About tamcominh

...

Hịch làng Kiến

Hịch làng Kiến.

 

Ta thường nghe:

Imotep tài năng tuyệt đỉnh khiến được Ai Cập phong thần.

Kiến Tổ thời Hy-La đã để lại các công trình bất tử mà nay Kiến ta vẫn phải luôn học hỏi.

 

Xưa nay các Kiến vô danh đã quên mình tạo ra nhiều công trình để đời thì thời nào chẳng có ? Nếu họ khư khư sống hưởng thụ, đam mê tửu sắc thì đến chết cũng chẵng được một tác phẩm nào, làm gì được lưu danh trong Kiến sử ?

 

Các Kiến vốn là:

Những kẻ hậu sinh, từ nhỏ quay cuống học thêm theo bài mẫu nên riết sợ đọc sách, khi nghe ta kể thì nửa tin nửa ngờ, ngơ ngác như Từ Thức rời cõi thiên thai.

 

Thôi chuyện xưa thế giới không dám lộn bàn. Nay ta lấy Sử nhà trước mắt mà nói:

Nguyễn An là người thế nào mà Tử Cấm Thành Bắc Kinh ai thấy cũng đều thán phục ?

Đào Duy Từ tài năng ra sao mà bước Nam tiến của Chúa Trịnh phải bị triệt trước Lũy Trường Dục ?

Đinh Công Tráng có học quy hoạch không mà chiến lũy Ba Đình dám ngang ngửa với hỏa lực địch mười lần mạnh hơn ?

Hòn Ngọc Viễn Đông văn minh ra sao mà lân bang từng thèm thuồng mơ ước ?

Đó là những vết son lịch sử đến ngày nay nghe lại vừa tự hào vừa luyến tiếc !

Những người ấy hỏi ai có bằng cấp như ngày nay ? Ai có chứng chỉ hành nghề qua sát hạch ? Ai được học hành và nếm mùi đóng tiền trả nợ đồ án như các Kiến ngày nay ?

Kiến nào chứng minh họ đạt đủ ba điều kiện này thì ta thề xé bằng, từ bỏ làng Kiến cho khỏi chật đất.

 

Huống chi:

Ta cùng làng Kiến vốn dòng chính quy,

Sinh ra vào thời bát nháo,

Lớn lên gặp buổi bon chen.

Lén nhìn đô thị tan hoang với những công trình dị hợm với các chi tiết lố lăng băm nát bộ mặt đô thị;

Nghe chủ đầu tư nào cũng chém gió khoe công trình mình là điểm nhấn đặc trưng đô thị hiện đại; với chứng chỉ “xanh” hoành tráng;

 

Vậy mà:

Không gian xanh trụi lủi;

Mùa nắng thì nóng như cái lò;

Mùa mưa bì bỏm sình lấy rác rưởi.

Khác nào một nồi lẩu tạp, húp vào chỉ tổ mang bạo bệnh về sau.
Ta thường tới bữa binh bài, cả đêm thức trắng, đầu như búa bổ, xé chục tờ calque, đau lưng mỏi gối quậy cỏ cùng ne..  chỉ giận chưa có ý hay đột phá để thuyết phục khách hàng. Dẫu cho sự nghiệp thành công duy nhất một công trình để đời thì dù phải giải nghệ sau đó ta cũng nguyện xin làm.

Nay thì các Kiến:

Sống trong thời đại công nghệ thông tin,

Muốn tìm thì search Google,

Muốn xem thì vào Youtube,

muốn làm quen thì vào Facebook,

muốn mua thì đặt Amazon.

Phương thiện học hỏi thiếu gì, đâu chỉ học ở trường là đủ ?

Non tay thì có đàn anh hổ trợ,

Sarết thì có ne vẽ giúp.

Có công trình thì cùng hợp tác.

Lúc rảnh rỗi thì chén thù chén tạc.

So với các nghề khác thì nghề Kiến cũng cao quý sang cả, nào có kém gì ?

 

Nay các Kiến:

Nhìn chất lượng đào tạo mà không biết lo,

Nghe hiệu trưởng trường ta tuyên bố “tui không quan tâm đến giá trị bằng cấp các anh” mà không biết thẹn.

Làm dưới trướng của xếp “tiền nhiều hơn chữ” mà không biết tức.

Bị quịt tiền mãi mà không biết căm.

 

Khổ thay:

Có Kiến lấy cà phê thuốc là làm vui.

Có Kiến đi nhậu lấy cớ là “đi bắt công trình” làm thói quen.

Có Kiến trùm chăn cho bản thân mình bất chấp quyền lợi cộng đồng.

Có Kiến chuyên nổ chém gió dụ thân chủ ký hợp đồng xong rồi tới đâu thì tới.

Có Kiến bỏ nghề đi làm cò chia chác phần trăm kể cả bán đứng anh em coi danh dự thua cái e-kê thâm sì móp méo ! …

 

Nay bất ngở có luật mới đưa ra làm khó cho Kiến thì:

Cà phê, thuốc lá, rượu bia không đủ để làm quên đi thực tại;

Chạy chọt cho cá nhân không thể làm lợi cho cộng đồng;

Tiền phần trăm không bao giờ giúp yên thân lâu dài.

 

Lúc này sáng mắt đã muộn:

Kẻ không có chứng chỉ hành nghề ra luật thì lại ra thông tư triệt đường làm ăn của Kiến.

Kiến đi học có bằng thì cũng chỉ xây nhà cấp bốn, không chứng chỉ thì bằng cũng vất đi.

Kiến có chứng chỉ thì sau 5 năm cũng reset lại số không.

Thế là Kiến già Kiến trẻ thành lứa cá mè đi thi sát hạch, đề thi sai đậu rớt khó lường.

