THỜI GIAN BỊ ĐÁNH MẤT

Thời gian bị đánh mất – KTS Cổ Mình Tâm.

Trong công tác XD cũng như nhiều hoạt động khác, hiện nay còn nhiều những sự việc không hợp lý gây lãng phí thời gian tiền bạc lẫn công sức. Với nghề kiến trúc thì chúng ngăn cản sự sáng tạo và khiến KTS miễn cưỡng lo việc ngoài lề kiểu “đối phó-chụp giựt”.  Xin nói lên những khó khăn mà người làm nghề thiết kế xây dựng hay gặp, thậm chí buộc lòng phải tiếp tay với tiêu cực cho mau qua chuyện.

  1. Đòi hỏi quá đáng, thậm chí vô lý của chủ đầu tư:

Như từng viết trước đây, đa số chủ đầu tư có thói quen yêu cầu KTS thiết kế thêm vài ba phương án khác để chọn lựa. Với một sản phẩm trí tuệ đã đổ nhiều tâm huyết vào thì việc nặn ra những phương án chọn có tính miễn cưỡng để đối phó là chính với chất lượng thua hẳn phương án duy nhất. Và KTS luôn mất thời gian để vẽ những thứ thừa ấy.Nguy hại hơn, tôi từng chứng kiến chủ đầu tư bắt thiết kế làm trọn một bộ hồ sơ gần như hoàn chỉnh; sau đó vì tình hình kinh tế biến động, chủ đầu tư lại yêu cầu chỉnh sửa lại trọn bộ nhiều lần (tùy theo nhu cầu thời vụ của chủ đầu tư). Do sợ mất khách mà KTS phải chịu trận mà chìu khách khi đã lỡ “phóng theo lao” mà không dám đòi hỏi một phát sinh nào [1]. Có chủ đầu tư động tý bắt tư vấn phải bỏ tiền tàu xe đích thân đi họp theo yêu cầu (thường ngoài thỏa thuận của hợp đồng cũng như “đột xuất” liên tục)

Đặc biệt những thay đổi thiết kế theo ý chủ đầu tư trong quá trình thi công đã làm nản lòng  bên thiết kế, tất nhiên chất lượng công trình giảm đi nhiều.

  1. “Học bài” để sát hạch CCHN:

Việc ép buộc KTS cũng như những người làm công tác xây dựng khác phảihọc thuộc lòng những thứ không cần học thuộc là việc vô lý đã từng bàn trước đây. Nay tạm gác để nêu tiếp những yếu tố khác.

  1. Xoay quanh việc “con người- con dấu”
    1. Đóng dấu ký tên bản vẽ:

Cho đến nay bản vẽ thiết kế được giảm tải chỉ dừng tại việc chấp nhận chữ ký scan dán trên bản vẽ. Một phần đã giúp những người liên quan đến dự án (luôn cả giám đốc) không phải bỏ hàng giờ thay phiên ký “tươi” trên từng trang sau khi photo ra 5-7 bộ (thậm chí có lúc lên đến 13 bộ như tui từng chứng kiến !).

Sau đó, là quy trình đóng dấu “tươi” trên từng trang bản vẽ của các bên liên quan buộc hồ sơ được đóng gói gởi sang các công ty bạn trước khi đến tay chủ đầu tư. Và, chủ đầu tư cũng không thoát cảnh đóng dấu từng trang bản vẽ theo đúng thủ tục. Việc này tốn kém mọi mặt lẫn rủi ro hư hỏng do qua nhiều chặng.

Chưa kể còn thêm dấu thẩm định của các cơ quan chức năng.

Tất cả đều đổ thừa quy định bắt buộc phải thế !

Tại sao chúng ta không cho đóng dấu tươi của các bên một bộ gốc, sau đó photo ra tùy nhu cầu, kèm theo cd/dvd (chứa file gốc) để phân phát cho các bên liên quan ?Dù ai có gian ý muốn sửa đổi hồ sơ cũng không dám thực hiện do các bên đều có hô sơ như nhau để đối chiếu khi cần. Và bản gốc được giao chủ đầu tư lưu giữ sau cùng.

Sao không công nhận dấu giáp lai trên bản vẽ như cách áp dụng dấu giáp lại trên các công văn ?

  1. Xác nhận thủ tục giấy tờ:

Không đâu quan trọng con dấu như ở nước ta. Thêm hiện nay, bằng giả, chứng chỉ “chạy”, giấy tờ “ma” , đường dây “chạy chứng chỉ” đâu cũng có và công khai tiếp thị đường dây trên internet, thách thức pháp luật. Nguyên do lâu nay là sự trung thực của con người suy giảm do giáo dục suy đồi nên “không ai tin ai”. Và từ đó đòi hỏi một phương tiện khác để phần nào bảo đảm sự tin cậy. Rất nhiều giải pháp ngăn chận nhưng vô hiệu do luật thiếu tính răn đe. Và trò rượt đuổi kiểu đèn cù để đối phó của các bên dây dưa không dứt. Cuối cùng con dấu xác nhận là giải pháp “tạm thời nhưng lâu dài” nhằm quản lý sự trung thực của con người. Đó là về mặt lý thuyết.

Nhưng thực tế sinh ra rào cản mới phức tạp hóa vấn đề. Cụ thể việc làm bản khai kinh nghiệm, cũng như làm hồ sơ các loại, nảy sinh nhiều rắc rối buộc người trong cuộc phải bỏ tiền mà “chạy”. Đại đa số những người làm nghề xây dựng đi làm thuê từng bị đòi hỏi trình ra những hồ sơ , mà theo tinh thần TT17 gần đây, như sau:

  • Trình hợp đồng công trình đã thực hiện.(Theo đòi hỏi của TT17)
  • Biên bản phân công công việc. (Theo đòi hỏi của TT17)

Nói chung phải có những giấy tờ chứng minh những công trình đã thực hiện trước đây, kể cả chữ ký và con dấu xác nhận của công ty chủ quản. [2]

Ngoài việc có nguy cơ làm lộ bí mật khách hàng (theo tinh thần luật xây dựng đang soạn thảo khi phải trình hợp đồng), người làm nghề xây dựng làm thuê luôn gặp những rắc rối tạm liệt kê như sau:

  • Công ty cũ không ai rảnh lục lại hồ sơ cũng như làm giấy xác nhận đóng dấu cho những người cũ (đã ra đi, nay quay lại nhờ vả) có nhu cầu. Nếu ai từng có tranh chấp bất đồng với công ty cũ trước đây thì càng kẹt.
  • Hồ sơ lâu ngày bị công ty cũ làm thất lạc.
  • Do công ty cũ giải thể hay phá sản.
  • Hồ sơ là tài sản riêng/bímật của công ty đó không được chép tùy tiện.
  • Riêng biên bản phân công công tác kèm dấu công ty càng không có vì hiện nay làm việc qua email là chính, ngoại trừ nếu ai muốn ngụy tạo làm giả để nộp theo thủ tục.

Trong khi đó, những người làm tự do lại không cần có chữ ký con dấu của cơ quan chủ quản. Người nước ngoài làm thủ tục lại đơn giản hơn người trong nước. Chỉ khác nhau cái con dấu trong cùng một mục đích nộp hồ sơ!

Khác với nước ngoài, ta chưa biết coi trọng và tin tưởng các thư giới thiệu hay xác nhận kèm chữ ký của người giới thiệu dù có người đó có uy tín. Không có con dấu, thư càng không có giá trị ! Ai dù bất tài, miễn có bằng cấp le lói (có dấu) đều được trọng dụng cất nhắc trong khi những người thực tài luôn bị coi thường dù có nhiều kinh nghiệm. Con dấu vô hồn hiện chi phối mọi thứ của con người.

  1. Làm những thứ lặp lại không cần thiết:

Trong các dự án lớn mà những việc dưới đây như là những việc làm lại hai lần mất thời gian vô ích thậm chí còn mang lại rủi ro bị phạt oan uổng.

  1. Quy trình bảo trì:

Nghị định 46/2015/NĐ-CP, điều 38.2a có yêu cầu nhà thầu thiết kế xây dựng công trình phải nộp quy trình bảo trì cho chủ đầu tư. Từ đó gần như đánh đồng khập khễnh giữa nhà thiết kế (designer) với nhà cung cấp/sản xuất supplier/manufacturer). Thực tếchuyên môn của tư vấn thiết kế trong việc này không thể hơn nhà thầu, càng không hơn nhà cung cấp/sản xuất thiết bị về mặt bảo trì thiết bị/sản phẩm. Do đó quy trình bảo trì của tư vấn thiết kế in ra chỉ đối phó với luật mà chủ đầu tư cũng không dùng đến.

Điều 38.4 còn nêu: “Trường hợp có tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo trì hoặc có quy trình bảo trì của công trình tương tự phù hợp thì chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng công trình có thể áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc quy trình đó cho công trình mà không cần lập quy trình bảo trì riêng”, Việc này cho thấy ta có thể “copy” quy trình bảo trì khác để nộp vì cách bảo trì công trình thông thường gần như giống nhau (có chăng khác nhau về thiết bị của từng nhà cung cấp/sản xuất). Như vậy, việc bắt buộc nộp quy trình bảo trì nên xét lại.

Hơn nữa nội dung bảo trì mức thông thường (viết theo khả năng/phạm vi của bên thiết kế) đã sẵn trong đăc tính kỹ thuật (specifications). Nhưng tư vấn vẫn phải “tách lọc” toàn bộ chương bảo trì từ đặc tính kỹ thuật để làm ra quy trình bảo trì thêm lần nữa !

  1. Danh sách tiêu chuẩn áp dụng:

Nên quan niệm việc áp dụng TCVN tại VN là đương nhiên như mức tối thiểu bắt buộc và không cần phải viết lại. (Trừ trường hợp đề xuất tiêu chuẩn cao hơn TCVN thông thường hay tiêu chuẩn nước ngoài được trình chủ đầu tư duyệt trước khi áp dụng). Đàng này, nhiều dự án đòi hỏi tư vấn thiết kế phải bỏ thời gian lục lọi và liệt kê một danh sách tiêu chuẩn dài (kể cả những tiêu chuẩn khác thuộc về phần nhà thầuthi công, khảo sát, thí nghiệm…). Tất nhiên không tư vấn nào có thểnắm hết hoàn toàn [3], vì đa số ngoài phạm vi chuyên môncủa mình nên viết sai là bình thường (do tiêu chuẩn mới thay thế mà không hay). Tuy không gây hậu quả cho công trình nhưng với nghị định 121/2013/NĐ-CP thì nguy cơ bị phạt (theo (điều 9, 16, 23,..) là không tránh khỏivi phạm điều 83.3 luật Xây Dựng 2014 (lý do “áp dụng sai tiêu chuẩn”) dù cái sai  này “nằm trên giấy”và không hề gây thiệt hại cũng như chẳng có hậu quả nào để khắc phục. [4]

Từ đó, tư vấn không thể tránh những khoảng phạt (theo 121/2013/NĐ-CP) không đáng (điều 26.2c, 26.3b, 26.3đ, 26.3e)[5]

Và từ những lỗi nhỏ trên, chứng chỉ hành nghề của chủ nhiệm/chủ trì sẽ bị tước (Điều 26.4) dù do lỗi từ những người cấp dưới thực hiện (dù họ cũng có chứng chỉ hành nghề chuyên môn riêng). Mà mức độ vi phạm hiện chưa quy định cụ thể[6] và từ đó có nguy cơ sinh tiêu cực khi người ra quyết định xử phạt tùy tiện quyết định.

 

Trên đây là những liệt kê không đầy đủ những tồn tại buộc KTS cũng như nhiều người làm công tác xây dựng bị mất thời gian chuyên môn và từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng chung mà ít ai truy tìm tận gốc các nguyên nhân.

“Công cụ sản xuất thay đổi dẫn đến quan hệ sản xuất thay đổi”. Do vậy, trước nhiều phương tiện làm việc hiện đại (thông tin, lưu trữ…kỹ thuật số), thì những quy định, luật lệ và cách quản lý buộc phải thay đổi cho phù hợp và đồng bộ hơn thay vì duy trì theo cách lạc hậu hiện nay..

 

(điều chỉnh ngày 21-9-2017)

[1]  Lần nọ, tính đến ngày bên thiết kế phá sản, số phương án thiết kế đã lên gần 10 phương án !

[2] Xem thêm sự khác biệt trong thủ tục nộp hồ sơ giữa người nước ngoài, người hành nghề độc lập và người làm thuê theo TT17:

 

  Người

làm thuê

Người

làm tự do

Người

nước ngoài

Đơn xin cấp/đổi CCHN
Chứng chỉ cũ(nếu cấp lại) hay văn bằng liên quan Có (dịch và công chứng)
Hợp đồng công trình đã làm, hay văn bản phân công công việc Không
File mềm các hồ sơ trên Không
Bản khai kinh nghiệm Có xác nhận của cơ quan chủ quản Không cần xác nhận Không  cần xác nhận
Giấy phép lao động Không Không Có thể thay bằng bản sao cư trú

 

 

 

[3]Nhiều trường hợp tiêu chuẩn mới và cũ vẫn còn nhiều điều khoản giống nhau  nên không hề có sự khác biệt đến thực tế công việc.

[4]Có trường hợp công trình đã hoàn thành tốt đẹp,nhưng tư vấn bị “yêu cầu chấm dứt ngay hành vi vi phạm” (do chỉ viết nhầm một vài tiêu chuẩn cũ) thì phải làm sao ?

 

[5]Điều 26.2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

  1. c) Lập chỉ dẫn kỹ thuật không tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn áp dụng cho công trình; thiết kế an toàn quá mức quy định đối với công trình sử dụng vốn nhà nước;

Điều 26.3. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

  1. b) Lập quy trình bảo trì không đúng quy định;

đ) Không sử dụng thiết kế mẫu, thiết kế điển hình đối với công trình theo quy định phải sử dụng;

  1. e) Thiết kế không tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn được áp dụng cho công trình.

 

[6]Điều 26.4. Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề từ 6 tháng đến 12 tháng của chủ nhiệm, chủ trì thiết kế tùy theo mức độ vi phạm.

 

Advertisements

Chuyện kể về Kiến Trúc (3/4) – Kiến Lửa.

Hồi thứ ba:                 Phùng xoè phối cảnh, thân chủ mê ly,

                                    Hù dọa 3d , bà con kiêng nể

                                    Vì ham của rẻ, trúng bả Thầu gian

                                    Thấy giá ngon ăn, dính mồi Kiến tặc.

 

Sau nhiều năm trường Kiến ta hoan hỉ thu tiền nhận sinh viên thả cửa để đáp ứng nhu cầu bằng cấp của thiên hạ thì ngành kiến trúc lại chuyển tới thời kỳ suy bại về lương tâm nghề nghiệp. Các sinh viên ra trường xâu xé tranh ăn dành “độ” dành “khứa” ì xèo trên cơ sở “tiền nghĩa” rồi tha hồ mà “binh lụi, xây ẩu” gây mất niềm tin sâu sắc ở khách hàng. Tội cho những anh Kiến làm ăn chân chính chán nản buộc lòng phải bỏ nghề lui về nhà ăn lương vợ.

