Tại sao người Việt không khá nổi ? (7)

1-       Giáo dục:

Nếu xã hội cũng như nhiều thế hệ của Việt không ngóc đầu lên do hậu quả từ các nguyên nhân khác là một thì tội do nền giáo dục kém và vô trách nhiệm gây ra là gấp mười gấp trăm lần. Càng moi móc mổ xẻ nhiều góc cạnh, ta thấy người VN sinh ra bị giáo dục để làm nô lệ là chính.

  1. Gia đình

Sự hiếu thảo được coi trọng trong giáo dục gia đình. Hơn nữa, Nho giáo làm tăng thêm quyền lực của cha mẹ, hay đúng ra là của người trên khiến sự hiếu thảo biến thành một sự mù quáng tuân lệnh và là rào cản phát triển của con trẻ.

i.      Tính áp đặt

Thuyết “Quân-Sư-Phụ” của Nho giáo được Đổng Trọng Thư nhà Hán cải biên là một tội ác, làm tăng cái quyền của kẻ thống trị trong xã hội: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung; Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”.

Tục ngữ VN có câu “con hơn cha, nhà có phước, trò hơn thầy đất nước phồn vinh”. Ai cũng muốn vậy song trên thực tế nói vậy không phải vậy !

Ít gia đình nào chịu nghe thắc mắc,  phản biện của trẻ nhỏ để mà chịu khó giải thích. Tất cả chỉ dùng sự áp đặt theo những thành ngữ “Áo mặc không qua khỏi đầu” , “trứng đòi khôn hơn vịt” hay:

Cá không ăn muối cá ươn,

Con cãi cha mẹ trăm đường con hư”

Những phản biện đều lạm dụng đạo hiếu để dập tắt mọi thắc mắc của trẻ nhỏ và đánh đồng “phản biện = cải lời”. Ngay cả khi lớn lên vấn đề tình cảm cũng bị mất tự do vì “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”.

Nhiều trẻ thuận tay trái, bị cha mẹ đánh đập để bắt buộc tập sử dụng tay phải, từ đó làm giảm sút những khả năng bẩm sinh.

Tóm lại, từ nhỏ, chính người thân đã vô tình tạo ra một tâm lý nô lệ cho trẻ.

ii.      Tính gia trưởng

Chế độ trọng nam khinh nữ tạo ra tính gia trưởng. Mà đã gia trưởng tất nhiên là phải độc tài. Người đàn ông gia trưởng tạo nên một chế độ tộc tài thu nhỏ cho đứa trẻ thực tập chịu đựng trước khi ra đời để chịu một chế độ tộc tài cao hơn (Quân-Sư). Tệ hơn nữa tính gia trưởng tiếp tục được kế thừa qua nhiều thế hệ núp dưới chiêu bài “tôn ti trật tự gia đình”.

Cũng từ chế độ độc tài thu nhỏ này, khi mà người lớn luôn luôn đúng, cái văn hóa “xin lỗi” và “cám ơn” bị mất đi vì nó không dành cho người trên sử dụng để làm gương cho người dưới. Nó tạo ra hố ngăn cách giữa ngưới có quyền và kẻ bị trị và làm mất đi cái pháp lịch sự tối thiểu của người văn minh trong xã hội.

                                                           iii.      Thương cho roi cho vọt

Tính độc tài, cộng thêm thói quen “thương cho roi cho vọt” làm mất đi lòng tự trọng và tăng sự tự ti của trẻ. Đòn roi làm tổn thương tinh thần và đến mức nào đó biến nạn nhân có tâm lý sợ hãi luôn trong tâm trạng sắp bị hành hạ nếu có lỗi. Nhiều người ít học còn tự hào đánh là một giải pháp tối ưu để “thuần hóa” trẻ hiếu động (!?).