Kiến thầy bị đứa đáng hàng con cháu hoạnh họe hồ sơ.

Kiến trò còn bị chửi trọc đầu không còn cọng tóc.

Thân Kiến mang danh cao quý mà chạy thủ tục bằng đầu gối nay có dám ngẩng mặt với đời chăng ?
Nay ta bảo các Kiến:

Nên lấy việc “đừng vì lợi nhỏ mà chuốc cái hại lâu dài” để làm nguy,

Lấy điều “Hợp quần là sức mạnh” để làm trọng.

Phải giữ lấy lương tâm đạo đức nghề nghiệp;

Tự mình trau dồi ý tưởng, rèn luyện tay nghề cho ai ai cũng tinh xảo, người người đều ý tưởng dồi dào.

Biết đoàn kết bảo vệ quyền lợi nhau thay vì phá giá giành ăn chơi xấu.

 

Như thế:

Chẳng những thiết kế phí của Kiến sẽ không bị chèn ép,

Nghề Kiến được bảo vệ và tôn trọng,

Dự án không bị Kiến ngoại giành mất,

Tác phẩm của Kiến được hãnh diện để đời làm chuẩn mực.

Lúc bấy giờ làng Kiến không muốn ngẩng cao đầu phỏng có được chăng ?

 

Bậc thầy làng Kiến đã dày công chọn lọc những tài liệu thiết yếu cho các Kiến từ những năm học đầu tiên. Nếu các Kiến chịu khó học hỏi, theo lời các thầy, thì có ngày thành đạt danh tiếng muôn đời, nhược bằng khinh bỏ các tài liệu này, trái lời thầy Kiến dạy bảo thì nên biết thân mà làm nghề khác.

Cho nên ta viết bài hịch này để các Kiến hiểu rõ bụng ta.

 

Kiến Lửa 2-12-2017  

(Gần sáng khó ngủ nảy ra ý nên viết vội để lưu lại – Chỉnh sửa ngày 10-12-2017)

Advertisements

THỜI GIAN BỊ ĐÁNH MẤT

Thời gian bị đánh mất – KTS Cổ Mình Tâm.

Trong công tác XD cũng như nhiều hoạt động khác, hiện nay còn nhiều những sự việc không hợp lý gây lãng phí thời gian tiền bạc lẫn công sức. Với nghề kiến trúc thì chúng ngăn cản sự sáng tạo và khiến KTS miễn cưỡng lo việc ngoài lề kiểu “đối phó-chụp giựt”.  Xin nói lên những khó khăn mà người làm nghề thiết kế xây dựng hay gặp, thậm chí buộc lòng phải tiếp tay với tiêu cực cho mau qua chuyện.

  1. Đòi hỏi quá đáng, thậm chí vô lý của chủ đầu tư:

Như từng viết trước đây, đa số chủ đầu tư có thói quen yêu cầu KTS thiết kế thêm vài ba phương án khác để chọn lựa. Với một sản phẩm trí tuệ đã đổ nhiều tâm huyết vào thì việc nặn ra những phương án chọn có tính miễn cưỡng để đối phó là chính với chất lượng thua hẳn phương án duy nhất. Và KTS luôn mất thời gian để vẽ những thứ thừa ấy.Nguy hại hơn, tôi từng chứng kiến chủ đầu tư bắt thiết kế làm trọn một bộ hồ sơ gần như hoàn chỉnh; sau đó vì tình hình kinh tế biến động, chủ đầu tư lại yêu cầu chỉnh sửa lại trọn bộ nhiều lần (tùy theo nhu cầu thời vụ của chủ đầu tư). Do sợ mất khách mà KTS phải chịu trận mà chìu khách khi đã lỡ “phóng theo lao” mà không dám đòi hỏi một phát sinh nào [1]. Có chủ đầu tư động tý bắt tư vấn phải bỏ tiền tàu xe đích thân đi họp theo yêu cầu (thường ngoài thỏa thuận của hợp đồng cũng như “đột xuất” liên tục)

Đặc biệt những thay đổi thiết kế theo ý chủ đầu tư trong quá trình thi công đã làm nản lòng  bên thiết kế, tất nhiên chất lượng công trình giảm đi nhiều.

  1. “Học bài” để sát hạch CCHN:

Việc ép buộc KTS cũng như những người làm công tác xây dựng khác phảihọc thuộc lòng những thứ không cần học thuộc là việc vô lý đã từng bàn trước đây. Nay tạm gác để nêu tiếp những yếu tố khác.

  1. Xoay quanh việc “con người- con dấu”
    1. Đóng dấu ký tên bản vẽ:

Cho đến nay bản vẽ thiết kế được giảm tải chỉ dừng tại việc chấp nhận chữ ký scan dán trên bản vẽ. Một phần đã giúp những người liên quan đến dự án (luôn cả giám đốc) không phải bỏ hàng giờ thay phiên ký “tươi” trên từng trang sau khi photo ra 5-7 bộ (thậm chí có lúc lên đến 13 bộ như tui từng chứng kiến !).

Sau đó, là quy trình đóng dấu “tươi” trên từng trang bản vẽ của các bên liên quan buộc hồ sơ được đóng gói gởi sang các công ty bạn trước khi đến tay chủ đầu tư. Và, chủ đầu tư cũng không thoát cảnh đóng dấu từng trang bản vẽ theo đúng thủ tục. Việc này tốn kém mọi mặt lẫn rủi ro hư hỏng do qua nhiều chặng.

Chưa kể còn thêm dấu thẩm định của các cơ quan chức năng.

Tất cả đều đổ thừa quy định bắt buộc phải thế !

