ thẹn thò đành chết hơn phải dở nơi trọng thương cho thầy xem”… (Nguyễn văn Vĩnh)

1-       Địa Lý – Lịch sử:

  1. Vị trí nước Việt:

Vị trí chiến lược quan trọng trên biển Đông bị bỏ quên suốt thời gian dài lịch sử. Giá trị vị thế được các nhà buôn, nhà truyền giáo Tây phương và Nhật bản đánh hơi từ thế kỷ 17. Sau thế chiến II , vị trí quan trọng này khiến VN thành miếng mồi ngon để liệt cường xâu xé.

Người Hy Lạp, La Mã.. đã sớm biết tận dụng ưu thế đường biển để giao thương, phát triển ảnh hưởng nền văn minh của họ ra xung quanh. Nhưng tâm lý tiểu nông với nền văn minh lúa nước làm người Việt đã bỏ qua lợi thế đường biển do không có tính mạo hiểm đi xa.

Việc giao thương của người Việt cùng lắm chỉ lẩn quẩn ven bờ với các nước lân cận: Trung Hoa, Chàm, Phù Nam… Cấu tạo thuyền bè cổ của Việt và Tàu là loại đáy bằng chứng minh khả năng ra biển lớn là một sự xa vời.

  1. Hình dạng nước Việt:

Một sự trùng hợp lạ lùng như hình dưới đây. [i]

 

Biểu tượng thái cực đồ vốn thể hiện tính thay đồi không ngừng theo lý Dịch, cũng tương quan tương hợp với một nước VN luôn biến động. Tiếc thay đây là cái động thụ động.

Nếu thử vẽ một đường viền ranh giới nước Việt và định vị trí trọng tâm của hình thì trọng tâm không nằm trong phạm vi đường viền mà nó nằm hẳn sang phía nước Lào. Về mặt phong thủy, việc này khẳng định thêm tính cách “biến động” chi phối bởi tình hình xung quanh. [ii] Phải chăng vì vậy mà …

  1. Luôn biến động vì chiến tranh:

Xét dòng lịch sử, nước VN chưa hề được độc lập bình yên đúng nghĩa trong 100 năm liên tục và càng về sau tần suất lại có chiều hướng gia tăng.

Những mốc chiến tranh quan trọng làm thay đổi cục diên nước VN (chưa kể nhiều cuộc nổi dậy khi mỗi triều đại suy yếu):

–          208 TCN: Bị Triệu Đà thôn tính Âu Lạc. Nước Nam Việt được thành lập.

–          111 TCN bị nhà Hán thôn tính khởi đầu ngàn năm Bắc thuộc.

–          40: khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

–          248: khởi nghĩa Bà Triệu.

–          541, khởi nghĩa Lý Nam Đế, khai sinh triều Tiền Lý.

–          550: Triệu Việt Vương khai sinh nước Vạn xuân

–          602: bị nhà Tùy thôn tính.

–          713: Khởi nghĩa Mai Hắc Đế

–          766: khởi nghĩa Phùng Hưng

–          819: Khởi nghĩa Dương Thanh.

–          905: Khúc Thừa Dụ mở đầu thời kỳ độc lập.

–          939: Ngô Quyền đuổi quân Nam Hán và xưng vương.

–          944-968: Loạn 12 sứ quân, huynh đệ tương tàn.

–          981: Lê Đại Hành phá Tống (lần thứ nhất)

–          1069: chiến tranh với Chiêm Thành.

–          1075-1076: Lý thường Kiệt phá Tống (lần thứ hai)

–          1258, 1285, 1288: nhà Trần 3 lần đánh quân Nguyên.

–          1389-1390: chiến tranh với Chiêm Thành.

–          1407: bị nhà Minh thôn tính.

–          1418-1428: Lê Lợi chống quân Minh giành độc lập.

–          1527-1592: Lê-Mạc phân tranh, huynh đệ tương tàn.

–          1627-1775: Trịnh-Nguyễn phân tranh, huynh đệ tương tàn.

–          1784-1785: Nguyễn Huệ đánh quân Xiêm la.

–          1789:  Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh.

–          1802: Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn khai sáng triều Nguyễn.

