Tại soa người Việt không khá nổi ? (4)

1-       Tâm lý  người dân:

Do các tác giả khác [i] đã nhắc quá nhiều và kỷ lưỡng hơn nên nhiều yếu tố không được nêu hết tại đây. Nhất là đây là viết theo quan điểm tác giả. Bài viết chưa ráo mực nhưng biết chắc rằng thiên hạ sẽ chỉ trích nhận xét chủ quan, khập khễnh… không thương tiếc.

  1. Tính tiểu nông, không có chiến lược lâu dài:

Do đặc thù lịch sử chiến tranh và nền văn minh lúa nước, con người VN không thể thực hiện được một tính toán lâu dài. Nhiều dự kiến bị chiến tranh làm phá sản. Vì thế, để tồn tại. phương sách “đánh nhanh, rút nhanh” trước khi biến cố xảy ra là chắc ăn hơn cả. Mọi việc chú trọng đến những gì trước mắt, cái gì cũng phải nắm chắc trong tay, dù ăn nhỏ mà ăn chắc. Một nắm xôi ăn bỏ bụng tức thì chắc ăn hơn canh giữ ba bò chín trâu sợ thằng khác giựt mất !

Bài cadao “thằng Bờm”  là một minh chứng:

Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu.
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy trâu,
Phú ông xin đổi ao sâu cá mè.
Bờm rằng : Bờm chằng lấy mè,
Phú ông xin đổi ba bè gỗ lim.
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy lim,
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi
Bờm rằng : Bờm chẳng lấy mồi,
Phú ông xin đổi nắm xôi: Bờm cười.

Do tâm lý này, việc tranh chấp đất đai gia sản thừa kế trở nên gay gắt trong các gia đình VN. Tại VN, chỉ sau một đời là mảnh đất nào rộng lớn cũng bị chia cắt nhỏ cho con cháu. Càng về sau, nếu không bị bán đi thì từng mảnh đất nhỏ ấy được chia nhỏ manh múng thêm cho thế hệ kế tiếp. [ii]

  1. Tính cầu an, “người ta sao mình vậy”

Do ghét thay đổi trong cuộc sống nhiều chèn ép, đa số người Việt không thích bị chú ý và chấp nhận thua thiệt để yên thân. Sự lựa chọn “dĩ  hòa vi quý” lâu ngày thành cái thòng lọng vô hình siết mình để kẻ khác leo lên đầu mình. Khi sáng mắt thì đã muộn. [iii]

Sự nổi trội cá nhân như là điều tối kỵ trong một xã hội bảo thủ với nỗi sợ bị trù dập bao trùm. Vì thế người Việt hay chấp nhận “người ta sao mình vậy”. Nếu một đa số chấp nhận một điều dù sai trái thì số còn lại cũng phải bắt chước theo. [iv]

Khi gặp nguy, những người xung quanh trở nên thờ ơ không cứu giúp người bị nạn vì nhiều lý do khác nhau kể cả sợ trà thù, sợ liên lụy… Một xã hội vô cảm như thế giúp cái ác lộng hành và duy trì nhiều bất công khác khiến xã hội không tài nào phát triển nổi.

Chính từ đó, nhiều ý tưởng tích cực luôn bị phản bác bằng câu nói: “Có làm cũng chẳng được gì đâu ! Hơi sức đâu mà lo ! Làm chẳng tới đâu thì làm chi cho chúng ghét”.

Ngược lại với những hành động xấu thì nhiều người lại ủng hộ hết mình: “ Cứ làm, mình không làm thì thằng khác cũng làm”. Và hậu quả cho xã hội không ai lãnh trách nhiệm.  Xã hội như vậy coi được không ?

  1. Tính ỷ lại:

Sinh ra tại nơi được thiên nhiên ưu đãi, người dân ít lo lắng về cái ăn.  Nhất là đa số dân miền Nam khi sống trên bờ xôi ruộng mật lâu năm làm con người dù nghèo cũng không thèm tiết kiệm, không cần học hành nên có suy nghĩ “đói cơm không ai đói chữ”. Tệ nhậu nhẹt, cờ bạc không tránh khỏi. Các “công tử” chơi ngông đốt tiền làm thiên hạ đàm tiếu cũng không ít.

Ỷ vào sự trù phú của thiên nhiên mà ta đã thẳng tay khai thác bán cạn kiệt tài nguyên mà không nghĩ đến ngày mai. Để rồi lúc sáng mắt thì đã muộn trước những nước giàu láng giềng: Singapore, Đại Hàn đã từng nghèo tài nguyên hơn cả.

Ngay cả những người nghèo vẫn lạc quan dựa vào câu “không ai giàu ba họ, không ai khó 3 đời” để tự an ủi mình mà không cần tranh đấu thêm. Còn những người bị chèn ép lại tin vào thuyết nhân quả , hy vọng một ngày “trời có mắt” giải thoát mình mà không nghĩ tìm có một lối thoát cụ thể.