Tại sao chúng ta không cho đóng dấu tươi của các bên một bộ gốc, sau đó photo ra tùy nhu cầu, kèm theo cd/dvd (chứa file gốc) để phân phát cho các bên liên quan ?Dù ai có gian ý muốn sửa đổi hồ sơ cũng không dám thực hiện do các bên đều có hô sơ như nhau để đối chiếu khi cần. Và bản gốc được giao chủ đầu tư lưu giữ sau cùng.

Sao không công nhận dấu giáp lai trên bản vẽ như cách áp dụng dấu giáp lại trên các công văn ?

  1. Xác nhận thủ tục giấy tờ:

Không đâu quan trọng con dấu như ở nước ta. Thêm hiện nay, bằng giả, chứng chỉ “chạy”, giấy tờ “ma” , đường dây “chạy chứng chỉ” đâu cũng có và công khai tiếp thị đường dây trên internet, thách thức pháp luật. Nguyên do lâu nay là sự trung thực của con người suy giảm do giáo dục suy đồi nên “không ai tin ai”. Và từ đó đòi hỏi một phương tiện khác để phần nào bảo đảm sự tin cậy. Rất nhiều giải pháp ngăn chận nhưng vô hiệu do luật thiếu tính răn đe. Và trò rượt đuổi kiểu đèn cù để đối phó của các bên dây dưa không dứt. Cuối cùng con dấu xác nhận là giải pháp “tạm thời nhưng lâu dài” nhằm quản lý sự trung thực của con người. Đó là về mặt lý thuyết.

Nhưng thực tế sinh ra rào cản mới phức tạp hóa vấn đề. Cụ thể việc làm bản khai kinh nghiệm, cũng như làm hồ sơ các loại, nảy sinh nhiều rắc rối buộc người trong cuộc phải bỏ tiền mà “chạy”. Đại đa số những người làm nghề xây dựng đi làm thuê từng bị đòi hỏi trình ra những hồ sơ , mà theo tinh thần TT17 gần đây, như sau:

  • Trình hợp đồng công trình đã thực hiện.(Theo đòi hỏi của TT17)
  • Biên bản phân công công việc. (Theo đòi hỏi của TT17)

Nói chung phải có những giấy tờ chứng minh những công trình đã thực hiện trước đây, kể cả chữ ký và con dấu xác nhận của công ty chủ quản. [2]

Ngoài việc có nguy cơ làm lộ bí mật khách hàng (theo tinh thần luật xây dựng đang soạn thảo khi phải trình hợp đồng), người làm nghề xây dựng làm thuê luôn gặp những rắc rối tạm liệt kê như sau:

  • Công ty cũ không ai rảnh lục lại hồ sơ cũng như làm giấy xác nhận đóng dấu cho những người cũ (đã ra đi, nay quay lại nhờ vả) có nhu cầu. Nếu ai từng có tranh chấp bất đồng với công ty cũ trước đây thì càng kẹt.
  • Hồ sơ lâu ngày bị công ty cũ làm thất lạc.
  • Do công ty cũ giải thể hay phá sản.
  • Hồ sơ là tài sản riêng/bímật của công ty đó không được chép tùy tiện.
  • Riêng biên bản phân công công tác kèm dấu công ty càng không có vì hiện nay làm việc qua email là chính, ngoại trừ nếu ai muốn ngụy tạo làm giả để nộp theo thủ tục.

Trong khi đó, những người làm tự do lại không cần có chữ ký con dấu của cơ quan chủ quản. Người nước ngoài làm thủ tục lại đơn giản hơn người trong nước. Chỉ khác nhau cái con dấu trong cùng một mục đích nộp hồ sơ!

Khác với nước ngoài, ta chưa biết coi trọng và tin tưởng các thư giới thiệu hay xác nhận kèm chữ ký của người giới thiệu dù có người đó có uy tín. Không có con dấu, thư càng không có giá trị ! Ai dù bất tài, miễn có bằng cấp le lói (có dấu) đều được trọng dụng cất nhắc trong khi những người thực tài luôn bị coi thường dù có nhiều kinh nghiệm. Con dấu vô hồn hiện chi phối mọi thứ của con người.

  1. Làm những thứ lặp lại không cần thiết:

Trong các dự án lớn mà những việc dưới đây như là những việc làm lại hai lần mất thời gian vô ích thậm chí còn mang lại rủi ro bị phạt oan uổng.

  1. Quy trình bảo trì:

Nghị định 46/2015/NĐ-CP, điều 38.2a có yêu cầu nhà thầu thiết kế xây dựng công trình phải nộp quy trình bảo trì cho chủ đầu tư. Từ đó gần như đánh đồng khập khễnh giữa nhà thiết kế (designer) với nhà cung cấp/sản xuất supplier/manufacturer). Thực tếchuyên môn của tư vấn thiết kế trong việc này không thể hơn nhà thầu, càng không hơn nhà cung cấp/sản xuất thiết bị về mặt bảo trì thiết bị/sản phẩm. Do đó quy trình bảo trì của tư vấn thiết kế in ra chỉ đối phó với luật mà chủ đầu tư cũng không dùng đến.

Điều 38.4 còn nêu: “Trường hợp có tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo trì hoặc có quy trình bảo trì của công trình tương tự phù hợp thì chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng công trình có thể áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc quy trình đó cho công trình mà không cần lập quy trình bảo trì riêng”, Việc này cho thấy ta có thể “copy” quy trình bảo trì khác để nộp vì cách bảo trì công trình thông thường gần như giống nhau (có chăng khác nhau về thiết bị của từng nhà cung cấp/sản xuất). Như vậy, việc bắt buộc nộp quy trình bảo trì nên xét lại.

