7.1 Quản lý nhân sự

7.1 Quản lý nhân sự

(Bài của Debra Fiori)

 

Thành công của công ty kiến trúc tùy thuộc lớn vào nhân viên làn việc ở đó. Hiểu và quản lý nhân sự hiệu quả phải đặt hàng ưu tiên.

 

Nghề KTS có lẽ là nghề sinh sau đẻ muộn. Người KTS vốn quen thuộc với thiết kế và kỹ thuật. Tuy nhiên khi hành nghề người KTS đối mặt với các vấn đề tài chánh, luật, tiếp thị và quản lý con người.

Việc quản lý nhân sự (QLNS) là công việc khó khăn nhất không riêng một công ty dù lớn hay nhỏ.

Công tác quản lý nhân sự rộng lớn gồn cả các công việc mang tính hình thức và không hình thức. Vài chức năng QLNS cốt lõi còn có yêu cầu có người quản lý các hoạt động đế khi công ty đạt đến khoảng 50 nhân viên. Cácchức năng khác thay đổi tùy theo văn hóa và quy mô công ty. Thường công ty càng lớn thì việc đầu tư chức năng QLNS càng phải quan tâm đến nhân viên, làm tăng hiệu quả công việc và giảm tỷ lệ nhân viên bỏ đi.

 

Quản lý chức năng nhân sự

Trách nhiệm nhân sự có thể đước quản lý theo nhiều cách cũng như chính sách nhân sự phải phù hợp và minh bạch. QLNS phải được chia sẻ trách nhiệm, không phải chỉ đặt trên một hay hai người. (Mỗi người có những chức năng riêng trong công tác QLNS). Hiểu được việc này sẽ quyết định thành công chung của công ty.

Trong công ty nhỏ và trung bình, việc quy hoạch và chỉ đạo công tác QLNS thường trong tay người giám đốc.  Đây là lĩnh vực cụ thể tương tự như tài chánh và tiếp thị. Thường người giám đốc phối hợp công tác nhân sự như là người cũng có đầu óc quản lỳ chi phí phối hợp với công tác nhân sự. Người khách trong công ty thực hiện hổ trợ hành chánh cho giám đốc. Chẳng hạn nhân viên kế toán có thể nám hành chánh về việc lương thưởng.

Các công ty nhỏ hơn có thể thuê công ty luật, kế toán, và bảo hiểm để giải quyết vấn đề. Các tư vấn khác có thể giúp những việc như tạo sổ tay nhân viên hay phát triển hệ thống đánh giá năng lực. Các trường đại học và cao đẳng trong nước, và các tổ chức thường tổ chức hội thảo về các chủ đề trên và đôi khi cũng cấp các dịch vụ tư vấn. Nhiều Ấn bản định kỳ và trực tuyến về vấn đề nhân sự cung cấp các thông tin cơ bản có ích, mô phỏng suy nghĩ và cung cấp chi tiết về luật thuê nhân viên.

Thường khi một công ty lên đến 100 người là lúc phải cân nhắc có tổ chức phòng nhân sự. Một KTS với kinh nghiệm về nhân sự hay công việc có thể nắm vai trò này, nhưng thường tốt hơn nên có người chuyên về công tác nhân sự. Những người này rành các luật và quy định về công tác nhân sự. Một nhân viên về nhân sự có thể làm việc chặt chẽ với giám đốc công ty để thiết kế thực hiện lập kế hoạch, giúp cho người KTS thiết kế rãnh tay tập trung vào dự án và khách hàng và giúp công ty bớt phụ thuộc vào các tư vấn khác bên ngoài.

Người QLNS phải là người có quyền và có uy tín với toàn thể nhân viên. Người này có tính linh động trong mọi tình huống và dễ gần với các nhân viên các cấp. Nhằm ăng hiệu quả vị trí này, người này nên báo cáo đến cấp lạnh đạo và đóng vai trò chủ động trong quản lý công ty. Năng lực người QLNS với quan hệ quản lý cấp cap, phải khuyến khích các nhân viên thấy vai trò nhân sự có tính làm tăng giá trị công ty.

 

Chức năng cốt lõi

Có những chức năng cốt lõi (một vài chức năng đượcluật quy định) mà công ty với mọi quy mô phải tuân theo:

 

Tuyển người/thuân nhân viên/ định hướng.  Gồm việc phát triển hành chánh, xem các tóm tắt, phỏng vấn ứngviên, xác định và mở rộng lời mời việc và định hướng nhân viên mới.

Quản lý phúc lợi. Chức nang gồm thương thảo hợp đồng, tuyển nhân viên, thêm / bớt  thay đổ người, hòa giải, lập hós đơn, khấu trừ lương và các phúc lợi khác. Các phúc lợi gồm loại có tính lựa chọn (ý tế, bảo hiểm, nghỉ hè…) hay ủy nhiệm (nghỉ bù, nghỉ chăm sóc gia đình…). Chương trình phúc lợi bao trùm trên luật áp dụng và chính sách. Việc này quan trọng để hiểu rằng luật liên bang liên quan đến phúc lợi trong tiểu bang của côngty đó. Nhiều tiểu bang yêu cầu trả lương cho nghỉ dồn khi nhân viên rời công ty.

Trả lương.  Các nhân viên trả lương yêu cầu thực hiện bảng báo cáo công việc (timesheet), khấy trừ lương, thuế, trả lương theo luật, garnishment, báo cáo chính phủ, và những chức năng khác. Tiền lương và giờ làm việc theo luật tiểu bang và liên bang rất phức tạp. Các luật này gồm các thông tin về trả lương ngoài giờ và những ai được xem được miễn làm goài giờ, xác định giờ làm việc ngoài giờ và các điều kiện khác. Người làm bảng báo cáo công việc phải bảo đảm tuân thủ các luật này. Điển hình các công ty nhỏ sẽ thực hiện bản báo cáo công việc và thuê ngoài thực tế thanh toán tiền lương cho một nhà cung cấp.Luật/chính sách. Nhân viên phòng nhân sự hay giám đốc phòng phải hiểu vá áp dụng đúng các luật phải thực hiện các luật có liên quan và phổ biến cho nhân viên. Chính sách công ty phải tuân theo luật áp dụng.Thường các công ty nhỏ dưới 50 người, các tư vấn và luật sư có thể tham gia lập sổ tay cho nhân viên. Từ đó, người có trách nhiệm nhân sự có thể hiểu rõ luật dành cho công ty. Không cần phải làm quay định hay chính sách khi mình cần đến. Quy trình lập sổ tay giúp nhận dạng chính sách và công việc khi có yêu cầu. Vì luật hay thay đổi, người QLNS có thể muốn đăng ký ấn bản để thông báo vể thay đổi của luật và đôi lúc tham dự hội thảo khi có cập nhật. Thường việc thuê công ty luật đưa ra chi phí rẻ hay các hội thảo cập nhật luật miễn phí. Các chức năng tăng giá trị.

Có các chức năng khác mà công ty có thể chọn để làm tăng giá trị trong chiến lược làm ăn. Chúng nhằm hổ trợ từng người và chất lượng công ty. Cáccông ty có thể xem xét các chương trình nhân sự có liên quan.

Quan hệ các nhân viên. Có thể bao gồm chương trình huấn luyện nhân viên và sẵn sàng tả lời các câu hỏi, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, khảo sát, đáp ứng nhu cầu nhân viên và các chương trình. Nhân viên QLNS có thể còn tạo thêm điều kiện cho việc xây dựng nhóm (team building) và cài tiến xuyên suốt trong công ty. Việc này mất nhiều thời gian và không gây va chạm mà công ty phải cân nhắc về văn hóa và môi trường của mình. Có một sự cởi mở và giao tiếp gữa các cấp nhân viên để tạo niềm tin và làm tăng hiệu quả công ty.

Huấn luyện và phát triển.  các thông tin thu thập trong các quan hệ hoạt động của nhân viên có thể làm tăng khác năng công ty xác định loại hình học tập nào hiệu quả nhấr cho nhân viên và công ty. Việc này có thể gồm các cấp về quản lý chi phí, hùng biện và công việc thiết kế. Ngoài ra, có thể gồm các các chương trình được cấu trúc nhằm định hướng, khen thưởng và công nhận với các nhận thức khác nhau. Vì các KTS thực tập được yêu cầu hoàn thành chường trình phát triển thực tập (Intern development program – IDP) để có chứng chỉ hành nghề, thì việc này có ích để lống việc huấn luyện vào yêu cầu này của chương trình. Các cấp đào tạo liên tục và nguồn lực cũng có thể được áp dụng cho công ty cho những KTS được đăng ký và cần việc huấn luyện để duy trì việc đăng ký của họ.

 

Các cơ hội phát triển nghè nghiệp. Người ta tiếp tục công việc với công ty khi họ tin rằng họ được phát triển chuyên môn và thăng tiến trong nghề nghiệp. Các định con đường nghề nghiệp cho các vị trí khác nhau, cung cấp các cơ hội học hỏi để tạo kỹ năng và hổ trợ vai trò lãnh đạo cũng như huất luyện nhân viên của mình trong việc phát triển rất thiết thực để nuôi dưỡng và duy trì quỹ con người. hát triển và phối hợp chương trình xem xét tính năng m65t cách hiệu quả sẽ nhn mạnh sự phát triển nghề nghiệp và giúp việc giữ chân nhân viên.

 

Thưởng và công nhận. Các chương trình công nhận và khen thưởng trong công ty nhằm hkuyến khích làm tăng lợi nhuận công ty. Những chương trình gồm việc thưởng nhóm, thưởng thời gian phục vụ và các phần thưởng khác cho kỹ năng lỹ thuật và chất lượng thiết kế.

 

Môi trường làm việc ngày nay.

Ngày nay nhân lực bao gồm một hỗn hợp về văn hóa và kinh nghiệm khác nhau. Từng nhân viên đều có động lực làm việc riêng của mình. Mỗi người suy nghĩ,  làm việc và có cách xử lý khác nhau trong cùng một tình huống. Webster có một từ miên tả điều kiện để khác biệt”: diversity. Do đo người lãnh đão công ty phải hiểu nhu cầu từng nhân viên từ đó nhằm điều chỉnh cách quản lý của mình cũng như cách nắm rõ nhu cầu từng nhân viên sao cho phù hợp. Việc linh động trong văn hóa công ty và cách lãnh đạo cuối cùng phải đóng một vai trì quan trọng để xác định sự thành công của từng nhân viên cũng như sự chọn lựa cách làm việc của họ tại công ty ra sao.

 

Cách tính sự đa dạng (diversity)

Sự khác biệt thường tồn tại trong từng ngườii và chúng có tác dụng tích cực hay tiêu cực đến công ty. Càng ngày có nhiều phụ nữ, người da màu,, người khuyết tật, người đồng tính, tôn giáo khác nhau, người nước ngoài làm torng công ty. Cũng có thêm những nhu cầu của các cặp vợ chồng có nghề khác nhau torng việc chăm sóc con cái. Những khác biệt này người QLNS phải cân nhắc. Lãnh đạo công ty phải linh động theo nhu cầu của từng người hơn là áp đặt một điều kiện phù hợp cho tất cả. Người QLNS hay luật sư có thể giúp lãnh đạo công ty sao cho đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của từng người nhằm giúp công ty có khả năng thu hút khách hàng mới.

 

Cân bằng công việc-cuộc sống

Trước đây công ty tương đối dễ dàng tìm kiếm nhân viên trẻ có thể làm viêc ngoài giờ để trả tiền. Việc này vẫn chiếm thiểu số trong bất kỳ các nghề nào khác. Ngày nay các nhân viên có trình độ và tay nghề trờ nên đa dạng hơn trước. Các nhân viên thế hệ mới không bao giờ đối mặt với sự ấ ẩm và tài năng của họ trong nu cầu nhiều hơn là một nghề, do đó dự kiến của họ ảnh hưởng đếnnhững gì các công ty đưa ra cho các ứng viên tương lai. Họ có nhiều thứ cho nghề nghiệp và cáccông ty ngày nay hải nghĩ đến cái giá để trả lại.

Nhằm đạt nhu cầu của sự đa dạng và đa văn hóa đang gia tăng, những người chủ thuê xem xét nhiều chương trỉnh, phúc lợi bao gồm:

  • Giờ giấc linh động
  • Việc bán thời gian
  • Làm việc từ xa
  • Tuần làm việc áp lực
  • Cách thức giao thông
  • Dịch vụ giử và chăm sóc trẻ
  • Mát tính xách tay cho nhân viên có thể làm việc mọi nơi
  • Hổ trợ chăm sóc người cao tuổi cho việc vùng nổ số trẻ em theo nhu cầu của trẻ em và cha mẹ già.
  • Nhân thức sự khác biệt văn hóa
  • Huấn luyện tiếng Anh
  • Nghi thức kinh doanh căn bản

Một môi trường với sự cân bằng giữa cuộc sống và công việc quan trọng hơn tiền thưởng đối với mọi nhân viên. Các chương trình nêu trên và các phúc lợi làm môi trường làm việc đáp ứng nhu cầu của nhân viên hơn,

Có vài yếu tố cần nhớ khi thực hiện cáng kiến cân bằng cuộc sống và công việc. Khi cân nhắc lịch trình linh động, lịch trình bán thời gian và tuần làm việc áp lực, người quản lý công ty phải cân đối như cầu khách hàng và tương tác nhóm làm việc với nhu cầu nhân viên. Đôi khi cần phải viết chấp nhận thời gian làm việc lựa chọn trên cơ sở thử thách. Việc sắp xếp có thể được lập trên cơ sở lâu dài hay phải được thay đổi nếu không phù hợp.

 

Làm việc từ xa

Nhiều công ty phải sắp xếp làm việc từ xa cho nhân viên. Vì công việc kiến trúc liên quan nhiều đến năng lực nhóm, chia sẻ ý kiến, phối hợp cao, do việc bố trí làm việc toàn thời gian ngoài chỗ làm là hiếm. Tuy nhiên các công ty có thể có thể tìm khả năng làm việc hiệu quả của nhân viên thường đôc lập tại nhà. Nếu cóng ty quyết định cho phép làm việc từ xa, thì có thể hoạch định một chính sách và chương trình giám sát hiệu quả hơn. Các công ty nên so sánh việc bố trí làm việc từ xa từ những công ty có người làm việc thỉnh thoảng tại nhà. Trường hợp đó, người nhân viên làm việc từ xa phải có lịch làm việc ngoài nơi làm việc trước (thường ở nhà) trên cơ sỏ làm việc thường xuyên.

Ngoài ra đối với chính sách làm việc từ xa, các công ty thường có những thỏa thuận riêng với từng nhân viên làm việc từ xa về các điều khoản của sự sắp xếp một cách cụ thể và chặt chẽ nhằm cho nhân viên thêm chú tâm vào công việc. Bên cạnh báo cáo công việc, người quản lý có thể yêu cầu nhân viên báo cáo cho công ty theo yêu cầu công việc dự án, huấn luyện, xem xét hiệu quả, họp hành và các chức năng khác.

 

Sự khác biệt giữa các thế hệ

Không thể cho rằngcác htế hệ khác nhau đều nghĩ như nhau. Tuy nhiên việc hiểu rõ từng thế hệ có thể nhứng nhà QLNS gần dũi và đám ứng nhu cầu của nhân viên. Như đã nói rằng công việc kiến trúc dòi hỏi việc phối hợp nhóm làm việc rất cao. Hiểu rõ nhau về cách làm việc và tính cách từng người trong nhóm là bước đầu nhàm tạo sự tin tưởng trong nhóm. Sau đây là các tính cách thường được nhận dạng:

  • Thế hệ Y (sinh thập niên 80 và 90): có dự kiến cao cho mình và công ty. Luôn tìm cách học tập liên tục và yêu cầu trách nhiệm trước mắt. Có định hướng mục tiêu rõ rệt.
  • Thế hệ Y (sinh thập niên 60 và 70): Có ý thử thách quyền lực. Có tính kinh doanh và chấp nhận trách nhiệm cá nhân cho hành động của mình. Việc cân bằng công việc và cuộc sống rất quan trọng đối với thế hệ này.
  • Thế hệ vùng nổ dân số (sinh sau 1945 và trước 1960): Chấp nhận quyền lực và có ý độc lập cũng như định hướng về kết quả. Có suy nghĩ trẻ trung.
  • Thế hệ im lặng (sinh trước 1945): chấp nhận quyền lực và thich cấu trúc. Cố thể hiện hết sức torng cáchoạt động. Có cam kết lâu dài với chủ của mình.

 

Chức năng công việc nhạy cảm

Các lãnh đạo công ty nhân xét các nhân viên quản lý đã dánh hầu hết thời gian cho công việc và việc đào tạo kiến trúc không chuẩn bị cho những người này về nhiệm vụ quản lý. Khi vài người QLNS có thể gần như làm việc theo trực quan và cảm tính, các nhà lãnh đạo công ty thường tự hỏi vì sao các vấn đề nhân sự tốn quá nhiều thời gian. Lý do là sau chức năng nhân sự cốt lõi, cácchức năng bổ sung là một thử thách cho các công ty. Trách nhiệm nhân sự cần được coi trọng và cân nhắc nhằm tạo sự thành công cho công ty.

 Theo The Architect’s Handbook of Professional Practice của Joseph  A. Demlin, AIA, Executive Editor)

Advertisements

Nghĩa vụ luận KTS

 

Kiến-trúc-sư đòan Quốc-gia

Văn-phòng liên lạc: 156 Võ tánh Saigon. Đt: 21.787

Nghĩa-Vụ Luận (Được Thủ-tướng Chính-phủ duyệt-y để đính theo sắc-lệnh số 026-SL/CC ngày 27-2-1970)

VNCH

Phủ Thủ-tướng

Số: 026-SL/CC

Thủ-tướng chánh-phủ

 Chiếu hiến pháp VNCH ngày 1-4-1967;

Chiếu sắc lệnh số 394-TT/SL  ngày 1-9-1969 ấn định thành phần Chính-phủ;

Chiếu sắc luật số 13/65 ngày 1-9-1965 ấn-định thể-lệ hành nghề KTS tại VN và thành-lập KTS đòan Quốc-gia;

Chiếu đề-nghị của Hội-đồng KTS Đòan Quốc-gia;

Chiếu đề-nghị của Tổng-trưởng Công-chánh.