 

Sử nhà Kiến chép rằng:

Tổ Kiến trúc ngày xưa đã tiên đóan đến chuyện này nên buồn rầu ghê lắm vì thấy mình không giúp gì được. Thôi thì “gặp thời thế, thế thời phải thế” biết làm sao. Mà giúp bằng cách nào thì Tổ còn bí tít-tìn-tịt huống chi ai khác.

May thay, nhờ lòng thành khẩn chai tịnh cầu quỷ thần, Tổ đêm nằm mộng thấy Vương Thúy Kiều hiện lên nói:

 

Này anh thuộc lấy nằm lòng,

Vành ngòai bảy chử, vành trong tám nghề.

 

Em làm được thì ai chả làm được.”

 

Rồi Kiều bất thần nhào vô ôm đại Tổ khiến Tổ giựt mình té lăn cù xuống đất mà thức dậy.

Tổ thấy điềm lạ liền bấm tay tính được quẻ Dịch là “Hỏa Địa Tấn” hóa “Lôi Địa Dự” dựa theo điềm mộng:

 

Kiều nhảy vô ôm mình (Tấn), mình hỏang hốt (Dự) té lăn cù (Tấn).

Việc này sẽ tương quan tương hợp với ý nghĩa:

Cứ liều mạng làm ăn đại (Tấn) thì nổi danh (Dự) như sóng cồn (Tấn).

 

Liền sau đó nhớ lại câu “Vành ngòai bảy chử, vành trong tám nghề“, Tổ dành hết tâm huyết điều nghiên thêm mắm dặm muối suốt đêm để viết ra một cẩm nang gối đầu truyền cho các Kiến đời sau. Hiệu quả của cẩm nang thần sầu tựa hồ “Tịch Tà Kiếm Phổ” trong giới giang hồ võ hiệp.

 

Đây, nguyên văn do Tổ viết:

 

” Thời thế nhiễu nhương, làm ăn thất bát. Nhân nằm mộng thấy Thúy kiều giáng hạ chỉ bảo, ta viết cẩm nang này hầu truyền cho hậu thế làm kế sinh nhai.

Kiều:

            – Bảy chử tám nghề,

Nếu chàng không chê,

Em xin chỉ giáo..

Nhân đấy, Ta hỏi:

           – Ta xin thọ giáo,

Vậy nghĩa là sao ?

Kiều giảng:     – Bảy chử nghĩa là:

–           Nổ                   Múa mép “cương” hết ga, rù quến thiên hạ để bắt công trình.

–           Lụi                 Vẽ “lụi” hồ sơ để dành khách trước rồi tính sau.

–           Ghép               Ghép các chi tiết kiến trúc công trình khác thành kiến trúc của mình.

–                              In phối cảnh, làm phim 3D cho le lói cho khách “rét” ý đồ mình.

–           Chôm              Bí mật “ẵm” bản vẻ chổ khác về phô-tô lại làm tác phẩm của mình.

–           Chế                 “Luộc” công trình cũ thành công trình mới để xài tiếp.

–           Tẩu                 Biết “chạy” khi thiết kế hay thi công bị “bể ổ”.

Ta khen:

            – Quả là hay vậy !

Tám nghề còn lại,

Xin giảng tận tường..

Kiều giảng:    

– Tám nghề tức là:

 

–           Thiết kế dân dụng.                

–           Thiết kế công nghiệp.

–           Thiết kế quy họach.   (3 nghề này trường Kiến trúc đã dạy)

–           Thiết kế phối cảnh     (Binh phối cảnh cho đẹp để câu khách).

–           Quảng cáo dự án       (Phô trương dự án áp đảo thiên hạ) .

–           Lắp ghép kiến trúc     (ghép nhiều chi tiết bản vẽ khác vô thành hồ sơ của mình).

–           Cải tạo thiết kế          (Sửa chửa hồ sơ bị vẽ “lụi” ).

–           Cấp cứu công trình   (Khi thi công bị tê liệt do vẽ “lụi”, phải chỉnh sữa khẩn cấp).

Ta khen:

            – Quả thật là hay.

Kiều giảng:    

– Đó là những bí kíp chân truyền. Dân Kiến ráng tu luyện thiết kế lâu năm tất có người lên làm vua như vua nhà phố, vua biệt thự, vua bếp, vua vệ sinh, vua phối cảnh, vua mô hình… Tệ lắm cũng là một Đại Kiến Trúc Sư. Chứ sự học thì vô cùng tựa Đông Hải. Em không tài nào một đêm mà giảng hết vậy.”

 

Cẩm nang làm sáng mắt biết bao nhiêu chàng Kiến và là một diệu kế xóa đói giảm nghèo cho cả râu ria tộc họ nhà Kiến hai cẳng. Chẳng làm lạ khi thấy bụng Kiến Chúa nào cũng ngày càng phệ do được bầy Kiến Thợ tận tình cung cấp bia bọt, em út thừa mứa quanh năm …

Chuyện của Tổ còn nhiều nữa, ấy là chuyện về sau…

Vì cạnh tranh gay gắt với các đồng nghiệp nên họ Kiến phải học thêm mọi thủ thuật để mà tồn tại. Để thuyết phục đám khách hàng chưa rành về chuyên môn là dùng phối cảnh. Ngày xưa nhà trường cũng đã tinh ý dạy phối cảnh cho mọi người nhưng nói trắng ra là để câu khách thì quá sống sượng nên không ai dám tuyên bố hụych tọet. Anh sinh viên ban đầu phải rị mọ tập dựng hình, tô màu., tỉa chi tiết bản vẽ phối cảnh. Trước áp dụng cho đồ án của mình. Sau đó là thỉnh thỏang bắt mối bên ngòai để kiếm thêm chút đỉnh. Nhiều ông cũng dấu mấy tuyệt chiêu không cho bạn bè biết dù chỉ là mẹo vặt. Ngày ấy vẽ một phối cảnh cũng được lắm tiền nên có anh chỉ vẽ thuê chơi chơi mà bạc tiền rủng rỉnh.

Càng về sau, khi càng văn minh thì thiên hạ lại càng làm biếng tư duy do quá ỷ lại vào phương tiện khoa học kỹ thuật, nên dần dần bản vẽ khó được khách hàng hình dung nổi và phối cảnh càng thêm cần thiết để nói chuyện với thân chủ. Thay vì vẽ nghiên cứu kỹ lưỡng cả mấy ngày về một mặt bằng kiến trúc, người ta chỉ vẽ sơ sịa cũng ra một phối cảnh thật đã mắt vừa sướng hai tay, chất lượng thừa sức bỏ bùa mê hoặc khách.

 

Nhớ ngày trước có thầy tên Th. đã dạy khai tâm SVKT như sau:

 

“Khi người ta bịnh, thì người ta tìm tới Bác sĩ. Khi người ta có tội, họ cầu khẩn Luật sư. Hai vị này hét bao nhiêu tiền thì khách cũng phải chạy trả cho đủ vì họ không cần khách mà khách cần họ. Ngược lại, khi người ta giàu có sung sướng họ mới tìm đến Kiến trúc sư. Vì thế họ coi Kiến trúc sư không ra ký lô nào hết. Kiến trúc sư cần tiền nên phải dùng hết bản lĩnh của mình mà cố gắng chinh phục thân chủ “.

 

Từ khi có máy vi tính thì công việc KTS Kiến trúc sư thay vì dễ dàng hơn, đàng này ngược lại càng thêm mệt mỏi phức tạp do dùng sai mục đích. Người ta dùng vi tính để “binh” công năng cho lẹ trong khi ở bên chúng ta thì dùng để thiết kế mỹ quan đầy râu ria mắm muối mà chinh phục khách. Mà muốn như vậy thì KTS phải mất giờ học nhiều thủ thuật đồ họa không ăn nhập gì với kiến trúc để pha chế trong khi thời gian đầu tư vô ý tưởng cũng chẳng khá hơn bao nhiêu. Các phối cảnh nhờ vậy được sản xuất hàng lọat ở mỗi công trình. Gặp phần mềm Photoshop hổ trợ nên anh em có thể ghép công trình người khác làm của mình, thậm chí ôm luôn một hay nhiều phối cảnh nào đó scan từ tài liệu bên ngòai, “luộc” lại một ít bằng ánh sáng, “mông má” thêm màu sắc là có tác phẩm mới đỡ mất công “binh” tới lui mất thì giờ. Thêm máy in tối tân làm cho chất lượng tác phẩm đẹp hơn thực tế hỏi khách hàng nào không khóai mà nhắm mắt ký hợp đồng cái rẹt? Gặp khách hàng khó, thì vẽ thêm phối cảnh công trình vào ban đêm lung linh đèn đóm hay hàng lọat phối cảnh khác từ trong ra ngòai nhà lẫn từng chi tiết phóng to để thôi miên khách cho lẹ. Đụng nhiều độ lớn thì đòi hỏi công phu cao hơn. Lúc đó máy vi tính phải làm việc ngày lẫn đêm để sản sinh ra một bộ phim phối cảnh hòanh tráng nếu trời thương đừng chơi cúp điện bất tử. Có lúc nhà Kiến còn phải chi tiền cho chuyên gia làm thêm mô hình lộng kiếng kiêu sa để khách sờ mó tận tay mà yên tâm. Đó chỉ là giai đọan đầu để dành khách.

Giai đọan tiếp sau thì bắt buộc phải khai triển kỹ thuật sao cho nó khả thi và hợp lý. Anh nào lơ mơ khâu này thì coi như mất cả chì lẫn chài. Thông thường vì ham dành khách mà vẽ phối cảnh bất chấp kỹ thuật. Đến khi vẽ vô kỹ thuật thì mọi cái tệ hại mới lòi ra. Lý do ban đầu là vì mặt bằng binh “lụi” cho có nên về sau hậu quả khôn lường. Thêm khổ một nổi là dân bên ngòai không thèm nghe lời ông KTS chân chính mà khóai nghe lời mấy cha hàng xóm hay đặc biệt là ông thầy địa lý dựa trên cơ sở mấy tạp chí Kiến trúc lá cải đủ lọai bán tràn lan bên ngòai. Nghe mấy chư vị đó bàn ra bàn vô vài lần thì tinh thần chủ nhà lung lay rồi tự xây theo ý mình.

Nhắc tới mấy ông thầy địa lý thì nhiều chuyện lắm. Vì học thuyết Đông phương dựa vào “hình – lý – khí – số”. Nếu có 1 trong 4 yếu tố không đạt thì coi như kết quả sai. Chưa kể rằng tính “Đồng nhi Dị – Dị nhi Đồng” (giống mà khác, khác mà giống) và tính “biến hóa” được ít ai thấu hiểu tận cùng. Khác với Tây phương, lý Đông phương không thể dựa vào công thức đầy tính máy móc để gọi là “nghiên cứu”. Mà cái “lý” thì ít ông thầy nào dám đề cập tới. Vì để thuyết phục thân chủ, mấy thầy ưa dùng “số” bằng cách tra sách thì có chứng cớ cho chủ nhà tin lẹ hơn. Chỉ ông nào thật cao cơ mới dám dùng đủ “hình – lý – khí – số”. Phần vì tính “Đồng Dị – Biến Hóa ” nên chẳng ông nào coi giống ông nào. Mỗi ông có phương pháp áp dụng “liều” nặng hay “liều” nhẹ theo ý riêng mình. Gặp chủ nhà nào ham coi nhiều thầy thì cứ phân vân và thay đổi ý kiến xòanh xọach làm KTS không biết đường nào “binh” cho yên ổn. Có ông thầy bày đặt lập trình vi tính để dễ thuyết phục khách và có lúc còn dám tự ý thiết kế và bắt KTS đem ra khai triển xong rồi ông ngồi sửa lại kích thước địa lý của từng chi tiết cho phù hợp ! Chỉ nói cây thước địa lý thôi mà thị trường có khỏang trên 5 cây với kích thước khác nhau, hỏi biết lựa cây nào gọi là chuẩn? Rồi cách trấn yểm mỗi ông chơi mỗi khác riết thành ra đá nhau làm thiên hạ càng mất niềm tin vô các môn học Đông phương mà vẫn nhắm mắt u mê dùng “trật thuốc”. Rồi thêm thầy bùa, thầy ngãi, thầy mo, thầy chùa, thầy cúng… thiệt giả tùm lum quần thảo chủ nhà kéo theo KTS bị vạ lây. Thơ rằng:

 

… Thầy địa lý thỏa tài sáng chế,

Thước Lổ Ban được thế ra oai

Cửa trong cho tới cửa ngoài,

Hướng nhà, hướng bếp, chiều dài cầu thang…

“Sinh Lão Bịnh…” số thang đếm bậc,

“Càn Khôn Ly…” hướng mặt của giường,

Từng ly tấc chớ coi thường,

Đi cầu đúng hướng, ra đường đúng phương (!)…

 

Khi căn nhà xây xong thì KTS cũng không dám nhận làm tác phẩm của mình dù khách có thể vừa ý khen không ngớt. Nhìn lại phối cảnh bảo đảm cũng chưa chắc giống thật là bao. Hên thì coi như ông KTS ấy được khách hàng vừa ý mà đỡ mất công nghiên cứu. Chưa kể được khách quảng cáo nên nổi tiếng trong thiên hạ. Tha hồ bắt thêm khách nhà giàu khác. Xui thì 2 bên đều lãnh đủ. KTS đổ thừa nói là vì chủ nhà không tuân thủ hòan tòan bản vẽ, nhờ thế cái tội vẽ lụi của “Kiến tặc” được trắng án. Có lúc khách hàng tự làm theo ý mình rồi nói rằng KTS không làm gì cả để kiếm cớ xù tiền hay có lúc lợi dụng một lỗi nào đó để trừ tiền gỡ vốn ít nhiều. Có lúc khách hàng dụ KTS vẽ cho đã rồi sau đó đưa tiếp qua nhiều KTS khác để chắt lọc nhào trộn ý tưởng, rồi ông KTS nào cũng đều bị xù như nhau với lý do là làm không vừa ý. Nên có người nói rằng chưa bị xù tiền lần nào tức chưa là KTS. Gặp sự cố do vẽ lụi không thực thi được trong thi công thì công việc cải tạo thiết kế hay cấp cứu công trình là thường, có lúc phải cầu cứu tới đồng nghiệp khác, Có lúc cũng do lỗi chủ nhà đổi ý bất tử dù đã ký giao kèo thỏa thuận 2 bên. Nhiều công trình hoàn thành với bề ngoài thấy “nét tưng” mà không sử dụng được do nứt, lún, thấm dột vì vật liệu bị nhà thầu hao hớt hay kỹ thuật thầy thợ “tay ngang”, cũng có lúc do KTS binh “lủng” pạc-ti. Có ông thầu dám mạnh mồm nói rằng cứ thêm 10 triệu bạc là ổng sẳn sàng lên 1 tấm sàn dễ ợt ! Bên Kiến trúc thì bạo phổi nói kiểu gì “binh” cũng “tới” láng. Khách hàng là người chịu thiệt thòi nhứt. Cái khổ trong xây dựng là khi khách hàng đã lãnh đủ thì họ mới sáng mắt mà hối tiếc vì không chịu tin lời mấy ông KTS chân chính. ” Sự thật mất lòng” nên mấy ông này cũng chẵng được ai ưa rồi từ đó ế độ dài dài. Tới nước này thì khách không còn khả năng tìm KTS khác giỏi hơn nữa vì gần như sạt nghiệp. Đồn ra cho thiên hạ thì chính mình cũng có lỗi nên chẳng ai dại nói ra cho thiên hạ cười mình thối óc. Thành ra mấy anh Kiến “binh lụi” chụp giựt vẫn có đất sống dài dài. Đám thầu chơi trò “thi công tới đâu binh tới đó” cứ phây phây sống trên đầu mấy khách hàng ngây thơ. Chẳng ai thèm ý thức rằng số tiền lớn trả cho một ông Kiến đàng hoàng vẫn rẻ hơn quá nhiều so với một sự cố hay thiệt hại kỹ thuật nhỏ trong công trình do đám “Kiến tặc cấu kết Thầu gian” quậy mà ra.