Hơn nữa nội dung bảo trì mức thông thường (viết theo khả năng/phạm vi của bên thiết kế) đã sẵn trong đăc tính kỹ thuật (specifications). Nhưng tư vấn vẫn phải “tách lọc” toàn bộ chương bảo trì từ đặc tính kỹ thuật để làm ra quy trình bảo trì thêm lần nữa !

  1. Danh sách tiêu chuẩn áp dụng:

Nên quan niệm việc áp dụng TCVN tại VN là đương nhiên như mức tối thiểu bắt buộc và không cần phải viết lại. (Trừ trường hợp đề xuất tiêu chuẩn cao hơn TCVN thông thường hay tiêu chuẩn nước ngoài được trình chủ đầu tư duyệt trước khi áp dụng). Đàng này, nhiều dự án đòi hỏi tư vấn thiết kế phải bỏ thời gian lục lọi và liệt kê một danh sách tiêu chuẩn dài (kể cả những tiêu chuẩn khác thuộc về phần nhà thầuthi công, khảo sát, thí nghiệm…). Tất nhiên không tư vấn nào có thểnắm hết hoàn toàn [3], vì đa số ngoài phạm vi chuyên môncủa mình nên viết sai là bình thường (do tiêu chuẩn mới thay thế mà không hay). Tuy không gây hậu quả cho công trình nhưng với nghị định 121/2013/NĐ-CP thì nguy cơ bị phạt (theo (điều 9, 16, 23,..) là không tránh khỏivi phạm điều 83.3 luật Xây Dựng 2014 (lý do “áp dụng sai tiêu chuẩn”) dù cái sai  này “nằm trên giấy”và không hề gây thiệt hại cũng như chẳng có hậu quả nào để khắc phục. [4]

Từ đó, tư vấn không thể tránh những khoảng phạt (theo 121/2013/NĐ-CP) không đáng (điều 26.2c, 26.3b, 26.3đ, 26.3e)[5]

Và từ những lỗi nhỏ trên, chứng chỉ hành nghề của chủ nhiệm/chủ trì sẽ bị tước (Điều 26.4) dù do lỗi từ những người cấp dưới thực hiện (dù họ cũng có chứng chỉ hành nghề chuyên môn riêng). Mà mức độ vi phạm hiện chưa quy định cụ thể[6] và từ đó có nguy cơ sinh tiêu cực khi người ra quyết định xử phạt tùy tiện quyết định.

 

Trên đây là những liệt kê không đầy đủ những tồn tại buộc KTS cũng như nhiều người làm công tác xây dựng bị mất thời gian chuyên môn và từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng chung mà ít ai truy tìm tận gốc các nguyên nhân.

“Công cụ sản xuất thay đổi dẫn đến quan hệ sản xuất thay đổi”. Do vậy, trước nhiều phương tiện làm việc hiện đại (thông tin, lưu trữ…kỹ thuật số), thì những quy định, luật lệ và cách quản lý buộc phải thay đổi cho phù hợp và đồng bộ hơn thay vì duy trì theo cách lạc hậu hiện nay..

 

(điều chỉnh ngày 21-9-2017)

[1]  Lần nọ, tính đến ngày bên thiết kế phá sản, số phương án thiết kế đã lên gần 10 phương án !

[2] Xem thêm sự khác biệt trong thủ tục nộp hồ sơ giữa người nước ngoài, người hành nghề độc lập và người làm thuê theo TT17:

 

  Người

làm thuê

Người

làm tự do

Người

nước ngoài

Đơn xin cấp/đổi CCHN
Chứng chỉ cũ(nếu cấp lại) hay văn bằng liên quan Có (dịch và công chứng)
Hợp đồng công trình đã làm, hay văn bản phân công công việc Không
File mềm các hồ sơ trên Không
Bản khai kinh nghiệm Có xác nhận của cơ quan chủ quản Không cần xác nhận Không  cần xác nhận
Giấy phép lao động Không Không Có thể thay bằng bản sao cư trú

 

 

 

[3]Nhiều trường hợp tiêu chuẩn mới và cũ vẫn còn nhiều điều khoản giống nhau  nên không hề có sự khác biệt đến thực tế công việc.

[4]Có trường hợp công trình đã hoàn thành tốt đẹp,nhưng tư vấn bị “yêu cầu chấm dứt ngay hành vi vi phạm” (do chỉ viết nhầm một vài tiêu chuẩn cũ) thì phải làm sao ?

 

[5]Điều 26.2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

  1. c) Lập chỉ dẫn kỹ thuật không tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn áp dụng cho công trình; thiết kế an toàn quá mức quy định đối với công trình sử dụng vốn nhà nước;

Điều 26.3. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

  1. b) Lập quy trình bảo trì không đúng quy định;

đ) Không sử dụng thiết kế mẫu, thiết kế điển hình đối với công trình theo quy định phải sử dụng;

  1. e) Thiết kế không tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn được áp dụng cho công trình.

 

[6]Điều 26.4. Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề từ 6 tháng đến 12 tháng của chủ nhiệm, chủ trì thiết kế tùy theo mức độ vi phạm.

 

Nguyên nhân KTS / nhà thầu bị mất tiền.

Nguyên nhân KTS / nhà thầu bị mất tiền.