–          1858: liên quân Pháp-Tây Ban Nha đánh Đà Nẵng. Mở đầu thời kỳ Pháp thuộc với nhiều cuộc nổi dậy kéo dài.

–          1945: Nhật lật Pháp 9-3-1945.

–          1945-1954: chiến tranh Pháp-Việt.

–          1954-1975: nội chiến Nam-Bắc, huynh đệ tương tàn.

–          1977: chiến tranh biên giới Tây Nam với Polpot.

–          1979: chiến tranh biên giới phía Bắc với Tàu, âm ỉ kéo dài đến 1984 (Lão Sơn), 1988 (Trường Sa).

Chiến tranh không dứt với ba lần huynh đệ tương tàn.

Thời hòa bình không kéo dài khiến tâm lý con người VN: mất khả năng (và cũng không thèm) tính toán chiến lược lâu dài, quen tính những nước cờ ngắn, chú trọng chuyện trước mắt, có khả năng ứng phó tức thời nhưng không bền bĩ.

Đây là nguyên nhân chính khiến người Việt không thể nào khá nỗi.

  1. Mâu thuẫn giữa vị trí VN và tính cách dân tộc:

Do bắt nguồn từ nền văn minh lúa nước khiển người Việt không thích đi đây đó để sinh sống. Tâm lý tiểu nông lâu ngày làm con người không thể và không muốn tính toán chuyện lâu dài và không ưa thay đổi. Nếu có cải cách thì lại là những kế hoạch không tới nơi tới chốn. Từ “cải cách” xưa nay thành một “thảm họa” ám ảnh người mình.

Có vị trí giao thương hàng hải thuận lợi nhưng người Việt lại không thích đi làm buôn bán nơi xa (đường biển và ngay cả đường bộ)  là một cái dở lớn. Việc di dân chỉ xảy ra khi bị bức bách đến cùng cực. [iii]

Xét lại các nền văn minh Hy Lạp, La Mã, Ai Cập, Ba Tư.. hùng mạnh, oanh liệt một thời cũng nhờ biết can đảm tận dụng ngành giao thông đường thủy. Văn minh của họ từ đó đã gây ảnh hưởng đáng kể.

Dân Viking Bắc Âu dùng kỹ năng đi biển thuần thục để chiếm những vùng đất tốt hơn để định cư.

Thời cận đại, Anh , Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, … sáng suốt đầu tư hàng hải để tìm thuộc địa và buôn bán để được hùng cường.

Người của ta làm ăn nhỏ, không thích mạo hiểm đi xa là một thiệt thòi rõ rệt.

  1. Không có tính bảo tồn:

Tuy có tính bảo thủ, người mình có tính tự tôn, không chấp nhận cái hay của người khác. Qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, mỗi lần đổi trào đều có những đợt phá hủy “tàn dư, dấu vết kẻ thù” dưới mọi hình thức, kể cả rửa hận.

Cuối cùng chỉ còn lại cái gọi là “văn hóa phi vật thể” ! Hiện vật 4000 năm văn hiến gần như mất sạch chẳng để lại bao nhiêu cho đời sau.

 

Xét người Pháp cũng có tính bảo thủ, ít chịu cải cách hơn so với các nước xung quanh, tuy nhiên, họ biết trân trọng di tích bất kỳ thời đại, chế độ nào.[iv]

 

Do không chấp nhận kinh nghiệm kẻ khác (nhất là từ kẻ thù) nên tính kế thừa không liên tục khi mà mỗi một chính quyền mới không bao giờ chịu tiếp nhận tinh hoa của chính quyền trước đó chưa kể nhiều hồ sơ tài liệu của chính quyền cũ bị tiêu hủy sạch. [v]

Tất cả đều phải làm lại từ đầu !