Người ta nói rằng để có một công trình tốt trước tiên cần có một sự hòa hợp về ý tưởng giữa KTS và khách hàng như cặp vợ chồng. Mà nhắc tới vợ chồng thì phải đề cập tới cái tệ nạn ngọai tình và con riêng. Cái “ngọai tình-con riêng” ấy trong xây dựng cũng không khác trong tình yêu là bao nhiêu. Việc này gây thiệt hại cho nền kiến trúc nước nhà không ít và KTS hay khách bên nào cũng sẵn sàng phủ phàng công khai cắm sừng bên kia không thương tiếc. Cảnh bên khách nhờ KTS đến vẽ nhà của mình giống như căn nhà X, Y nào đó trong sách hay bên đường A,B. Dĩ nhiên dân Kiến rất tự ái nhưng trước cảnh kiếm cơm nhiều người buộc lòng phải đau khổ tuân theo không chống đối để rồi có một công trình không vừa ý với lương tâm mình chưa kể cũng là lý do để khách tìm cớ quỵt tiền với cớ là tất cả ý tưởng đều do khách đưa ra hết trọi. Hay trong lúc thi công khách tự ý thay đổi thiết kế theo ý người khuất mặt nào đó làm tiêu ma hết ý đồ của Kiến. Ngược lại có KTS ăn cắp công trình ở nơi khác nói là ý tưởng của mình mà dụ khách khỏi mất công nghiên cứu chi cho mệt. Khách, dù có biết, nhiều khi cũng phải nhịn và làm ngơ vì nó cũng “đẹp giai” quá. Tóm lại thì khi công trình hòan tất người ta không thể nào truy ra được một phong cách hay trường phái kiến trúc của nó do bị tính “dị hợp tử” quá nghiệt ngã.

Có cái nhiêu khê như là khi chủ nhà ban đầu không hình dung, dự trù hết tòan bộ mọi chuyện. Trước hết là tiền. Hể đụng một sự cố phát sinh nào thì coi như công trình bị kẹt vốn. Rồi người KTS có lúc phải vẽ lại “cấp cứu” hay chủ nhà tự xoay sở để “chữa cháy” cho vừa hầu bao. Thế là phá sản mọi ý đồ của nhà Kiến. Có lúc chủ nhà không hình dung được không gian của công trình rồi yêu cầu KTS vẽ cho to lên thêm nữa mới thấy “đã”. Mãi tới khi hòan thành thì vỡ lẽ rồi “thầy đổ tớ, tớ đổ thầy” gây nhiều xích mích. Vô số sự cố khác như là luật lệ thay đổi, hàng xóm thưa kiện nhau, tranh chấp, tai nạn lao động … luôn rình rập đe dọa làm phá hết chương trình dự kiến giửa nhà Kiến và chủ nhà.

Chỉ nói về những công trình nhỏ là đủ cho thấy hết mọi vấn đề. Chẳng cần phải mất công đề cập tới công trình lớn làm chi vì báo chí đề cập hòai hòai hàng ngày. Thiên hạ vì quá chú ý chuyện lớn mà quên đi chuyện nhỏ trước mắt mới ra như vậy. Đó cũng là lý do tác giả phải ngứa tay viết vài dòng mong giúp bà con tỉnh ngộ. Mong bà con tha thứ nếu viết có gì đụng chạm. Mời bà con vui lòng xem tiếp hồi sau để biết thêm được chuyện nào hay chuyện đó mà phòng thân.

Chuyện kể về Kiến Trúc (2/4) – Kiến Lửa.

Hồi thứ nhì:              Phòng giáo vụ làm nổi cơn gió bụi

                                    Đời sinh viên gặp lắm nỗi truân chuyên.

 

Báo trước với anh em, hồi này hơi dài, xin chịu khó đọc cho hiểu phần nào cảnh đời sinh viên éo le đủ thứ. Dù nói hòai cũng không hết !

Sau một thời gian đầu lo thủ tục nhập học: cắt hộ khẩu, cắt công nghệ phẩm, cắt sổ dầu, sổ gạo, sổ lương thực… để chuyển vaò trường (kéo dài đến cuối thập niên 1980) thì bắt đầu nhập học. Mấy thủ tục trên dần dần lọai bỏ khi chế độ đào tạo đại trà của trường phát triển sau này. Chương trình học so với ngày xưa không khác bao nhiêu. Có chăng chỉ thêm mấy môn học chính trị chính em, Nga văn, quân sự cho hợp thời đại. Thầy mới khá đông, thầy cũ đa số “ra đi” với mọi hình thức bằng nhiều lý do tế nhị. Sự chuyển hệ làm nội bộ trường hơi lục đục theo đúng công thức của thời “quá độ”. Mấy thầy của “hai hệ” đá nhau âm ỉ. Phe này chê phe kia dốt, hay là chê phe nọ khó khăn kỳ cục… vân, vân. Đặc biệt có trường hợp cô này “chôm” giáo ám thầy kia để dành dạy mấy môn quan trọng, bất chấp mình có chuyên môn hay không, với hy vọng có một chân vô “biên chế ” cho yên bụng. Thương cho đám sinh viên bị nạn “oanh kích tự do” mà lãnh đạn trọn ổ. Nhiều anh học theo “hệ” này tất nhiên bị “hệ” kia đì sát ván cho bỏ ghét.

Tính truyền thống của trường Kiến trúc qua cảnh SV “ne” bài nhau vẫn được duy trì. Khi mà nữ SV đã có mặt trong trường thì việc này lại một phần biến chất thành cảnh “Lê Lai cứu chúa” tức là quân tử xả thân từ vẽ bài “phụ” sang vẽ bài “dùm”cho mỹ nhân tận tình. Nếu trường có bắt trả bài chắc chàng cũng “dốc hết tình này” để trả bài vô điều kiện phục vụ đòi hỏi khắt khe của nàng. Khổ nổi là khi bài mình lo chưa nên thân mà phải lo “ngậm bồ hòn làm vui” ôm sô dùm bài của người khác. Nên cảnh thi rớt “đồng quan đồng quách” là thường tình. Hễ là sinh viên Kiến trúc là biết cảnh:

 

Tiếc thay, anh còn sa-rết hòai, đồ án nợ chưa dứt nên lận đận truân chuyên…” (lời bài hát “Yêu một mình” đã cải biên)

 

Năm đầu tiên vào học, người ta hay nói thiên hạ thường “lọt lỗ chân trâu mà chết”. Vì môn chuyên môn thì học dễ trong khi môn phụ thi cực kỳ gian nan. Có lẽ mấy thầy bị tự ái khi thấy môn học của mình ít ai thèm ngó tới nên phải làm mình làm mẩy tý cho vui dù chẳng “giết” (đánh rớt) ai cả. Có chăng chỉ hù chơi cho vui lần đầu rồi lần sau thi lại cũng cho “qua” tuốt tuồn tuột. Theo hồi tác giả đi học, tác giả cũng phải nhiều phen khiếp vía. Nhứt là môn đại số tuyến tính (năm 1) và tin học (năm 5) của thầy Q. Trong lớp thầy luôn “sạc” lia lịa nếu thấy anh nào có bộ vó học hành lơ mơ. Nhiều “thằng cha, con mẹ” (theo định nghĩa sinh viên của thầy) phải chết rét vừa điếc con rái với những bài toán đúng nghĩa ma-trận. Lúc thi có lúc một lớp (40 người) chỉ có 2 người đậu. Nhưng thi lại lần 2 thì ai nấy cũng đậu tệ lắm là 5vv (5 vớt “vớt”). Vậy mà ai cũng thương và nhắc tới thầy hòai , chỉ vì cái “Tâm” thầy tốt.

Trong các phương pháp dạy học thì ngòai lý thuyết và thực hành, để sinh viên có thêm kinh nghiệm ngòai đời , một sáng kiến một phương pháp vô tiền khóang hậu được giảng dạy một cách âm thầm mà ít người ngòai biết: môn “Hậu Quả Xây Dựng”. Người sinh viên không cần biết thầy mình là ai, không cần thi cử, chỉ cần nhìn rồi từ từ “ngộ” ra chân lý. Chẳng có ai phát minh hay tìm ra môn học này. Tất cả đều được phát hiện một cách ngẫu nhiên. Lịch sử của nó như vầy:

Từ ngày khối phòng học đầu tiên được xây vào năm khỏang 77 với một thời gian đáng kể gần 2 năm.. Sau khi thi công xong thì công trình bị thấm dột đủ thứ giúp cho đám Kiến con có thời gian dài chứng kiến học hỏi mọi thứ tệ hại trong xây dựng để sau này liệu mà tránh. Đúng theo nguyên tắc kiểu binh thư Tôn Võ: “Nếu không biết cái lợi nên làm thì cũng nên biết cái hại để mà tránh”. Một thầy buộc lòng phải giải thích huỵch toẹt cho đệ tử: ” Không phải nhà trường không biết cái sai nhưng nhà trường vẫn cố ý làm sai để chỉ dạy cho mấy anh tường tận đó !” Hay chưa?

Chưa hết, năm 1983, sẵn dịp một sản phẩm do chính trưòng ta thi công bên đại học Kinh tế bên cạnh bị sập chết người vừa sau khi gỡ cốp-pha gây chấn động dư luận, anh em sinh viên được dịp hiếm có học một kinh nghiệm ngàn vàng và cũng được “dợt” qua nỗi kinh hòang do “bể độ” để tập luyện giử vững tinh thần cho quen, cho biết với người ta. Người viết không gọi việc này là sự cố hay vụ án vì kết quả chẳng thấy vị chóp bu nào đi tù cả . Vì yếu tố bền vững trong nguyên lý đã là chân lý và chân lý thì bắt buộc phải đúng ở khắp nơi. Còn vị nào bị đổi công tác thì tức là được lên chức đổi đời nhanh chóng. Phải chăng đây là cách để trả công “khéo” cho một ý tưởng mới trong giảng dạy, một cống hiến to lớn vào sự nghiệp xây dựng ???

1989, không biết có một ông nào nổi hứng chính thức đưa ra luật “cấm ne” kèm theo thêm quy định chỉ cho sinh viên trả nợ trong 2 ngày bất kể đồ án lớn nhỏ. Việc đã làm cho mấy thầy lão làng chân chính phản ứng không ít. Chỉ tiếc một điều là vì mấy lão không còn quyền hành như xưa nên kết quả chống đối chỉ là một cuộc “diễn tập đấu tranh” sương sương không thu kết quả gì. Sinh viên lãnh đủ một trò “thí nghiệm chiến trường” của phòng giáo vụ mà chẳng thấy ai dám can thiệp vô vụ cứu giúp. Trong họa thất thỉnh thỏang có sự “càn quét” của nhân viên giáo vụ đi bắt mấy anh “ne chui”. Rồi còn thêm cái trò hú nhau làm ám hiệu khi thấy “giặc tới” để rồi mấy “ne chui” hè nhau chạy trốn như trò chơi “dọn dẹp lòng lề đường”. Thương chú S. hồi đó quản lý họa thất thấu hiểu truyền thống xưa nay của dân Kiến mà lắm lúc thông cảm nhẹ tay với mấy “ne”. Chú không bao giờ nặng tay với ai cả mà lại luôn phải nhẫn nhục chịu mang tiếng là “tay sai” của giáo vụ. Dù bề ngoài thì lâu lâu thấy chú “hù dọa” làm oai cho lấy lệ. Từ từ riết rồi sinh viên ai cũng biết và trở nên rất quý chú. Một anh sinh viên khóa k88 có câu định nghĩa chữ “KTS” trên sân khấu trong đêm truyền thống năm 1990 như sau: anh em lúc đầu trong họa thất “Kỵ Thầy S.” và riết rồi từ từ “Không Thấy Sợ” là thế. Tuy vậy có một thầy rất sốt sắng trong vụ “bắt ne” này cũng như nổi danh trong nhiều thành tích, phi vụ khác. Đến nỗi có thơ rằng:

 

Tiếng đồn thầy Ng. rất tài năng,

Thi cử mấy phen lấy một bằng,

“Hệ B” chạy chọt bao nhiêu đứa?

“Họa thất” tru di mấy chục thằng.

Bợ mông giáo vụ tay còn dấu,

Đè cổ sinh viên oán chửa tan.

Tưởng nhớ công thầy ghi mấy chử:

“Đ.M. thầy Ng. “viết trên tường !

 

(Năm 1993 nhiều thầy và trò có thấy trên cửa một họa thất có hàng phấn viết nguyên văn như vậy. Nghe kể lại rằng báo hại chú S. phải lo tìm cách xóa cho được hàng chử oan nghiệt ấy !)

 

Sau dần thì cả vụ “cấm ne” và trả nợ chỉ trong 2 ngày” được âm thầm bãi bõ dần vì bỏ liền lâp tức thì mấy ổng thấy quê độ khi tay đã nhúng chàm ! Phải chờ có một “ông con” nào đó vào học mới có cái cớ để “cải cách sửa sai”. Chuyện về sau sẽ biết.