 Sắc-lệnh:

         Điều 1: Nay ban-bố để thi-hành tại VN:

NGHĨA-VỤ LUẬN NGHỀ KTS

Phụ-đính theo sắc-lệnh này.

Điều 2: Những điều-khỏan của Nghĩa-vụ luận nghề KTS áp dụng cho các KTS ghi tên trong danh-biểu KTS Đòan Quốc-gia.

Điều 3: Những vi-phạm trong các điều-khỏan trong Nghĩa-vụ luận này thuộc quyền tài-phán, kỷ-luật của Hội-đồng Đòan KTS.

Điều 4:  Tổng-trưởng Công-chánh, Tổng-trưởng Tư-pháp và Bộ-trưởng Phủ Thủ-tướng chiếu nhiệm-vụ, thi-hành Sắc-lệnh này.

Sắc-lệnh này sẽ được đăng vào Công-báo VNCH.

Saigon ngày 27-2-1970

Ký tên: Trần-Thiện-Khiêm.

 

Phụ Bổn:

Đổng-lý văn-phòng

Ký tên: Trương-Thới-Lai

Kiến-trúc-sư đòan Quốc-gia

NGHĨA-VỤ LUẬN

 Điều 1: Những điều-khỏan của Nghĩa-vụ luận nghề KTS áp dụng cho các KTS ghi tên trong danh-biểu KTS Đòan.

Chương 1:

Trách-vụ của Kiến-Trúc-Sư KTSĐ

Đối với bản-thân và đồng-nghiệp.

Điều 2: KTS sáng-tác những công-trình chỉnh-trang kiến-trúc, phối-trí, ấn-định hình thể các phòng-ốc, trang-hòang trong và ngòai, và –tùy trường-hợp – chỉ-huy việc thực-hiện và kiểm-sóat chi-tiêu.

KTS vừa là nghệ-sỹ, vừa là kỹ-thuật-gia, có nhiệm-vụ nghiên-cứu và sáng-tạo mọi công-trình – tùy trường-hợp – điều-khiển sự thực-hiện, kiểm-sóat về kỹ-thuật với sự cộng-tác của các kỹ-thuật-gia khác nếu cần và thanh-tóan chi-tiêu liên-hệ.

Điều 3: KTS hành-nghề tự-do không có tính-cách thương-mại. Nghề KTS bất khả kiêm-nhiệm với nghề thầu-khóan xây-cất nhà , kỹ-nghệ-gia hay nhà cung-cấp các lọai vật-liệu và dụng-cụ trong nghành kiến-trúc.

KTS chỉ lãnh thù-lao về công-việc thi-hành sứ-mạng của nghề mình như là thiết-lập đồ-án, điều-hành công-trường, ngòai ra, không lãnh tiền ở bất cứ nguồn-lợi liên-quan nào khác.

Điều 4: Nếu có bằng sáng-chế một sản-phẩm trong kỹ-nghệ kiến-trúc , KTS cũng không được tự mình khai-thác mà phải bán lại bản-quyền.

Điều 5: KTS không phải là thương-gia, là kinh-doanh nên không được họat-động môi-giới để lãnh tiền hoa-hồng hoặc chia lời trong nghành kiến-ốc.

KTS không làm quảng-cáo trên báo, bích-chương, biển-hàng hay mọi phương-tiện dùng trong thương-mại.

Điều 6: KTS không được tranh khách-hàng bằng những phương-tiện bất-chánh:

  • Nhân-nhượng về tiền-bạc.
  • Nhân-nhượng về nghệ-thuật và kỹ thuật.

KTS không được tìm việc bằng cách dành cho người giới-thiệu, quản-lý, người chạy việc tiền hoa-hồng hay lợi-lộc khác, – nói tóm lại, là phải tránh mọi hành-vi ám muội thiệt-thòi cho thân-chủ, hiện tại hay tương-lai.

Điều 7: Đối với đồng-nghiệp, KTS phải tôn-trọng bản quyền sáng-tác của đồng-nghiệp. KTS không được dành vị thế hay khách-hàng của đồng-nghiệp. Nếu một đồng-nghiệp mệnh-một, tự ý nghỉ việc hay bị giải-nghệ, KTS thay thế có bổn-phận gìn-giữ quyền-lợi và danh-dự của bạn, nếu sự gìn-giữ này không làm thiệt cho thân-chủ.

Điều 8: KTS phải dành ưu-tiên cho bạn đồng nghiệp về những cuộc hội-kiến. Khi nhóm họp về nghề-nghiệp thì nơi họp của KTS sẽ là Văn-phòng Đòan hoặc Văn-phòng của vị Niên-trưởng.

Điều 9: KTS có bổn-phận chỉ-dẩn cho các cộng-sự-viên về mỹ-thuật cũng như về kỹ-thuật giúp họ thấu-triệt những kinh-nghiệm trong nghề, đối-đãi thân-hữu với họ.

Điều 10: KTS chỉ nhận một số lượng công-tác hợp với khả-năng đảm-trách của văn-phòng mình.

Điều 11: KTS không được lợi-dụng chức-nghiệp và chữ-ký của mình để trực-tiếp hay gián-tiếp dung-dưỡng những hình thức hành nghề KTS bất-hợp-pháp của những người hay tổ-chức không đủ điều-kiện hành nghề.

Chương 2:

Trách-vụ của Kiến-Trúc-Sư KTSĐ

Đối với thân-chủ.

 Điều 12: KTS dành cho thân-chủ mình:

1- Tất cả khả-năng sáng-tác và kinh-nghiệm trong việc nghiên-cứu đồ-án, điều-khiển và kiểm-sóat công-trường.

2- Ý-kiến và khuyến-cáo với tất cả sự tận-tâm trong việc bảo-vệ quyền-lợi thân-chủ.

Tuy nhiên, dù có sự yêu-cầu của thân-chủ, KTS phải từ chối những việc có tính-cách xâm-phạm quyền-lợi của đệ-tam nhân hoặccó thể gây ra tai-nạn. Trong trường-hợp này, KTS phải cho thân chủ biết lý-do khước-từ của mình.

Điều 13:  KTS phải báo cho thân-chủ biết khi có sự tăng thêm chi-phí cho những đòi-hỏi thay đổi công-tác đã dự-trù.

Điều 14: KTS chỉ được lãnh tiền thù-lao và công-việc của thân-chủ giao cho mình. Như vậy KTS không được nhận thêm một số tiền bất cứ dưới hình-thức nào của nhà thầu, nhà cung-cấp vật-liệu, của đệ-tam nhân bán hay mua bất-động-sản đã ký-kết hay có thể ký-kết với thân-chủ. Khi bất-động-sản do KTS kiến-tạo đã chuyển-nhượng cho đệ-tam nhân, KTS cũng chỉ  lãnh tiền thù-lao còn thiếu ở thân-chủ mình rồi người này tùy-nghi bắt đệ-tam nhân hòan lại.

Điều 15: KTS giao cho thân-chủ mình các họa-đồ, điều-kiện sách, khế-ước dùng để đấu thầu và những công-tác đơn, hóa-đơn, chiết-tính của nhà thầu sau khi kiểm-sóat.

Điều 16: Về những công tác mới và những công-tác sửa-chữa đại quy-mô, KTS được nhận lãnh thù-lao từng phân-kỳ theo tỷ lệ với số chi-phí tương-ứng với công-tác.

Điều 17: Về những công-tác tu-bổ quản-lý, họat-vụ …v..v… KTS xuất-trình theo định-kỳ, một thanh đơn ghi số tiền thù-lao về mọi khỏan và lãnh ở thân-chủ số tiền thù-lao tương-xứng.

Điều 18: KTS phải khước-từ nếu được chỉ-định là Giám-định-viên trong một việc có liên-hệ đến thân-chủ mình. Khi được thân-chủ chỉ-định làm Giám-định-viên trong những vụ liên-quan đến bảo-hiểm, trước-bạ, …v…v… thì KTS lúc đó không phải là đại-diện ủy-quyền của thân-chủ mình, mà chỉ là Giám-định-viên thuần-túy thôi.

Khi được cử làm trọng-tài, cũng phải cư-xử như vậy.

Chương 3:

Trách-vụ của Kiến-Trúc-Sư KTSĐ

Đối với nhà thầu, nhà cung-cấp vật-liệu.

Điều 19: KTS dùng uy danh của mình để:

  • Điều hòa công trường.
  • Gây tình tương-thân, tương-trợ giữa những người có trách-vụ trong công-tác và bảo-vệ danh-dự cho họ.
  • Tìm phương-cách thuận-lợi cho việc thực-hiện công-tác.

Điều 20: KTS không được nhận dưới bất-cứ hình-thức nào, tiền-bạc hay đồ-vật của nhà thầu hay nhà cung-cấp vật-liệu.

Điều 21: KTS cũng khước-từ không được ghi vào điều-kiện sách hay khế-ước với nhà thầu, một điều-khỏan nào ràng-buộc họ phải chi-tiêu về tiền bồi-hòan phụ-phí chung hay riêng biệt, ngọai trừ tiền in thêm các bản-đồ, điều-kiện sách hay văn-kiện khác, nhưng việc này phải cho thân-chủ tri-tường trước và ký-nhận.

Điều 22:  KTS kiểm-ký nhà thầu những bản chiết-tính công-tác theo điều-kiện của khế-ước, nếu không có khế-ước thì tùy theo tiến-triển công-tác.

Trong việc thanh-tóan, KTS cho nhà thầu tường các chiết-tính đã kiểm-sóat và cùng nhà thầu giải-quyết những thắc-mắc-khiếu-nại , nếu có. KTS tiếp-nhận công tác và ký tên những biên-bản tiếp-nhận.

Điều 23: Khi KTS có thân-chủ là nhà thầu, hay có một Công-ty thầu không lãnh nhiệm-vụ làm trung-gian cho đệ-tam nhân , thì lúc đó KTS chỉ được lãnh riêng tiền thù-lao KTS mà thôi, mà không cần biết và chịu sự may rủi về tiền lỗ hay lãi của nhà thầu.

Điều 24: KTS khi đi thầu hay giúp việc nhà thầu với tư-cách nhân-viên, cán-sự, trắc-lượng hay kiểm-sóat viên, sẽ mất tư-cách KTS.

Chương 4:

Bảo-hiểm trách-nhiệm nghề-nghiệp.

Điều 25: Đối với những công-tác cần tới sự bảo-đảm mọi rủi-ro vì trách-nhiệm nghề-nghiệp mình, KTS sẽ ký một khế-ước bảo-hiểm mà thể-thức và các điều-kiện sẽ được một Hội-đồng mà thành-phần gồm có ông Trưởng Cơ-quan Kiến-thiết Trung-ương, Hội-đồng Đòan KTS và Hội-đồng các công-ty Bảo-hiểm ấn-định.

Làm tại Saigon ngày 23-1-1968.

Hội-đồng Đòan KTS Quốc-gia.

Chủ-tịch: Vũ-Tòng.

Tổng Thư-ký: Tôn-Thất-Cảnh.

DUYỆT-Y

Để đính theo sắc-lệnh số 026-SL/CC Ngày 27-2-1970

Saigon ngày 27-2-1970

Thủ-tướng Chánh-phủ

Ký tên: Trần-Thiện-Khiêm.

Phụ Bổn:

Đổng-lý văn-phòng

Ký tên: Trương-Thới-Lai

 

Viện KTS Hoa Kỳ (AIA)

Viện KTS Hoa Kỳ (AIA)

 (Theo The Architect’s Handbook of Professional Practice của Joseph  A. Demlin, AIA, Executive Editor – trang 20)

 

AIA được thành lập theo quy ché ngành nhằm “Tổ chức và thống nhất các thành viên nghề kiến trúc sư theo tồ chức (in fellowship) tại Hoa Kỳ; nhằm nâng cao tính mỷ quan, khoa họa và thực tiễn của nghề; nâng cao khoa học và nghệ thuật trong quy hoạch và xây dựng bằng cách nâng tiêu chuẩn đào tạo kiến trúc, huấn luyện và thực hành; phối hợp công nghiệp xây dựng và nghề kiến trúc để bảo đảm nâng cao tiêu chuẩn sống qua môi trường được cải thiện của mình; nhằm giúp nghề nghiệp không ngừng phát triển phục vụ xã hội”. AIA đạt được hình ảnh đương đại qua cái nhìn lịch sữ và nhiệm vụ qua các dịch vụ, sản phẩm và sự hổ trợ của mình trong nghề kiến trúc.

 

Thành viên tham gia

Ngày nay, AIA đã có hơn 80.000 thanh viên trên toàn thế giới trong nhiều lĩnh vực gồm cả kiến trúc sư, liên kết (Associate), liên kết quốc tế, danh dự (Emeritus) và thành viên liên minh (Allied member). AIA hổ trợ thành viên của mình trong việc phát triển nghề nghiệp trong sáng tạo, phát triển nghề nghiệp và cung cấp thông tin giúp các thành viên cp1 thể duy trì sự phát triển công ty bền vững. AIA cũng hồ trợ công việc kiến trúc bằng phúc lợi như bảo hiểm.

Các thành viên AIA có thể tham gia ở bacấp bậc thành viên: quốc gia, tiều bang và địa phương. Ngoài ra, theo vai trò quản lý truyền thống (thành viên hội đồng, ùy ban hay giám đốc vùng), các thnàh viên có thể tham gia AIA qua các cộng đồng kiến thức được tổ chức để thực hiện công việc nào đó ( như bảo tồn di sản, công tác nhỏ, khoa học và tính năng xây dựng và kiến trúc cho đào tạo) và các nhóm quan hệ thành viên (như Thảo luận KTS trẻ) được tổ chức trong quy mô nào đó với khoảng thời gian trong nghề. Qua AIA, có nhiều khả năng tham gia; chẳng hạn các cơ hội để phục vụ gồm cả các vai trò như sau:

  • Chủ tọa chương trình giải thưởng thiết kế của tiểu bang.
  • Giám đốc liên kết vùng của ỉu ban liên kết quốc gia.
  • Liên kết vùng thảo luận KTS trẻ (Young architect forum)
  • Thành viên ban AIA địa phương.
  • Thành viên ủy ban quốc gia của nhóm tư vấn môi trường.
  • Phó chủ tịch tiểu bang.
  • Thủ quỹ vùng.
  • Giám đốc vùng cấp quốc gia.
  • Đoàn thể của quỹ nghiên cứu sinh (Collge of Fellow bursar).

Trong các thành viên AIA có các KTS với hàng chục năm phục vụ ở vai trò cấp địa phương, tiểu bang và quốc gia.

 

Chương trình AIA

AIA luôn nghiên cứu tìm dịch vụ, sản phẩm và cơ hội nào cho thành viên của mình có thể thực hiện được. Đặc biệt, AIA đánh giá nhu cầu thành viên mỗi 6 tháng, Thăm dò ý kiến thành viên về các vấn đề vận động mỗi năm và phân tích dữ liệu kinh tế và các tác động ảnh hường để kiến trúc và xây dựng mỗi tháng. Từ các thông tin này, AIA phát triển các thống kê, sản phẩm, dịch vụ, chương trình và các nguồn khác thành định dạng nhằm đáp ứng như cầu nhanh chóng cho các thành viên. Vài hạng mục có trên web của AIA torng khi vài mục khác được in ra; hơn nữa (đặc biệt là việc đào tạo liên tục)  được giới thiệu tận tay thành viên. Biết rằng không phải sản phẩm, dịch vụ hay chương trình nào cũng đáp ứng nhu cầu thành viên mọi lúc. Nhưng mục đích nhằm cung cấp đám ứng nhu cầu cho đa số thành viên.

Đào tạo liên tục. AIA có nhiều chương trình đào tạo cấp quốc gia, tiểu bang và địa phương và hổ trợ hệ thống đào tạo liên tục (Continuing education system – CES) phục vụ thành viên và cả người cung cấp chương trình. AIA/CES giúp các thành vi6n truy cập cácchương trình cho phép các thành viên có thể đạt yêu cầu được đào tạo liên tục theo yêu cầu AIA (18 đơn vị/năm trong đó 8 đơn vị liên quan đến sức khỏe, an toàn, và phúc lợi của công chúng), cũng như đào tạo liên tục nhằm đáp ứng đến phép hành nghề. AIA/CES đăng ký các hổ trợ chương trình với các công ty, bộ phận AIA và các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo. Ngoài ra, AIA/CES cung cấp hệ thống của bên thứ ba để ghi nhận các hoạt động học chuyên môn.

Hội nghị AIA và triển lãm thiết kế. Mỗi năm, hội nghị AIA và triển lãm mang đến các thanh viên cơ hội đào tạo quan trọng. Sự kiện 4 ngày liên tục với các hội nghị (seminar, workshop, tour). Sự kiện mạng và xã hội (tiếp dón cấp vùng và thu hút sinh viên), trình bày các vấn đề quan trọng hay các buổi trình bày của các KTS nổi tiếng, vinh danh và tặng thưởng, và triển lãm thương mại. Các thành viên có thể được các đơn vị đào tạo liên tục theo yêu cầu của năm trong khi tham gia hội nghi cấp quốc gia.

Các cộng đồng kiến thức và nguồn kiến thức. Các thành viên có thể truy cập các kiến thức chuyên môn qua các cộng đồng này. Các nhóm này gôm các thành viên chia sẻ các mối quan tâm chung trong một lĩnh vực nào đó và phối hợp tài trợ các  cơ hội giáo dục và hoạt động mạng (networking) với những ai cùng ý nghĩ. Hơn 20 công đồng kiến thức với các mối quan tâm trong các lĩnh vực khác nhau của các hoạt động nghề nghiệp. Các nhóm hình thành quanh các vấn đề như hành nghề quốc tế, quan tâm vươn lên trong nghề, quản lý hành nghề, bả tồn fi sản, vai trò lãnh đạo cho KTS, và thiết kế bền vũng và môi trường cũng như các loại công trình cụ thể (như kiến trúc cho giáp dục, y tế, tôn giáo, nội thất, nhà ở, thương mại và giải trí).