  1. f.        Hiếu hòa hay hiếu chiến ?

i.      Ngôn ngữ chiến tranh trong đời sống hàng ngày:

Cuộc chiến tranh kéo dài qua nhiều đời làm ngôn ngữ VN luôn có từ ngữ bắt nguồn từ chiến tranh, bạo lực.  Trong giao tiếp, trên báo chí hàng ngày thường thấy những từ : anh hùng, chiến dịch, chủ lực, công kích, công phá, dội bom, đập tan, đấu tranh, đỡ đạn, giựt ngòi, lực lượng, lạc đạn, lãnh đạn, mặt trận, nổ, quyết thắng,  ra quân,  sát phạt, ta-địch, thắng lợi, tiêu diệt… được dùng phổ biến. Không dễ gì xóa đi tư tưởng “đánh nhau” tồn tại trong con người VN.

ii.      Công trình văn hóa đậm tính chiến tranh, giết chóc:

Các tượng đài hiện nay đa số có tính chiến tranh ca ngợi một tập thể hay cá nhân thời chiến. Thêm các bia tưởng niệm biến cố trận đánh, chiến công mọc lên không ít.

Tại các các nước khác, ngoại trừ những di tích có tầm cỡ, nhiều nơi chỉ dựng một tấm bảng nhỏ nhắc lại sự kiện. Ngoài ra, nếu có tượng đài thì giá trị nghệ thuật được cân nhắc kỷ. Trong khi đó ta lạm dụng bia, tượng đài hoành tráng ở mọi nơi với các chi tiết súng ống, tầm vông, giáo mác tua tủa đầy sát khí ! Hơn nữa, các tấm bảng thông tin tuyên truyền tràn lan khắp phố ca ngợi chủ trương, hâm nóng chiến thắng quá khứ .. Ngay trong công trình thể thao [vi]  hay các sinh hoạt giáo dục học đường [vii] cũng đậm nét quân sự hóa.

Nhìn chung, tiềm thức dân tộc luôn được bồi dưỡng bởi tư tưởng “đánh phá” nhiều hơn là “xây dựng”.

iii.      So sánh với các dân tộc láng giềng qua các dấu vết văn hóa hiện hữu

  1. Dù số lượng di tích văn hóa vượt trội Vn nhưng ngay cả nước Tàu cũng không tránh được những trận phá hủy văn hóa tàn khốc trong lịch sử gây ra bởi Tần Thủy Hoàng (213 TCN) và CM văn hóa (1966-1976).

Vết tích văn hóa Khmer, Chàm, Phù Nam thể hiện sự tiến bộ mà Vn chưa thể sánh kịp, đặc biệt là các di tích tôn giáo. Do đặc thù xây cất bằng đá, nên tồn tại đến nay rất nhiều.

Việt Nam chỉ vỏn vẹn các di tích về đền chùa nhỏ xây bằng gạch, gỗ với quy mô nhỏ. Các kiến trúc từ thế kỷ 19 đến nay tuy có lớn hơn song chưa đủ thuyết phục qua bề dày lịch sử cũng như giá trị nghệ thuật.

Đã thế trong lịch sử, văn hóa VN trải qua không ít lần bị hủy diệt tàn khốc và những bước ngoặc thay đổi chữ viết làm mai một đi nhiều di sản chữ viết trước đó:

–          Năm 43:  khi thắng Hai Bà Trưng, Mã Viện cấm dân Việt dùng chữ Khoa Đẩu cổ truyền của người Việt và bắt dùng chữ Hán. Các thư tịch có gía trị xem như mất hẳn. Chỉ còn lại ít dấu vết lưu lại rải rác tại miền Bắc (Bãi đá cổ Sapa, trống đồng Lũng Cú..) và chử viết của người Mường thiểu số.

–          1400, Nhà Hồ lật đổ nhà Trần, chữ Nôm được coi trọng.

–          1406-1407: Nhà Minh tiêu diệt triệt để văn hóa Việt, bắt hết nhân tài và sách vở giá trị mang về Tàu, đền miếu, sách vở còn lại bị tiêu hủy thẳng tay.

–          Thế kỷ 16, nhiều giáo sĩ phương Tây , đặc biệt là cố đạo Alexandre de Rhodes, đã nghiên cứu và Latinh hóa hệ thống chữ Việt.  Đây là một cải cách có giá trị hơn cả.

–          Thời Tây Sơn (1788-1802): vua Quang Trung chọn chữ Nôm làm quốc ngữ.