Trước cảnh nợ nần khó chi trả cùng với nhu cầu giúp tăng thu nhập của mấy ông thầy, năm 1990, mấy ông ban giám hiệu, nhứt là phe phòng giáo vụ, tài vụ đã sáng tạo một giải pháp tới ngày nay vẫn còn hiệu quả và siêu lợi nhuận hơn cả dự tính: Đóng tiền với cái gọi là “Lệ phí trả nợ đồ án”. Nó áp dụng luôn trong việc thi lại các môn học. Giá khởi điểm tối thiểu của nó là 4000 đồng/lần. Đến nay năm 2003 nó đã tăng hơn 10 lần vì nhu cầu ngày càng cao của sinh viên và nhà trường. Do vậy, các sinh viên có giỏi thì cứ thi rớt nếu có tiền đóng và thầy thì mỗi lần đánh rớt thì có dịp sửa bài trả nợ mà cải thiện đời sống. Vì có sửa bài thì giáo vụ-tài vụ-thầy đều được hưởng ăn chia theo tỷ lệ phần trăm (ban đầu là thầy 75%, trường 25%). Hỏi ai chê không thèm làm ? Trò thì hể đã đóng tiền thì thi trả nợ cũng dễ “qua”. Thầy-trường lỡ ngậm tiền phải ráng công chấm bài lo thủ tục , sổ điểm… cho đáng đồng tiền bát gạo. Nó tạo điều kiện khuyến khích nhiều thầy thêm hăng say “múa bút tựa múa đao” chấm bài lẫn ký sửa bài trả nợ với sự “ủng hộ” tận lực của các phòng ban trong trường. Có thầy chỉ cần ký bài trả nợ để khỏi mất công sửa bài dây dưa, rút ngắn công đọan cho khỏe anh em và kinh tế của mình cũng được mau cải thiện một cách hợp pháp. Mấy sinh viên Kiến cũng lợi dụng nước đục mà luồn lách. Mỗi lần trả nợ có thể mượn bài của anh nào đậu để chép “nguyên con” cho chắc ăn. Thêm nửa là đã từ lâu nay có sẵn chủ trương rút ngắn xóa bỏ dần ranh giới giai cấp giữa thầy và trò nên vấn đề tình cảm thầy-trò có dịp thể hiện thêm thắm thiết một cách trơn lu qua quà cáp, yến tiệc đầm đìa bia bọt cùng mấy khỏang “tứ khóai trần gian” khác.

Nói vậy chứ cuộc đời còn lắm ngọai lệ. Một hai ông thầy bà cô thấy ăn tiền kiểu này thì sượng quá nên vô giáo vụ và xin từ chối nhận số tiền ấy. Nhưng trò thì vẫn bị buộc phải đóng y số cho đúng luật, còn thầy có chịu lấy tiền hay không thì trò đừng thắc mắc mà mang họa. Cũng còn nhiều ông thầy vì lương tâm cắn rứt khi sợ cảnh học trò mình “mua bằng” nên lâu lâu cũng ra tay trị thẳng cánh một lần trò biết mặt. Cuối năm 1991, khóa k89 (trên 100 người) đã chịu một kỷ lục “rớt” về chuyên môn mà từ sau 1975 chưa thầy nào phá nổi. Đồ án “nhà an dưỡng” lần ấy theo luật của trường thì phải được ít nhứt hai thầy chấm mới hợp pháp. Thầy H. và một đồng nghiệp khác chấm xong cất kết quả vào tủ (rớt khỏang 3/4) chưa kịp đưa cho giáo vụ thế mà hôm thứ hai đầu tuần đã có kết quả khác chính thức đăng lên trước với tỷ lệ đậu 3/4. Sự việc làm hai thầy phản ứng lên tận hiệu trưởng vì có kẻ “chơi qua mặt”. Sau khi thưa kiện lung tung cuối cùng thầy L. trưởng bộ môn yêu cầu khóa 89 nộp lại bài củ và đích thân chấm lại với kết quả ban đầu của hai thầy gần như không đổi bao nhiêu. Nguyên nhân chỉ vì thầy K. “nổi máu nghệ sỹ” vô chấm riêng một mình sau khi hai thầy kia chấm xong và đưa bảng điểm lên phòng giáo vụ trước. Đám sinh viên cả trường từ ấy phải kiêng nể thầy H. và mấy thầy khác nói chung sau trận đánh rớt phủ đầu ấy. Khắp nơi đều lên tiếng rên siết vì trong vòng gần 15 năm chưa thầy nào to gan dám “giết” sinh viên hàng lọat như vậy mà không sợ bị nhà trường rầy. Nhiều “ngư ông đắc lợi” nhờ cái luật “đóng tiền trả nợ” sau đó… Cứ hỏi mấy anh chị K89 “cựu nạn nhân” thì biết rõ hơn.

Có một thầy khác chơi trò áp đảo học trò bằng “tâm lý chiến” bằng cách nổ cho trò sợ tài năng của mình để liệu mà bắt chước. Thầy bảo rằng trong một đêm thầy có thể binh hàng trăm phương án quy họach, tốn hết 3 cuồn giấy calque. Mỗi cuồn 40 thước (?!) đàng hoàng. Thế là hết ai dám coi thường oai mấy thầy trường ta.

Trong khóa k8… một anh nọ học “quá ể” nhưng vì có ông già tía có mối quan hệ rộng trong trường nên mấy thầy cũng phải nể mặt mà nâng đỡ . Nếu chấm thẳng tay thì tội, chấm đậu vớt thì thương ông già bị quê độ. Chấm đậu cao càng không có cách chi lý giải. Thôi thì mấy thầy mới dùng giải pháp cho đậu khá nhưng nhẹm kín đồ án đi với lý do “xin lưu lại bài để tham khảo ý tưởng mới lạ” (!). Ai bảo thầy nào cũng xấu vì tánh ham đì trò ?

Tình trạng “giết lầm không bỏ sót” bị nhiều anh em ta thán mà không ai để ý. Một lần, không biết mấy thầy bị “Tổ trác” mà mắt thế nào mà đánh rớt nhiều đồ án công nghiệp một cách khó hiểu. Có một bản vẽ trong đó nhiều chi tiết khai triển bị gạch bỏ với lời phê “cấu tạo chưa từng thấy”. Tác giả đồ án đã tuyên bố chi tiết ấy đã được chép nguyên xi đúng bài trong sách cấu tạo của Mittag. Chỉ biết rằng bài trả nợ của anh sau này y chang bài củ thì lại đậu. Về phần đồ án quy họach thời ấy đã có một luật bất thành văn: “Nhà phải bắt buộc 100% quay về hướng nam, trường học thể hiện trên bản vẽ phải có dạng chiếc quầh xà lỏn mà không được dạng khác, trường đại học cấm không được có sân bóng chuyền …” Anh nào không nghe dù giỏi thế nào cũng bị rớt. Vậy mà riết cả lớp buộc lòng phải vẽ theo như cái “luật bất thành văn” làm cho bài ai nấy cũng gần giống nhau , chỉ khác lối diễn họa và tên tác giả. Kết quả có anh này đậu anh kia rớt khác nhau mà tới nay chẳng ai lý giải được. Chưa, còn nữa, nhiều đồ án được đậu cao chỉ nhờ phối cảnh đẹp mà “pạc-ti” mặt bằng “binh” chưa tới. Trong khi mấy anh nào chịu khó nghiên cứu mặt bằng hòan chỉnh thì kết quả khiêm tốn hơn, có lúc lại bị 5v xém rớt. Đó là ý đồ sâu xa của thầy cho mục đích lâu dài về sau. Trường hợp không biết thế nào mà có lần một thầy hướng dẫn đọc bản vẽ hòai không ra trong nhiều lần sửa bài làm mấy anh học hành nghiêm chỉnh còn phải rét vì sợ bị rớt oan; có anh phải chạy đi năn nỉ thầy phó bộ môn lên họa thất làm bộ đi coi chấm bài để có gì “cứu khổ” dùm. Lâu lâu cũng nghe chuyện nhiều bài thi giống nhau như đúc song kết quả thì kẻ đậu người rớt khác nhau.. Chẳng ai giải thích được, kể cả chính mấy thầy chấm bài.

“Vỏ quít dày móng tay nhọn”. Để đối phó với việc thi cử, các phương pháp phổ thông như là “quay phim” hay năn nỉ thầy… thì xưa như trái đất. Có năm trường hợp đối phó thần sầu đầy tính sáng tạo, xin kể lại để anh em tham khảo nghiên cứu, đừng ham bắt chước vội:

Truờng hợp thứ nhứt, một thầy dạy môn nọ (xin dấu tên để bảo vệ nhiều người) nổi tiếng đánh rớt sinh viên. Để được “qua phà” an tòan, một anh Kiến nọ chắc cũng kiến thức lịch sử khá dồi dào bèn áp dụng nguyên xi trò Mỵ Châu – Trọng Thủy bằng cách cặp bồ với con gái của thầy là ăn chắc ! Thơ rằng:

 

Tôi kể ngày nay chuyện Mỵ Châu,

Trái tim đúng chổ để trên đầu,

Đề thi ăn cắp đưa Trọng Thủy,

Biết bao chàng Kiến đội ơn sâu…

 

…vì nhờ thế mà thi cử “qua phà” êm đẹp cả !

Trường hợp thứ hai, môn Nga văn vốn là nỗi sợ hãi của nhiều anh chị. Kỳ thi quốc gia lại vào năm thứ 5 trong khi tất cá anh em lại quên sạch vì khóa Nga văn kết thúc giữa năm thứ 3. Dù thầy cô tận tình dạy ôn lại nhưng kết quả chẳng ai nhớ gì ráo. Trong lần thi quốc gia của khóa k87, một chị trong lớp liều mạng tuồn đề ra cho một cao thủ bạn bên ngòai làm xong thì lén thảy vào cứu được gần trọn cả lớp K87 (chỉ có vỏn vẹn 1 – 2 anh rớt) . Cô T. lần ấy phải thắc mắc tại sao mấy anh làm bài giống nhau quá? Nếu cám ơn anh cao thủ nọ thì tòan thể SV cũng hết lòng nhớ ơn cô T. đã sáng suốt thức thời cứu vớt dân nhà Kiến, không bao giờ ác tâm trù dập bất cứ anh em nào.

Trường hợp thứ 3 ly kỳ không kém kể về một anh sinh viên vốn nhát đòn sợ rớt môn chính trị chính em. Vì anh vốn kha khá ngoại ngữ nên đã chịu khó vừa nghe và tự học ngoại ngữ bằng cách vừa nghe giảng bài vừa dịch lại toàn bộ bài giảng sang ngoại ngữ. Vào phòng thi, anh bình tĩnh để tập sách ấy trên bàn để lót giấy thi và khi nhân viên giáo vụ gác thi hỏi, anh tỉnh rụi đưa tài liệu cho giám thị (cũng là nhân viên giáo vụ mới kinh chứ !) kiểm tra với lý do đó là bài đi học thêm ngoại ngữ ban đêm. Lật đi đọc lại tới lui một hồi, giám thị đã trả lại để cho anh tiếp tục làm bài yên ổn. Kết quả thì đã rõ.

Ngọan mục nhứt là trường hợp thứ 4 này. Trong kỳ thi mỹ học, đề thi lần ấy có yêu cầu liệt kê một số công trình kiến trúc lịch sử đặc trưng ở miền Nam có tiêu chuẩn cái đẹp “theo quan điểm mỹ học của ông M.” của thầy giảng. Một bài đã được thầy chấm với số điểm khá cao. Chủ nhân của bài thi đã thú nhận riêng với các Kiến khác là tất cả những công trình anh viết ra đều có đủ số liệu chính xác về năm xây dựng, năm bị phá hủy, đặc điểm công trình… cao hơn cả yêu cầu thầy đưa ra. Chỉ có cái tội là các dữ liệu đều giả hoàn toàn !

Trường hợp chót mô tả một bàn thắng “vô tiền khóang hậu” để cứu một người anh em nắm chắc vé lưu ban vì rớt 1,5 môn được một anh khóa k88 đã thuật lại như sau: theo luật của trường thì anh lớp trưởng hay anh bí thư Đòan của lớp được tiêu chuẩn ưu đãi hơn các bạn trong lớp ở chổ được vớt lên lớp khi bị rớt 1,5 môn (môn chính = 2 môn phụ = 2 x 0,5 môn) trong khi các sinh viên bình thường thì tiêu chuẩn được vớt lên lớp với 1 môn rớt. Nên để “chuyển bại thành thắng” cho đồng môn, cả lớp liền bầu cho anh làm lớp trưởng để anh được lên lớp an tòan và hợp pháp !

Ai bảo sinh viên là dở ? Sinh viên khôn lắm chứ …

Vì thời trời xui khiến khi xã hội phát triển bằng sự sàng lọc cao hơn nên kể từ khóa k88, cái gọi là “thi giai đọan” năm thứ 2 dùng để thanh lọc ra những tinh hoa của trường. Đơn giản là phương cách 3 “bóp đầu vào, thắt đầu giữa, thả nổi đầu ra”. Nói nghe thì hay nhưng nó cam go bằng mấy năm học hành lè phè cộng lại. Cuộc đua “giai đọan” hàng năm làm nhiều anh chị phải khốn đốn mà cầu Thầy cứu. Cái trò luyện thi, học thêm trong đại học nảy sinh ra làm gợi nhớ ít nhiều lại thời kỳ học phổ thông của chúng mình. Cũng có lợi chứ sao ? Nói chung thì các thầy nào dạy các môn liên quan đến thi giai đọan thì được lâm vào đại vận hanh thông trong cung tài bạch lẫn quan lộc. Thầy thừa cơ tha hồ “hét ra lửa, mửa ra tro”. Chuyện kể lại rằng một ông thầy tên Th. bình thản “dám” đánh rớt người học trò mình dù y đã “thành công” trong việc tặng thầy một chiếc “Đờ-Rim 2″ để trợ giúp thầy trong công tác đi lại. Chính mấy đồng môn của tác giả trước đó vài năm cũng có lần rớt oan mạng khi thầy cố ý ra đề sai khi thi lại. Thầy lý luận: ” Có ra đúng mấy anh cũng làm sai (!?)”

Nói là thi giai đọan có từ năm 1988, song trò sàng lọc “chưa chính thức” đã được manh nha thực thi trước đó bằng việc “thi kiểm tra giữa học kỳ”. Anh nào học lơ mơ rớt 2/3 lần thì bị cấm thi ráng chịu. Lúc đầu mấy thầy lại chơi trò “kiểm tra đột xuất”. Vì vậy lần đó khóa k86 năm thứ 3 đã bị cấm thi gần như 100% vì môn X (xin dấu tên). Trò xỏ lá này làm anh em tuyên bố định làm “reo” (grève) với nhà trường. Báo Tuổi Trẻ năm 1989 có bài ghi lại. Nhà trường phải cải tổ ngay lần đó và hứa rằng sẽ báo trước những kỳ kiểm tra. Song nhiều thầy cũng nhiều lúc “xé rào” do ê mặt trước cảnh sinh viên Kiến chán nản cúp cua môn học của mình khá đông. Thỉnh thỏang có nghe chuyện trò rủ nhau cả đàn “biểu tình” năn nỉ ở trước cửa nhà thầy vì thầy trót tuyên bố cấm thi quá đông anh em.