Cám ơn sự góp ý của các đồng nghiệp sáng ngày 19-3-2017) – KTS Cổ Minh Tâm. (19-3-2017)

Được tóm tắt hai hình thức:

 

  • Trực tiếp:
    • Khách hàng/chủ thuê (gọi là bên A) giựt tiền dưới mọi hình thức (tiền lương, thù lao, giờ làm, bảo hiểm…).
    • Thủ tục kiểm toán[1].
  • Gián tiếp: làm tăng chi phí làm việc của KTS/nhà thầu mà khó liệt kê để được hoàn trả. (không kể việc do quản lý chi phí lỏng lẻo)
    • Do cơ chế, thủ tục.[2]
    • Do đòi hỏi quá đáng của bên A trong quá trình làm việc[3]: Có lúc trật quy trình. [4]

 

Nguyên nhân từ các bên: không kể đến nguyên nhân bất khả kháng: thiên tai, hỏa hoạn… 

  1. KTS/nhà thầu: (thường gọi là bên B)
    1. Không nắm hết các luật có liên quan [5],
    2. Do cần việc làm[6], phải chấp nhận mọi điều kiện của bên A [7].
    3. Hợp đồng làm việc không chặt chẽ.
    4. Làm việc thiếu giấy tờ, chứng từ [8] , có thói quen làm việc kiểu “gia đình, tin tưởng nhau.”
    5. Chưa ý thức được sự hổ trợ lẫn nhau giữa các đồng nghiệp [9].
    6. Có tính xí xòa bỏ qua và không chịu giải quyết tới cùng tranh chấp dù là chỉ lên tiếng. [10]
    7. Nhắm mắt chìu ý bên A mà không nghĩ đến hậu quả sau đó.
    8. Đối với KTS, ít ai nghĩ việc lấy trước phí concept ban đầu.[11]
    9. Đối với nhà thầu: do thông đồng giữa nhân viên cấp dưới của các bên..[12]
    10. Việc rò rỉ bán thông tin liên quan đến hồ sơ thầu/giá thầu.
    11. Bị bộ phận marketing “hai mang” bán đứng. [13]
    12. Những điều khoản hợp đồng dưới dạng “outsource” hay dẫn đến mất tiền kiểu dây chuyền.[14]
    13. Tự ái không dám phổ biến chi sẻ cho đông nghiệp những rủi ro mình từng gặp.
  1. Chủ đầu tư/chủ thuê (bên A):
    1. Vị phạm luật lao động, bảo hiểm, thuế. (xem thêm 1a)
    2. Nhập nhằng vai trò giữa bên A và B. [15]
    3. Tệ nan “lại quả phần trăm” mà bên B phải trích ra mà vẫn phải chịu thuế.
    4. Đòi hỏi “khuyến mãi”. [16]
    5. Hứa hẹn giao thêm dự án khác để ép giá dự án hiện hữu.
    6. Ép tư vấn khia triển chi tiết từng phương án để chọn (dù không sử dụng).
    7. Lấy không concept của người này đưa cho người khác làm tiếp.[17]
    8. Khái niệm “làm việc bàn bạc với bên B” bị đánh tráo với khái niệm “bên A thiết kế thay cho bên B trong quá trình làm việc”.
    9. Hối thúc dự án khiến bên B làm không kịp để lấy cớ cắt hợp đồng.
    10. Chủ đầu tư tự ý lùi ngày ký hợp đồng để đạt chỉ tiêu, thành tích khiến bên B bị vi phạm trễ hợp đồng.[18]
  1. Thủ tục: ảnh hưởng nặng đến thời gian và chi phí.
    1. Thủ tục luôn thay đồi: bên B phải đối phó, ảnh hưởng thời gian/chi phí.
    2. Thủ tục chồng chéo: Các bên phải chờ cơ quan chức năng hướng dẫn.
    3. Thủ tục rườm rà:
      1. Photo hồ sơ quá nhiều với dấu và chữ ký tươi.
      2. Nhiều hồ sơ tính toán háng ngàn trang phải in ra thay vì nộp cd.
  • Với dự án nước ngoài, các kết quả tính toán với phần mềm tiếng Anh, việc dịch hồ sơ gây lãng phí / không khả thi. [19]
  1. Khoản in ấn hồ sơ chưa được cải tiến bằng cách nộp một bản gốc kèm cd (cho bên A) và cd các bên liên quan nhằm đơn giản hóa theo công nghệ hiện đại, [20]
  1. Nghị định 46/2015/NĐ-CP (12.5-2015) yêu cầu tư vấn lập quy trình bảo trì.[21] (thực tế chỉ nộp cho có) – chủ đầu tư có thể dựa vào để trừ tiền tư vấn.
  2. Hệ thống thông tin chưa được số hóa và công khai trên mạng khiến hồ sơ phải nộp lặp lại nhiều lần.[22]
  3. Gần đây, thủ tục chứng chỉ hành nghề / năng lực bất hợp lý làm đình trệ công việc các bên kể cả bên A. (Nghị định 59/2015.NĐ-CP và thông tư 17/2016/TT-BXD)
  1. Thanh tra /Kiểm toán: Phạt trừ tiền thường như sau:
    1. Dựa trên kẻ hở câu chữ trong hợp đồng.[23]
    2. Dựa trên sự sơ suất của các bên trong giấy tờ các loại.[24]
    3. Dựa trên sự rối ren khi đổi luật lệ / thủ tục trong giai đoạn thực hiện hợp đồng.
    4. Bắt bẻ câu chữ để suy diễn ra lỗi.
    5. Bám vào sự khác biệt giữa bảng khôi lượng sơ bộ (chưa chính xác) của tư vấn thiết kế và (thay vì) bảng dự toán chi tiết do chuyên gia lập (chính xác hơn và có giá trị sau cùng).
    6. Bắt lỗi do lê khai thiếu tiêu chuẩn áp dụng (kể cả việc viết tiêu chuẩn áp dụng đã bị bãi bõ từ lâu – dù thực tế áp dụng giữa tiêu chuẩn mới cũ không có sự khác biệt trong trường hợp cụ thể)
    7. Kiểm toán sau khi công trình sử dụng nhiều năm khi không ai còn nhớ hồ sơ.[25]

Những lỗi không nghiêm trọng vẫn bị xử phạt nặng và chủ trì/chủ nhiệm bị tước chứng chỉ hành nghề 6-12 tháng một cách vô lý và không đáng. (xem thêm 121/2013/NĐ-CP ngày 10-10-2013, điều 26 và những điều khác). Việc này dẫn đến nguy cơ phá sản và mất việc công ty hay nhiều người có liên quan đến đương sự.