AIA cũng cung cấp kiến thức cho thành viên của mình qua các thư viện và văn khố, website và ẩn bản của các bên hợp tác (partnership). Với John Wilet & Sons, AIA xuất bản quyển the Architect’s Handbook of Professional Practice và Architectural Graphic Standards và hồ trợ in ấn các sách khác như bộ sách Architect’s Essential. Với Taunton Press, AIA phát hành các công việc chuyên ngành về kiến trúc nhà ở nhằm cho công chúng làm quen với ích lợi khi làm việc với KTS.

Vận động hành lang (lobbying). AIA ủng hộ các vấn đề về pháp lý, quy định và các vấn đề có liên quan về tầm quan trọng của thành viên AIA trước chính quyền liên bang, tiểu bang và địa phương và các cơ quan lập chính sách. Các nổ lực này gồm cả việc vận động hành làng về mặt pháp lý hồ trợ hoạt động của thành viên (như cắt giảm thuế cho các doanh nghiệp nhỏ) hay các giải pháp cao hơn mà các KTS cho rằng quan trọng (giảm tiêu thụ năng lượng trong công trình). Các hoạt động ủng hộ đã có tại Washington trước Quốc Hội Hoa Kỳ về các vấn đề như tín dụng thuế liên bang nhằm duy trì bảo tồn thiết kế và di sản, bảo hiểm sức khỏe cho các doanh nghiệp nhỏ, nghiên cứu giao thông và quyền củal iên bang nhằm bảo đảm các công trình liêch sữ bị hư hoại do thiên tai có thể được phục chế. Các ban của AIA cũng vận động hành lang tại ấp tiểu bang và địa phương. Việc này diễn ra dưới hình thức ủng hộ để phòng danh hiệu “KTS” bị giành lấy vởi các nhà thiết kế chuyên nghiệp khác không đạt chuẩn KTS về trình độ, kinh nghiệm và kiểm tra.

Chương trình để vươn lên trong nghề nghiệp. AIA hổ trợ các thành viên trẻ khi vào nghề và khuyến khích họ hoàn thành thực tập và cố gắng hoàn thành quy trình kiểm tra đăng ký KTS (Architect registration examination – ARE). Do đó, AIA cung cấp các khóa chuẩn bị ARE, công cụ tham gia hoàn thành chương trình phát triển thực tập (Intern Development program – IDP) , hướng dẫn thông tin và Emerging Professional’s Companion (công cụ học oline để có tín chỉ IDP bổ sung).

Chương trình tài liệu hợp đồng AIA. Với lịc hsử 120 năm, các tài liệu hợp đồng AIA là “tiêu chuẩn vàng” cho thiết kế và xây dựng tại Hoa Kỳ. Hơn 100 hợp đồng và mẫu được phát triển qua sự đồng thuận của chủ đầu tư, nhà thầu, luật sư, kỹ sư và các bên khác cũng như của KTS. Tài liệu thiết lập quan hệ giữa KTS và các bên nhằm bảo vệ quyền lợi các bên. AIA không ngừng cập nhật tài liệu để phù hợp với khuynh hướng và thực tiễn trong công nghiệp xây dựng.

Chương trình vinh danh và tặng thưởng. AIA công nhận các công tác nổ bật của các thành viên trong nghề nghiệp qua một số chương trình khác nhau qua đoàn thể quỹ nghiên cứu sinh, Danh dự và giải thưởng AIA và giải thưởng Huy Chương Vàng và Công ty Kiến Trúc.

Đoàn thể quỹ nghiên cứu sinh vinh danh các KTS thành viên về những công tác đặc biệt cống hiến nghề nghiệp ngoài giờ. Điển hình trong các lĩnh vực: thiết kế, đào tạo, phục vụ nghề, phục vụ cộng đồng và tiến bộ kỹ thuật của nghề nghiệp. Những người đó được phép dùng chức danh “FAIA” sau tên của mình trên danh thiếp và trong vị thế nghề nghiệp (professional settings).

Ngoài việc công nhận đóng góp của cá nhân, Đoàn thể quỹ nghiên cứu sinh hổ trợ nghiên cứu nghề qua giải Latrobe. Giải thưởng diễn ra hai năm một lần vào năm lẻ, dành cho các KTS hay nhóm KTS làm việc cho các viện khoa học hay hàn lâm để phát triển kiến thức khoa họaa áp dụng cho kiến trúc. Giải Latrobe vừa qua nhằm vào phương pháp luận, khoa học neuron và chăm sóc sức khỏe.

Chương trình giải thưởng vàvinh danh của AIA tìm cách công nhận tác phẩm tôt nhất về kiến trúc, nội thất và thiết kế vùng và đô thị. Các nhóm khác trong viện AA công nhận các dự án cụ thể tốt nhất qua hội đồng chấm thi. Chẳng hạn, Housing Knowledge Community công nhận thiết kế nhà hay nhất mỗi năm và ủy ban về thiết kế danh dự môi trường có chỉ tiêu cụ thể cho thiết kế bền vững như việc dùng sản phẩm tái sinh các yếu tố xanh.

Huy chương vàng AIA được ban quốc gia AIA (National AIA board) tặng cho cá nhân cho tác phẩm quan trọng về ảnh hưởng lâu dài trên lý thuyết và thực hành kiến trúc. Giải thưởng công ty kiến trúc là danh dự cao nhất mà AIA dành cho côngty kiến trúc để công nhận việc tạo ra liên tục các công trình kiến trúc phân biệt.

 

Lợi ích thành viên

Cài nổ lực của AIA rơi vào các hạng mục của ích lợi thành viên hơn là chương trình liên quan đến hành nghề kiến trúc.

AIA thành lập AIA Trust vào 1962 như một vbộ phận riêng để phát triển và tại giá trị cao nhất có thể, bảo hiểm và các chương trình lợi ích khác cho thành viên và các ban của AIA và nhằm quản lý các nguồn rủi ro trong hành nghề kiến trúc. AIA Trust cho các chương trình thành viên với các tư vấn độc lập nhằm đạt cao chuẩn chất lượng, giá trị, ổn địn tài chánh, dịch vụ và tầm ảh hưởng của mình.

Các thành viên cũng dùng dịch vụ của các đối tác AIA. Đó là các công ty và nhà cung cấp dịch vụ (công ty cung cấp máy tính, dịch vụ giao hàng trong gói đặc biệt, cho thuê xe) để phục vụ cho các thành viên AIA với giá ưu đãi. Nhiều công ty nhỏ đã tiết kiệm được tiền qua các chương trình này.

 

Liên danh các KTS cùng ý nghĩ (consortium of like-minded professional)

Đối các với thành viên AIA, nhiều vấn đề mà các KTS phải đối mặt giống nhau khi AIA được thành lập. Mỗi năm, AIA và các thành viên tìm giải pháp mới cho các vấn đề “vũ” cũng như khởi xướng lên, làm việc với các bên và công đồng để tạo mội trường sống là làm việc an toàn, khỏe mạnh, bền vững. Tham khảo thêm thông tin AIA tại www.aia.org.

Quy định hành nghề chuyên môn KTS

2.2 Quy định hành nghề chuyên môn

(Bài của Joseph H. Jones Jr., Esq., AIA)

 Xã hội cho phép chuyên môn được vài quyền hạn nhưng bù lại bắt buộc phải đạt chuẩn hạnh kiểm nghề nghiệp.

 Việc phối hợp luật, đạo luật, quy chuẩn ảnh hưởng và điều hành hạnh hiểm của KTS hành nghề. Vài sự quản lý là bắt buộc, một cài cái khác là do tự nguyện. Tất cả đều quan trọng và thường diễn ra đồng thời. Các quản lý bắt buộc được bao gồm trong luật hành nghề của tiểu bang. Các đạo luật chống độc quyền cấp liên bang cũng bảo vệ việc hành nghề của KTS. Các KTS bầu chọn vào hội nghề nghiệp phải ký tên và quy định đạo đức do hội nghề nghiệp lập ra.

Các KTS có thể đóng góp vào các quy định pháp lý, nghề nghiệp, đạo đức phù hợp với việc hành nghề dược lập ra và được quản lý. Chẳng hạn, các KTS thường tham gia torng những chương trình công nhận cấp chuyên môn, phục vụ ban đăng ký (registration board), kiểm tra ứng viên đăng ký, lập quy chuẩn đạo đức và xét xử các trường hợp vi phạm đạo đức. Một trong những bắt buộc của các chấp nhận nghề nghiệp trong một xã hội lớn hơn là nhằm quản lý chuẩn đạo đức chuyên môn.

Đăng ký các đạo luật và quy định

Trong hệ thống chính phủ Mỹ, chính phủ ban hành pháp luật bảo vệ sứckhỏe công cộng, an tòn, an sinh – gồm cả quyền để quy định nghề nghiệp – được thực hiện chủ yếu bời các tiểu bang vá các cấp thẩm quyền các (the District of Columbia và lãnh thổ Mỹ). Các dự luật (Bill of Rights) dự trù cho các tểu bang các quyền chưa được hiến pháp ban cụ thể cho chính phủ liên bang và việc bảo vệ sức khỏe công cộng, an toàn và an sinh thường là một trong những quyền đó. Do đó, các quy định về thiết kế và xây dựng cũng nằm trong cấp tiểu bang.

Mỗi quyền hạn đã ban hành pháp luật quản lý việc đăng ký KTS qua các quy định và luật lệ. Các đạo luật quản lý việc đăng ký KTS thường minh bạch qua mẫu và đơn. Điển hình là:

  • Xác định việc hành nghề kiến trúc và giới hạn nó cho những ai đăng ký KTS trong phạm vi quyền hạn này.
  • Hạn chế việc danh hiệu KTS cho những ai được hành nghề kiến trúc.
  • Lập các yêu cầu khi vào nghề.
  • Cho ban đăng ký quyền lập quy định và luật lệ hành nghề.
  • Chỉ định cho các KTS đã đăng ký trong các quyền tài phán khác có thể được đăng ký để thực hiện quyền tài phán.
  • Xác định đạo đức nghề nghiệp.
  • Lập chế tài cho những KTS vi phạm theo quyền tài phán.

Luật đăng ký có thể miễn cho vài kết cấu như nông trại hay công trình nhà ở nhỏ theo yêu cầu của luật. Luật có thể cho nhóm nghề nghiệp khác (như kỹ sư chuyên môn) quyền thiết kế công trình. Luật cũng quy định hình thức đòan thể (corporate) trong hành nghề kiến trúc.

Quy định quản lý cũng bổ sung luật đăng ký quyền hạn cho các hoạt động thực tập, chi tiết đăng ký kiểm tra, và các yêu cầu cụ thể về con dấu KTS, gồn cả các thiết kế, nội dung thông tin và vị trì trên bản vẽ và tài liệu kỹ thuật. Chẳng hạn một quy định hành chánh có thể quy định vị trí chữ ký KTS cũng như con dấu trên bản vẽ. Các quy định này thường được khai triển và quản lý qua ban đăng ký tiểu bang.

Quy định hạnh kiểm nghề nghiệp

Trong các quy định hành nghề cho KTS, quyền tài phán cũng công bố quy định hạnh kiểm nghề nghiệp. Quy định này nhằm trong việc sử dụng con dấu của KTS, tranh chấp quyền lợi, vạch ra quyền lợi tài chánh trong dự án và các khía cạnh về hãnh kiểm nghề nghiệp.

Từng quy định tài phán bao gồm việc dự trù đệ trình vụ kiện, điều tra lý do vụ kiện, lắng nghe đôi bên và chế tài vi phạm quy định. Thường bất cứ ai – một công dân, một KTS khác, tiểu bang – đề có thể đệ trình vụ kiện. Hâu hết các vi phạm quy định xem như hành vi phạm tội. Chúng được cơ quan chức năng điều tra và xét xử (có quyền cảnh cáo, khiển trách một KT hay treo cũng như cấm hành nghề).

Các KTS vi phạm có thể bị kiện theo luật dân sự. Chẳng hạn một KTS với một dự án không đúng quy chuẩn có thể bị kiện do vi phạm hợp đồng, không bảno đảm an toàn và do sơ suất. Nếu các KTS cũng là thành viên AIA, có thể bị xem là vi phạm luật đạo đức nghề nghiệp của AIA và sẽ bị dẫn đến bị phạt.

Quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp của AIA

Nhằm hổ trợ các thành viên đạt chuẩn nghề nghiệp cao nhất với sự chính trực và năng lực, Viện KTS Mỷ (AIA) lập quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp. Tài liệu này, hướng dẫn và quy định các thành viên bảo đảm bồn phận của mình với công chúng, khách hàng và người sử dụng công trình. Đối với đồng nghiệp, nghề nghiệp và công nghiệp xây dựng.

Chuẩn đạo đức nghề nghiệp của AIA áp dụng cho các hoạt động của các thánh viên AIA với ba phần:

Tiêu chuẩn (Canon) là nguyên tắc hạnh kiểm. Năm tiêu chuẩn nêu trách nhiệm ngh62 nghiệp nói chung về kỷ luật, công chúng, khách hàng, nghề nghiệp và đồng nghiệp.

Chuẩn đạo đức (Ethical Standards) là mục đích cụ thể mà các thành viên cần có trong công việc và hạnh kiểm. (chẳng hạn chuẩn đầu tiên dưới tiêu chuẩn III (canon III) bổn phận với khách hàng như sau: các thành viên nên phục vụ khách hàng với cách cư xử có năng lực và kịp thời).

Quy định đạo đức thực hiện các tiêu chuẩn (canon) và chuẩn đạo đức. Các tiêu chuẩn và chuẩn đạo đức được nêu trong các điều khỏa cần có. Các quy định (rule) là lệnh (mandatory) và mô tả mức sàn mà các thành viên không được ở mức thấp hơn. Chỉ có việc vi phạm các quy định cụ thể về hạnh kiểm có thể là cơ sở để AIA quyết định kỷ luật (chẳng hạn theo Chuẩn 3.1: Các thành viên không được thay đổi phạm vi hay mục tiêu của dự án nếu không có sự đồng ý của khách hàng).

Quy dịnh đạo đức nghề nghiệp của AIA bao trùm nhiều vấn đề. Việc đọc qua các quy chuẩn giúp làm rõ rằng dù có luật đạo đức nhưng khi áp dụng, cũng không thể trả lời dứt khoát được “đây có phải là hành động đạo đức ?”. Các tiêu chuẩn quy định đạo đức nghề nghiệp như là phương tiện giúp KTS cân nhắc trước khi làm việc gì. Tiêu chuẩn đạo đứng nghề nghiệp của AIA là cái khung giúp các KTS cân nhắc quyết định của mình trước khu thực hiện.

Chống độc quyền

Người KTS cũng như các cơ sở làm ăn khác bị luật liên bang cấm tham gi các hoạt động ngăn cản kinh doanh hay khác nhằm chống cạnh tranh. Hiểu rằng nguyên tắc cơ sở của luật chống động quyền quan trọng để tránh làm việc phi pháp theo luật này,

Nguyên tắc cơ sở. Nguyên tắc căn bản đầu tiên của luật chống độc quyền là cấm các KTS có các thỏa thuận giữa các đối thủ với nhau. Vì các thỏa thuận giữa các đối thủ với nhau là bất hợp pháp nếu mục đích hay tác động của chúng có ảnh hưởng với nhau.

Cố định và giữ giá: “Giá cố định” gồm các thỏa thuận nhằm tăng, giảm giá hay giữ giá tối thiểu hay tối đa mà các bên cạnh tranh trả cho sản phẩm hay dịch vụ, hay cố định các giá khác kliên quan đến các khoảng và điều kiện dịch vụ như: giảm giá, tiền trợ cấp, hay tính dụng (credit). Người ta không phản đối khi giá cả hợp lý hay có đủ lý do vì sao giá được ra như vậy. Tòa án có thể suy đoán một thỏa thuận để cố định giá từ một chỉ đạo ngay cả khi không có biểu hiện thỏa thuận nào đạt được. Các KTS và công ty phải có quyết định độc lập về giá cả cho dịch vụ cũng như sản phẩm của mình.

Tẩy chay một đối thủ hay khách hàng. Một thỏa thuận hay việc hiểu giữa các KTS cạnh tranh nhau khi họ không thương lượng với bên thứ ba (như một KTS, một khách hàng đặc biệt, hay một nhà cung cấp dịch vụ) Các rủi ro sẽ dính vào luật chống độc quyền.

Chỉ định công việc hay khách hàng.  Người KTS hay công ty mọt mình hành động có thể quyết định cụ thể công việc hay theo bất kỳ một công việc mình chọn, nhưng một thỏa thuận giữa các KTS cạnh tranh nhằn chia chác hay chỉ định khách hàng hoặc thị trường (như chia theo địa lý, hay công việc chuyện môn) là không hợp pháp ngay cả khi những thỏa thuận thuận này không chính thức hay được biết không qua văn bản.

Các hoạt động chung đòi hỏi có kiểm tra (review).  Và chủ đề dính đến quyền lợi của KTS như phí, giá thầu, thì thiết kế và khảo sát thông tin gần như luôn tiềm ẩn dính líu đến luật chống độc quyền. Do đó các KTS cạnh tranh nhau làm việc hợp tác trên một dự án cần phải cân nhắc kỹ hàm ý chống độc quyền trong những lĩnh vực trên.

Phí. Không một tổ chức chuyên nghiệp nào của các KTS cạnh tranh nhau cho phép có một kế hoạch tính phí bắt buộc (mandatory fee schedule) hay phát hành bản hướng dẫn phí đề nghị (recommended fee guideline) . Lập bảng kế hoạch phí (fee schedule) nhằm cạnh tranh giá có thể bị đưa đến mức cố định giá sai luật. Đối với vài điều kiện, các KTS có thể phối hợp cung cấp thông tin về loại bố trí giá (như tổng giá quy định, giờ công…). Tuy nhiên phí hiện hữu là vấn đề mà chủ đầu tư và KTS cần phải thương lượng.