Trong khỏang thời gian này, uy danh các phòng ban, nhứt là phòng giáo vụ (sau đổi tên thành phòng đào tạo mà có kẻ dám xuyên tạc là “phòng đào tiền” !) như một vị quan “tiền trảm hậu tấu”. Tất cả tiền bạc đều phải đóng trực tiếp tại đây, năn nỉ hay khiếu nại tại đây, rút hồ sơ ra khỏi trường cũng tại đây… Hễ nghe mấy ông bà ở đây gác thi thì phải biết !

Bên cạnh tính hiếu sát thì Trời đất còn có tính hiếu sinh đám sinh viên. Số là sau 2 năm từ khi bắt đầu năm thực hiện chế độ thi giai đọan, ông Trời bèn khiến cho một ông con của một ông KTS nọ (vốn có máu mặt trong phòng giáo vụ) học khóa k90. Thế là tòan bộ khóa ấy được mọi ưu đãi nếu may mắn gặp lúc ông con này bị lận đận “sa-rết” trong đèn sách. Có thơ vịnh rằng:

 

Một lũ con nòi, chẳng giống ai

Idée đồ án rất ” trời ơi”,

Esquisse “rặn” hoài, không ra …ý,

Rendu “quậy” mãi, chẳng lên tay.

Kết cấu, xì-tin (style) trông rợn óc,

Diplôme, charrette thấy bái dàí !

Trả nợ, “lần 2” luôn hiện diện,

Kiến trúc dòng con lại bất tàí !

 

Nhờ vậy vụ “cấm ne” đã được nới lỏng dần. Đặc biệt khi thi giai đọan năm thứ 2 của khóa k90, lần ấy rớt khá đông. Ong con thì khỏi nói ai cũng biết. Ông cha làm trong phòng giáo vụ phải điều chỉnh hạ chuẩn điểm đậu. Thế là rất đông anh em rớt được “ăn theo” ơn mưa móc mà “qua” giai đọan an tòan. Ai bảo dân giáo vụ ác đức ? Mà có hết đâu, những năm mà “ông con” còn mài quần trên ghế nhà trường thì hễ “ông ” gặp khó khăn do làm bài không kịp giờ thì anh em đồng khóa được “dựa hơi” mà “thóat chết” đồng lọat. Khi làm tốt nghiệp anh em cũng được giaó vụ hạ tiêu chuẩn khổ giấy vẽ cho đỡ cực khổ. Có ông KTS bố khi nghe tin buồn: “mặc dầu có sự tận tình chạy chọt song cậu ấm đã không qua được cuộc thi giai đoạn hiểm nghèo”, đã đề nghị mở thêm một khoa mới để “pát-xê” con mình qua đó tiếp tục học. Đám Kiến “đồng nạn” cũng được cứu độ theo. Sướng chưa ! Trách chi hễ có một tiếng đồn tốt là thiên hạ cứ ùn ùn vô ĐHKT. Hễ vào được là chắc chắn ra trường được với một tấm bằng láng cóong lận lưng quần dể ợt. Chưa kể nó còn bao gồm luôn cả bằng B ngọai ngữ cấp quốc gia nữa mà !

“Vật cùng tắc biến”. Khi thu nhận sinh viên ồ ạt thì dĩ nhiên nhiều sơ sót bê bối hành chánh, tài chánh bắt buộc sẽ phải lòi ra như cảnh tang gia bối rối mong chính quyền và đồng bào lẫn sinh viên niệm tình tha thứ. Cái “biến tắc thông” là Bà Hỏa “giáng lâm” phòng giáo vụ trong một đêm 16 rạng 17-1-1992 làm sinh viên phải hõan giờ thi để cho cảnh sát vô điều tra. Vì theo quy luật phát triển mà sách nhà trường đã dạy, thì sau khi sinh ra và tồn tại thì nó cũng phải bị buộc kết thúc giống cũng như tòa Imexco cùng thời bấy giờ. Nghĩ tiếc thay khi dân Kiến ở ký túc xá gần đó có dịp chứng kiến suốt đêm giờ phút chót của tòa Imexco mà lại không có dịp chứng kiến cái công trình giáo vụ trù phú của chính trường mình “trở về cát bụi”. Thiên hạ liền chiêm nghiệm lại sự việc qua chuyện Đại hồng thủy trong kinh thánh và cứ thắc mắc bàn tán mổ xẻ “gia đình Noe” lần này gồm những ai ??? Ong mang theo ông những thứ gì để duy trì cuộc sống ??? và nhiều câu hỏi khác. Mãi tới khi phòng giáo vụ được bố trí chổ mới mà nỗi kinh hòang vẫn chưa dứt đến nỗi mấy bà “ở trỏng” phải lập một bàn thờ trước cửa phòng cúng khai trương để cầu an và tạ ơn thần tài phù hộ thóat nạn lâu nay. Riêng về phần sinh viên, sau trận ấy phách rọc bài thi bị cháy sạch không còn khả năng hồi phách vô sổ nên anh em phải rủ nhau đi gặp thầy để nhận dạng bài thi của mình.

Nói đến Kiến trúc mà không không nhắc tới lể truyền thống quả là một thiếu sót to lớn. Thực chất cũng là lể nhập môn cho các “ne” năm thứ nhứt, trình làng trước đàn anh, cũng là một trách nhiệm của anh năm cuối trước khi rời khỏi trường. Vì “đời chỉ có một lần” nên một bên thì cố gắng tổ chức cho thật độc xẹt, một bên thì phải cố gắng làm sao đi có mặt thật đầy đủ để cho mọi người biết mặt. Lể nhập môn bái đàn anh được tổ chức với nhiều hình thức. Cũng đi xin phép chính quyền, in thiệp mời, đi quyên góp mấy nhà hảo tâm, lo dàn dựng, tập dợt… Cảnh tiêu cực cũng không ít vì nhiều anh đi quyên góp cũng thừa cơ chấm mút cho bớt “động lòng”. Ban đầu, thời “phương cách 1” còn áp dụng thì không có gì lớn để mà bàn vì dân số không đáng kể nên không có sự lộn xộn trong tổ chức và sức chứa của trường còn kham nổi. Càng về sau từ khi áp dụng “phương cách 2” trở đi thì mỗi lần truyền thống là luôn có vấn đề lớn từ thượng vàng tới hạ cám. Việc triễn lãm tranh biếm họa làm đụng chạm tim đen mấy thầy không ít. Từ đó nảy sinh thêm chế độ kiểm duyệt tranh truyền thống. Đặc biệt là năm có lịnh “cấm ne” làm phá vỡ truyền thống “dạy nghề” của anh em Kiến làm bất mãn khá nhiều người. Bấy giờ bất cứ hình vẽ hay áp-phích nào có chữ “ne” hay ý nghĩa tương đương đều bị một thầy trong ban giám hiệu đến và thẳng tay lột bỏ vì “phạm húy”. Cảnh chen lấn xâu xé có lúc súyt ẩu đả nhau trong đêm truyền thống là chuyện thường. Các bãi giữ xe của các sinh viên tràn ngập dù giá gởi đã lên gấp 10 lần giá nhà nước. Mà cái vui nhứt theo ý tác giả là tiết mục nhảy đầm cuối lể truyền thống. Mấy năm mới được phép “nhót” trở lại thì phải biết nó sung sướng biết chừng nào. Danh từ “nhảy son-đố-mì”, “múa đôi” hay “quốc tế vũ” thì dẹp quách đi không thương tiếc do hết hợp thời đại. Tiếp sau buổi lể kết thúc, dù có tổ chức bê bối chăng nữa thì luôn có lệ phải tổ chức một tiệc liên hoan mừng thành công của đêm truyền thống và lợi nhuận của nó để lấy tinh thần cho mấy khóa sau. Anh em nào còn lại ở trong trường được bao ăn nhậu thả ga, lúc ấy thật là một lể truyền thống “tập 2” ngòai luồn không sợ chế độ kiểm duyệt bên ngòai “gõ”. Các tiết mục đều có thể biểu diễn tự do không cần đăng ký xin phép. Đêm truyền thống 19 rạng 20-9 năm 1991 còn có cả sô “thóat y vũ nam” kèm nhạc sống coi miễn phí (chuyện có thật 100%.- tác giả thành thật xin lỗi độc giả vì khi ấy tác giả còn quá ngây thơ ham vui không biết hỏi tên tuổi của vủ nam ấy), khán giả đứng xem được tiếp cận diễn viên trong tầm tay, vừa được phục vụ cháo ăn đêm nếu cần. Xong thì từ từ mạnh ai nấy vô tư nàm la liệt ngủ để hôm sau lấy sức thu dọn chiến trường. Lợi nhuận thu được có lúc thừa sức tổ chức bao trọn gói 1,2 chuyến nghỉ mát Đà lạt hay Vũng Tàu cho mấy anh em, bao luôn bồ bịch nếu có. Trước khi đi, cũng có bố trí vài anh sinh viên chuyên “dọn đường” bằng cách ghé nhà mấy thầy để “nói một tiếng xin phép nghỉ mấy ngày” cho đúng lễ. Còn bài vở, đồ án thì để đó ! Chơi trước tính sau. Nghe kể lại vào năm 1999, nhà trường nổi hứng cấm làm truyền thống qua chủ xướng của thầy giáo sư tiến sỹ thạc sỹ Kiến trúc sư T.H. với nhiều sự lý giải không ai hiểu được, có lẽ thầy học nhiều quá rồi điên chữ chăng ? Kết quả là mấy anh em đợt đó ra trường hễ thất bại là đổ thừa “Tổ quở” vì lý do trên.

Trong sự căng thẳng lên bài ngày đêm từ ngàn xưa đến nay, khi thời gian đều đổ hết vào họa thất tất nhiên anh sinh viên Kiến nào cũng đều quên mình vì nghệ thuật dù muốn hay không muốn. Cũng vì lý do học hành càng kham khổ, nếu là nữ, thì tàn phai nhan sắc là không tránh khỏi. Do vậy trong bình minh của lịch sử nhà trường, số nữ không đáng kể (hồi 1955-56 mới chỉ có 1 người duy nhứt là chị K.N !) dù số “Lê Lai liều mình cứu chúa” không bao giờ thiếu. Nguyên nhân một phần ngày trước trong các họa thất có anh “trưởng tràng” hay sanh tật “bắt ne làm gì thì ne phải làm nấy không được cãi ” nên nhiều cô nghe đồn thôi mà đã mất vía rồi. Càng về sau khi “đầu ra” càng dễ thì số nữ tăng dần và nhan sắc Kiến nữ trong trường thấy cải thiện đáng kể thừa sức canh tranh với dân trường Tổng hợp hay trường Kinh tế bên cạnh. Số Kiến nữ tăng đột ngột vào năm 1987. Đang đói xưa nay, giờ gặp cơm hay phở gì thì mấy anh Kiến đều phơi phới rậm rực ra mặt. Có cô lợi dụng lắm anh theo đuổi, liền chơi trò “đấu thầu” bằng cách nhờ mỗi anh làm một bài để rồi chọn cái hay nhứt lên nộp cho thầy. Khiến mấy anh “hụt thầu” ngẩn ngơ mà không làm gì được. Kiến nữ làm không khí tổ Kiến thêm nhộn nhịp. Có hai chuyện, kể về “sự cố ngàn xưa” thời ấy đậm đặc tính mê ly cụp lạc mà sinh viên ai cũng biết. Một cú bởi trò gây ra (thập niên 80), một ca do thầy là thủ phạm (thập niên 90). Cả hai thầy trò luyện công phu “âm dương chỉ” thế nào không biết mà “dến” cái “bầu tâm sự” cho 2 cô bên ngòai (có 1 cô là sinh viên trường bạn) khiến 2 cô đến trường “hỏi thăm”, nói hoa mỹ là đòi “bồi thường chiến tranh”. Nhà trường nghe đâu phải âm thầm vào cuộc giải quyết ổn thỏa. Vì quý thành tích học tập tốt nên trò chỉ bị cảnh cáo cho lưu ban, còn thầy thì phải cuốn gói ra đi không hẹn ngày trở lại. Thôi chuyện nghe qua rồi bỏ, chỉ biết sau đó vài năm, bên ngòai thiên hạ tổ chức ì xèo những cuộc thi hoa hậu làm bên trong trường càng thêm rạo rực trước cảnh “cây nhà lá vườn” đang kỳ mơn mởn chưa từng có xưa nay. Yếu tố “mỹ quan” trong nguyên lý kiến trúc bắt đầu được chú trọng và được “rendu” dưới hình thức tân kỳ mới lạ.

Còn mấy Kiến nam thì thực chất chẳng thay đổi bao nhiêu. Do bù đầu làm bài cho mình và “hết lòng thờ vua (bà), xả thân cứu (nữ) chúa lúc nguy nan” nên riết rồi thời gian tắm rửa cũng chẳng còn. Cũng may ngày nay sinh viên có tiền thuê nhà trọ nên cũng bớt cảnh tốn thì giờ sắp hàng hứng nước hay “dành cơm” ở ký túc xá. Nhằm lúc này nhiều “nữ chúa” vào trường quá cỡ nên quỹ thời gian đã kẹt cứng càng thêm kẹt cứng. Đành mang tiếng ở dơ vậy ! Mà dơ bao nhiêu thì người đời tưởng mình có máu nghệ sỹ thiên tài đầm đìa ý tưởng trên trời dưới đất. Càng về sau có mấy anh thấy thế còn chơi “đốt giai đọan”, cứ ở dơ trước cái đã còn thời gian học hành thiếu đủ tính sau. Thêm cà phê, thuốc lá, nhậu nhẹt lu bù gọi là phương tiện kích thích tìm ý đồ sáng tác kiến trúc thì càng hay hơn nữa. Quên phứt đi cái khỏan vệ sinh, điều độ bằng mấy cái “khóai” thứ dữ khác cho đủ bộ. Để tóc tai bù xù, ăn mặc bê bối làm tăng cường thêm ấn tượng Đã không được nghệ sỹ bề trong thì cũng phải ráng được nghệ sỹ bề ngòai cho bằng anh bằng em. Bắt chước sai bài, “binh” không tới thì ráng chịu. Mà lạ hơn nữa là nhân viên của trường cũng không kém máu nghệ sỹ. Năm 1978, vào ngày quốc tế phụ nữ, một bà nhân viên chơi nổi “tròng” bộ áo cưới vào trường cho nó “độc xẹt” mặc cho chúng sanh thấy mà lắc đầu. Nhân viên trường còn “nghệ” như thế thì đám sinh viên lập dị cũng đừng ai trách. Cũng vào khỏang mấy năm ấy, nhân có phong trào “cấm để tóc dài”, nhà trường cũng định lợi dụng nhằm hạn chế máu “nghệ” của mấy Kiến nhưng sau vài năm thì “mèo vẫn hòan mèo”. Nói tiếp về cái trò “ở dơ sống lâu” dần dần trở thành món võ tự vệ độc hại làm thầy nào cũng phải gờm mùi hương lẫn mặt mày của mấy thằng đệ tử và rồi kiêng dè khi sửa bài của chúng. Mấy đồng môn cũng phải bịt mủi “chạy làng”. Lúc lên bài họa thất hay vào lớp thì liệu hồn! Chúng mà ngồi đầu ngọn gió thì làm cả lủ trong sạch nhiễm độc khí chết nhăn răng. Kiến nữ nhờ vậy thêm được thầy chiếu cố tận tình nhờ bộ vó “dẻo như cơm, thơm như mít” rồi từ đó có tiếng đồn nhau rủ rê nhiều nữ sinh khác đổ xô ồ ạt thi vào kiến trúc.