[1] Bắt KTS/nhà thầu phải hoàn tiền đã nhận, hay đóng phạt do sơ xuất không đáng. 

[2] Do thay đổi luật lệ khiến KT/nhà thầu tốn chi phí và thời gian làm thủ tục/ giấy phép các loại. (Kể cả chi phí bảo hiểm, công đoàn, ). Thời gian xử lý hồ sơ theo thủ tục: In ấn, photo, ký tên, đóng dấu…. cũng làm tăng chi phí không tránh khỏi.Ngoài ra, thủ tục mới thay đổ liên tục khiến mọi người mất thêm thì giờ nghiên cứu, kiểm tra, điều chỉnh.

[3] Thì dụ:

  • Yêu cầu ra nhiều phương án và sửa nhiều lần ngoài mức yêu cầu.
  • Bắt in ấn hồ sơ và gửi đi nhiều hơn yêu cầu.
  • Yêu cầu đi lại họp hành dù thật sự không cần thiết.
  • Đòi hỏi thử nghiệm quá mức cần thiết. (Nhiều trướng hợp hợp đồng quy định “nhà thầu phải tiến hành thử nghiệm mà không đòi thêm chi phí khi cần kiểm tra độ an toàn”. Và chủ đầu tư lợi dụng việc này để bắt thì nghiệm tùy tiện làm tăng chí phí).

[4] Thì dụ: yêu cầu bên B trình phối cảnh / mô hình trước khi đưa ra mặt bằng công năng. Chi phí thuê người thực hiện và phần mềm chuyên ngành thuộc về bên B mà không thể tính phí.

Mặt khác, mô hình và phối cảnh là dao hai lưỡi. Bên A có thể lấy cớ công trình hoàn thành không giống với phối cảnh / mô hình đã trình để quỵt tiền.

[5]  Làm tư vấn /  nhà thầu không theo dõi kịp các thay đổi của thủ tục luật lệ trong quá trình làm việc. (Xưa nay chưa thấy rõ vai trò luật sư tham gia những việc trên trong các công ty thiết kế xây dưng)

Đối với các KTS làm thuê, cần nắm rõ thêm:

  • Luật lao động, (Bộ lao động – thương binh – xã hội)
  • Bảo hiểm y tế/xã hội,
  • Luật công đoàn, (Liên đoàn lao động)
  • Kể cả luật thuế thu nhập cá nhân. (cơ quan thuế)

Khi có tranh chấp, đơn kiện nên gởi đồng loạt đến các cơ quan trên nhằm có sự phản ứng đồng bộ khiến bên A không kịp phản ứng.

[6] Các viện cớ sai lầm thông thường:

  • Mình không làm người khác cũng làm.
  • Phải tìm việc cho lính làm. Sợ chúng bỏ đi.
  • Thà có việc hơn ngồi không (dù rằng có việc sẽ lỗ nặng hơn)
  • Phải chịu lỗ lấy tiếng cho dự án sau. (…)

[7] Thường gặp:

  • Bên A có toàn quyền dùng phương án dự thi (sau khi trả chi phí rẻ mạt cho mỗi phương án trình dự thi)
  • Bên A chỉ trà tiền khi đã đồng ý phương án.
  • Bên A chỉ trả tiền khi công trình có phép xây dựng.
  • Bên A không trả tiền do không thực hiện dự án (…)

Đề phòng những lý do bên A kiếm cớ bắt bên B đóng phạt (lưu ý trong hợp đồng), chẳng hạn bắt lỗi:

  • Thiếu người thực hiện dự án theo yêu cầu. (dù đó là vắng mặt do bệnh/tai nạn đột xuất)
  • Thiếu phần mềm làm việc theo yêu cầu bên A (…)

Nhiều điều kiện vô lý bên A quỵt tiền bên B (dù rằng không nêu trong hợp đồng). Thí dụ:

  • Phải là 100% nhân viên nước ngoài thực hiện dự án.
  • Những người thực hiện hợp đồng không được thực hiện hợp đồng khác cùng lúc. (…)

Những chuyện trên sinh rắc rối trong tranh tụng và khó đòi tiền dù thắng kiện.

[8] Gồm:  biên bản, email, phạn vi công việc, giấy giao nhận hồ sơ, bản nghiệm thu…

Trường hợp bên A có nhiều bên, nhiều ý kiến: cần nên thống nhứt một ý kiến sau cùng cũng như tránh trường hợp mạnh ai đưa ra ý kiến tạo nhiễu thông tin. Cần có văn bản cụ thể làm chứng.

[9] Cần cảnh giác bảo vệ nhau trước những hiện tượng:

  • Bên A giao concept của ai khác và nhờ mình đứng tên khai triển tiếp.
  • Nhận việc từ bên A dù bên A từng giựt tiền của đồng nghiệp mình trước đó.
  • Phá giá để cạnh tranh, chấp nhận miễn phí nhiều khoản quan trọng (thiết kế phí, trang trí…) và dùng tiền thi công bù lại. (…)

[10] Tạo tiền lệ để bên A tiếp tục quỵt tiền người khác.

[11] Hiện tượng vẽ concept đến khi bên A đồng ý mới ký hợp đồng dẫn đến việc bên A không trả thù lao và mang concept sang người khác để khai triền hay thi công. Và KTS không có cơ sở để đòi tiền khoản này.