Cạnh đó nguyên tắc “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”  như dầu đổ vào lửa. Tác giả chứng kiến như sau: đứa trẻ đứa này đánh đứa kia. Đứa thủ phạm không biết có bị trừng phạt hay không nhưng thấy cha mẹ nạn nhân lôi con mình ra nện một trận ! Họ lý luận rằng lỗi gì thì lỗi nhưng phải “đánh” con mình trước để làm gương (?).

Tình thương kiểu đó thì con người lớn lên luôn có mặc cảm mình là tội phạm bất cứ lý do gì. Một vòng kim cô hữu ích cho giới cai trị : “tập  làm nô lệ trước khi thành nô lệ từ trong trứng nước”.

Riêng trẻ nào có khả năng lì lợm chịu đòn thì càng có nguy cơ bất trị sau này và tiềm tàng mối nguy cho xã hội.

iv.      Hội chứng “con một -ông nội”

Với mong muốn “đời mình khổ, đời con mình sướng” , nhiều bậc cha mẹ đã làm hư con mình là chính. Họ chủ quan xem con mình như là một siêu nhân mà áp đặt học hành đủ thứ. Bên cạnh chế độ giáo dục vốn đã bậy bạ về phương pháp và tệ học thêm, họ tiêp tay thêm để làm khổ con mình. Nhiều người coi trọng điểm số như là một thành tích khoa bảng và sẵn sang làm mọi giá để con mình đạt được bất chấp khả năng đứa nhỏ thích nghi hay không. [i]

Cạnh đó, chính sách hạn chế sinh đẻ làm cho đứa trẻ trỏ thành một trung tâm của gia đình mà mọi người phải đổ công chăm chút. Con nối dỏi và con một được xem như là một bảo vật mà mọi sự đầu tư đổ vào vô tội vạ.

Các quý tử này từ đó ý thức được mình như một ông vua con và trở nên hư hỏng do chính cha mẹ chúng. Vị trí “trung tâm của gia đình” khiến nó ngày càng lộng quyền tưởng như tất cả sinh ra phải phục vụ chúng và từ  đứa con một, trẻ leo đầu mọi ngưởi thành ông nội  không tránh khỏi !

v.      Hậu quả nguy hại

Hội chứng “con một-ông nội” tạo cho trẻ có tâm lý ích kỷ và tự tôn. Nó gián tiếp tạo nên tính vô cảm sau này. Từ đó mà sau này khi đi học, tính tương trợ nhau trong bạn bè mất đi và sinh ra nhiều thủ đoạn chơi xấu nhau để giành thứ hạng. [ii]

Cạnh đó, vì luôn nghĩ mình là trung tâm và mọi người phục vụ mình, đứa trẻ lớn lên luôn ỷ lại mọi thứ và mất hẳn khả năng tự lực. Mà có muốn tự lực cũng khó khi mà từ nhỏ vốn đã bị cha mẹ đánh đập, áp đặt tư tưởng lâu ngày và từ đó làm mất hẳn tinh thần tự trọng, tự chủ và chí khí. Nhìn một hay nhiều thế hệ con người như vậy có thể làm đại diện cho một dân tộc hùng cường hay không là một câu hỏi chẳng cần trả lời cũng biết.

  1. Học đường:

Giáo dục gia đình cần giáo dục học đường hổ trợ để hoàn thiện và sửa chữa sai lầm. Mà thầy ngày nay bị cảnh “chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm” thì hậu quả tai hại. Kết quả “thầy nào trò nấy” đã chứng minh nền giáo dục của mình vô nhân đạo với những nguy hại nhản tiền không chối cãi. [iii]

Tuy có nhiều điểm lạc hậu song Nho giáo rất trọng sự học, tôn vinh người thầy cũng như đề xuất hình thức giáo dục tư nhân đầu tiên qua hình ảnh ông thầy đồ sống bằng nghề dạy chữ và luật miễn xâu của làng xã cho những người đỗ đạt. [iv] Việc khuyến học (dù chưa thực tế với lối từ chương) luôn đáng trân trọng. Giáo dục hiện nay dần dần “quên” giá trị này.

i.      Trường học: nơi hủy hoại tính hồn nhiên.