Việc học quân sự tuy bắt buộc nhưng đó không phải là cửa ải. Tuy chỉ tốn có một tháng song là dịp để sinh viên đi ra ngòai thay đổi không khí. Các thầy cũng tương đối dể dãi. Hồi trước, nhớ có một thầy, thật ra là một ông sĩ quan già tên L. mà dân Kiến hay gọi là thầy Sáu L. Nghe cách nói chuyện hóm hỉnh của thầy, dân Kiến phát hiện trong lý thuyết quân sự chứa đựng tràn trề ý nội, ý ngọai, nghĩa đen, nghĩa bóng cực kỳ thâm thúy. Chỉ có thế mà anh em hứng thú có mặt tương đối đông đủ hơn các giờ lý thuyết khác. Thêm giờ học thực hành ngòai trời ( có lúc ở công viên đối diện Dinh Độc lập, có lúc ngay khu đất trống sát tường rào khám Chí Hòa), quả là thiên đường cho mấy anh em có dịp vui chơi hóng mát ngo ngoe tay chân cho đỡ bồn chồn. Lúc giải lao thì thầy trò tụ lại tha hồ đánh “tiến lên”, hòa đồng quân dân với nhau mà không sợ ai bắt lỗi. Cái vui nhứt là vào cuối khóa đi bắn đạn thật trên sân bắn Thủ Đức. Nhiều lớp lợi dụng dịp này tổ chức cắm trại qua đêm, ăn uống bí tỉ , đêm nằm kề bên nhau ngắm trăng tâm sự , kể lể chuyện đời… tựa hồ:

 

“… Nằm kề bên nhau chờ giặc tới,

Đầu súng trăng treo…” (thơ Chính Hữu)

 

… ngay trên bãi tập bắn từ chiều hôm trước. Đến sáng hôm sau thì bắt đầu thi kiểm tra bắn đạn thật. Vì tình thầy trò vốn đã được đầu tư thắm thiết trong quá trình học nên chẳng ai rớt. Tiếc rằng những năm sau đó tiết mục này bị bỏ dần vì sinh viên càng đông đảo khó tổ chức vì tốn kém. Ban đầu mỗi lớp cử vài đại diện đi bắn. Sau dần chỉ kiểm tra thao tác dùng súng của từng anh chị rồi thôi. Chắc vài năm nữa chỉ cử mấy anh đại diện đi học rồi chuyện gì mới nữa chưa biết trước được nhằm đơn giản hóa tận cùng khóa huấn luyện quân sự. Khóa học luôn kết thúc tốt đẹp nên chẳng có gì gọi là “ác nghiệp”. Chỉ kể nghe qua chơi cho đủ bộ.

Chặng cuối của đời sinh viên là tốt nghiệp cũng cực kỳ quan trọng vì “đời chỉ có một lần”. Sau vài tháng đầu tư sức người và của vào đồ án ra trường, anh nào chị ấy cũng bơ phờ, nhiều người xanh như tàu lá do làm việc ngày đêm quá độ. Thầy cũng phải được bố trí “kè” mấy trò mà hướng dẫn. Vì tính quan trọng của nó mà có trò vì quá thương thầy rồi sẵn sàng xì tiền bồi dưỡng riêng cho thầy chút đỉnh lấy sức. Mấy “ne” cũng đổ quân vào cuộc. Có anh thừa tiền lắm của thuê nhà để vẽ, thuê ne thả ga, bao ăn, bao ngủ từ a tới z. Mấy ne chỉ có việc tô màu, vẽ cây, chấm cỏ, nghe sai bảo lặt vặt… Mấy anh nghèo làm thui thủi một mình cũng tốt nghiệp vang lừng như ai. Cảnh “charette” vẫn còn đó. Tới ngày sơ khảo, nhiều người sốt vó là trò thường tình. Có thầy vì quá thương trò, chạy đôn chạy đáo vô trường huy động thêm “ne” kéo về nhà đệ tử của mình vẽ phụ cho kịp giờ. Sơ khảo xong, bài đem về sửa chữa một lần chót trước khi trình bày tốt nghiệp. Hôm bảo vệ mới thật sự là ngày trọng đại. Mỗi tân khoa tương lai phải một thân chống chọi với một hội đồng thầy tràn trề kinh nghiệm. Mấy anh du học sinh xứ Chùa tháp thì không đến nỗi lo lắng nhiều do đã được trang bị nhiều hậu thuẫn ưu đãi công khai. Điển hình là anh nào tiếng Việt còn lọng cọng thì các thầy thấy thương tình liền miễn khỏang trình bày giới thiệu đồ án cho đỡ mất thời gian. Và theo đúng thủ tục tốt nghiệp, mấy thầy vẫn lên thưởng thức đồ án cũng như hỏi vài câu lấy lệ với người ta với tấm lòng tràn đầy gạo muối cầu mong mấy anh mau về nước để truyền bá chất lượng và uy tín của “đằng mình”. Riêng với sinh viên Kiến nội địa nhà ta thì thầy vẫn thương yêu nên những năm gần đây, tỷ lệ rớt ít, ít dần và ít mãi. Có thầy nói nếu chấm gắt quá thì đâu còn đứa nào ra trường, mà mình đánh rớt hòai kiệt sức mình rồi sẽ đánh rớt không nổi nữa, đành phải “cho qua” để “để đức” cho con cháu. Trước trận “biển người” tốt nghiệp đông đảo tất nhiên thầy ủng hộ số đông mà từ bi xí xóa mấy lỗi lặt vặt không đáng kể cho anh em nhà Kiến mừng. Nghe kể lại năm 1994, có một anh sinh viên Kiến “cóp-pi” nguyên xi một sân bay trong sách để làm bài tốt nghiệp. Mặc dù có một thầy phát hiện và phản đối nhưng cả hội đồng thương tình công sức vẽ vời nên thông cảm cho ra trường êm đẹp. Do đó để việc bảo vệ tốt nghiệp thành công thêm rực rỡ, nhiều anh chị mời hết cả bà con họ hàng ông bà chú bác lẫn con cháu đi theo ủng hộ vì biết mình chắc chắn cỡ nào cũng đậu. Có người sau khi bảo vệ xong liền có con cháu đem hoa tặng theo công thức ca sĩ cho thêm tính le lói. Những đêm sau đó, các anh em luân phiên đi ăn nhậu khao quân mừng “chiến thắng” liên tục ở từng nhà các đồng môn với mấy ne ruột. Thầy cũng được mời lu bù và được trò trả công hậu hĩ từ quà cáp tới hiện kim tùy theo nhu cầu hay yêu cầu. Thầy thanh liêm thì chỉ nghe trò nói câu “cám ơn” là thầy mát ruột mà không cần gì khác. Ngày phát bằng còn vui hơn nữa vì còn có thêm tính tập thể cao độ. Rút kinh nghiệm nhiều năm từ các trường khác, trường ta cũng thuê áo mũ cân đai loại “thời trang cử nhân tiến sỹ” đem về trường cho sinh viên thuê lại để có dịp tổ chức đóng tiền đăng ký tên theo thứ tự lên lãnh bằng cho oai. Không khí trường nhộn nhịp hơn xưa vì ngòai sinh viên ra còn có cha mẹ, họ hàng, vợ con, bạn bè, bồ bịch.. đi đến xem chức mừng chia vui rôm rả. Mấy anh phó nhòm cũng có dịp chen chân vô kiếm sống chút đỉnh.

Đời sinh viên là thế đó ! Mà khổ nhiều sướng ít.

Một anh Kiến ôm tê-ke miệt mài thi lại và trả nợ đồ án mãi mới tốt nghiệp được. Ra trường xong, y tủi thân hận đời bèn làm một bài thơ lưu lại:

 

Trời đất hỡi ! Sinh viên khốn khổ,

Phải đóng thêm phí nọ tiền kia,

Có tiền, có gạo bề bề,

Dài dài trả nợ cũng ê bẹ sườn.

Lể tốt nghiệp ra trường cũng đóng,

Thuê áo quần cho giống cử nhân…

Hận thầy ác đức ác nhân,

“Đì” trò, đánh rớt kiếm ăn, làm tiền…

Thương thầy khác liên miên chạy độ,

“Giết” học trò, không nỡ ra tay,

Cứ cho tốt nghiệp mặc bây

Học không ra thợ, ra thầy, ai thuê ?

Sẵn cao học, thôi về học lại,

Ngồi hai năm ra dạy sinh viên,

Thầy già xuống lỗ quy tiên,

Còn bầy đệ tử nửa điên, nửa khùng…

 

… và kèm theo một tuyên bố xanh dờn: “Ta không còn gì để rớt. Không Top Ten thì cũng Bottom Five”.

Xuyên tạc đến nước như vậy mà thiên hạ vẫn cứ mê kiến trúc như điếu đổ , chen chân vô không dứt !

Trò càng đông thì thầy phải có thêm đủ số. Thầy già về hưu hay chết dần mòn mà thầy mới chưa có bao nhiêu để trám chỗ. Nhiều thầy chán nản bỏ trường đi “chạy ngòai” cho khỏe khỏi lo nhức đầu căng thẳng vì đấu trí mà thu nhập chẳng bao nhiêu. Thầy khác tuyển về để bổ sung thì chất lượng không đạt yêu cầu. Nhiều thầy giỏi về vài bữa, cao lắm là một học kỳ là bị “ma cũ” bứng gốc đành phải dứt áo ra đi. Bên ngòai kinh tế thị trường phát triển mạnh nên nhà trường cũng phải khốn đốn chạy theo cho kịp. Trước thế “lưỡng đầu thọ địch”, một bên nhu cầu đào tạo, một bên là kinh tế, thì chỉ còn nước chữa cháy là mở hệ cao học để đào tạo thạc sỹ và tiếp tục có dịp thu tiền “hụi chót”. Nhiều trường trước tiên phải “lên đời” cho mấy ông phó tiến sỹ thành tiến sỹ để có tư cách đào tạo mấy ông thạc sỹ mới. Trường Kiến tất nhiên không ngoài quy luật trên. Anh em nào muốn lên làm thầy hay để ra đời ngồi ký giấy thì đăng ký cao học khỏang 2 năm. Quá khỏe ! Với điều kiện chịu khó đi học có mặt đều vì thầy điểm danh rất ngặt như ở trường phổ thông. Tại vì rút kinh nghiệm sinh viên đại học ưa “cúp cua”, và mấy anh theo cao học vừa có bằng cấp ngon lành ưa sanh tật làm “chảnh” không coi quy định ra gì , nên trường buộc lòng phải dùng biện pháp mạnh. Năm 1993 nghe kể có thầy chuyên gia dạy nguyên lý Kiến trúc trong trường vậy mà khi thi cao học vẫn rớt môn nguyên lý Kiến trúc như thường. Tiếc rằng không biết ai đã chấm bài thầy lần ấy trong khi ngày thường thầy chấm bài người khác. Vì tương lai sáng sủa nên số sinh viên cao học tăng dần bất chấp điều kiện ngày càng gắt. Số thầy được đào tạo từ đủ số đến mức thừa thãi. Miễn “cần cù bù năng khiếu, dù thiếu tài năng” là làm thầy dễ ợt. Có thầy “tu đường tắt” bằng cái mửng “ẵm” trọn gói luận án tiến sỹ của đồng nghiệp đàn em để làm của riêng mình rồi sinh kiện cáo lung tung, phục vụ cho chuyện thâm cung bí sử của trường vốn đã tràn trề nay thêm đa dạng.

Từ cái ngày người ta coi ông KTS như ông trời “nắm thế giới trong bàn tay”, đến nay KTS đầy đường, quần chúng hóa đến mức cao độ. Quả là một sự thay đổi thần kỳ chống chủ nghĩa độc quyền Kiến trúc. Có một thầy đưa ra nhận xét cực chuẩn xác:

“Trường kiến trúc ai dạy cũng được và ai học cũng được”.

Cái tàn ác của kinh tế thị trường là bắt thiên hạ phải chạy theo nó và cạnh tranh với nhau không bao giờ ngưng nghỉ. Từ ngày chỉ có một khoa kiến trúc trong trường, kế tiếp phải mở thêm “hệ B”, chuyên tu, tại chức, rồi quy hoạch, xây dựng, mỹ thuật công nghiệp… để cạnh tranh áp đảo mấy trường khác. Đêm còn có thêm các lớp họa viên, ngọai ngữ, vi tính, luyện thi, cả “mầm non kiến trúc” cho thiếu nhi nhằm thu hút đủ hạng khách già trẻ lớn bé. Có dạo nhà trường sẵn sàng cho một trường đào tạo hướng dẫn viên du lịch, hay xí nghiệp gạch bông thuê mặt bằng, sảnh cho thuê dùng làm bãi đậu xế hộp ban đêm … Khuôn viên trường được khai thác hết ga vừa để chứng minh tính thích dụng và kinh tế cho sinh viên. Nhiều ông KTS đã tâm sự rằng nếu mà có thêm đất trống chắc nhiều bà bán hột vịt lộn, bia hơi, áo quần sida, keo diệt chuột… quanh trường chắc chắn sẽ mừng lắm vì có mặt bằng ổn định khỏi khốn đốn do bị cảnh sát dí chạy hàng ngày.

Cũng phải thế thôi khi cầu nhiều tất phải có cung nhiều để đáp ứng vậy. Kết quả ra sao, xem hồi sau sẽ rõ.

Tại sao người Việt không khá nổi ? (6)

1-       Nghệ thuật:

Nói chung do chiến tranh, nền văn hóa nghệ thuật chủ yếu dựa trên truyền khẩu để tồn tại. Tam sao thất bổn không thể tránh khỏi. Dù rằng nhân tài không thiếu, nhưng do thiếu phương tiện truyền bá (kể cả giấu nghề) kèm theo tính bảo thủ, bắt chước truyền từ đời này sang đời khác nên đa phần không thể phát triển mạnh và sáng tạo. Sự sáng tạo nếu có chỉ là những “fantaisie” do ngẫu hứng tức thời mà ra. Nguyên nhân chính vẫn do nguyên tắc của Khổng Tử: “Ta chỉ thuật lại mà không sáng tác, ta tin và thích những gì của đời xưa”  (thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ).