Với tâm lý thích làm quan để đổi đời đã sinh ra ý thức “một người làm quan, cả họ được nhờ” thể hiện tính thích nhờ cậy thế lực khác để thủ lợi cho mình. Khi luật lệ xã hội không minh bạch thì việc dựa vào giới chức quyền quen biết để đút lót thành một nếp xấu, ngay cả khi mình hợp lệ.

Thời chiến, việc phải nhờ cậy thế lực nước ngoài giúp đỡ quân sự là một sai lầm lớn kéo dài kèm theo hậu họa không nhỏ.

Thời bình, các nguồn viện trợ nhân đạo, nhất là từ nước ngoài, bị nhiều giới chức vô liêm sỉ sống bám vào để rút rỉa tư lợi. Việc ăn chận trên lòng từ thiện này đã bôi xấu uy tín và hình ảnh dân tộc.

Đến khi nước nguy ngập thì ai nấy chạy tan tác hết cả chỉ vì quá ỷ lại cái hiện có mà không rèn cán chỉnh quân phòng bị.

  1. Tính không dám nói thẳng, nói thực:

Một họa sĩ dí dỏm mô phỏng cách suy nghĩ  của người Âu và Á như sau (xem hình: bên trái: người Âu; bên phải: người Á) [v]

Cũng như  người Á có thể cười và che dấu bên trong đang giận dữ:

Với một đặc thù xã hội VN như trên đã nêu, các đặc điểm trên biến thái theo chiều hướng tiêu cực nhiều hơn, đặc biệt tại các vùng nghèo, có nhiều hiếp đáp. Sau này, hiện tượng di dân từ vùng nghèo sang vùng trù phú tiếp tục làm “hư” tính thành thực phóng khoáng vốn có của người bản xứ.

Do sợ sệt bị trù dập, do sợ mất lòng nhau, do không muốn gây thù oán.. người mình không dám thẳn thắn trình bày vấn đề súc tích mà ưa nói lòng vòng rào đón kỹ lưỡng …

…Người khôn đón trước rào sau

Để cho người dại biết đâu mà lần… (cadao)

…rào kỹ đến nỗi  tạo thành một hỏa mù gây nhiều ngộ nhận và người tiếp thu phải động não thêm để tự hiểu thực chất bên trong mà không dám thẳng thừng thắc mắc hỏi lại cho rõ.

Càng về sau này, tính ham lý sự “nói hay làm dở”được lạm dụng gây mất lòng tin trong xã hội. Bắt nguồn từ những mỹ từ mà các chính trị gia dùng để tuyên bố mỵ dân, các kỹ năng lý luận ngụy biện ăn sâu vào trong khoa học kỹ thuật, giáo dục.. để rồi không còn ai tin tưởng để giúp mình cũng như giúp nhau tiến bộ nữa.  [vi]

Tệ hơn nữa là người mình nay bị mang tiếng “nói một đàng, làm một nẻo”.[vii]

Đã nói không thật thì niềm tin giữa người Việt với nhau đã mất, khó mà hợp sức nhau làm đại sự được nữa.

  1. Kỳ thị vùng, miền, lý lịch:

Việc phân chia thành nhiều vùng để dể quản lý và cai trị là chuyện bắt buộc. Tuy nhiên, khi nước Việt trài dài từ Bắc xuống Nam với hai lần phân chia Nam-Bắc, nhiều cuộc chiến tương tàn khơi sâu chia rẽ con người.

Việc chia VN thành ba  kỳ để cai trị có từ thời Minh Mạng đặt ra từ 1832 nhưng đa số vẫn ngộ nhận cho rằng chính người Pháp đã đề xướng để chia rẽ người Việt.

Trong xã hội nhiều băng hoại, hố sâu kỳ thị gia tăng khi có một cá nhân hay tập thể làm bậy làm mang tiếng cả cộng đồng.

Cũng từ đó, nạn bè phái, phe nhóm đấu đá giành ăn nhau trong xã hội đã phá thối nhau làm hỏng cả đại cuộc.

Chúng ta đồng ý trong các lĩnh vực: an ninh, quốc phòng nên có một quy chế về mức độ an ninh trong lý lịch. Nhưng do hận thù vì tranh chấp ý thức hệ sau bao nhiêu năm chiến tranh đã sinh ra tệ phân biệt đối xử trên nền tảng lý lịch con người trong cả những lĩnh vực dân sự. Điển hình là trong thi tuyển đại học, quy chế “nhóm ưu tiên” là một bất công kéo dài trong tuyển dụng nhân tài [viii]. Việc này vi phạm điều 2 của luật Nhân Quyền. [ix] Một di hại khó lường.