Đấu thầu. Quy trình mà KTS và chủ đầu tư thỏa thuận là chủ đề của luật chống động quyền. Khi các KTS cạnh tranh đồng từ chối không trình ra giá dịch vụ là sai luật. Các cá nhân KTS và công ty có thể tự quyết định chính sách đấu thầu của mình.

Dự thi thiết kế . Từ nhiều năm nay, AIA khuyến cáo về đạo đức khi dự thi. Người KTS cần có cái nhìn phối hợp và kinh nghiệm về chủ đề có thể lấy tài trợ cho dự án, Việc thầy phù hợp cho các KTS biết làm sao có thể tự quyết định có tham gia dự thi hay không. Nhưng nếu một nhóm KTS khuyến khích hay tổ chức cho các thành viên từ chối tham gia trong cuộc thi nào đó hay loại hình dự thi nào đó, thì nhóm KTS có thể dính vào việc tẩy chai bất hợp pháp.

Khảo sát thông tin.  Các tổ chức nghề nghiệp thu thập thông tin từ các thành viên về công việc của mình. Việc thu thập thông tin được cho phép ngoại trứ nếu nó được dùng để cản trở công việc nào đó sau này. Nhằm bảo đảm tuân theo luật chống độc quyền và các yêu cầu, các thăm dò các thông tin nhạy cảm như chi phí giá cả nên hạn chế như là dữ liệu lịch sử (không phải hiện hành hay tương lai) và nên được báo cáo dưới hình thức bảng tổng hợp không nêu rõ tên hay cho phép xác định rõ các nhân hay tập thể nào.

(Theo The Architect’s Handbook of Professional Practice của Joseph  A. Demlin, AIA, Executive Editor)

THỜI GIAN BỊ ĐÁNH MẤT

Thời gian bị đánh mất – KTS Cổ Mình Tâm.

Trong công tác XD cũng như nhiều hoạt động khác, hiện nay còn nhiều những sự việc không hợp lý gây lãng phí thời gian tiền bạc lẫn công sức. Với nghề kiến trúc thì chúng ngăn cản sự sáng tạo và khiến KTS miễn cưỡng lo việc ngoài lề kiểu “đối phó-chụp giựt”.  Xin nói lên những khó khăn mà người làm nghề thiết kế xây dựng hay gặp, thậm chí buộc lòng phải tiếp tay với tiêu cực cho mau qua chuyện.

  1. Đòi hỏi quá đáng, thậm chí vô lý của chủ đầu tư:

Như từng viết trước đây, đa số chủ đầu tư có thói quen yêu cầu KTS thiết kế thêm vài ba phương án khác để chọn lựa. Với một sản phẩm trí tuệ đã đổ nhiều tâm huyết vào thì việc nặn ra những phương án chọn có tính miễn cưỡng để đối phó là chính với chất lượng thua hẳn phương án duy nhất. Và KTS luôn mất thời gian để vẽ những thứ thừa ấy.Nguy hại hơn, tôi từng chứng kiến chủ đầu tư bắt thiết kế làm trọn một bộ hồ sơ gần như hoàn chỉnh; sau đó vì tình hình kinh tế biến động, chủ đầu tư lại yêu cầu chỉnh sửa lại trọn bộ nhiều lần (tùy theo nhu cầu thời vụ của chủ đầu tư). Do sợ mất khách mà KTS phải chịu trận mà chìu khách khi đã lỡ “phóng theo lao” mà không dám đòi hỏi một phát sinh nào [1]. Có chủ đầu tư động tý bắt tư vấn phải bỏ tiền tàu xe đích thân đi họp theo yêu cầu (thường ngoài thỏa thuận của hợp đồng cũng như “đột xuất” liên tục)

Đặc biệt những thay đổi thiết kế theo ý chủ đầu tư trong quá trình thi công đã làm nản lòng  bên thiết kế, tất nhiên chất lượng công trình giảm đi nhiều.

  1. “Học bài” để sát hạch CCHN:

Việc ép buộc KTS cũng như những người làm công tác xây dựng khác phảihọc thuộc lòng những thứ không cần học thuộc là việc vô lý đã từng bàn trước đây. Nay tạm gác để nêu tiếp những yếu tố khác.

  1. Xoay quanh việc “con người- con dấu”
    1. Đóng dấu ký tên bản vẽ:

Cho đến nay bản vẽ thiết kế được giảm tải chỉ dừng tại việc chấp nhận chữ ký scan dán trên bản vẽ. Một phần đã giúp những người liên quan đến dự án (luôn cả giám đốc) không phải bỏ hàng giờ thay phiên ký “tươi” trên từng trang sau khi photo ra 5-7 bộ (thậm chí có lúc lên đến 13 bộ như tui từng chứng kiến !).

Sau đó, là quy trình đóng dấu “tươi” trên từng trang bản vẽ của các bên liên quan buộc hồ sơ được đóng gói gởi sang các công ty bạn trước khi đến tay chủ đầu tư. Và, chủ đầu tư cũng không thoát cảnh đóng dấu từng trang bản vẽ theo đúng thủ tục. Việc này tốn kém mọi mặt lẫn rủi ro hư hỏng do qua nhiều chặng.

Chưa kể còn thêm dấu thẩm định của các cơ quan chức năng.

Tất cả đều đổ thừa quy định bắt buộc phải thế !

Tại sao chúng ta không cho đóng dấu tươi của các bên một bộ gốc, sau đó photo ra tùy nhu cầu, kèm theo cd/dvd (chứa file gốc) để phân phát cho các bên liên quan ?Dù ai có gian ý muốn sửa đổi hồ sơ cũng không dám thực hiện do các bên đều có hô sơ như nhau để đối chiếu khi cần. Và bản gốc được giao chủ đầu tư lưu giữ sau cùng.

Sao không công nhận dấu giáp lai trên bản vẽ như cách áp dụng dấu giáp lại trên các công văn ?

  1. Xác nhận thủ tục giấy tờ:

Không đâu quan trọng con dấu như ở nước ta. Thêm hiện nay, bằng giả, chứng chỉ “chạy”, giấy tờ “ma” , đường dây “chạy chứng chỉ” đâu cũng có và công khai tiếp thị đường dây trên internet, thách thức pháp luật. Nguyên do lâu nay là sự trung thực của con người suy giảm do giáo dục suy đồi nên “không ai tin ai”. Và từ đó đòi hỏi một phương tiện khác để phần nào bảo đảm sự tin cậy. Rất nhiều giải pháp ngăn chận nhưng vô hiệu do luật thiếu tính răn đe. Và trò rượt đuổi kiểu đèn cù để đối phó của các bên dây dưa không dứt. Cuối cùng con dấu xác nhận là giải pháp “tạm thời nhưng lâu dài” nhằm quản lý sự trung thực của con người. Đó là về mặt lý thuyết.

Nhưng thực tế sinh ra rào cản mới phức tạp hóa vấn đề. Cụ thể việc làm bản khai kinh nghiệm, cũng như làm hồ sơ các loại, nảy sinh nhiều rắc rối buộc người trong cuộc phải bỏ tiền mà “chạy”. Đại đa số những người làm nghề xây dựng đi làm thuê từng bị đòi hỏi trình ra những hồ sơ , mà theo tinh thần TT17 gần đây, như sau:

  • Trình hợp đồng công trình đã thực hiện.(Theo đòi hỏi của TT17)
  • Biên bản phân công công việc. (Theo đòi hỏi của TT17)

Nói chung phải có những giấy tờ chứng minh những công trình đã thực hiện trước đây, kể cả chữ ký và con dấu xác nhận của công ty chủ quản. [2]

Ngoài việc có nguy cơ làm lộ bí mật khách hàng (theo tinh thần luật xây dựng đang soạn thảo khi phải trình hợp đồng), người làm nghề xây dựng làm thuê luôn gặp những rắc rối tạm liệt kê như sau:

  • Công ty cũ không ai rảnh lục lại hồ sơ cũng như làm giấy xác nhận đóng dấu cho những người cũ (đã ra đi, nay quay lại nhờ vả) có nhu cầu. Nếu ai từng có tranh chấp bất đồng với công ty cũ trước đây thì càng kẹt.
  • Hồ sơ lâu ngày bị công ty cũ làm thất lạc.
  • Do công ty cũ giải thể hay phá sản.
  • Hồ sơ là tài sản riêng/bímật của công ty đó không được chép tùy tiện.
  • Riêng biên bản phân công công tác kèm dấu công ty càng không có vì hiện nay làm việc qua email là chính, ngoại trừ nếu ai muốn ngụy tạo làm giả để nộp theo thủ tục.

Trong khi đó, những người làm tự do lại không cần có chữ ký con dấu của cơ quan chủ quản. Người nước ngoài làm thủ tục lại đơn giản hơn người trong nước. Chỉ khác nhau cái con dấu trong cùng một mục đích nộp hồ sơ!

Khác với nước ngoài, ta chưa biết coi trọng và tin tưởng các thư giới thiệu hay xác nhận kèm chữ ký của người giới thiệu dù có người đó có uy tín. Không có con dấu, thư càng không có giá trị ! Ai dù bất tài, miễn có bằng cấp le lói (có dấu) đều được trọng dụng cất nhắc trong khi những người thực tài luôn bị coi thường dù có nhiều kinh nghiệm. Con dấu vô hồn hiện chi phối mọi thứ của con người.

  1. Làm những thứ lặp lại không cần thiết:

Trong các dự án lớn mà những việc dưới đây như là những việc làm lại hai lần mất thời gian vô ích thậm chí còn mang lại rủi ro bị phạt oan uổng.

  1. Quy trình bảo trì:

Nghị định 46/2015/NĐ-CP, điều 38.2a có yêu cầu nhà thầu thiết kế xây dựng công trình phải nộp quy trình bảo trì cho chủ đầu tư. Từ đó gần như đánh đồng khập khễnh giữa nhà thiết kế (designer) với nhà cung cấp/sản xuất supplier/manufacturer). Thực tếchuyên môn của tư vấn thiết kế trong việc này không thể hơn nhà thầu, càng không hơn nhà cung cấp/sản xuất thiết bị về mặt bảo trì thiết bị/sản phẩm. Do đó quy trình bảo trì của tư vấn thiết kế in ra chỉ đối phó với luật mà chủ đầu tư cũng không dùng đến.

Điều 38.4 còn nêu: “Trường hợp có tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo trì hoặc có quy trình bảo trì của công trình tương tự phù hợp thì chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng công trình có thể áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc quy trình đó cho công trình mà không cần lập quy trình bảo trì riêng”, Việc này cho thấy ta có thể “copy” quy trình bảo trì khác để nộp vì cách bảo trì công trình thông thường gần như giống nhau (có chăng khác nhau về thiết bị của từng nhà cung cấp/sản xuất). Như vậy, việc bắt buộc nộp quy trình bảo trì nên xét lại.

Hơn nữa nội dung bảo trì mức thông thường (viết theo khả năng/phạm vi của bên thiết kế) đã sẵn trong đăc tính kỹ thuật (specifications). Nhưng tư vấn vẫn phải “tách lọc” toàn bộ chương bảo trì từ đặc tính kỹ thuật để làm ra quy trình bảo trì thêm lần nữa !

  1. Danh sách tiêu chuẩn áp dụng:

Nên quan niệm việc áp dụng TCVN tại VN là đương nhiên như mức tối thiểu bắt buộc và không cần phải viết lại. (Trừ trường hợp đề xuất tiêu chuẩn cao hơn TCVN thông thường hay tiêu chuẩn nước ngoài được trình chủ đầu tư duyệt trước khi áp dụng). Đàng này, nhiều dự án đòi hỏi tư vấn thiết kế phải bỏ thời gian lục lọi và liệt kê một danh sách tiêu chuẩn dài (kể cả những tiêu chuẩn khác thuộc về phần nhà thầuthi công, khảo sát, thí nghiệm…). Tất nhiên không tư vấn nào có thểnắm hết hoàn toàn [3], vì đa số ngoài phạm vi chuyên môncủa mình nên viết sai là bình thường (do tiêu chuẩn mới thay thế mà không hay). Tuy không gây hậu quả cho công trình nhưng với nghị định 121/2013/NĐ-CP thì nguy cơ bị phạt (theo (điều 9, 16, 23,..) là không tránh khỏivi phạm điều 83.3 luật Xây Dựng 2014 (lý do “áp dụng sai tiêu chuẩn”) dù cái sai  này “nằm trên giấy”và không hề gây thiệt hại cũng như chẳng có hậu quả nào để khắc phục. [4]

Từ đó, tư vấn không thể tránh những khoảng phạt (theo 121/2013/NĐ-CP) không đáng (điều 26.2c, 26.3b, 26.3đ, 26.3e)[5]

Và từ những lỗi nhỏ trên, chứng chỉ hành nghề của chủ nhiệm/chủ trì sẽ bị tước (Điều 26.4) dù do lỗi từ những người cấp dưới thực hiện (dù họ cũng có chứng chỉ hành nghề chuyên môn riêng). Mà mức độ vi phạm hiện chưa quy định cụ thể[6] và từ đó có nguy cơ sinh tiêu cực khi người ra quyết định xử phạt tùy tiện quyết định.

 

Trên đây là những liệt kê không đầy đủ những tồn tại buộc KTS cũng như nhiều người làm công tác xây dựng bị mất thời gian chuyên môn và từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng chung mà ít ai truy tìm tận gốc các nguyên nhân.

“Công cụ sản xuất thay đổi dẫn đến quan hệ sản xuất thay đổi”. Do vậy, trước nhiều phương tiện làm việc hiện đại (thông tin, lưu trữ…kỹ thuật số), thì những quy định, luật lệ và cách quản lý buộc phải thay đổi cho phù hợp và đồng bộ hơn thay vì duy trì theo cách lạc hậu hiện nay..

 

(điều chỉnh ngày 21-9-2017)

[1]  Lần nọ, tính đến ngày bên thiết kế phá sản, số phương án thiết kế đã lên gần 10 phương án !

[2] Xem thêm sự khác biệt trong thủ tục nộp hồ sơ giữa người nước ngoài, người hành nghề độc lập và người làm thuê theo TT17:

 

  Người

làm thuê

Người

làm tự do

Người

nước ngoài

Đơn xin cấp/đổi CCHN
Chứng chỉ cũ(nếu cấp lại) hay văn bằng liên quan Có (dịch và công chứng)
Hợp đồng công trình đã làm, hay văn bản phân công công việc Không
File mềm các hồ sơ trên Không
Bản khai kinh nghiệm Có xác nhận của cơ quan chủ quản Không cần xác nhận Không  cần xác nhận
Giấy phép lao động Không Không Có thể thay bằng bản sao cư trú

 

 

 

[3]Nhiều trường hợp tiêu chuẩn mới và cũ vẫn còn nhiều điều khoản giống nhau  nên không hề có sự khác biệt đến thực tế công việc.

[4]Có trường hợp công trình đã hoàn thành tốt đẹp,nhưng tư vấn bị “yêu cầu chấm dứt ngay hành vi vi phạm” (do chỉ viết nhầm một vài tiêu chuẩn cũ) thì phải làm sao ?

 

[5]Điều 26.2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

  1. c) Lập chỉ dẫn kỹ thuật không tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn áp dụng cho công trình; thiết kế an toàn quá mức quy định đối với công trình sử dụng vốn nhà nước;

Điều 26.3. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

  1. b) Lập quy trình bảo trì không đúng quy định;

đ) Không sử dụng thiết kế mẫu, thiết kế điển hình đối với công trình theo quy định phải sử dụng;

  1. e) Thiết kế không tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn được áp dụng cho công trình.

 

[6]Điều 26.4. Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề từ 6 tháng đến 12 tháng của chủ nhiệm, chủ trì thiết kế tùy theo mức độ vi phạm.

 

Chuyện kể về Kiến Trúc (3/4) – Kiến Lửa.

Hồi thứ ba:                 Phùng xoè phối cảnh, thân chủ mê ly,

                                    Hù dọa 3d , bà con kiêng nể

                                    Vì ham của rẻ, trúng bả Thầu gian

                                    Thấy giá ngon ăn, dính mồi Kiến tặc.

 

Sau nhiều năm trường Kiến ta hoan hỉ thu tiền nhận sinh viên thả cửa để đáp ứng nhu cầu bằng cấp của thiên hạ thì ngành kiến trúc lại chuyển tới thời kỳ suy bại về lương tâm nghề nghiệp. Các sinh viên ra trường xâu xé tranh ăn dành “độ” dành “khứa” ì xèo trên cơ sở “tiền nghĩa” rồi tha hồ mà “binh lụi, xây ẩu” gây mất niềm tin sâu sắc ở khách hàng. Tội cho những anh Kiến làm ăn chân chính chán nản buộc lòng phải bỏ nghề lui về nhà ăn lương vợ.

 

Sử nhà Kiến chép rằng:

Tổ Kiến trúc ngày xưa đã tiên đóan đến chuyện này nên buồn rầu ghê lắm vì thấy mình không giúp gì được. Thôi thì “gặp thời thế, thế thời phải thế” biết làm sao. Mà giúp bằng cách nào thì Tổ còn bí tít-tìn-tịt huống chi ai khác.

May thay, nhờ lòng thành khẩn chai tịnh cầu quỷ thần, Tổ đêm nằm mộng thấy Vương Thúy Kiều hiện lên nói:

 

Này anh thuộc lấy nằm lòng,

Vành ngòai bảy chử, vành trong tám nghề.

 

Em làm được thì ai chả làm được.”

 

Rồi Kiều bất thần nhào vô ôm đại Tổ khiến Tổ giựt mình té lăn cù xuống đất mà thức dậy.

Tổ thấy điềm lạ liền bấm tay tính được quẻ Dịch là “Hỏa Địa Tấn” hóa “Lôi Địa Dự” dựa theo điềm mộng:

 

Kiều nhảy vô ôm mình (Tấn), mình hỏang hốt (Dự) té lăn cù (Tấn).