–          Thời nhà Nguyễn (1802-1945): Nho giáo được dùng trở lại trong khoa cử.

–          1879, Pháp chính thức đưa chữ quốc ngữ hệ Latinh vào ngành giáo dục. Nến nho học cáo chung với khoa thi Hội cuối cùng năm 1919.

“Nước ta mai sau này hay hay dở cũng đều nhờ ở chữ Quốc ngữ” [viii]  (Nguyễn Văn Vĩnh).

–          Sau 1975: những đợt tiêu hủy “văn hóa đồi trụy chế độ cũ” hủy diệt nhiều tài liệu quý giá trước đây gồm cả các tài liệu lịch sử, giáo dục, khoa học kỹ thuật, tự điển, ….  Ngay cả nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, Lăng Cha Cả,… và các di tích lịch sử quan trọng khác của Saigon, cũng bị “quy hoạch” xóa sổ không thương tiếc.

Bao nhiêu tinh hoa văn hóa bị hủy diệt đồng nghĩa với bao kinh nghiệm bị lãng phí làm thui chột tiềm năng dân tộc. Người Việt mang tiếng phá hoại và chối bỏ nền văn minh quá khứ của chính mình. Như vậy ảnh hưởng văn hóa khó mà phổ biến ra xung quanh.

Chỉ còn lại văn hóa “phi vật thể” lưu truyền trong dân gian mà không được kiểm chứng và xác định nguồn gốc chính xác. Nhiều câu hỏi còn bỏ ngỏ…

  1. 2.       Mình tự phá di tích của mình: Do di tích tại VN chủ yếu dùng gỗ, ít dùng đá nên khó tồn tại qua chiến tranh, đó là vấn đề lớn. Chưa chắc nguyên bản của di tích được duy trì như mong muốn. Có nhiều việc trùng tu phá hẳn nguyên bản như là sự phá hoại có chủ ý.
  2. Tư tưởng “ta thắng- địch thua” trong sách giáo khoa lịch sử:

Tuy rằng chức năng sách lịch sử là phải ghi lại khách quan các sự kiện, nhưng thực tế thì:

–          Dữ liệu thương vong (chỉ riêng của địch) ban đầu được ghi rõ. Song đợt phát hành càng về sau, số liệu thương vong của địch tăng dần.

–          Số thương vong của “phe ta” không được nhắc đến.

–          Sự kiện lịch sử mơ hồ, không có chi tiết cụ thể. Chẳng hạn chỉ viết đơn giản: quân ta tấn công và giải phóng nhiều vùng rộng lớn của địch (vùng nào? Ngày nào ?…)

–          Đánh nhau phải có thắng có thua, nhưng trong sách sử cho biết ta thua trận nào  (?) với những với công thức: dưới hỏa lực mạnh của địch, ta rút lui để bào toàn lực lượng (chẳng thấy ghi thiệt hại các bên là bao nhiêu) hay là : dù bị đàn áp dã man,  đây là cuộc tổng diễn tập lớn làm tiền đề cho chiến thắng (..gì gì đó…) sau này.

–          Các số liệu về kinh tế của các thời kỳ lịch sử không được xem trọng.

–          Không ghi rõ những nguồn sách tham khảo.

Tất nhiên trí non nớt học trò sẽ dung nạp và sinh lòng tự hào “đất nghèo sinh những anh hùng”, đánh nhau là giỏi nhất thế giới ! [ix] Trong khi hận thù và bạo lực không thể làm nền tảng đạo đức cho xã hội hiện đại.


[ii] Lý do này có lẽ đã khiến cho các giới phong thủy Đông phương rất kỵ những hình thái nhà ở có “trọng tâm nằm bên ngoài nhà hay khu đất) như là nhà chữ L của Tây phương.

[iii]  Theo lịch sử, những cuộc di dân quan trọng:

–       Khởi đầu truyền  thuyết Lạc Long Quân-Âu Cơ chia đôi số con chia nhau lên rừng và xuống biển biển sinh sống.

–       Những cuộc di dân từ Đàng Ngoài và Đàng Trong thời Trịnh-Nguyễn.

–       Cuộc di dân theo hiệp định Geneve 1954.