Dưới nhiều góc cạnh, trường học ngày nay là một dạng nhà tù hủy hoại tâm hồn trẻ thơ không hơn không kém.

Ngày từ những ngày đầu sống trong nhà trẻ mẫu giáo,  trẻ em đã hứng chịu những cảnh ngược đãi (đánh đập, chửi mắng, bị hăm dọa cấm méc lại cha mẹ). Nghề “chuột cùng sào” gặp cảnh lương thấp, áp lực cao (có lúc 2-3 người canh giữ trên 40 trẻ) làm mất đi cái chức năng cao quý của nghề. Nhiều cha mẹ phải lót tay “bồi dưỡng” cho cô giáo để mong con mình được yên ổn. Sự hồn nhiên đã mất đi trong sợ hãi và cái ác manh nha trong tiềm thức trẻ. [v] Tạo tâm lý nô lệ từ thuở còn thơ là tội ác. Nhiều trẻ trở nên mất tự tin và dễ sợ hãi. [vi]

Nạn học thêm, học trước chương trình ngay từ mẫu giáo làm mất thời gian vui chơi bổ ích. Học trước chương trình và bài tập nặng nề không hợp lý làm lãng phí thời gian với áp lực học + học thêm từ sáng sớm cho đến tối mịt chưa thôi. Một án khổ sai 12 năm hành hạ nhiều thế hệ mà đến nay chưa có giải pháp nào diệt trừ.

Khi đi học, chương trình lạc hậu không chịu đầu tư cho trẻ tìm tòi hấp thu kiến thức cần thiết theo đúng lứa tuổi. Việc bắt trẻ ngồi hàng giờ rèn chữ theo khuôn phép là một cách nô lệ hóa đầu óc trẻ một cách tinh vi cũng như dạy những cái không cần học [vii] .  Nhiều môn học chủ về sáng tạo như môn văn lại đóng khuôn qua bài mẫu, tư tưởng áp đặt, barem điểm máy móc thì người chủ trương việc này đáng là một tội đồ của dân tộc khi kềm hãm tư tưởng và sáng tạocủa học trò.. Riêng những em nào vượt trội lại được nhồi sọ phiếm diện để thành những “gà đá” trong các kỳ thi học sinh giỏi cho nhà trường lãnh thành tích.

Học nhiều, không đúng phương pháp, chủ về thành tích và lợi nhuận, kết quả làm trí tuệ con người VN thui chột và phiếm diện. Chưa kể thói giả dối làm mất đi giá trị con người.

Nhồi sọ để rồi khi ra trường, ai nấy cũng sợ sách vở và bỏ thói quen đọc sách. Thêm một cái hại khác…

Người Mỹ có cái hay là họ còn khuyến khích con trẻ tập phác thảo kế hoạch cho tương lai lâu dài. Cạnh đó trẻ được khuyên tập viết nhật ký để biết phải sống thực với mình, rèn kỹ năng trình bày, nhất là biết lưu giữ những quá khứ làm cơ sở và kinh nghiệm cho tương lai. Một số trường học tại Mỹ còn tổ chức sinh hoạt trường lớp như một chính quyền thu nhỏ với các hình thức vận động tranh cử, bầu cử,.. giữa các học sinh để nâng cao ý thức công dân của mình sau này.

Đây là điều người Việt cũng nên bắt chước để thay đổi tầm nhìn của mình.

ii.      Trò không được hơn thầy

Nền giáo dục tiến bộ theo nguyên tắc “học sinh làm trung tâm” và công việc người thầy là tính hướng dẫn dựa theo sự sáng tạo độc lập vốn có của từng trò. Trò có thể thẳng thắn tranh cải và phản biện lại quan điểm của thầy và từ đó thầy trò cùng nhau tiến bộ. Sự phản biện được đánh giá cao bên cạnh kết quả học.