Việc này sẽ tương quan tương hợp với ý nghĩa:

Cứ liều mạng làm ăn đại (Tấn) thì nổi danh (Dự) như sóng cồn (Tấn).

 

Liền sau đó nhớ lại câu “Vành ngòai bảy chử, vành trong tám nghề“, Tổ dành hết tâm huyết điều nghiên thêm mắm dặm muối suốt đêm để viết ra một cẩm nang gối đầu truyền cho các Kiến đời sau. Hiệu quả của cẩm nang thần sầu tựa hồ “Tịch Tà Kiếm Phổ” trong giới giang hồ võ hiệp.

 

Đây, nguyên văn do Tổ viết:

 

” Thời thế nhiễu nhương, làm ăn thất bát. Nhân nằm mộng thấy Thúy kiều giáng hạ chỉ bảo, ta viết cẩm nang này hầu truyền cho hậu thế làm kế sinh nhai.

Kiều:

            – Bảy chử tám nghề,

Nếu chàng không chê,

Em xin chỉ giáo..

Nhân đấy, Ta hỏi:

           – Ta xin thọ giáo,

Vậy nghĩa là sao ?

Kiều giảng:     – Bảy chử nghĩa là:

–           Nổ                   Múa mép “cương” hết ga, rù quến thiên hạ để bắt công trình.

–           Lụi                 Vẽ “lụi” hồ sơ để dành khách trước rồi tính sau.

–           Ghép               Ghép các chi tiết kiến trúc công trình khác thành kiến trúc của mình.

–                              In phối cảnh, làm phim 3D cho le lói cho khách “rét” ý đồ mình.

–           Chôm              Bí mật “ẵm” bản vẻ chổ khác về phô-tô lại làm tác phẩm của mình.

–           Chế                 “Luộc” công trình cũ thành công trình mới để xài tiếp.

–           Tẩu                 Biết “chạy” khi thiết kế hay thi công bị “bể ổ”.

Ta khen:

            – Quả là hay vậy !

Tám nghề còn lại,

Xin giảng tận tường..

Kiều giảng:    

– Tám nghề tức là:

 

–           Thiết kế dân dụng.                

–           Thiết kế công nghiệp.

–           Thiết kế quy họach.   (3 nghề này trường Kiến trúc đã dạy)

–           Thiết kế phối cảnh     (Binh phối cảnh cho đẹp để câu khách).

–           Quảng cáo dự án       (Phô trương dự án áp đảo thiên hạ) .

–           Lắp ghép kiến trúc     (ghép nhiều chi tiết bản vẽ khác vô thành hồ sơ của mình).

–           Cải tạo thiết kế          (Sửa chửa hồ sơ bị vẽ “lụi” ).

–           Cấp cứu công trình   (Khi thi công bị tê liệt do vẽ “lụi”, phải chỉnh sữa khẩn cấp).

Ta khen:

            – Quả thật là hay.

Kiều giảng:    

– Đó là những bí kíp chân truyền. Dân Kiến ráng tu luyện thiết kế lâu năm tất có người lên làm vua như vua nhà phố, vua biệt thự, vua bếp, vua vệ sinh, vua phối cảnh, vua mô hình… Tệ lắm cũng là một Đại Kiến Trúc Sư. Chứ sự học thì vô cùng tựa Đông Hải. Em không tài nào một đêm mà giảng hết vậy.”

 

Cẩm nang làm sáng mắt biết bao nhiêu chàng Kiến và là một diệu kế xóa đói giảm nghèo cho cả râu ria tộc họ nhà Kiến hai cẳng. Chẳng làm lạ khi thấy bụng Kiến Chúa nào cũng ngày càng phệ do được bầy Kiến Thợ tận tình cung cấp bia bọt, em út thừa mứa quanh năm …

Chuyện của Tổ còn nhiều nữa, ấy là chuyện về sau…

Vì cạnh tranh gay gắt với các đồng nghiệp nên họ Kiến phải học thêm mọi thủ thuật để mà tồn tại. Để thuyết phục đám khách hàng chưa rành về chuyên môn là dùng phối cảnh. Ngày xưa nhà trường cũng đã tinh ý dạy phối cảnh cho mọi người nhưng nói trắng ra là để câu khách thì quá sống sượng nên không ai dám tuyên bố hụych tọet. Anh sinh viên ban đầu phải rị mọ tập dựng hình, tô màu., tỉa chi tiết bản vẽ phối cảnh. Trước áp dụng cho đồ án của mình. Sau đó là thỉnh thỏang bắt mối bên ngòai để kiếm thêm chút đỉnh. Nhiều ông cũng dấu mấy tuyệt chiêu không cho bạn bè biết dù chỉ là mẹo vặt. Ngày ấy vẽ một phối cảnh cũng được lắm tiền nên có anh chỉ vẽ thuê chơi chơi mà bạc tiền rủng rỉnh.

Càng về sau, khi càng văn minh thì thiên hạ lại càng làm biếng tư duy do quá ỷ lại vào phương tiện khoa học kỹ thuật, nên dần dần bản vẽ khó được khách hàng hình dung nổi và phối cảnh càng thêm cần thiết để nói chuyện với thân chủ. Thay vì vẽ nghiên cứu kỹ lưỡng cả mấy ngày về một mặt bằng kiến trúc, người ta chỉ vẽ sơ sịa cũng ra một phối cảnh thật đã mắt vừa sướng hai tay, chất lượng thừa sức bỏ bùa mê hoặc khách.

 

Nhớ ngày trước có thầy tên Th. đã dạy khai tâm SVKT như sau:

 

“Khi người ta bịnh, thì người ta tìm tới Bác sĩ. Khi người ta có tội, họ cầu khẩn Luật sư. Hai vị này hét bao nhiêu tiền thì khách cũng phải chạy trả cho đủ vì họ không cần khách mà khách cần họ. Ngược lại, khi người ta giàu có sung sướng họ mới tìm đến Kiến trúc sư. Vì thế họ coi Kiến trúc sư không ra ký lô nào hết. Kiến trúc sư cần tiền nên phải dùng hết bản lĩnh của mình mà cố gắng chinh phục thân chủ “.

 

Từ khi có máy vi tính thì công việc KTS Kiến trúc sư thay vì dễ dàng hơn, đàng này ngược lại càng thêm mệt mỏi phức tạp do dùng sai mục đích. Người ta dùng vi tính để “binh” công năng cho lẹ trong khi ở bên chúng ta thì dùng để thiết kế mỹ quan đầy râu ria mắm muối mà chinh phục khách. Mà muốn như vậy thì KTS phải mất giờ học nhiều thủ thuật đồ họa không ăn nhập gì với kiến trúc để pha chế trong khi thời gian đầu tư vô ý tưởng cũng chẳng khá hơn bao nhiêu. Các phối cảnh nhờ vậy được sản xuất hàng lọat ở mỗi công trình. Gặp phần mềm Photoshop hổ trợ nên anh em có thể ghép công trình người khác làm của mình, thậm chí ôm luôn một hay nhiều phối cảnh nào đó scan từ tài liệu bên ngòai, “luộc” lại một ít bằng ánh sáng, “mông má” thêm màu sắc là có tác phẩm mới đỡ mất công “binh” tới lui mất thì giờ. Thêm máy in tối tân làm cho chất lượng tác phẩm đẹp hơn thực tế hỏi khách hàng nào không khóai mà nhắm mắt ký hợp đồng cái rẹt? Gặp khách hàng khó, thì vẽ thêm phối cảnh công trình vào ban đêm lung linh đèn đóm hay hàng lọat phối cảnh khác từ trong ra ngòai nhà lẫn từng chi tiết phóng to để thôi miên khách cho lẹ. Đụng nhiều độ lớn thì đòi hỏi công phu cao hơn. Lúc đó máy vi tính phải làm việc ngày lẫn đêm để sản sinh ra một bộ phim phối cảnh hòanh tráng nếu trời thương đừng chơi cúp điện bất tử. Có lúc nhà Kiến còn phải chi tiền cho chuyên gia làm thêm mô hình lộng kiếng kiêu sa để khách sờ mó tận tay mà yên tâm. Đó chỉ là giai đọan đầu để dành khách.

Giai đọan tiếp sau thì bắt buộc phải khai triển kỹ thuật sao cho nó khả thi và hợp lý. Anh nào lơ mơ khâu này thì coi như mất cả chì lẫn chài. Thông thường vì ham dành khách mà vẽ phối cảnh bất chấp kỹ thuật. Đến khi vẽ vô kỹ thuật thì mọi cái tệ hại mới lòi ra. Lý do ban đầu là vì mặt bằng binh “lụi” cho có nên về sau hậu quả khôn lường. Thêm khổ một nổi là dân bên ngòai không thèm nghe lời ông KTS chân chính mà khóai nghe lời mấy cha hàng xóm hay đặc biệt là ông thầy địa lý dựa trên cơ sở mấy tạp chí Kiến trúc lá cải đủ lọai bán tràn lan bên ngòai. Nghe mấy chư vị đó bàn ra bàn vô vài lần thì tinh thần chủ nhà lung lay rồi tự xây theo ý mình.

Nhắc tới mấy ông thầy địa lý thì nhiều chuyện lắm. Vì học thuyết Đông phương dựa vào “hình – lý – khí – số”. Nếu có 1 trong 4 yếu tố không đạt thì coi như kết quả sai. Chưa kể rằng tính “Đồng nhi Dị – Dị nhi Đồng” (giống mà khác, khác mà giống) và tính “biến hóa” được ít ai thấu hiểu tận cùng. Khác với Tây phương, lý Đông phương không thể dựa vào công thức đầy tính máy móc để gọi là “nghiên cứu”. Mà cái “lý” thì ít ông thầy nào dám đề cập tới. Vì để thuyết phục thân chủ, mấy thầy ưa dùng “số” bằng cách tra sách thì có chứng cớ cho chủ nhà tin lẹ hơn. Chỉ ông nào thật cao cơ mới dám dùng đủ “hình – lý – khí – số”. Phần vì tính “Đồng Dị – Biến Hóa ” nên chẳng ông nào coi giống ông nào. Mỗi ông có phương pháp áp dụng “liều” nặng hay “liều” nhẹ theo ý riêng mình. Gặp chủ nhà nào ham coi nhiều thầy thì cứ phân vân và thay đổi ý kiến xòanh xọach làm KTS không biết đường nào “binh” cho yên ổn. Có ông thầy bày đặt lập trình vi tính để dễ thuyết phục khách và có lúc còn dám tự ý thiết kế và bắt KTS đem ra khai triển xong rồi ông ngồi sửa lại kích thước địa lý của từng chi tiết cho phù hợp ! Chỉ nói cây thước địa lý thôi mà thị trường có khỏang trên 5 cây với kích thước khác nhau, hỏi biết lựa cây nào gọi là chuẩn? Rồi cách trấn yểm mỗi ông chơi mỗi khác riết thành ra đá nhau làm thiên hạ càng mất niềm tin vô các môn học Đông phương mà vẫn nhắm mắt u mê dùng “trật thuốc”. Rồi thêm thầy bùa, thầy ngãi, thầy mo, thầy chùa, thầy cúng… thiệt giả tùm lum quần thảo chủ nhà kéo theo KTS bị vạ lây. Thơ rằng:

 

… Thầy địa lý thỏa tài sáng chế,

Thước Lổ Ban được thế ra oai

Cửa trong cho tới cửa ngoài,

Hướng nhà, hướng bếp, chiều dài cầu thang…

“Sinh Lão Bịnh…” số thang đếm bậc,

“Càn Khôn Ly…” hướng mặt của giường,

Từng ly tấc chớ coi thường,

Đi cầu đúng hướng, ra đường đúng phương (!)…

 

Khi căn nhà xây xong thì KTS cũng không dám nhận làm tác phẩm của mình dù khách có thể vừa ý khen không ngớt. Nhìn lại phối cảnh bảo đảm cũng chưa chắc giống thật là bao. Hên thì coi như ông KTS ấy được khách hàng vừa ý mà đỡ mất công nghiên cứu. Chưa kể được khách quảng cáo nên nổi tiếng trong thiên hạ. Tha hồ bắt thêm khách nhà giàu khác. Xui thì 2 bên đều lãnh đủ. KTS đổ thừa nói là vì chủ nhà không tuân thủ hòan tòan bản vẽ, nhờ thế cái tội vẽ lụi của “Kiến tặc” được trắng án. Có lúc khách hàng tự làm theo ý mình rồi nói rằng KTS không làm gì cả để kiếm cớ xù tiền hay có lúc lợi dụng một lỗi nào đó để trừ tiền gỡ vốn ít nhiều. Có lúc khách hàng dụ KTS vẽ cho đã rồi sau đó đưa tiếp qua nhiều KTS khác để chắt lọc nhào trộn ý tưởng, rồi ông KTS nào cũng đều bị xù như nhau với lý do là làm không vừa ý. Nên có người nói rằng chưa bị xù tiền lần nào tức chưa là KTS. Gặp sự cố do vẽ lụi không thực thi được trong thi công thì công việc cải tạo thiết kế hay cấp cứu công trình là thường, có lúc phải cầu cứu tới đồng nghiệp khác, Có lúc cũng do lỗi chủ nhà đổi ý bất tử dù đã ký giao kèo thỏa thuận 2 bên. Nhiều công trình hoàn thành với bề ngoài thấy “nét tưng” mà không sử dụng được do nứt, lún, thấm dột vì vật liệu bị nhà thầu hao hớt hay kỹ thuật thầy thợ “tay ngang”, cũng có lúc do KTS binh “lủng” pạc-ti. Có ông thầu dám mạnh mồm nói rằng cứ thêm 10 triệu bạc là ổng sẳn sàng lên 1 tấm sàn dễ ợt ! Bên Kiến trúc thì bạo phổi nói kiểu gì “binh” cũng “tới” láng. Khách hàng là người chịu thiệt thòi nhứt. Cái khổ trong xây dựng là khi khách hàng đã lãnh đủ thì họ mới sáng mắt mà hối tiếc vì không chịu tin lời mấy ông KTS chân chính. ” Sự thật mất lòng” nên mấy ông này cũng chẵng được ai ưa rồi từ đó ế độ dài dài. Tới nước này thì khách không còn khả năng tìm KTS khác giỏi hơn nữa vì gần như sạt nghiệp. Đồn ra cho thiên hạ thì chính mình cũng có lỗi nên chẳng ai dại nói ra cho thiên hạ cười mình thối óc. Thành ra mấy anh Kiến “binh lụi” chụp giựt vẫn có đất sống dài dài. Đám thầu chơi trò “thi công tới đâu binh tới đó” cứ phây phây sống trên đầu mấy khách hàng ngây thơ. Chẳng ai thèm ý thức rằng số tiền lớn trả cho một ông Kiến đàng hoàng vẫn rẻ hơn quá nhiều so với một sự cố hay thiệt hại kỹ thuật nhỏ trong công trình do đám “Kiến tặc cấu kết Thầu gian” quậy mà ra.

Người ta nói rằng để có một công trình tốt trước tiên cần có một sự hòa hợp về ý tưởng giữa KTS và khách hàng như cặp vợ chồng. Mà nhắc tới vợ chồng thì phải đề cập tới cái tệ nạn ngọai tình và con riêng. Cái “ngọai tình-con riêng” ấy trong xây dựng cũng không khác trong tình yêu là bao nhiêu. Việc này gây thiệt hại cho nền kiến trúc nước nhà không ít và KTS hay khách bên nào cũng sẵn sàng phủ phàng công khai cắm sừng bên kia không thương tiếc. Cảnh bên khách nhờ KTS đến vẽ nhà của mình giống như căn nhà X, Y nào đó trong sách hay bên đường A,B. Dĩ nhiên dân Kiến rất tự ái nhưng trước cảnh kiếm cơm nhiều người buộc lòng phải đau khổ tuân theo không chống đối để rồi có một công trình không vừa ý với lương tâm mình chưa kể cũng là lý do để khách tìm cớ quỵt tiền với cớ là tất cả ý tưởng đều do khách đưa ra hết trọi. Hay trong lúc thi công khách tự ý thay đổi thiết kế theo ý người khuất mặt nào đó làm tiêu ma hết ý đồ của Kiến. Ngược lại có KTS ăn cắp công trình ở nơi khác nói là ý tưởng của mình mà dụ khách khỏi mất công nghiên cứu chi cho mệt. Khách, dù có biết, nhiều khi cũng phải nhịn và làm ngơ vì nó cũng “đẹp giai” quá. Tóm lại thì khi công trình hòan tất người ta không thể nào truy ra được một phong cách hay trường phái kiến trúc của nó do bị tính “dị hợp tử” quá nghiệt ngã.

Có cái nhiêu khê như là khi chủ nhà ban đầu không hình dung, dự trù hết tòan bộ mọi chuyện. Trước hết là tiền. Hể đụng một sự cố phát sinh nào thì coi như công trình bị kẹt vốn. Rồi người KTS có lúc phải vẽ lại “cấp cứu” hay chủ nhà tự xoay sở để “chữa cháy” cho vừa hầu bao. Thế là phá sản mọi ý đồ của nhà Kiến. Có lúc chủ nhà không hình dung được không gian của công trình rồi yêu cầu KTS vẽ cho to lên thêm nữa mới thấy “đã”. Mãi tới khi hòan thành thì vỡ lẽ rồi “thầy đổ tớ, tớ đổ thầy” gây nhiều xích mích. Vô số sự cố khác như là luật lệ thay đổi, hàng xóm thưa kiện nhau, tranh chấp, tai nạn lao động … luôn rình rập đe dọa làm phá hết chương trình dự kiến giửa nhà Kiến và chủ nhà.