Câu này là đầu mối kềm hãm mọi mặt. [i]

Từ đó nền nhạc cổ không thể nào tiến xa được nhất là lại không dựa trên sự chuẩn xác và ghi chép cẩn thận như nhạc phương Tây. [ii] Hơn nữa những sự đột phá không được chấp nhận nên nét âm nhạc, thi ca chỉ đặc trưng thay đổi theo từng từ vùng này sang vùng khác.

Về hội họa, điệu khắc, ngoại trừ ít ỏi những bức họa có tính truyền thần (chân dung Nguyễn Trãi, Gia Long..) được tồn tại đến nay, hầu hết các tác phẩm hội họa điêu khắc cổ đều có chung một nét dân gian mà sau bao nhiêu đời vẫn không đổi. Chúng ta quan sát thấy từ các tượng thờ đến các tượng dân gian hầu như không khác nhau đến ngày nay. Cái thần trong điêu khắc được diễn tả ở mức cao nhất tại các tượng La Hán chùa Tây Phương.

Nhìn chung, bên cạnh đường lối bảo thủ của Nho giáo,  nghệ thuật VN kềm hãm sự phát triển của con người trong tiềm thức qua các yếu tố sau:

  1. Chuộng cái nghèo:

Bên cạnh bài viết của bà Lê Thị Huệ như đã nêu, tất cả các tác phẩm nghệ thuật khác đều đều mô tả cái nghèo.

Hội họa, nhiếp ảnh đa số diễn tả cảnh nhà tranh vách đất, cảnh con trâu kéo cày, những dụng cụ, phương tiện thô sơ: xích lô, xe lôi.. hay những bức đặc tả chân dung những ông bà cụ (đặc biệt là người Thượng thiểu số) rặt theo công thức:

Tóc bạc, râu dài, thân khắc khổ, Gầy còm, ngậm thuốc, vú nhăn nheo

… ngồi bên cạnh những đứa trẻ bẩn thỉu:

Bụng ỏng, nhe răng nhăn nhở khóc; Đứng tròng, cặp mắt ngác ngơ nhìn. [iii]

Cũng khó mà trách được tác giả khi mà các tác phẩm này được thị trường tiêu thụ mạnh và thường được trúng giải thưởng quốc tế.

Riêng âm nhạc, tả cái nghèo còn chưa đã, thêm cảnh thất tình, chia ly càng tốt !

  1. Tính ủy mị và đơn điệu

Một đất nước đau khổ vì chiến tranh, cường quyền, áp chế làm nhạc ủy mị được thời phát triển khi đánh sâu vào tâm tư tình cảnh con người. Ta thấy các điệu dân ca, chèo, cải lương dù ngay trong những đoạn hát vui nhất vẫn không tránh phảng phất giai điệu buồn trong đó. Càng nhiều đau khổ, thêm tính bảo thủ, các bài ca câu hát hầu như chỉ nằm trên một số điệu nhạc truyền thống lặp đi lặp lại. Chỉ có lời nhạc là khác nhau. So với Phi châu, dù nghèo nhưng nhạc Phi Châu luôn có nét vui nhộn, không có nét buồn khổ như nhạc của ta.

Thể hiện tâm lý chịu đựng, chịu đựng và chịu đựng của người Việt, nền âm nhạc dân gian VN với đậm nét buồn làm yếu tinh thần người nghe nếu không nói làm cho bạc nhược mất dần ý chí tranh đấu.

Khi nền nhạc Tây phương du nhập, chỉ có một giai đoạn ngắn đầu thế kỷ, âm nhạc VN cải thiện đáng kể nhiều mặt từ cổ nhạc đến tân nhạc. Nền âm nhạc cổ truyền từ đó có điều kiện cải tiến và truyền bá dễ dàng.

Ngày nay, những dòng nhạc trẻ Vpop được sáng tác vô tội vạ và chạy theo thị hiếu chung. Hình thức phối âm, phong cách không na ná nhau, chưa kể các “thảm họa” [iv] làm tác động xấu đến tâm hồn giới chủ tương lai đất nước. Nó thể hiện sự xuống cấp trí tuệ đáng buồn với tâm lý mất định hướng. Nhìn vào thị hiếu âm nhạc giới trẻ ngày nay, thấy … ngán ngẩm vê tình hình dân trí.

  1. Tính đối chọi giữa hai dòng nhạc Nam-Bắc:

Nội chiến Nam Bắc 1954-1975 tạo nên một thái cực trong nền âm nhạc VN. Dù rằng bên nào cũng giá trị đặc thù riêng nhưng cả hai có tính thiên cực đối chọi.

Nhạc miền Nam phát triển tự do, chỉ có số ít hùng ca chấn hưng tinh thần, đại đa số còn lại có tính ủy mị biểu hiện nỗi khô chinh chiến điêu linh: nhạc “sến”. Tâm lý tiêu cực của dòng nhạc sến gián tiếp ảnh hưởng đến tinh thần dân miền Nam đến nỗi nhiều người chỉ trích nó là “nhạc mất nước” ! [v] Còn bất công đau khổ, dòng nhạc này còn “hợp lòng người”. Hơn nữa, những lời nhạc chan chứa tình người giúp dòng nhạc sống mãi. Trong một xã hội băng hoại ngày nay thì tính “tình người” là điều bắt buộc cần khơi dậy hơn lúc nào hết . [vi]

Ngược lại, nhạc miền Bắc sáng tác theo định hướng nhằm kích thích tinh thần chiến đấu và tuyên truyền cho chế độ. Tuyệt đại đa số là hùng ca tràn mang đậm hình ảnh chiến tranh giết chóc [vii]. Có rất ít những bài nhạc tình yêu dưới dạng “lãng mạng cách mạng”,  và để không bị kiểm duyệt cấm đoán thì nó phải dựa chủ đề bối cảnh chiến tranh. [viii] Kể cả nhạc thiếu nhi cũng có chất “thép”. [ix]

Sự đối chọi hai dòng nhạc không thể tránh. Một đàng kích thích tính hiếu chiến và tuyên truyền; một đàng ủy mị buồn bã và lưu truyền “chui” bất chấp cấm đoán. Cả hai đều không có tác dụng tốt cho tiềm thức người dân.


[i]  Có lẽ vì lý do này mà người Tàu rất chú trọng đến việc bắt chước. Đặc biệt là sản xuất hàng nhái, hàng giả, kể cả tiền. Hơn nữa, do không sáng tạo mới nên người Tàu luôn giấu nghề ngay cả với con cháu của mình.

[ii]  Tai sao nền nhạc cổ không tiến được ? – Thẩm Oánh (Văn hóa Nguyệt San ngày 5-6-1953) có viết như sau:

“… Các nhạc khí mà hiện nhạc cổ còn sử dụng ngày nay, ngoài cây đàn bầu cho chính người mình sáng chế, các cây đàn khác như đàn nguyệt, đàn tranh (tức đàn thập lục), đàn tỳ, đàn nhi, đàn tam …v…v… đều là nhạc khí Trung Hoa mà lịch sử những cây đàn này rất là hay, đẹp…

Sử dụng nhạc khí ngoại lai, phổ biếp dịp nhạc ngoại lai, nguồn Việt nhạc cổ truyền đã từ bao lâu ngừng đọng như nước ao tù, vì chưa có gì đáng tiến cả.

Xét về nhạc thuật ta nhận rằng: non một trăm bản nhạc cố hữu của mình chỉ có chọn một thanh âm, khi hòa nhạc các đàn cùng hòa chung một điệu, những đốt đàn của một cây đàn trong ban nhạc cổ (ví dụ như của đàn tranh hay cây đàn tam thập lục chả hạn) tuy có hơi khác là vì dấu á tức là gẩy 5, 6 cung thật nhanh, để bắt cung chính, song cẫn chỉ trùng với cung chính mà thôi.

Lại tới khi sửa soạn lên dây, để hòa đàn, không có một thanh cử nào để làm chuẩn đích, giọng lên một thanh âm, nghe vừa tai và căn cứ theo đó để mội cây đàn lấy lại giâu rồi đồng hòa. Lại tới khi hòa, các nghệ sĩ mỗii người mỗi sở trường một lối theo sở thích cá nhân miễn sao câu đầu câu cuối ăn nhịp là được, nên chi, một nhạc sĩ quen hòa với ban nhạc này, không thể nhất đàn hòa với ban nhạc khác vì không thuộc ngòn của nhau, và về cách thức ghi âm thanh cho bản nhạc để trông đó hòa theo cho đúng nhịp, nguồn nhạc cổ của ta chưa có.

Hơn nữa sự trình bày một bản nhạc đòi hỏi nhiều điều kiện rất phức tạp, gần như trở thành một Đạo trong Kim cổ kỳ quan có nói đến…

Từ nhịp nhạc, điệu nhạc, từ thể thức đến trường hợp trình bày nhất nhất sự gì cũng đều phức tạp, nguồn nhạc VN do đó đã thiếu phương tiện cổ động và truyền bá. Nên chi tự ngày xưa cho tới bây giờ nguồn nhạc tuy có biến thể mà vẫn giữ nguyên hình trạng phôi thai, không sao khơi giòng để tiến hơn được nữa.”

[iii] Theo: http://hoangthinh.tumblr.com/post/381483629/tho-trao-phung-ve-nhiep-anh-tac-gia-nqu72

Có một bài thơ châm biếm về dân nhiếp ảnh có đoạn như sau:

…” Đi sáng-tác rày đây mai đó,

Dàn-dựng theo sách-vở rõ-ràng:

Bà già: miệng móm, vú nhăn,

Ong già: rụng hết sạch răng, râu dài,

Lựa thiếu-nữ: mình dây, tươi-mát,

Chụp trẻ-con: giương mắt đứng tròng,…

[iv]  Những bài hát điển hình thảm họa của Vpop: Da nâu (Ph.Th.V) , Nói dối (P.M), Teen vọng cổ (V.T.K), Bà xã number one  (T.G.V.) (Xem thêm trong youtube.com )

[v] Bài “Kỷ vật cho em” (Phạm Duy):

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại. Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về. Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime, Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã, Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả , Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa, Anh trở về trên chiếc băng ca . Trên trực thăng sơn màu tang trắng.
Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại. Xin trả lời xin trả lời mai mốt anh về. Anh trở về chiều hoang trốn nắng. Poncho buồn liệm kín hồn anh . Anh trở về bờ tóc em xanh , Chít khăn sô lên đầu vội vã.. Em ơi!
Em hỏi anh. Em hỏi anh bao giờ trở lại . Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về. Anh trở lại với kỷ vật viên đạn đồng đen . Em sang sông anh cho làm kỷ niệm . Anh trở về anh trở về trên đôi nạng gỗ . Anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân. Em ngại ngùng dạo phố mùa Xuân, Bên nguời yêu tật nguyền chai đá.
Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại . Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về . Anh trở về nhìn nhau xa lạ . Anhh trở về dang dở đời em
Ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen . Cố quên đi một lần trăn trối… Em ơi!  Em hỏi anh em hỏi anh bao giờ trở lại . Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.

[vi]  Nghệ Sĩ nhân dân Trà Giang đã nhận xét: “Nhạc miền Nam tình người chứ không gân guốc sắt máu như nhạc miền Bắc”.

[vii] Bài hát “Cô gái vót chông” (Hoàng Hiệp):

Như bao cô gái ở trên non, cô gái sông ba đầu búi tóc thon. Tay vót chông miệng hát không nghỉ. Như bao cô gái ở trên non, như bao cô gái ở tây nguyên.
Ai nhanh tay vót bằng tay em? Chim hót không hay bằng tiếng hát em. Mỗi mũi chông nhọn hoắc căm thù. Xiên thây quân cướp nào vô đây.
Còn giặc Mỹ cọp beo, khi còn giặc Mỹ cọp beo. Em chưa ngừng tay vót chông rào buông rẫy. Nhưng mai đây giặc chạy rồi. Tre rừng ta làm nhà làm chòi cao.
Ê chân ta đi chưa nghỉ, trời chưa xanh. Em còn vót chông nhiều làm cạm bẫy. Ê quân xâm lăng gian ác bay muốn vào mũi chông sẵn sàng đây. Chờ bọn bay,  diệt bọn bay!

[viii]  Bài hát “Trường Sơn đông – Trường Sơn tây”, “Lá đỏ” ; sau 75 có bài “Con kênh ta đào”, “Anh ở đầu sông, em cuối sông”…

[ix]  Bài “thằng giặc Mỹ”, ngày nay chắc chẳng ai thèm nhớ đến: “Thằng giặc Mỹ nó khoe tài múa mép, rằng hạng nhất máy bay thần sấm sét, các cô chú dân quân ta chiến đấu đêm ngày, cho chúng nó tan thây chúng hóa thành đất sét. Thằng giặc Mỹ nó khoe tài múa mép, rằng hạng nhất máy bay thần sấm sét, các cô chú dân quân ta chiến đấu đêm ngày, cho chúng nó tan thây, chúng la hét đêm ngày.”

Hay bài “Em bé giải phóng quân” có đoạn:

“…Đêm qua giải phóng quân vượt sông, Đồn giặc cháy xác phơi đầy đồng…
…vác súng trên vai theo bước quân hành, nhằm đầu giặc Mỹ súng em pằng pằng …”

Thái Hiền – Bao giờ người Việt được sống thật, được nói thật?

http://danluan.org/node/13224

Thái Hiền – Bao giờ người Việt được sống thật, được nói thật?

Thái Hiền

Ngày xưa trong gia đình cha mẹ luôn dạy con cái phải thật thà, trung thực. Khi đến tuổi đi học, nhà trường cũng dạy học sinh phải thẳng thắn, dũng cảm, dám hy sinh, tôn trọng người khác và biết tự trọng… Rất nhiều tấm gương về lòng trung thực, dũng cảm bảo vệ lẽ phải, sự công bằng và chính nghĩa mà các nhân vật trong tiểu thuyết hay phim ảnh luôn là thần tượng của tuổi thanh thiếu niên bấy giờ. Thế rồi không biết từ bao giờ, cùng với nền giáo dục, những phẩm hạnh đó mất đi và nay trở thành xa lạ với xã hội, thậm chí trong một số trường hợp, trung thực, thật thà, dũng cảm lại là vật cản đối với nhiều người.

Ngày nay, thay bằng việc giáo dục tính thật thà, trung thực, lòng dũng cảm, các bậc phụ huynh phải trang bị cho con trẻ ngay từ khi chúng mới lớn cách sống “khôn ngoan” và khả năng tự vệ, né tránh với muôn vàn mánh lới, cạm bẫy nguy hiểm của xã hội, nơi chúng vừa mới bước vào. Nhà trường dạy cho học sinh những tiểu xảo che mắt các phái đoàn đến thăm, dạy học sinh cách gian lận trong thi cử để trường mình được thành tích tốt hơn trường khác, khai man tuổi để đi thi…

Khi vào đời thì người ta dạy cách sống “khéo léo” để được “tiến bộ”, được đề bạt. Khi đã có cái ghế ngồi, có địa vị trong công việc thì học thêm những mẹo vặt hay cách “ngậm miệng ăn tiền” để được lòng cấp trên, vừa lòng cấp dưới… Cao hơn nữa thì dạy cách trang bị càng nhiều càng tốt những hư danh, kể cả viêc mua bằng giả để trèo cao, chui sâu. Cho tới khi hết tuổi làm việc nhiều người thậm trí còn cố tìm cách khai man tuổi để không bị về hưu đúng hạn.