Ngược lại nền giáo dục lạc hậu của ta còn nặng chất phong kiến, gia trưởng. Với bản chất bảo thủ, những ai tỏ vẻ hơn thầy, “có gan” phản biện lại với thầy đều bị đánh đồng như tội vô lễ. Chưa kể nhiều thầy có tật giấu nghề nên chỉ sau vài thế hệ, nhiều tinh hoa bị thất truyền đáng tiếc. Người thầy như là một trung tâm vũ trụ cao hơn cả cha mẹ mình mà trò phải tuyệt đối nghe theo không dám cãi. Trên người thầy là ông vua, một lãnh đạo tối cao mà tất cả phải thần phục không dám hó hé. Cái tiêu cực của tinh thần “quân-sư-phụ” trói mọi ý kiến đột phá.

Những cuộc phản biện xảy ra, đa phần phần thắng nghiêng về người thầy với nhiều áp đặt về tư tưởng và lý luận bắt trò phải nghe theo. Thậm chí có những lý luận trơ trẽn: “Biết anh đúng nhưng chương trình bắt phải theo như vậy;  nếu không theo thì sẽ không tốt cho thi cử cũng như tương lai sau này…” hay “thời buổi này mình phải chấp nhận nó như thế, đừng ngoan cố cãi thêm”… Hậu quả ra sau khi mà những nghịch lý bắt trò phải cúi đầu chấp nhận để rồi sự phản kháng trong đầu là một tiềm tàng gây bất ổn cho xã hội khi có dịp. Hoặc không thì hậu quả là có những người không còn biết suy xét linh động, trở thành những cái máy nghe lời cấp trên mà không dám (hay không biết, không cần) nhận xét đúng sai.

Quan điểm sai lầm trên, người thầy là một biểu tượng lãnh đạo độc tài và sẵn sàng trù dập làm hỏng tương lai nhiều tài năng theo kiểu “Có ngon không nghe thì dù giỏi cỡ nào cũng bị tao đánh rớt !”

iii.      Tiên học phí:

Không kể hệ thống trường tư cần phải đóng học phí, hệ thống trường công thu học phí đưới nhiều hình thức [viii] là một sai phạm lớn [ix], nó tạo thêm gánh nặng cho nhiều giới không chỉ dân nghèo. Chuyện lo tiền chạy trường, lót tay thầy cô để ưu tiên cho con mình không phải là hiếm. Đã dính tới tiền thì “nén bạc đâm toạc tờ giấy” đổi trắng thay đen, mua bằng, mua điểm dễ dàng. Mà đã lỡ ăn tiền của trò thì lòng tự trọng của thầy bị đánh mất do trò khi dễ thầy. Quan hệ thầy-trò biến chất thành quan hệ kẻ mua-người bán. Đã có tiền thì có tệ mua bán đề thi, thi cử bát nháo, bằng giả làm mất đi giá trị cái sự học. Giả dối kèm bệnh thành tích hạ thấp tư cách thầy-trò.

Các tệ trên được dung túng bởi giáo dục không được coi trọng và nhà giáo không được trả lương xứng đáng. Nhà giáo máu con buôn là một tệ nạn trong xã hội đi kèm với hàng ngàn “tiến sĩ giấy” vô dụng.

iv.      Bằng cấp xưa mới quý:

Hàng ngàn “tiến sĩ giấy” ăn hại đái nát tạo nên một bước lùi cho giáo dục và đạo đức xã hội. Nhiều người bắt đầu tin vào những bằng cấp xưa vốn đáng tin cậy hơn. Thậm chí bằng cấp “ngoại” thứ thiệt cũng không được tin tưởng do đương sự còn thiếu kinh nghiệm kèm theo suy nghĩ: “nó hết cửa làm bên đó mới trồi qua xứ mình làm”.