Chỉ nói về những công trình nhỏ là đủ cho thấy hết mọi vấn đề. Chẳng cần phải mất công đề cập tới công trình lớn làm chi vì báo chí đề cập hòai hòai hàng ngày. Thiên hạ vì quá chú ý chuyện lớn mà quên đi chuyện nhỏ trước mắt mới ra như vậy. Đó cũng là lý do tác giả phải ngứa tay viết vài dòng mong giúp bà con tỉnh ngộ. Mong bà con tha thứ nếu viết có gì đụng chạm. Mời bà con vui lòng xem tiếp hồi sau để biết thêm được chuyện nào hay chuyện đó mà phòng thân.

Chuyện kể về Kiến Trúc (2/4) – Kiến Lửa.

Hồi thứ nhì:              Phòng giáo vụ làm nổi cơn gió bụi

                                    Đời sinh viên gặp lắm nỗi truân chuyên.

 

Báo trước với anh em, hồi này hơi dài, xin chịu khó đọc cho hiểu phần nào cảnh đời sinh viên éo le đủ thứ. Dù nói hòai cũng không hết !

Sau một thời gian đầu lo thủ tục nhập học: cắt hộ khẩu, cắt công nghệ phẩm, cắt sổ dầu, sổ gạo, sổ lương thực… để chuyển vaò trường (kéo dài đến cuối thập niên 1980) thì bắt đầu nhập học. Mấy thủ tục trên dần dần lọai bỏ khi chế độ đào tạo đại trà của trường phát triển sau này. Chương trình học so với ngày xưa không khác bao nhiêu. Có chăng chỉ thêm mấy môn học chính trị chính em, Nga văn, quân sự cho hợp thời đại. Thầy mới khá đông, thầy cũ đa số “ra đi” với mọi hình thức bằng nhiều lý do tế nhị. Sự chuyển hệ làm nội bộ trường hơi lục đục theo đúng công thức của thời “quá độ”. Mấy thầy của “hai hệ” đá nhau âm ỉ. Phe này chê phe kia dốt, hay là chê phe nọ khó khăn kỳ cục… vân, vân. Đặc biệt có trường hợp cô này “chôm” giáo ám thầy kia để dành dạy mấy môn quan trọng, bất chấp mình có chuyên môn hay không, với hy vọng có một chân vô “biên chế ” cho yên bụng. Thương cho đám sinh viên bị nạn “oanh kích tự do” mà lãnh đạn trọn ổ. Nhiều anh học theo “hệ” này tất nhiên bị “hệ” kia đì sát ván cho bỏ ghét.

Tính truyền thống của trường Kiến trúc qua cảnh SV “ne” bài nhau vẫn được duy trì. Khi mà nữ SV đã có mặt trong trường thì việc này lại một phần biến chất thành cảnh “Lê Lai cứu chúa” tức là quân tử xả thân từ vẽ bài “phụ” sang vẽ bài “dùm”cho mỹ nhân tận tình. Nếu trường có bắt trả bài chắc chàng cũng “dốc hết tình này” để trả bài vô điều kiện phục vụ đòi hỏi khắt khe của nàng. Khổ nổi là khi bài mình lo chưa nên thân mà phải lo “ngậm bồ hòn làm vui” ôm sô dùm bài của người khác. Nên cảnh thi rớt “đồng quan đồng quách” là thường tình. Hễ là sinh viên Kiến trúc là biết cảnh:

 

Tiếc thay, anh còn sa-rết hòai, đồ án nợ chưa dứt nên lận đận truân chuyên…” (lời bài hát “Yêu một mình” đã cải biên)

 

Năm đầu tiên vào học, người ta hay nói thiên hạ thường “lọt lỗ chân trâu mà chết”. Vì môn chuyên môn thì học dễ trong khi môn phụ thi cực kỳ gian nan. Có lẽ mấy thầy bị tự ái khi thấy môn học của mình ít ai thèm ngó tới nên phải làm mình làm mẩy tý cho vui dù chẳng “giết” (đánh rớt) ai cả. Có chăng chỉ hù chơi cho vui lần đầu rồi lần sau thi lại cũng cho “qua” tuốt tuồn tuột. Theo hồi tác giả đi học, tác giả cũng phải nhiều phen khiếp vía. Nhứt là môn đại số tuyến tính (năm 1) và tin học (năm 5) của thầy Q. Trong lớp thầy luôn “sạc” lia lịa nếu thấy anh nào có bộ vó học hành lơ mơ. Nhiều “thằng cha, con mẹ” (theo định nghĩa sinh viên của thầy) phải chết rét vừa điếc con rái với những bài toán đúng nghĩa ma-trận. Lúc thi có lúc một lớp (40 người) chỉ có 2 người đậu. Nhưng thi lại lần 2 thì ai nấy cũng đậu tệ lắm là 5vv (5 vớt “vớt”). Vậy mà ai cũng thương và nhắc tới thầy hòai , chỉ vì cái “Tâm” thầy tốt.

Trong các phương pháp dạy học thì ngòai lý thuyết và thực hành, để sinh viên có thêm kinh nghiệm ngòai đời , một sáng kiến một phương pháp vô tiền khóang hậu được giảng dạy một cách âm thầm mà ít người ngòai biết: môn “Hậu Quả Xây Dựng”. Người sinh viên không cần biết thầy mình là ai, không cần thi cử, chỉ cần nhìn rồi từ từ “ngộ” ra chân lý. Chẳng có ai phát minh hay tìm ra môn học này. Tất cả đều được phát hiện một cách ngẫu nhiên. Lịch sử của nó như vầy:

Từ ngày khối phòng học đầu tiên được xây vào năm khỏang 77 với một thời gian đáng kể gần 2 năm.. Sau khi thi công xong thì công trình bị thấm dột đủ thứ giúp cho đám Kiến con có thời gian dài chứng kiến học hỏi mọi thứ tệ hại trong xây dựng để sau này liệu mà tránh. Đúng theo nguyên tắc kiểu binh thư Tôn Võ: “Nếu không biết cái lợi nên làm thì cũng nên biết cái hại để mà tránh”. Một thầy buộc lòng phải giải thích huỵch toẹt cho đệ tử: ” Không phải nhà trường không biết cái sai nhưng nhà trường vẫn cố ý làm sai để chỉ dạy cho mấy anh tường tận đó !” Hay chưa?

Chưa hết, năm 1983, sẵn dịp một sản phẩm do chính trưòng ta thi công bên đại học Kinh tế bên cạnh bị sập chết người vừa sau khi gỡ cốp-pha gây chấn động dư luận, anh em sinh viên được dịp hiếm có học một kinh nghiệm ngàn vàng và cũng được “dợt” qua nỗi kinh hòang do “bể độ” để tập luyện giử vững tinh thần cho quen, cho biết với người ta. Người viết không gọi việc này là sự cố hay vụ án vì kết quả chẳng thấy vị chóp bu nào đi tù cả . Vì yếu tố bền vững trong nguyên lý đã là chân lý và chân lý thì bắt buộc phải đúng ở khắp nơi. Còn vị nào bị đổi công tác thì tức là được lên chức đổi đời nhanh chóng. Phải chăng đây là cách để trả công “khéo” cho một ý tưởng mới trong giảng dạy, một cống hiến to lớn vào sự nghiệp xây dựng ???

1989, không biết có một ông nào nổi hứng chính thức đưa ra luật “cấm ne” kèm theo thêm quy định chỉ cho sinh viên trả nợ trong 2 ngày bất kể đồ án lớn nhỏ. Việc đã làm cho mấy thầy lão làng chân chính phản ứng không ít. Chỉ tiếc một điều là vì mấy lão không còn quyền hành như xưa nên kết quả chống đối chỉ là một cuộc “diễn tập đấu tranh” sương sương không thu kết quả gì. Sinh viên lãnh đủ một trò “thí nghiệm chiến trường” của phòng giáo vụ mà chẳng thấy ai dám can thiệp vô vụ cứu giúp. Trong họa thất thỉnh thỏang có sự “càn quét” của nhân viên giáo vụ đi bắt mấy anh “ne chui”. Rồi còn thêm cái trò hú nhau làm ám hiệu khi thấy “giặc tới” để rồi mấy “ne chui” hè nhau chạy trốn như trò chơi “dọn dẹp lòng lề đường”. Thương chú S. hồi đó quản lý họa thất thấu hiểu truyền thống xưa nay của dân Kiến mà lắm lúc thông cảm nhẹ tay với mấy “ne”. Chú không bao giờ nặng tay với ai cả mà lại luôn phải nhẫn nhục chịu mang tiếng là “tay sai” của giáo vụ. Dù bề ngoài thì lâu lâu thấy chú “hù dọa” làm oai cho lấy lệ. Từ từ riết rồi sinh viên ai cũng biết và trở nên rất quý chú. Một anh sinh viên khóa k88 có câu định nghĩa chữ “KTS” trên sân khấu trong đêm truyền thống năm 1990 như sau: anh em lúc đầu trong họa thất “Kỵ Thầy S.” và riết rồi từ từ “Không Thấy Sợ” là thế. Tuy vậy có một thầy rất sốt sắng trong vụ “bắt ne” này cũng như nổi danh trong nhiều thành tích, phi vụ khác. Đến nỗi có thơ rằng:

 

Tiếng đồn thầy Ng. rất tài năng,

Thi cử mấy phen lấy một bằng,

“Hệ B” chạy chọt bao nhiêu đứa?

“Họa thất” tru di mấy chục thằng.

Bợ mông giáo vụ tay còn dấu,

Đè cổ sinh viên oán chửa tan.

Tưởng nhớ công thầy ghi mấy chử:

“Đ.M. thầy Ng. “viết trên tường !

 

(Năm 1993 nhiều thầy và trò có thấy trên cửa một họa thất có hàng phấn viết nguyên văn như vậy. Nghe kể lại rằng báo hại chú S. phải lo tìm cách xóa cho được hàng chử oan nghiệt ấy !)

 

Sau dần thì cả vụ “cấm ne” và trả nợ chỉ trong 2 ngày” được âm thầm bãi bõ dần vì bỏ liền lâp tức thì mấy ổng thấy quê độ khi tay đã nhúng chàm ! Phải chờ có một “ông con” nào đó vào học mới có cái cớ để “cải cách sửa sai”. Chuyện về sau sẽ biết.

Trước cảnh nợ nần khó chi trả cùng với nhu cầu giúp tăng thu nhập của mấy ông thầy, năm 1990, mấy ông ban giám hiệu, nhứt là phe phòng giáo vụ, tài vụ đã sáng tạo một giải pháp tới ngày nay vẫn còn hiệu quả và siêu lợi nhuận hơn cả dự tính: Đóng tiền với cái gọi là “Lệ phí trả nợ đồ án”. Nó áp dụng luôn trong việc thi lại các môn học. Giá khởi điểm tối thiểu của nó là 4000 đồng/lần. Đến nay năm 2003 nó đã tăng hơn 10 lần vì nhu cầu ngày càng cao của sinh viên và nhà trường. Do vậy, các sinh viên có giỏi thì cứ thi rớt nếu có tiền đóng và thầy thì mỗi lần đánh rớt thì có dịp sửa bài trả nợ mà cải thiện đời sống. Vì có sửa bài thì giáo vụ-tài vụ-thầy đều được hưởng ăn chia theo tỷ lệ phần trăm (ban đầu là thầy 75%, trường 25%). Hỏi ai chê không thèm làm ? Trò thì hể đã đóng tiền thì thi trả nợ cũng dễ “qua”. Thầy-trường lỡ ngậm tiền phải ráng công chấm bài lo thủ tục , sổ điểm… cho đáng đồng tiền bát gạo. Nó tạo điều kiện khuyến khích nhiều thầy thêm hăng say “múa bút tựa múa đao” chấm bài lẫn ký sửa bài trả nợ với sự “ủng hộ” tận lực của các phòng ban trong trường. Có thầy chỉ cần ký bài trả nợ để khỏi mất công sửa bài dây dưa, rút ngắn công đọan cho khỏe anh em và kinh tế của mình cũng được mau cải thiện một cách hợp pháp. Mấy sinh viên Kiến cũng lợi dụng nước đục mà luồn lách. Mỗi lần trả nợ có thể mượn bài của anh nào đậu để chép “nguyên con” cho chắc ăn. Thêm nửa là đã từ lâu nay có sẵn chủ trương rút ngắn xóa bỏ dần ranh giới giai cấp giữa thầy và trò nên vấn đề tình cảm thầy-trò có dịp thể hiện thêm thắm thiết một cách trơn lu qua quà cáp, yến tiệc đầm đìa bia bọt cùng mấy khỏang “tứ khóai trần gian” khác.

Nói vậy chứ cuộc đời còn lắm ngọai lệ. Một hai ông thầy bà cô thấy ăn tiền kiểu này thì sượng quá nên vô giáo vụ và xin từ chối nhận số tiền ấy. Nhưng trò thì vẫn bị buộc phải đóng y số cho đúng luật, còn thầy có chịu lấy tiền hay không thì trò đừng thắc mắc mà mang họa. Cũng còn nhiều ông thầy vì lương tâm cắn rứt khi sợ cảnh học trò mình “mua bằng” nên lâu lâu cũng ra tay trị thẳng cánh một lần trò biết mặt. Cuối năm 1991, khóa k89 (trên 100 người) đã chịu một kỷ lục “rớt” về chuyên môn mà từ sau 1975 chưa thầy nào phá nổi. Đồ án “nhà an dưỡng” lần ấy theo luật của trường thì phải được ít nhứt hai thầy chấm mới hợp pháp. Thầy H. và một đồng nghiệp khác chấm xong cất kết quả vào tủ (rớt khỏang 3/4) chưa kịp đưa cho giáo vụ thế mà hôm thứ hai đầu tuần đã có kết quả khác chính thức đăng lên trước với tỷ lệ đậu 3/4. Sự việc làm hai thầy phản ứng lên tận hiệu trưởng vì có kẻ “chơi qua mặt”. Sau khi thưa kiện lung tung cuối cùng thầy L. trưởng bộ môn yêu cầu khóa 89 nộp lại bài củ và đích thân chấm lại với kết quả ban đầu của hai thầy gần như không đổi bao nhiêu. Nguyên nhân chỉ vì thầy K. “nổi máu nghệ sỹ” vô chấm riêng một mình sau khi hai thầy kia chấm xong và đưa bảng điểm lên phòng giáo vụ trước. Đám sinh viên cả trường từ ấy phải kiêng nể thầy H. và mấy thầy khác nói chung sau trận đánh rớt phủ đầu ấy. Khắp nơi đều lên tiếng rên siết vì trong vòng gần 15 năm chưa thầy nào to gan dám “giết” sinh viên hàng lọat như vậy mà không sợ bị nhà trường rầy. Nhiều “ngư ông đắc lợi” nhờ cái luật “đóng tiền trả nợ” sau đó… Cứ hỏi mấy anh chị K89 “cựu nạn nhân” thì biết rõ hơn.

Có một thầy khác chơi trò áp đảo học trò bằng “tâm lý chiến” bằng cách nổ cho trò sợ tài năng của mình để liệu mà bắt chước. Thầy bảo rằng trong một đêm thầy có thể binh hàng trăm phương án quy họach, tốn hết 3 cuồn giấy calque. Mỗi cuồn 40 thước (?!) đàng hoàng. Thế là hết ai dám coi thường oai mấy thầy trường ta.

Trong khóa k8… một anh nọ học “quá ể” nhưng vì có ông già tía có mối quan hệ rộng trong trường nên mấy thầy cũng phải nể mặt mà nâng đỡ . Nếu chấm thẳng tay thì tội, chấm đậu vớt thì thương ông già bị quê độ. Chấm đậu cao càng không có cách chi lý giải. Thôi thì mấy thầy mới dùng giải pháp cho đậu khá nhưng nhẹm kín đồ án đi với lý do “xin lưu lại bài để tham khảo ý tưởng mới lạ” (!). Ai bảo thầy nào cũng xấu vì tánh ham đì trò ?

Tình trạng “giết lầm không bỏ sót” bị nhiều anh em ta thán mà không ai để ý. Một lần, không biết mấy thầy bị “Tổ trác” mà mắt thế nào mà đánh rớt nhiều đồ án công nghiệp một cách khó hiểu. Có một bản vẽ trong đó nhiều chi tiết khai triển bị gạch bỏ với lời phê “cấu tạo chưa từng thấy”. Tác giả đồ án đã tuyên bố chi tiết ấy đã được chép nguyên xi đúng bài trong sách cấu tạo của Mittag. Chỉ biết rằng bài trả nợ của anh sau này y chang bài củ thì lại đậu. Về phần đồ án quy họach thời ấy đã có một luật bất thành văn: “Nhà phải bắt buộc 100% quay về hướng nam, trường học thể hiện trên bản vẽ phải có dạng chiếc quầh xà lỏn mà không được dạng khác, trường đại học cấm không được có sân bóng chuyền …” Anh nào không nghe dù giỏi thế nào cũng bị rớt. Vậy mà riết cả lớp buộc lòng phải vẽ theo như cái “luật bất thành văn” làm cho bài ai nấy cũng gần giống nhau , chỉ khác lối diễn họa và tên tác giả. Kết quả có anh này đậu anh kia rớt khác nhau mà tới nay chẳng ai lý giải được. Chưa, còn nữa, nhiều đồ án được đậu cao chỉ nhờ phối cảnh đẹp mà “pạc-ti” mặt bằng “binh” chưa tới. Trong khi mấy anh nào chịu khó nghiên cứu mặt bằng hòan chỉnh thì kết quả khiêm tốn hơn, có lúc lại bị 5v xém rớt. Đó là ý đồ sâu xa của thầy cho mục đích lâu dài về sau. Trường hợp không biết thế nào mà có lần một thầy hướng dẫn đọc bản vẽ hòai không ra trong nhiều lần sửa bài làm mấy anh học hành nghiêm chỉnh còn phải rét vì sợ bị rớt oan; có anh phải chạy đi năn nỉ thầy phó bộ môn lên họa thất làm bộ đi coi chấm bài để có gì “cứu khổ” dùm. Lâu lâu cũng nghe chuyện nhiều bài thi giống nhau như đúc song kết quả thì kẻ đậu người rớt khác nhau.. Chẳng ai giải thích được, kể cả chính mấy thầy chấm bài.