Khi tài năng bị coi rẻ và bản thân bị phân biệt đối xử, nhiều nhân tài bỏ nước ra đi hay tìm việc ở các hảng xưởng nước ngoài (biết dùng người và trả lương cao) là tất yếu. Chảy máu chất xám là một thiệt hại lớn không thuộc về bất cứ nơi nào.

  1. Dễ tự ái mà không chịu xét lại mình:

Người mình đa số không dám nhìn nhận thấu đáo sự việc và ít chấp nhận sự thật. Chuyện nói ngang đổ thừa vì “lý do khách quan” đi kèm “kiểm điểm rút kinh nghiệm” xảy ra như cơm bữa mà đến nay chưa từng thấy tiến bộ nào cho ra hồn.

Trước những phản biện, phê bình lỗi nhẹ thì tạm không sao, gặp lỗi nặng thì luôn có những chỉ trích ngược là “Xuyên tạc nói xấu, không có tính xây dựng,…”; nặng hơn nữa là chụp mũ người nói lên sự thật một tội nào đó để bưng bít sự thật.

Từ đó mà sau những phê bình, sửa sai, thì  người trung thực là nạn nhân chính bên cạnh vài con dê tế thần thế thân cho cấp sai phạm.  Kẻ trên tự hào mình luôn đúng, người dưới mong được lòng cấp trên nên đã  phải bợ đỡ “ủ bệnh” các sai trái đến khi hậu quả xảy ra thì “thầy đổ tớ, tớ đổ thầy” không ai đứng ra giải quyết hậu quả.

Cái tự tôn, bảo thủ người Việt quá cao sinh ra máu tự ái vô cớ mà nhiều người sẵn sàng ngụy biện  tới cùng. Theo sau những phê bình không được tiếp thu sáng suốt là một phản ứng trà đũa và ngoan cố làm cho “lợi gan” gây nhiều bước lùi và hậu quả khó lường.

Ngay bài viết này cũng đã tiên đoán số phận của nó sẽ bị công kích từ chính những người quen biết của tác giả trước tiên.


[i]  Nhiều tác giả đã viết về cái dở của người Việt: Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Chu Trinh, Nguyễn Gia Kiểng, Lê Thị Huệ, ..v..v..

[ii] Trong khi đó, bên Tây phương, những khu đất, lâu đài rộng lớn vẫn tồn tại hàng trăm năm do họ biết cách giao người quản lý và chia chác huê lợi hợp lý cho con cháu, và nhất là nhờ việc ai cũng biết tôn trọng giá trị nguyên vẹn của những gì đã có.

[iii]  Như câu chuyện cổ tích: “Người Ả rập và con lạc đà”:

Trời gió rét trong sa mạc, con lạc đà xin người chủ cho nó đưa cái đầu vào lều cho ấm. Người chủ đồng ý. Lát sau con lạc đà xin đưa 2 chân trước vào. Cũng được chủ đồng ý. Kế tiếp nó xin đưa thêm hay chân sau vào lều… Cuối cùng, nó bảo lều chật không đủ cho cả hai cùng ở và nó đẩy hẳn người chủ ra ngoài trời gió lạnh.

[iv]  Một chuyện nhỏ tôi chứng kiến là năm nọ, trong một trường đại học, lúc làm bài ra trường, thấy một anh cúng ông Địa trước khi “khai bút” làm bài thì nhiều anh khác cũng đống loạt bắt chước lập bàn thờ cúng ông Địa cho yên tâm với lý luận “có kiêng, có lành”.

[vi]  Người mình ưa theo nguyên tắc “đẹp khoe, xấu che” không cho kẻ dưới nói thật những khuyết điểm mình cho người khác biết dù là nó cần thiết để được giúp đỡ. Nhiều người ngụy biện đó là “chuyện nội bộ, cấm người ngoài can thiệp” để ém những cái bậy mà mình đã gây ra.

[vii]  Có câu nói tiếu lâm như sau:

Cả thế giới phải sợ người Mỹ vì người Mỹ đã nói là làm.

Người Mỹ lại sợ người Nhật vì người Nhật làm xong mới nói.

Người Nhật sợ người Trung Quốc, vì người Trung Quốc không nói cũng làm.

Người Trung Quốc sợ người VN, vì người VN nói một đằng làm một nẻo, bố ai biết đâu mà lần”.

[viii]  Bên cạnh những ưu tiên cho con cháu những “công thần”, các nhóm ưu tiên cuối sổ gồm những cá nhân có gia đình đi nước ngoài, hay đi đang tù. Và tệ hơn hết khi mà lý lịch có ghi: “Cá nhân đã từng tham gia chế độ cũ”. Đó là chưa kể luật bất thành văn phân biệt đối xử với người có tôn giáo.

[ix] Điều 2: Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác.

Ngoài ra không được phân biệt về quy chế chính trị, pháp lý hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà người đó trực thuộc, dù là nước độc lập, bị giám hộ, mất chủ quyền hay bị hạn chế chủ quyền.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s