Con người cá thể tìm kẽ hở để qua mặt Nhà chức trách, đối phó với cơ quan Công quyền. Ngược lại đại diện các cơ quan Công quyền, Nhà chức trách cũng tìm cách kiếm chác từ sơ hở của pháp luật lẫn sự dại dột và ấu trĩ của người dân.

Cả xã hội quay cuồng, tất bật với bao nhiêu là kỹ xảo gian dối, thủ đoạn tàn nhẫn để kiếm chác, bon chen, luồn lách, tồn tại. Họ lo sợ, né tránh sự thật. Kẻ có quyền, có tiền thì lo mất quyền, mất ghế.. Người không có quyền thì sợ quyền lực trù dập. Phần lớn người ta bị rơi vào một tâm lý hoảng loạn, xét nét, ngờ vực dẫn đến thái độ vô cảm, vô trách nhiệm, sống thờ ơ, thụ động, hèn nhát và tàn nhẫn. Một số ít người nhận biết ra sự thật thì cũng chỉ dám thì thầm, bàn tán vụng trộm như thể chính họ là những người có lỗi. Họ sợ bị cô lập. Hoạ hoằn lắm mới có người dũng cảm nói lên sự thật, dũng cảm “đi tìm cái tôi đã mất” – nhưng cũng chỉ đến khi đã nghỉ hưu.

Sự giả dối ngày nay đạt tới mức “chân thật”. Giả dối không chỉ lời nói, cử chỉ, thái độ, suy nghĩ mà ngay cả niềm tin cũng giả dối nốt. Mặc dù cũng có người tự trọng cảm thấy đó là vô liêm sỉ, song họ bắt buộc phải hòa mình với khung cảnh và môi trường xã hội để tồn tại vì không còn sự lựa chọn khác. Vả lại trong hoàn cảnh xã hội ngày nay, sống thật, nói thật, nói thẳng nhiều khi bị vạ lây, nhiều trường hợp còn bị coi là “kích động”, “giúp tay” cho thế lực “diễn biến hoà bình”, “âm mưu chống chế độ” vv. Đến nỗi mọi người phải thì thầm lén lút, vụng trộm như những kẻ phạm tội mỗi khi nói về sự thật, đấu tranh cho sự công bằng và chính nghĩa.

Tuy nhiên sự thật vẫn luôn tồn tại bên cạnh những biến thể của nó. Xã hội tồn tại và phát triển là dựa trên cái “thực” chứ không phải cái “hư”. Khi xã hội bị một ma lực nào đó áp đặt những quy tắc trái với lẽ thông thường để rồi cái “chân” bị chối từ, phủ nhận hay kết án thì con người cá thể theo bản năng tự nhiên sẽ tìm cách bảo vệ sự thật, bảo vệ lẽ phải và công lý. Chẳng thế mà từ ngàn đời nay, dẫu triều đại hưng thịnh hay xuy tàn, rốt cuộc mọi diễn biến của xã hội dù bi hay hùng, đều được các nhà chép sử lưu lại một cách trung thực. Lịch sử loài người có thăng có trầm, nhưng rất may xã hội luôn theo hướng tiến bộ và hoàn thiện. Cũng như ngày nay, khi những tờ báo “lề phải” không dám nói hoặc “bỏ sót” sự thật, thì ngay lập tức xuất hiện những tờ báo hay trang mạng xã hội nhận trách nhiệm thay thế, bù đắp cho sự thật bị đánh tráo, công lý bị chà đạp. Đó chính là quy luật vũ trụ không thể khác.

Sự thật luôn luôn tồn tại một cách khách quan. Dẫu có muốn bóp méo hay chôn vùi, rồi cuối cùng sự thật vẫn hiện nguyên hình. Sự thật chỉ có một, không thể là hai hay một nửa. Sự thật chẳng cần tô vẽ hay gọt đẽo để tăng thêm hay giảm đi giá trị của nó.

Lịch sử cho thấy những triều đại suy tàn và sụp đổ đều có chung một kịch bản, đó là cố đi tìm cái “hư” mà không phải là cái “thực”. Rất nhiều bài học cay đắng trong lịch sử mất nước của những Vương triều bị sụp đổ là do Vua nghe nịnh thần, tự huyễn hoặc, bắt chấp dư luận xã hội, trừng phạt trung thần. Như vậy, có thể nói mức độ chân thực của xã hội chính là thước đo sức khoẻ của chế độ. Mức độ giả dối của xã hội càng cao thì nguy cơ tan vỡ càng lớn.

Các chế độ xã hội đều tồn tại trên cơ sở một chủ thuyết nhất định, được nhà cầm quyền lựa chọn áp đặt và giáo dưỡng. Chủ thuyết không tưởng (hư) sẽ dẫn tới một xã hội thác loạn và mất phương hướng. Nói cách khác, khi xã hội bị đẩy tới chỗ tha hóa biến chất, mọi giá trị đạo đức không còn ý nghĩa, con người mất hết niềm tin và sự thật trở thành vật cản của chính nó thì chứng tỏ chủ thuyết đó đã tan vỡ, triều đại dựa trên chủ thuyết đó đang sụp đổ.

Xã hội Việt nam ngày nay đang chứa đựng một sự giả dối đến cực điểm. Nó như bóng ma phủ lên mọi khía cạnh của đời sống xã hội, phủ kín mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi. Giả dối không chỉ là hàng hóa, mà cả thước đo, chứng chỉ, bằng cấp. Giả dối từ vật thể đến phi vật thể, từ giá trị đến khái niệm… hết thảy đều giả dối. Giả dối dẫn đến lẫn lộn trắng đen, đảo ngược giữa công và tội, lẫn lộn giữa thiện và ác, giữa hư với thực. Chính sự giả dối là thủ phạm số một, là môi trường lý tưởng cho tham nhũng và tham nhũng đã trở thành Quốc nạn.

Đã đến lúc chúng ta phải dũng cảm vứt bỏ những cái “hư”, cái ảo để đi tìm cái “thực”, lấy lại niềm tin và lẽ sống với giá trị đích thực của con người, của đời sống xã hội. Không ai cho và cũng không ai cấm chúng ta quyền được sống một cách đàng hoàng, đĩnh đạc, quyền được suy nghĩ và biểu hiện suy nghĩ một cách trung thực, trong sáng và mạch lạc, quyền được nói lên sự thật một cách công khai và đàng hoàng.

Nhanh hay chậm, tất cả phụ thuộc vào mỗi chúng ta.

Sài Gòn cái gì cũng sợ !

http://vanganh.info/sai-gon-cai-gi-cung-so/

Sài Gòn cái gì cũng sợ !

Đăng vào ngày 03/12/2011 @11:07 Sáng

Không hiểu vì sao nhiều việc ở nơi khác được nhưng Sài Gòn lại không. Không cho Chế Linh hát, cấm chiếu phim “Hoàng Sa- nỗi đau mất mát”, ngăn chặn biểu tình… Những chuyện “không và cấm” lặp đi lặp lại quá nhiều đến mức không thể không nghĩ: hay tư duy quản lý của bộ máy chính quyền TP HCM chưa được… giải phóng, hay “sức khỏe tư tưởng” của bộ máy thành phố này đang có vấn đề?

Trương Duy Nhất

Hôm nghe Sài Gòn ngăn không cho Chế Linh hát tôi cứ thắc mắc mãi: vì sao Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng đều cho, nhưng Sài Gòn lại không?

Tiếc. Ngồi với tôi và Đỗ Trung Quân trước đêm live show Tuấn Ngọc tại Đà Nẵng, Hồ Trung Tú bảo anh tiếc cho Chế Linh và tiếc cho cả… Sài Gòn. “Thành phố nào nhớ không em/ nơi chúng mình tìm phút êm đềm”,“Mưa mưa rơi từng đêm mưa triền miên trên đồn khuya/ lòng ai thương nhớ vô biên” phải được Chế Linh hát giữa Sài Gòn mới đúng là “sự trở lại”. Phải là một anh chàng với phong thái ung dung cùng chiếc áo vét vắt vai, đó mới đúng là hình ảnh Chế Linh. Chưa hát được giữa Sài Gòn, coi như Chế Linh chưa “trở lại”. Anh sốc đến mức phải nhập viện khi nghe tin Sài Gòn hủy show hát cũng vì lẽ này.

Vì thế tiếc. Tiếc khi nghe Sài Gòn lắc đầu với Chế Linh. Lý do được đưa ra để từ chối live show Chế Linh là “chưa phù hợp trong tình hình thành phố hiện nay“. Không hiểu tình hình TP HCM có gì mà lại chưa phù hợp để Chế Linh hát, trong khi các địa phương khác đều gật đầu?

Liveshow của Chế Linh bị cấm hát

Nếu chỉ là vấn đề thủ tục chưa đúng chưa đủ thì tại sao không hướng dẫn giúp đỡ anh hoàn tất? Nếu chỉ là khúc mắc (hoặc gian lận) thuế má tiền bạc từ bầu sô thì cứ trị ông bầu, phạt tiền nặng vào cho họ chừa, chứ sao lại ngăn không cho Chế Linh hát?

Mấy đêm nhạc Tuấn Ngọc tại Đà Nẵng nghe đâu giấy phép cũng chưa đầy đủ, nhưng Đà Nẵng ứng xử khác. Họ biết, nhưng sẵn sàng cho qua vì thấy chẳng cần thiết rắc rối nhiêu khê gì ở việc hát hò này.

Thậm chí tôi nghĩ đã đến lúc thả toang ra cho ai thích hát bài gì thì hát. Đến giờ mà vẫn còn kiểm duyệt từng danh mục bài hát thì quả là ấu trĩ. Anh có cấm cũng không cấm được, một cái bấm chuột lên mạng muốn nghe bài hát nào chẳng được. Vả lại bài hát nào không sống được ắt tự chết. Tôi không tin mấy bài hát lại có thể “chống đối lật đổ” được chế độ. Tôi không tin những khúc nhạc “trái luồng” kia lại có thể “ru ngủ lòng dân” được. Đến mấy bài hát mà cũng sợ, cũng phải ngăn chặn thì tôi e cái “sức khỏe tư tưởng” của chế độ có vấn đề.

“Hoàng Sa- nỗi đau mất mát” bị cấm

Hôm qua, thêm “Hoàng Sa- nỗi đau mất mát” bị cấm, cho dù chỉ là một cuộc chiếu ra mắt trong khuôn khổ một nhóm nhân sĩ thân hữu tại một quán cà phê. Một bộ phim tài liệu quí về cuộc sống ngư dân huyện đảo Lý Sơn và “thân phận Hoàng Sa” mà tôi nghĩ là nó cần được đem ra nhà hát lớn, đem vào chiếu cả trong hội trường Quốc hội, trong phủ Chủ tịch, trong văn phòng Chính phủ và trong hội trường Trung ương đảng.

Khi còn đương nhiệm Chủ tịch nước, ông Nguyễn Minh Triết đã ủng hộ và động viên André Menras- Hồ Cương Quyết làm phim này. Vụ Thông tin báo chí bộ Ngoại giao cũng có những hỗ trợ, giúp đỡ tích cực đoàn làm phim. Thế nhưng khi công chiếu thì bị cấm. Cái cách ngăn cản không cho chiếu cũng rất mập mờ. Theo nhà thơ Đỗ Trung Quân, nguyên nhân được đưa ra từ các “nhà tư tưởng thành ủy” là vì bộ phim này “không có yếu tố đảng”.

Thú thật, đến tôi cũng chả hiểu “yếu tố đảng” là cái quái gì và vì sao một cuốn phim tài liệu về ngư dân, về Lý Sơn, về Hoàng Sa như thế lại cần phải có “yếu tố đảng” để làm gì? Ông Lê Hiếu Đằng thì đã cố gắng tìm mọi cách liên hệ với những người có thẩm quyền của thành phố để hỏi lý do vì sao cấm nhưng tất cả đều tìm cách “trốn”.

Tôi tin là bộ phim đó nếu đem ra Đà Nẵng, Hà Nội hoặc nhiều địa phương khác ắt sẽ được chiếu vô tư, chẳng ai ngăn cấm, chẳng ai đòi hỏi phải nhét cho nó cái “yếu tố đảng” làm gì.

Vậy vì sao nó vẫn bị cấm tại TP HCM?

Ngược lại chuyện biểu tình. Tại sao Hà Nội được mà TP HCM lại cấm? Cho dù sau này Hà Nội có cản ngăn, thậm chí đàn áp thô bạo, nhưng phải công nhân một thực tế là trước đó họ đã “cho phép” bằng cách không chặn, mà ngược lại chỉ tổ chức giữ an ninh và hướng cho các cuộc biểu tình không đi quá đà. Thậm chí, cả giàn lãnh đạo cao nhất của chính quyền thủ đô dám công khai mời nhóm nhân sĩ trí thức biểu tình đến đối thoại trực tiếp. Dù sau này đổ bể ra những vụ đàn áp thô bạo, nhưng phải thừa nhận rằng đã có lúc chính quyền Hà Nội dám đối thoại, dám chấp nhận cho dân biểu tình, thậm chí họ còn công khai nhìn nhận đó là hành vi yêu nước.

Sài Gòn không có được điều này.

Quay trở lại chuyện phim “Hoàng Sa- nỗi đau mất mát”, chính quyền đã làm gì để đến mức người dân phải hoảng hốt đến thế? Đến mức ông thợ dán được thuê vẽ áp phích cho buổi giới thiệu ra mắt phim với hàng chữ “Hoàng Sa là của Việt Nam” cũng hoảng sợ không dám làm. Cấm đoán đến mức để người dân hoảng sợ như thế thì nên gọi cái chính quyền ấy là ấu trĩ hay… Hít- le?

Sài Gòn trước đây thoáng thế, mà sao Sài Gòn hôm nay cái gì cũng sợ. Sợ biểu tình, sợ Chế Linh, đến cả cuốn phim tài liệu về dân nghèo ở một huyện đảo xa lắc không dính gì đến TP HCM cũng sợ. Sợ nên cấm, cản, ngăn. Cấm cản ngăn mãi, lặp lại trong quá nhiều chuyện khiến không thể không nghĩ: hay tư duy quản lý của bộ máy chính quyền TP HCM chưa được… giải phóng, hay “sức khỏe tư tưởng” của bộ máy thành phố này đang có vấn đề?

@ Trương Duy Nhất