Nhiều trường hợp bên B thiết kế trước đến khi nào bên B đồng ý mới ký hợp đồng.

[12] Kể cả hao hụt chi phí vật tư (do rút ruột công trình, lấy tiền lo lót cho các bên và tư túi)

[13] Dù lãnh lương và huê hồng của công ty nhưng những người này:

  • Thông đồng để bán dự án với giá cao hơn cho nơi khác.
  • Làm lộ / bán thông tin hồ sơ thầu của công ty.
  • Gài công ty vào những dự án “ngoài năng lực công ty” để lấy cớ “có tìm dự án nhưng ông ty không khả năng làm.
  • Thậm chí chi phối bộ phận thiết kế áp đặt vật liệu theo ý mình để lấy huê hống từ nhà sản xuất.

 Một trường hợp chứng kiến:có người lạm quyền vượt quyền đứng thương lượng đi đêm với chủ đầu tư. Sau đó làm chồng chéo sai lệch hồ sơ, phù phép bảng báo giá vật liệu thành biên bản làm việc và ký tên đồng ý để chủ đầu tư trừ tiền tư vấn. Sau khi vở lỡ thì ngưới này đã nghỉ việc đi mất.

[14] Thông thường như sau:

“ Bên A sẽ chi trả cho bên B sau khi đã nhận tiền từ chủ đầu tư” : nếu A bị quỵt thì các bên B đều mất tiền mà không thể kiện.

[15] Trường hợp từng gặp: chủ đầu tư bên A kiêm thành viên hội đồng quản trị của bên B.

[16] Đòi hỏi bên thiết kế / xây dựng làm “xã giao” nhà riêng của mình.

[17] Quỵt tiền người làm concept, trừ tiền của người sau khai tirển với lý do người sau không làm concept.

[18] Nhiều hợp đồng ký nhưng ngày bỏ trống để chủ đầu tư điền vào.

Đề phòng việc này, bên B cần ghi rõ thời gian bàn giao hồ sơ, hợp đồng đã ký qua biên bản giao nhận hồ sơ với ghi chú chi tiết. Đồng thời nên scan bộ hồ sơ đã ký chưa điền ngày.

[19] Lý do:

  • Những người tham gia dự án đều thạo tiếng Anh theo yêu cầu tuyển dụng.
  • Nhân viên chức trách đểu đã có bằng tiếng Anh theo quy định.
  • Mặt khá, hợp đồng có kèm quy định
    • “Hồ sơ tiếng Anh và tiếng Việt có giá trị ngang nhau. Hoặc có trường hợp:
    • Nếu có gì tranh chấp trong bản vẽ, tài liệu, tiếng Anh sẽ dùng làm gốc để đối chiếu.

[20] “Công cụ sản xuất thay đổi thay đổi quan hệ sản xuất” (Marx).

[21]  Dù rằng nhà cung cấp và lắp đặt sản phẩm có trách nhiệp lập hồ sơ quy trình bảo trì chính xác hơn tư vấn nhưng nghị định 46/2016-NĐ-CP quy định như sau:

Điều 38.2: Trách nhiệm lập và phê duyệt quy trình bảo trì công trình xây dựng:

  1. a) Nhà thầu thiết kế xây dựng công trình lập và bàn giao cho chủ đầu tư quy trình bảo trì công trình xây dựng, bộ phận công trình cùng với hồ sơ thiết kế triển khai sau thiết kế cơ sở; cập nhật quy trình bảo trì cho phù hợp với các nội dung thay đổi thiết kế trong quá trình thi công xây dựng (nếu có) trước khi nghiệm thu hạng mục công trình, công trình xây dựng đưa vào sử dụng;
  2. c) Trường hợp nhà thầu thiết kế xây dựng công trình, nhà thầu cung ứng thiết bị không lập được quy trình bảo trì, chủ đầu tư có thể thuê đơn vị tư vấn khác có đủ điều kiện năng lực để lập quy trình, bảo trì cho các đối tượng nêu tại Điểm a, Điểm b Khoản này và có trách nhiệm chi trả chi phí tư vấn;

[22] Thí dụ cụ thể:

Một công ty đang thực hiện cùng lúc nhiều dự án vẫn phải luôn soạn nộp bộ hồ sơ năng lực giống nhau cho từng dự án sinh lãng phí. Thay vì thế, kiến nghị với những công trình cùng quy mô (hay nhỏ hơn công trình đã và đang thực hiện), thì chỉ cần ra công văn vừa thông báo hồ sơ vừa nộp cho dự án trước đó, kèm những bổ sung thay đỗi nhân sự cól iên quan..

[23] Thông thường xảy ra do:

  • “Thời gian n ngày sau khi ký hợp đồng” không nói rõ:
    • Có tính ngày nghỉ hay không.
    • Có tính đến những thay đổi trong quá trình thực hiện hợp đồng làm kéo dài thời gian thực hiện.hay không. (cần có biên bản rõ ràng)
    • Ngày nộp hồ sơ bị đánh tráo khái niệm với ngày ký biên bản nhiệm thu (chênh nhau có thể 1-2 tháng tùy theo chủ đầu tư)
    • Bị chủ đầu tư viết lùi ngày ký hợp đồng (xem 2j)

[24] Cần chú ý các giấy tờ các chuyến công tác, luôn vé máy bay (boarding pass), giấy yêu cầu công tác do bên A cấp, giấy ủy quyên (nếu có). Có trường hợp cố lần công tác theo đúng số lương trong hợp đồng vẫn không được công nhận do thiếu giấy yêu cầu này.

[25] Trường hợp một bên nào đó bị phá sản / giải thể không còn liên lạc sẽ gây rắc rối cho các bên còn lại.