Cảnh sinh viên ra trường thất nghiệp do thiếu năng lực, tình nguyện đi làm không ăn lương để học hỏi là cái nhục lớn cho nền giáo dục đào tạo. Nó hạ thấp giá trị chất xám lẫn nhân cách con người. [x]

Kết quả đào tạo sau cùng: trên thì tiến sĩ giấy, và những cử nhân không trình độ, dưới cùng là các cô cậu tú đậu theo tỷ lệ thành tích 99,99…%  thiếu trình độ kiến thức căn bản.  Xã hội thiếu người làm việc nhưng quá thừa người thất nghiệp vì kém năng lực … Một bước lùi to lớn!

v.      Trình độ ngoại ngữ thấp.

Bên cạnh nhiều vấn đề đã nêu, trình độ cũng như phương pháp dạy ngoại ngữ  là một điều đáng bàn.

Sai lầm lớn đầu tiên là ít ai biết rằng lứa tuổi 3-10 có khả năng phát triển ngôn ngữ thứ hai tốt nhất. Nhiều người cho rằng sợ trẻ bị “Tây hóa”, “Mỹ hóa” mà quên nguồn gốc. Họ không biết rằng không dễ gì quên nguồn gốc do học ngoại ngữ  khi sống tại nước mẹ đẻ. Mặt khác, cách dạy môn Việt văn bị khô khan, áp đặt ý tưởng theo bài văn mẫu làm mất hứng thú cho người học là một nguyên nhân gián tiếp làm nhiều người rời xa. Cạnh đó hiện nay, ngoại ngữ ít bị quản lý bằng những phương pháp lạc hậu như các môn khác nên ‘thoáng” hơn.

Tuy vậy, phương pháp dạy và học còn nhiều hạn chế [xi] làm người học vẫn còn bị nhiều thiệt thòi, không tự tin khi giao tiếp, học hỏi và làm ăn với nước ngoài.

vi.      Cải cách giáo dục.

Như đã đề cập, việc cải cách của người VN là một sự bắt chước không tới nơi nên trong lịch sử nó đồng nghĩa với thảm họa.

Hồi thập niên 60-70, ngay từ ban đầu chưa cải cách, tại hai miền, nền giáo dục còn dựa trên một phương pháp hợp lý mà tới giờ xem lại vẫn thấy giá trị vẫn vượt trội hơn hẳn những cải cách gần đây do các “chuyên gia đầu ngành” bày vẽ.

Các phương pháp dạy và học được chế biến nhiều hình thức sáo rỗng và thuật ngữ hào nhoáng. Sách giáo khoa in mới luôn lộ ra nhiều điểm sai, phản giáo dục và có tính bạo lực ngay cả trong môn toán (xem hình).

Hoặc:

Hoặc:

Thậm chí còn dạy sử dụng vũ khí giết người cho trẻ dưới 18 tuổi  (quyển giáo dục quốc phòng lớp 11):

Các phương pháp giảng dạy thay đổi không ổn định, tốn nhiều thì giờ, tạo suy diễn theo trình độ cao thấp khác nhau của nhiều cấp làm khó cho thầy trò. Kể cả phụ huynh học sinh cũng không biết đường hướng dẫn cho con mình thêm. Một áp lực đè nặng và chi phối xã hội và người ta bớt tâm trí để suy nghĩ và làm những việc khác có ích hơn.

Nếu chính sách thực dân ngu dân bằng cách hạn chế đi học thì chúng ta (dù vô tình ngẫu nhiên hay vô tình có tính toán) lại tạo chính sách “ngu dân kiểu mới” cao hơn một bậc: cho học quá tải và gây áp lực làm khổ cho thầy lẫn trò, và luôn cả phụ huynh.