“Vỏ quít dày móng tay nhọn”. Để đối phó với việc thi cử, các phương pháp phổ thông như là “quay phim” hay năn nỉ thầy… thì xưa như trái đất. Có năm trường hợp đối phó thần sầu đầy tính sáng tạo, xin kể lại để anh em tham khảo nghiên cứu, đừng ham bắt chước vội:

Truờng hợp thứ nhứt, một thầy dạy môn nọ (xin dấu tên để bảo vệ nhiều người) nổi tiếng đánh rớt sinh viên. Để được “qua phà” an tòan, một anh Kiến nọ chắc cũng kiến thức lịch sử khá dồi dào bèn áp dụng nguyên xi trò Mỵ Châu – Trọng Thủy bằng cách cặp bồ với con gái của thầy là ăn chắc ! Thơ rằng:

 

Tôi kể ngày nay chuyện Mỵ Châu,

Trái tim đúng chổ để trên đầu,

Đề thi ăn cắp đưa Trọng Thủy,

Biết bao chàng Kiến đội ơn sâu…

 

…vì nhờ thế mà thi cử “qua phà” êm đẹp cả !

Trường hợp thứ hai, môn Nga văn vốn là nỗi sợ hãi của nhiều anh chị. Kỳ thi quốc gia lại vào năm thứ 5 trong khi tất cá anh em lại quên sạch vì khóa Nga văn kết thúc giữa năm thứ 3. Dù thầy cô tận tình dạy ôn lại nhưng kết quả chẳng ai nhớ gì ráo. Trong lần thi quốc gia của khóa k87, một chị trong lớp liều mạng tuồn đề ra cho một cao thủ bạn bên ngòai làm xong thì lén thảy vào cứu được gần trọn cả lớp K87 (chỉ có vỏn vẹn 1 – 2 anh rớt) . Cô T. lần ấy phải thắc mắc tại sao mấy anh làm bài giống nhau quá? Nếu cám ơn anh cao thủ nọ thì tòan thể SV cũng hết lòng nhớ ơn cô T. đã sáng suốt thức thời cứu vớt dân nhà Kiến, không bao giờ ác tâm trù dập bất cứ anh em nào.

Trường hợp thứ 3 ly kỳ không kém kể về một anh sinh viên vốn nhát đòn sợ rớt môn chính trị chính em. Vì anh vốn kha khá ngoại ngữ nên đã chịu khó vừa nghe và tự học ngoại ngữ bằng cách vừa nghe giảng bài vừa dịch lại toàn bộ bài giảng sang ngoại ngữ. Vào phòng thi, anh bình tĩnh để tập sách ấy trên bàn để lót giấy thi và khi nhân viên giáo vụ gác thi hỏi, anh tỉnh rụi đưa tài liệu cho giám thị (cũng là nhân viên giáo vụ mới kinh chứ !) kiểm tra với lý do đó là bài đi học thêm ngoại ngữ ban đêm. Lật đi đọc lại tới lui một hồi, giám thị đã trả lại để cho anh tiếp tục làm bài yên ổn. Kết quả thì đã rõ.

Ngọan mục nhứt là trường hợp thứ 4 này. Trong kỳ thi mỹ học, đề thi lần ấy có yêu cầu liệt kê một số công trình kiến trúc lịch sử đặc trưng ở miền Nam có tiêu chuẩn cái đẹp “theo quan điểm mỹ học của ông M.” của thầy giảng. Một bài đã được thầy chấm với số điểm khá cao. Chủ nhân của bài thi đã thú nhận riêng với các Kiến khác là tất cả những công trình anh viết ra đều có đủ số liệu chính xác về năm xây dựng, năm bị phá hủy, đặc điểm công trình… cao hơn cả yêu cầu thầy đưa ra. Chỉ có cái tội là các dữ liệu đều giả hoàn toàn !

Trường hợp chót mô tả một bàn thắng “vô tiền khóang hậu” để cứu một người anh em nắm chắc vé lưu ban vì rớt 1,5 môn được một anh khóa k88 đã thuật lại như sau: theo luật của trường thì anh lớp trưởng hay anh bí thư Đòan của lớp được tiêu chuẩn ưu đãi hơn các bạn trong lớp ở chổ được vớt lên lớp khi bị rớt 1,5 môn (môn chính = 2 môn phụ = 2 x 0,5 môn) trong khi các sinh viên bình thường thì tiêu chuẩn được vớt lên lớp với 1 môn rớt. Nên để “chuyển bại thành thắng” cho đồng môn, cả lớp liền bầu cho anh làm lớp trưởng để anh được lên lớp an tòan và hợp pháp !

Ai bảo sinh viên là dở ? Sinh viên khôn lắm chứ …

Vì thời trời xui khiến khi xã hội phát triển bằng sự sàng lọc cao hơn nên kể từ khóa k88, cái gọi là “thi giai đọan” năm thứ 2 dùng để thanh lọc ra những tinh hoa của trường. Đơn giản là phương cách 3 “bóp đầu vào, thắt đầu giữa, thả nổi đầu ra”. Nói nghe thì hay nhưng nó cam go bằng mấy năm học hành lè phè cộng lại. Cuộc đua “giai đọan” hàng năm làm nhiều anh chị phải khốn đốn mà cầu Thầy cứu. Cái trò luyện thi, học thêm trong đại học nảy sinh ra làm gợi nhớ ít nhiều lại thời kỳ học phổ thông của chúng mình. Cũng có lợi chứ sao ? Nói chung thì các thầy nào dạy các môn liên quan đến thi giai đọan thì được lâm vào đại vận hanh thông trong cung tài bạch lẫn quan lộc. Thầy thừa cơ tha hồ “hét ra lửa, mửa ra tro”. Chuyện kể lại rằng một ông thầy tên Th. bình thản “dám” đánh rớt người học trò mình dù y đã “thành công” trong việc tặng thầy một chiếc “Đờ-Rim 2″ để trợ giúp thầy trong công tác đi lại. Chính mấy đồng môn của tác giả trước đó vài năm cũng có lần rớt oan mạng khi thầy cố ý ra đề sai khi thi lại. Thầy lý luận: ” Có ra đúng mấy anh cũng làm sai (!?)”

Nói là thi giai đọan có từ năm 1988, song trò sàng lọc “chưa chính thức” đã được manh nha thực thi trước đó bằng việc “thi kiểm tra giữa học kỳ”. Anh nào học lơ mơ rớt 2/3 lần thì bị cấm thi ráng chịu. Lúc đầu mấy thầy lại chơi trò “kiểm tra đột xuất”. Vì vậy lần đó khóa k86 năm thứ 3 đã bị cấm thi gần như 100% vì môn X (xin dấu tên). Trò xỏ lá này làm anh em tuyên bố định làm “reo” (grève) với nhà trường. Báo Tuổi Trẻ năm 1989 có bài ghi lại. Nhà trường phải cải tổ ngay lần đó và hứa rằng sẽ báo trước những kỳ kiểm tra. Song nhiều thầy cũng nhiều lúc “xé rào” do ê mặt trước cảnh sinh viên Kiến chán nản cúp cua môn học của mình khá đông. Thỉnh thỏang có nghe chuyện trò rủ nhau cả đàn “biểu tình” năn nỉ ở trước cửa nhà thầy vì thầy trót tuyên bố cấm thi quá đông anh em.

Trong khỏang thời gian này, uy danh các phòng ban, nhứt là phòng giáo vụ (sau đổi tên thành phòng đào tạo mà có kẻ dám xuyên tạc là “phòng đào tiền” !) như một vị quan “tiền trảm hậu tấu”. Tất cả tiền bạc đều phải đóng trực tiếp tại đây, năn nỉ hay khiếu nại tại đây, rút hồ sơ ra khỏi trường cũng tại đây… Hễ nghe mấy ông bà ở đây gác thi thì phải biết !

Bên cạnh tính hiếu sát thì Trời đất còn có tính hiếu sinh đám sinh viên. Số là sau 2 năm từ khi bắt đầu năm thực hiện chế độ thi giai đọan, ông Trời bèn khiến cho một ông con của một ông KTS nọ (vốn có máu mặt trong phòng giáo vụ) học khóa k90. Thế là tòan bộ khóa ấy được mọi ưu đãi nếu may mắn gặp lúc ông con này bị lận đận “sa-rết” trong đèn sách. Có thơ vịnh rằng:

 

Một lũ con nòi, chẳng giống ai

Idée đồ án rất ” trời ơi”,

Esquisse “rặn” hoài, không ra …ý,

Rendu “quậy” mãi, chẳng lên tay.

Kết cấu, xì-tin (style) trông rợn óc,

Diplôme, charrette thấy bái dàí !

Trả nợ, “lần 2” luôn hiện diện,

Kiến trúc dòng con lại bất tàí !

 

Nhờ vậy vụ “cấm ne” đã được nới lỏng dần. Đặc biệt khi thi giai đọan năm thứ 2 của khóa k90, lần ấy rớt khá đông. Ong con thì khỏi nói ai cũng biết. Ông cha làm trong phòng giáo vụ phải điều chỉnh hạ chuẩn điểm đậu. Thế là rất đông anh em rớt được “ăn theo” ơn mưa móc mà “qua” giai đọan an tòan. Ai bảo dân giáo vụ ác đức ? Mà có hết đâu, những năm mà “ông con” còn mài quần trên ghế nhà trường thì hễ “ông ” gặp khó khăn do làm bài không kịp giờ thì anh em đồng khóa được “dựa hơi” mà “thóat chết” đồng lọat. Khi làm tốt nghiệp anh em cũng được giaó vụ hạ tiêu chuẩn khổ giấy vẽ cho đỡ cực khổ. Có ông KTS bố khi nghe tin buồn: “mặc dầu có sự tận tình chạy chọt song cậu ấm đã không qua được cuộc thi giai đoạn hiểm nghèo”, đã đề nghị mở thêm một khoa mới để “pát-xê” con mình qua đó tiếp tục học. Đám Kiến “đồng nạn” cũng được cứu độ theo. Sướng chưa ! Trách chi hễ có một tiếng đồn tốt là thiên hạ cứ ùn ùn vô ĐHKT. Hễ vào được là chắc chắn ra trường được với một tấm bằng láng cóong lận lưng quần dể ợt. Chưa kể nó còn bao gồm luôn cả bằng B ngọai ngữ cấp quốc gia nữa mà !

“Vật cùng tắc biến”. Khi thu nhận sinh viên ồ ạt thì dĩ nhiên nhiều sơ sót bê bối hành chánh, tài chánh bắt buộc sẽ phải lòi ra như cảnh tang gia bối rối mong chính quyền và đồng bào lẫn sinh viên niệm tình tha thứ. Cái “biến tắc thông” là Bà Hỏa “giáng lâm” phòng giáo vụ trong một đêm 16 rạng 17-1-1992 làm sinh viên phải hõan giờ thi để cho cảnh sát vô điều tra. Vì theo quy luật phát triển mà sách nhà trường đã dạy, thì sau khi sinh ra và tồn tại thì nó cũng phải bị buộc kết thúc giống cũng như tòa Imexco cùng thời bấy giờ. Nghĩ tiếc thay khi dân Kiến ở ký túc xá gần đó có dịp chứng kiến suốt đêm giờ phút chót của tòa Imexco mà lại không có dịp chứng kiến cái công trình giáo vụ trù phú của chính trường mình “trở về cát bụi”. Thiên hạ liền chiêm nghiệm lại sự việc qua chuyện Đại hồng thủy trong kinh thánh và cứ thắc mắc bàn tán mổ xẻ “gia đình Noe” lần này gồm những ai ??? Ong mang theo ông những thứ gì để duy trì cuộc sống ??? và nhiều câu hỏi khác. Mãi tới khi phòng giáo vụ được bố trí chổ mới mà nỗi kinh hòang vẫn chưa dứt đến nỗi mấy bà “ở trỏng” phải lập một bàn thờ trước cửa phòng cúng khai trương để cầu an và tạ ơn thần tài phù hộ thóat nạn lâu nay. Riêng về phần sinh viên, sau trận ấy phách rọc bài thi bị cháy sạch không còn khả năng hồi phách vô sổ nên anh em phải rủ nhau đi gặp thầy để nhận dạng bài thi của mình.

Nói đến Kiến trúc mà không không nhắc tới lể truyền thống quả là một thiếu sót to lớn. Thực chất cũng là lể nhập môn cho các “ne” năm thứ nhứt, trình làng trước đàn anh, cũng là một trách nhiệm của anh năm cuối trước khi rời khỏi trường. Vì “đời chỉ có một lần” nên một bên thì cố gắng tổ chức cho thật độc xẹt, một bên thì phải cố gắng làm sao đi có mặt thật đầy đủ để cho mọi người biết mặt. Lể nhập môn bái đàn anh được tổ chức với nhiều hình thức. Cũng đi xin phép chính quyền, in thiệp mời, đi quyên góp mấy nhà hảo tâm, lo dàn dựng, tập dợt… Cảnh tiêu cực cũng không ít vì nhiều anh đi quyên góp cũng thừa cơ chấm mút cho bớt “động lòng”. Ban đầu, thời “phương cách 1” còn áp dụng thì không có gì lớn để mà bàn vì dân số không đáng kể nên không có sự lộn xộn trong tổ chức và sức chứa của trường còn kham nổi. Càng về sau từ khi áp dụng “phương cách 2” trở đi thì mỗi lần truyền thống là luôn có vấn đề lớn từ thượng vàng tới hạ cám. Việc triễn lãm tranh biếm họa làm đụng chạm tim đen mấy thầy không ít. Từ đó nảy sinh thêm chế độ kiểm duyệt tranh truyền thống. Đặc biệt là năm có lịnh “cấm ne” làm phá vỡ truyền thống “dạy nghề” của anh em Kiến làm bất mãn khá nhiều người. Bấy giờ bất cứ hình vẽ hay áp-phích nào có chữ “ne” hay ý nghĩa tương đương đều bị một thầy trong ban giám hiệu đến và thẳng tay lột bỏ vì “phạm húy”. Cảnh chen lấn xâu xé có lúc súyt ẩu đả nhau trong đêm truyền thống là chuyện thường. Các bãi giữ xe của các sinh viên tràn ngập dù giá gởi đã lên gấp 10 lần giá nhà nước. Mà cái vui nhứt theo ý tác giả là tiết mục nhảy đầm cuối lể truyền thống. Mấy năm mới được phép “nhót” trở lại thì phải biết nó sung sướng biết chừng nào. Danh từ “nhảy son-đố-mì”, “múa đôi” hay “quốc tế vũ” thì dẹp quách đi không thương tiếc do hết hợp thời đại. Tiếp sau buổi lể kết thúc, dù có tổ chức bê bối chăng nữa thì luôn có lệ phải tổ chức một tiệc liên hoan mừng thành công của đêm truyền thống và lợi nhuận của nó để lấy tinh thần cho mấy khóa sau. Anh em nào còn lại ở trong trường được bao ăn nhậu thả ga, lúc ấy thật là một lể truyền thống “tập 2” ngòai luồn không sợ chế độ kiểm duyệt bên ngòai “gõ”. Các tiết mục đều có thể biểu diễn tự do không cần đăng ký xin phép. Đêm truyền thống 19 rạng 20-9 năm 1991 còn có cả sô “thóat y vũ nam” kèm nhạc sống coi miễn phí (chuyện có thật 100%.- tác giả thành thật xin lỗi độc giả vì khi ấy tác giả còn quá ngây thơ ham vui không biết hỏi tên tuổi của vủ nam ấy), khán giả đứng xem được tiếp cận diễn viên trong tầm tay, vừa được phục vụ cháo ăn đêm nếu cần. Xong thì từ từ mạnh ai nấy vô tư nàm la liệt ngủ để hôm sau lấy sức thu dọn chiến trường. Lợi nhuận thu được có lúc thừa sức tổ chức bao trọn gói 1,2 chuyến nghỉ mát Đà lạt hay Vũng Tàu cho mấy anh em, bao luôn bồ bịch nếu có. Trước khi đi, cũng có bố trí vài anh sinh viên chuyên “dọn đường” bằng cách ghé nhà mấy thầy để “nói một tiếng xin phép nghỉ mấy ngày” cho đúng lễ. Còn bài vở, đồ án thì để đó ! Chơi trước tính sau. Nghe kể lại vào năm 1999, nhà trường nổi hứng cấm làm truyền thống qua chủ xướng của thầy giáo sư tiến sỹ thạc sỹ Kiến trúc sư T.H. với nhiều sự lý giải không ai hiểu được, có lẽ thầy học nhiều quá rồi điên chữ chăng ? Kết quả là mấy anh em đợt đó ra trường hễ thất bại là đổ thừa “Tổ quở” vì lý do trên.