–       Phong trào “thuyền nhân” từ 1975 kéo dài đến sau 1990 mới tạm dứt.

[iv]  Trên đường phố Paris, người ta vẫn thấy tên đường có  tên địa danh liên quan đến lịch sử thế giới:  Babylone,  Londres, Stalingrad, Sébastopol, Téhéran… Thậm chí đường còn mang tên nhân vật có ảnh hưởng thế giới dù đó là kẻ thù của nước Pháp: Jules Cesar.

Nghĩa trang Père Lachaise tại Paris với nhiều nhân vật lịch sử quan trọng đã an nghĩ từ hàng trăm năm nay hay nghĩa trang quân đội Đức quốc xã tại Dagneux (Pháp).. đã thể hiện cái văn hóa của nước người có tính nhân đạo cao. Kinh tế có quan trọng đến đâu nhưng nếu con người không có tôn trọng văn hóa thì coi như hỏng cả.

[v]  Trong “Chính đề”, của Ngô Đình Nhu đã chú trọng vấn đề này:

Trình độ gián đoạn trầm trọng nhất xảy ra khi sự chuyển quyền không thực hiện được giữa lớp người trước và lớp người sau. Bí mật lãnh đạo và bí mật quốc gia đều mất.
Thuật lãnh đạo không truyền lại được. Di sản dĩ vãng không người thừa nhận, văn khố thất lạc và bị cướp bóc. Đó là trường hợp của các nước bị chinh phục, mất chủ quyền. Và đó là trường hợp của VN chúng ta trong thời kỳ Pháp thuộc.
Lớp người lãnh đạo trước của chúng ta đã mất, lớp người lãnh đạo sau của chúng ta không có. Di sản dĩ vãng tiêu tan. Tình trạng của chúng ta thật là khủng khiếp nếu chúng ta tưởng tượng rằng, trước mặt một nhà lãnh đạo Anh tựa lưng vững chãi trên di sản dày 400 năm, sẵn sàng ứng phó với mọi biến cố, nhà lãnh đạo của chúng ta đứng lên, cô độc, sau lưng không có lấy được một tờ di sản làm hậu thuẫn.
Hoàn cảnh trong đó chúng ta phải chiến đấu để thực hiện cuộc phát triển dân tộc, nghiêm khắc là vậy đó. Ý nghĩa của chữ “chậm tiến” là vậy đó”.

[vi]  Trong quyển “ Tuyển tập tiêu chuẩn xây dựng tập IV” in năm 1997, tại chương TCVN 4205:1986, vẫn  còn đề cập đến tiêu chuẩn sân ném lựu đạn trong công trình thể dục thể thao !

[vii]  Khóa tập quân sự, giáo dục quốc phòng, học kỳ quân đội, các phong trào được “ra quân” kèm với danh hiệu chiến sĩ, dũng sĩ, kiện tướng…

[viii]  Lợi thế chữ quốc ngữ giúp VN có cơ hội quý giá để vượt trội các nước láng giềng  do hấp thu nền văn minh cũng như khoa học phương Tây dễ dàng hơn. Song người VN lại tiếp tục bỏ mất cơ hội này.

[ix]  Trong “Văn hóa trì trệ” của Lê Thị Huệ có viết:

“… Người VN thường hãnh diện là VN có những cuộc chiến ngon lành. Chuyên môn đánh thắng các cuộc chiến lớn. Giết người rất giỏi. Giết nhau với Tàu, giết nhau với Pháp, giết nhau với Mỹ..

VN nuốt và đồng hóa luôn một dân tộc Chăm.

Người VN nghĩ là mình học giỏi. Học giỏi là bẩm chất thông minh. Bẩm chất  hơn người nhưng đến khi lớn lên dạy bảo nhau gìn giữ gia tài văn hóa kiểu gì mà đánh nhau (chiến tranh) thì rất giỏi. Học giỏi nhưng lại không sản xuất ra được những công trình  khoa học nào để nâng cao đời sống dân họ,  mà lại còn nghèo thì thuộc hạng nhất thế giới...”

One thought on “Tại sao người Việt không khá nổi ? (1)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s