Nói chung, nền giáo dục lạc hậu với “tiền bạc + giả dối + khẩu hiệu + thành tích” làm thấp dân trí, phá nát đạo đức xã hội. Chuyện những nhà giàu cho con cái ra nước ngoài “tỵ nạn giáo dục” là một hình thức di dân bất đắc dĩ. Số người có tâm và có tầm sáng suốt nhìn nhận thực trạng lại không khả năng và quyền hành để cải thiện tình hình. Càng giải thích ngụy biện, giới hữu trách càng khiến người dân mất niềm tin và khinh bỉ.


[i] Nhiều người còn trách cả thầy cô khi con mình học không đạt điểm theo mong muốn và họ tăng cường độ học thêm ngoài giờ cho con mình, cấm không được chơi đùa.

[ii] Khác với ngày xưa, ngày nay trò nào đi học lỡ vắng mặt trong lớp thì đừng hòng bạn bè nào cho mượn tập chép bài lại cũng như được bạn giải thích thắc mắc bài vở. Ngày xưa, tuy bị cấm cho bạn chép bài thi nhưng những ai giúp người khác trong lúc thi được xem như là anh hùng. Giờ này thì bạn bè triệt nhau giành điểm là phổ biến. Trước đây có chứng kiến một chuyện, một người bạn bị công an bắt do đối thủ bịa chuyện tố bậy vì “sợ người khác hơn mình”.

[iii] Cảnh trò đánh giết nhau, thầy đánh trò thương tật, thầy hiếp trò, nạn đổi tình lấy điểm,.. mà báo chí viết hàng ngày và tần suất những vụ án tăng dần.

[iv]  Tác phẩm “Bút nghiên” của Chu Thiên đã mô tả những người đỗ đạt được làng miễn xâu, chưa kể một ít tặng thưởng từ vua quan.

[v]  Do tính bắt chước của trẻ, có thể điều tra trẻ được đối xử ra sao trong nhà trẻ bằng cách đơn giản như sau: Rủ trẻ chơi búp bê hay chơi trò thầy cô giáo dạy học. Thái độ thầy cô ở trường đối xử trẻ thế nào sẽ được trẻ bắt chước y hệt trong lúc chơi.

[vi]  Ngược lại, để tập cho trẻ thêm tự tin, nhiều nhà trẻ, mẫu giáo ở SG trước 75 đã tập cho trẻ thói quen khi vào trường và ra về phải bắt tay chào thầy cô của mình.

[vii] Tai cấp 1 và 2, tác giả đã từng bị bắt học may thêu (dành cho con trai) cũng như chương trình bắt con gái học thợ mộc, thợ điện…

[viii] Ban đầu tiền học phí được thu dưới dạng “tiền bảo trợ (khoảng năm 1985-1987). Sau này chế độ thu học phí được áp dụng công khai bên cạnh những khoản phí và học phí linh tinh khác đóng kèm theo kể cả những môn học mình không muốn học các môn ấy: tiền học Anh văn, học nhạc, học rèn chữ, tiền cơ sở vật chất, tiền ăn, tiền điện, tiền nước, tiền dọn dẹp vệ sinh, tiền bảo hiểm…

[ix] Điều 26.1  luật nhân quyền:

“Ai cũng có quyền được hưởng giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí ít nhất ở cấp sơ đẳng và căn bản. Giáo dục sơ đẳng có tính cách cưỡng bách. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được phổ cập. Giáo dục cao đẳng phải được phổ cập cho mọi sinh viên trên căn bản bình đẳng, lấy thành tích làm tiêu chuẩn”.

[x]  Khi mà trong xã hội có cảnh các tiếp viên nhà hàng làm không lương, sống nhờ vào tiền “boa” và đi khách là chính thì chuyện sinh viên làm không lương trong các cơ quan, hảng xưởng là một nỗi nhục cho xã hội.

[xi] Phương pháp “cách ly” chỉ cho nói ngoại ngữ và cấm dùng tiếng me với nhau trong lúc học là một cách nhanh chóng để học ngoại ngữ. Nhiều người cho rằng cách này có ý làm học sinh quên nguồn gốc do chế độ trướng Tây ngày xưa đặt ra.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s