Trong sự căng thẳng lên bài ngày đêm từ ngàn xưa đến nay, khi thời gian đều đổ hết vào họa thất tất nhiên anh sinh viên Kiến nào cũng đều quên mình vì nghệ thuật dù muốn hay không muốn. Cũng vì lý do học hành càng kham khổ, nếu là nữ, thì tàn phai nhan sắc là không tránh khỏi. Do vậy trong bình minh của lịch sử nhà trường, số nữ không đáng kể (hồi 1955-56 mới chỉ có 1 người duy nhứt là chị K.N !) dù số “Lê Lai liều mình cứu chúa” không bao giờ thiếu. Nguyên nhân một phần ngày trước trong các họa thất có anh “trưởng tràng” hay sanh tật “bắt ne làm gì thì ne phải làm nấy không được cãi ” nên nhiều cô nghe đồn thôi mà đã mất vía rồi. Càng về sau khi “đầu ra” càng dễ thì số nữ tăng dần và nhan sắc Kiến nữ trong trường thấy cải thiện đáng kể thừa sức canh tranh với dân trường Tổng hợp hay trường Kinh tế bên cạnh. Số Kiến nữ tăng đột ngột vào năm 1987. Đang đói xưa nay, giờ gặp cơm hay phở gì thì mấy anh Kiến đều phơi phới rậm rực ra mặt. Có cô lợi dụng lắm anh theo đuổi, liền chơi trò “đấu thầu” bằng cách nhờ mỗi anh làm một bài để rồi chọn cái hay nhứt lên nộp cho thầy. Khiến mấy anh “hụt thầu” ngẩn ngơ mà không làm gì được. Kiến nữ làm không khí tổ Kiến thêm nhộn nhịp. Có hai chuyện, kể về “sự cố ngàn xưa” thời ấy đậm đặc tính mê ly cụp lạc mà sinh viên ai cũng biết. Một cú bởi trò gây ra (thập niên 80), một ca do thầy là thủ phạm (thập niên 90). Cả hai thầy trò luyện công phu “âm dương chỉ” thế nào không biết mà “dến” cái “bầu tâm sự” cho 2 cô bên ngòai (có 1 cô là sinh viên trường bạn) khiến 2 cô đến trường “hỏi thăm”, nói hoa mỹ là đòi “bồi thường chiến tranh”. Nhà trường nghe đâu phải âm thầm vào cuộc giải quyết ổn thỏa. Vì quý thành tích học tập tốt nên trò chỉ bị cảnh cáo cho lưu ban, còn thầy thì phải cuốn gói ra đi không hẹn ngày trở lại. Thôi chuyện nghe qua rồi bỏ, chỉ biết sau đó vài năm, bên ngòai thiên hạ tổ chức ì xèo những cuộc thi hoa hậu làm bên trong trường càng thêm rạo rực trước cảnh “cây nhà lá vườn” đang kỳ mơn mởn chưa từng có xưa nay. Yếu tố “mỹ quan” trong nguyên lý kiến trúc bắt đầu được chú trọng và được “rendu” dưới hình thức tân kỳ mới lạ.

Còn mấy Kiến nam thì thực chất chẳng thay đổi bao nhiêu. Do bù đầu làm bài cho mình và “hết lòng thờ vua (bà), xả thân cứu (nữ) chúa lúc nguy nan” nên riết rồi thời gian tắm rửa cũng chẳng còn. Cũng may ngày nay sinh viên có tiền thuê nhà trọ nên cũng bớt cảnh tốn thì giờ sắp hàng hứng nước hay “dành cơm” ở ký túc xá. Nhằm lúc này nhiều “nữ chúa” vào trường quá cỡ nên quỹ thời gian đã kẹt cứng càng thêm kẹt cứng. Đành mang tiếng ở dơ vậy ! Mà dơ bao nhiêu thì người đời tưởng mình có máu nghệ sỹ thiên tài đầm đìa ý tưởng trên trời dưới đất. Càng về sau có mấy anh thấy thế còn chơi “đốt giai đọan”, cứ ở dơ trước cái đã còn thời gian học hành thiếu đủ tính sau. Thêm cà phê, thuốc lá, nhậu nhẹt lu bù gọi là phương tiện kích thích tìm ý đồ sáng tác kiến trúc thì càng hay hơn nữa. Quên phứt đi cái khỏan vệ sinh, điều độ bằng mấy cái “khóai” thứ dữ khác cho đủ bộ. Để tóc tai bù xù, ăn mặc bê bối làm tăng cường thêm ấn tượng Đã không được nghệ sỹ bề trong thì cũng phải ráng được nghệ sỹ bề ngòai cho bằng anh bằng em. Bắt chước sai bài, “binh” không tới thì ráng chịu. Mà lạ hơn nữa là nhân viên của trường cũng không kém máu nghệ sỹ. Năm 1978, vào ngày quốc tế phụ nữ, một bà nhân viên chơi nổi “tròng” bộ áo cưới vào trường cho nó “độc xẹt” mặc cho chúng sanh thấy mà lắc đầu. Nhân viên trường còn “nghệ” như thế thì đám sinh viên lập dị cũng đừng ai trách. Cũng vào khỏang mấy năm ấy, nhân có phong trào “cấm để tóc dài”, nhà trường cũng định lợi dụng nhằm hạn chế máu “nghệ” của mấy Kiến nhưng sau vài năm thì “mèo vẫn hòan mèo”. Nói tiếp về cái trò “ở dơ sống lâu” dần dần trở thành món võ tự vệ độc hại làm thầy nào cũng phải gờm mùi hương lẫn mặt mày của mấy thằng đệ tử và rồi kiêng dè khi sửa bài của chúng. Mấy đồng môn cũng phải bịt mủi “chạy làng”. Lúc lên bài họa thất hay vào lớp thì liệu hồn! Chúng mà ngồi đầu ngọn gió thì làm cả lủ trong sạch nhiễm độc khí chết nhăn răng. Kiến nữ nhờ vậy thêm được thầy chiếu cố tận tình nhờ bộ vó “dẻo như cơm, thơm như mít” rồi từ đó có tiếng đồn nhau rủ rê nhiều nữ sinh khác đổ xô ồ ạt thi vào kiến trúc.

Việc học quân sự tuy bắt buộc nhưng đó không phải là cửa ải. Tuy chỉ tốn có một tháng song là dịp để sinh viên đi ra ngòai thay đổi không khí. Các thầy cũng tương đối dể dãi. Hồi trước, nhớ có một thầy, thật ra là một ông sĩ quan già tên L. mà dân Kiến hay gọi là thầy Sáu L. Nghe cách nói chuyện hóm hỉnh của thầy, dân Kiến phát hiện trong lý thuyết quân sự chứa đựng tràn trề ý nội, ý ngọai, nghĩa đen, nghĩa bóng cực kỳ thâm thúy. Chỉ có thế mà anh em hứng thú có mặt tương đối đông đủ hơn các giờ lý thuyết khác. Thêm giờ học thực hành ngòai trời ( có lúc ở công viên đối diện Dinh Độc lập, có lúc ngay khu đất trống sát tường rào khám Chí Hòa), quả là thiên đường cho mấy anh em có dịp vui chơi hóng mát ngo ngoe tay chân cho đỡ bồn chồn. Lúc giải lao thì thầy trò tụ lại tha hồ đánh “tiến lên”, hòa đồng quân dân với nhau mà không sợ ai bắt lỗi. Cái vui nhứt là vào cuối khóa đi bắn đạn thật trên sân bắn Thủ Đức. Nhiều lớp lợi dụng dịp này tổ chức cắm trại qua đêm, ăn uống bí tỉ , đêm nằm kề bên nhau ngắm trăng tâm sự , kể lể chuyện đời… tựa hồ:

 

“… Nằm kề bên nhau chờ giặc tới,

Đầu súng trăng treo…” (thơ Chính Hữu)

 

… ngay trên bãi tập bắn từ chiều hôm trước. Đến sáng hôm sau thì bắt đầu thi kiểm tra bắn đạn thật. Vì tình thầy trò vốn đã được đầu tư thắm thiết trong quá trình học nên chẳng ai rớt. Tiếc rằng những năm sau đó tiết mục này bị bỏ dần vì sinh viên càng đông đảo khó tổ chức vì tốn kém. Ban đầu mỗi lớp cử vài đại diện đi bắn. Sau dần chỉ kiểm tra thao tác dùng súng của từng anh chị rồi thôi. Chắc vài năm nữa chỉ cử mấy anh đại diện đi học rồi chuyện gì mới nữa chưa biết trước được nhằm đơn giản hóa tận cùng khóa huấn luyện quân sự. Khóa học luôn kết thúc tốt đẹp nên chẳng có gì gọi là “ác nghiệp”. Chỉ kể nghe qua chơi cho đủ bộ.

Chặng cuối của đời sinh viên là tốt nghiệp cũng cực kỳ quan trọng vì “đời chỉ có một lần”. Sau vài tháng đầu tư sức người và của vào đồ án ra trường, anh nào chị ấy cũng bơ phờ, nhiều người xanh như tàu lá do làm việc ngày đêm quá độ. Thầy cũng phải được bố trí “kè” mấy trò mà hướng dẫn. Vì tính quan trọng của nó mà có trò vì quá thương thầy rồi sẵn sàng xì tiền bồi dưỡng riêng cho thầy chút đỉnh lấy sức. Mấy “ne” cũng đổ quân vào cuộc. Có anh thừa tiền lắm của thuê nhà để vẽ, thuê ne thả ga, bao ăn, bao ngủ từ a tới z. Mấy ne chỉ có việc tô màu, vẽ cây, chấm cỏ, nghe sai bảo lặt vặt… Mấy anh nghèo làm thui thủi một mình cũng tốt nghiệp vang lừng như ai. Cảnh “charette” vẫn còn đó. Tới ngày sơ khảo, nhiều người sốt vó là trò thường tình. Có thầy vì quá thương trò, chạy đôn chạy đáo vô trường huy động thêm “ne” kéo về nhà đệ tử của mình vẽ phụ cho kịp giờ. Sơ khảo xong, bài đem về sửa chữa một lần chót trước khi trình bày tốt nghiệp. Hôm bảo vệ mới thật sự là ngày trọng đại. Mỗi tân khoa tương lai phải một thân chống chọi với một hội đồng thầy tràn trề kinh nghiệm. Mấy anh du học sinh xứ Chùa tháp thì không đến nỗi lo lắng nhiều do đã được trang bị nhiều hậu thuẫn ưu đãi công khai. Điển hình là anh nào tiếng Việt còn lọng cọng thì các thầy thấy thương tình liền miễn khỏang trình bày giới thiệu đồ án cho đỡ mất thời gian. Và theo đúng thủ tục tốt nghiệp, mấy thầy vẫn lên thưởng thức đồ án cũng như hỏi vài câu lấy lệ với người ta với tấm lòng tràn đầy gạo muối cầu mong mấy anh mau về nước để truyền bá chất lượng và uy tín của “đằng mình”. Riêng với sinh viên Kiến nội địa nhà ta thì thầy vẫn thương yêu nên những năm gần đây, tỷ lệ rớt ít, ít dần và ít mãi. Có thầy nói nếu chấm gắt quá thì đâu còn đứa nào ra trường, mà mình đánh rớt hòai kiệt sức mình rồi sẽ đánh rớt không nổi nữa, đành phải “cho qua” để “để đức” cho con cháu. Trước trận “biển người” tốt nghiệp đông đảo tất nhiên thầy ủng hộ số đông mà từ bi xí xóa mấy lỗi lặt vặt không đáng kể cho anh em nhà Kiến mừng. Nghe kể lại năm 1994, có một anh sinh viên Kiến “cóp-pi” nguyên xi một sân bay trong sách để làm bài tốt nghiệp. Mặc dù có một thầy phát hiện và phản đối nhưng cả hội đồng thương tình công sức vẽ vời nên thông cảm cho ra trường êm đẹp. Do đó để việc bảo vệ tốt nghiệp thành công thêm rực rỡ, nhiều anh chị mời hết cả bà con họ hàng ông bà chú bác lẫn con cháu đi theo ủng hộ vì biết mình chắc chắn cỡ nào cũng đậu. Có người sau khi bảo vệ xong liền có con cháu đem hoa tặng theo công thức ca sĩ cho thêm tính le lói. Những đêm sau đó, các anh em luân phiên đi ăn nhậu khao quân mừng “chiến thắng” liên tục ở từng nhà các đồng môn với mấy ne ruột. Thầy cũng được mời lu bù và được trò trả công hậu hĩ từ quà cáp tới hiện kim tùy theo nhu cầu hay yêu cầu. Thầy thanh liêm thì chỉ nghe trò nói câu “cám ơn” là thầy mát ruột mà không cần gì khác. Ngày phát bằng còn vui hơn nữa vì còn có thêm tính tập thể cao độ. Rút kinh nghiệm nhiều năm từ các trường khác, trường ta cũng thuê áo mũ cân đai loại “thời trang cử nhân tiến sỹ” đem về trường cho sinh viên thuê lại để có dịp tổ chức đóng tiền đăng ký tên theo thứ tự lên lãnh bằng cho oai. Không khí trường nhộn nhịp hơn xưa vì ngòai sinh viên ra còn có cha mẹ, họ hàng, vợ con, bạn bè, bồ bịch.. đi đến xem chức mừng chia vui rôm rả. Mấy anh phó nhòm cũng có dịp chen chân vô kiếm sống chút đỉnh.

Đời sinh viên là thế đó ! Mà khổ nhiều sướng ít.

Một anh Kiến ôm tê-ke miệt mài thi lại và trả nợ đồ án mãi mới tốt nghiệp được. Ra trường xong, y tủi thân hận đời bèn làm một bài thơ lưu lại:

 

Trời đất hỡi ! Sinh viên khốn khổ,

Phải đóng thêm phí nọ tiền kia,

Có tiền, có gạo bề bề,

Dài dài trả nợ cũng ê bẹ sườn.

Lể tốt nghiệp ra trường cũng đóng,

Thuê áo quần cho giống cử nhân…

Hận thầy ác đức ác nhân,

“Đì” trò, đánh rớt kiếm ăn, làm tiền…

Thương thầy khác liên miên chạy độ,

“Giết” học trò, không nỡ ra tay,

Cứ cho tốt nghiệp mặc bây

Học không ra thợ, ra thầy, ai thuê ?

Sẵn cao học, thôi về học lại,

Ngồi hai năm ra dạy sinh viên,

Thầy già xuống lỗ quy tiên,

Còn bầy đệ tử nửa điên, nửa khùng…

 

… và kèm theo một tuyên bố xanh dờn: “Ta không còn gì để rớt. Không Top Ten thì cũng Bottom Five”.

Xuyên tạc đến nước như vậy mà thiên hạ vẫn cứ mê kiến trúc như điếu đổ , chen chân vô không dứt !

Trò càng đông thì thầy phải có thêm đủ số. Thầy già về hưu hay chết dần mòn mà thầy mới chưa có bao nhiêu để trám chỗ. Nhiều thầy chán nản bỏ trường đi “chạy ngòai” cho khỏe khỏi lo nhức đầu căng thẳng vì đấu trí mà thu nhập chẳng bao nhiêu. Thầy khác tuyển về để bổ sung thì chất lượng không đạt yêu cầu. Nhiều thầy giỏi về vài bữa, cao lắm là một học kỳ là bị “ma cũ” bứng gốc đành phải dứt áo ra đi. Bên ngòai kinh tế thị trường phát triển mạnh nên nhà trường cũng phải khốn đốn chạy theo cho kịp. Trước thế “lưỡng đầu thọ địch”, một bên nhu cầu đào tạo, một bên là kinh tế, thì chỉ còn nước chữa cháy là mở hệ cao học để đào tạo thạc sỹ và tiếp tục có dịp thu tiền “hụi chót”. Nhiều trường trước tiên phải “lên đời” cho mấy ông phó tiến sỹ thành tiến sỹ để có tư cách đào tạo mấy ông thạc sỹ mới. Trường Kiến tất nhiên không ngoài quy luật trên. Anh em nào muốn lên làm thầy hay để ra đời ngồi ký giấy thì đăng ký cao học khỏang 2 năm. Quá khỏe ! Với điều kiện chịu khó đi học có mặt đều vì thầy điểm danh rất ngặt như ở trường phổ thông. Tại vì rút kinh nghiệm sinh viên đại học ưa “cúp cua”, và mấy anh theo cao học vừa có bằng cấp ngon lành ưa sanh tật làm “chảnh” không coi quy định ra gì , nên trường buộc lòng phải dùng biện pháp mạnh. Năm 1993 nghe kể có thầy chuyên gia dạy nguyên lý Kiến trúc trong trường vậy mà khi thi cao học vẫn rớt môn nguyên lý Kiến trúc như thường. Tiếc rằng không biết ai đã chấm bài thầy lần ấy trong khi ngày thường thầy chấm bài người khác. Vì tương lai sáng sủa nên số sinh viên cao học tăng dần bất chấp điều kiện ngày càng gắt. Số thầy được đào tạo từ đủ số đến mức thừa thãi. Miễn “cần cù bù năng khiếu, dù thiếu tài năng” là làm thầy dễ ợt. Có thầy “tu đường tắt” bằng cái mửng “ẵm” trọn gói luận án tiến sỹ của đồng nghiệp đàn em để làm của riêng mình rồi sinh kiện cáo lung tung, phục vụ cho chuyện thâm cung bí sử của trường vốn đã tràn trề nay thêm đa dạng.

Từ cái ngày người ta coi ông KTS như ông trời “nắm thế giới trong bàn tay”, đến nay KTS đầy đường, quần chúng hóa đến mức cao độ. Quả là một sự thay đổi thần kỳ chống chủ nghĩa độc quyền Kiến trúc. Có một thầy đưa ra nhận xét cực chuẩn xác:

“Trường kiến trúc ai dạy cũng được và ai học cũng được”.

Cái tàn ác của kinh tế thị trường là bắt thiên hạ phải chạy theo nó và cạnh tranh với nhau không bao giờ ngưng nghỉ. Từ ngày chỉ có một khoa kiến trúc trong trường, kế tiếp phải mở thêm “hệ B”, chuyên tu, tại chức, rồi quy hoạch, xây dựng, mỹ thuật công nghiệp… để cạnh tranh áp đảo mấy trường khác. Đêm còn có thêm các lớp họa viên, ngọai ngữ, vi tính, luyện thi, cả “mầm non kiến trúc” cho thiếu nhi nhằm thu hút đủ hạng khách già trẻ lớn bé. Có dạo nhà trường sẵn sàng cho một trường đào tạo hướng dẫn viên du lịch, hay xí nghiệp gạch bông thuê mặt bằng, sảnh cho thuê dùng làm bãi đậu xế hộp ban đêm … Khuôn viên trường được khai thác hết ga vừa để chứng minh tính thích dụng và kinh tế cho sinh viên. Nhiều ông KTS đã tâm sự rằng nếu mà có thêm đất trống chắc nhiều bà bán hột vịt lộn, bia hơi, áo quần sida, keo diệt chuột… quanh trường chắc chắn sẽ mừng lắm vì có mặt bằng ổn định khỏi khốn đốn do bị cảnh sát dí chạy hàng ngày.

Cũng phải thế thôi khi cầu nhiều tất phải có cung nhiều để đáp ứng vậy. Kết quả ra sao, xem hồi sau sẽ rõ.