Nhớ lại những câu nói để đời của các thầy trường Kiến Trúc: (sẽ còn nhớ thêm để cập nhật)

Trường Kiến trúc ai dạy cũng được và ai học cũng được” (Võ Thành Lân)

KTS nhà thổ cũng phải biết thiết kế cho đúng dây chuyền công năng !” (Nguyễn Quang Nhạc)

Giờ thì trường không ra trường, thầy không ra thầy, trò không ra trò” (hình như của thầy Nguyễn Quang Nhạc – cần xác minh lại)

Với trình độ sinh viên bây giờ thì tui chỉ còn nước đào tạo đại trà !” (Võ Đình Diệp)

Các anh đừng chê trường mình xây dở mà nhà trường cố ý xây như vậy để dạy mấy anh học” (Võ Đình Diệp)

Sinh viên ngày xưa họ chững chạc đứng đắn, còn sinh viên mấy anh ngày nay nhiều chuyện quá !” (Nguyễn Ngọc Giả)

Mấy anh chị học thế này thì chỉ có nước ở lại trường này làm thầy!” (Vũ Đại Hải)

Mấy anh ưa vẽ cửa giả, vách giả. Thử hỏi vợ anh mang vú giả anh chịu hông ?” (Cổ Văn Hậu)

Nhà không có nóc như con gái không có tóc” (Cổ Văn Hậu)

Bằng KTS tui xài còn chưa hết. Học cao học làm gì ?” (Cổ Văn Hậu)

Các anh không cần chọn đề tài tốt nghiệp như trung tâm này hay trung tâm nọ cho nó cao siêu. Chỉ cần các anh vẽ một căn nhà đàng hòang là được” (Cổ Văn Hậu)

Lương sao thì tôi dạy vậy. Dạy hết lương thì chúng ta về !” (Vũ Mạnh Hùng dạy kết cấu)

Khu vệ sinh công cộng mà có phòng đệm !?? Thằng nào dạy anh thế hở ?” (Trần Khang)

Sao anh không mang tiền lên một lần cho hết một học kỳ mà cứ phải lâu lâu về quê lấy tiền lên ?” (Vũ Thị Lũng nói với anh Đào Đông Nhựt)

Tôi nói thật, nếu gia đình anh khó khăn thì anh đừng nên học trường này“. (Vũ Thị Lũng nói khi anh Man Đức Bảo xin đóng học phí chậm )

Tất cả các con đường của kts đều dẫn vào nhà đá” (Nguyễn Trường Lưu)

Thôi mấy anh cũng ráng ôn để thi tiếng Nga. Như tôi đây cũng lỡ thời rồi” (cô Lưu Hòa Lý dạy Nga văn)

Nếu muốn ngồi để ký giấy thì học cao học” (Khương Văn Mười)

Mấy anh coi tui như c..t, muốn ăn lúc nào thì ăn” (Nguyễn Hoài Nam)

Cần cù bù năng khiếu” (Trương Văn Ngự)

Phải vẽ nhiều lần, giống như vào tù ra khám nhiều lần thì mới giỏi” (Trương Văn Ngự)

Tao dạy mà tao còn hổng hiểu huống gì tụi bây” (Nguyễn Hữu Quang dạy đại số tuyến tính)

Thi bài khó thì cũng phải ráng làm cho được. Giống hồi xưa mấy bà già bị phong thấp đi không nổi mà khi bị Việt Cộng rượt thì cỡ nào cũng phái ráng mà chạy…” (Nguyễn Hữu Quang)

Tui muốn biết “CÓ” làm bài hay không ?”, chứ không cần biết “BIẾT” làm bài hay không” !” (Trần Hồng Quân dạy môn sức bền)

Tui không quan tâm giá trị bằng cấp, nước ngoài chơi với mình thì tụi nó phải công nhận bằng cấp mình” (Mai Hà San – hiệu trưởng)

Anh xin tui ký giấy để anh đi du học. Bộ anh chê trường này dạy dở sao ?” (Mai Hà San)

Đầu tư máy tính rồi mấy anh làm biếng vẽ hay sao ?” (Mai Hà San)

Khi người ta bị tù người ta cần luật sư, khi người ta bệnh thì cần bác sĩ. Nhưng khi người ta có tiền thì người ta mới tìm KTS. Nên KTS bị coi không ra ký lô nào hết. Vậy thì KTS phải dùng hết bản lĩnh mình ra để thuyết phục thân chủ“.  (Phạm Văn Thâng)

Tôi ra đề đúng mấy anh cũng làm sai” (Văn Đình Thông dạy hình họa)

Thấy trời mưa thì mấy anh tự động nghỉ học” (Văn Đình Thông)

Ngày xưa người ta xả thân cứu nước còn ngày nay người ta xả nước cứu thân“(Hà Anh Tuấn)

Sau một đêm, tôi binh hết ba cuồn giấy can, mỗi cuồn bốn mươi thước, ra hàng trăm phương án quy hoạch” (Võ Khắc Vấn)

Tui chờ anh 2 năm nữa lên học với tui, tui đố anh thi đậu môn của tui !” (Võ Khắc Vấn nói với anh Văn Thanh Cường).

**********************

Còn tui, tui chỉ nói: “Con KTS chẳng thằng nào giỏi cả !”

Chuyện kể về Kiến Trúc (4/4-hết) – Kiến Lửa.

Hồi thứ tư:     Trúng vô thời thế, xây dựng tràn lan

                        Hạ cám thượng vàng, dân đen lãnh đủ.

                        Ham mới nới củ, đô thị tan hoang,

                        Tấc đất tấc vàng, liệt cường xâu xé.

 

Nói tiếp về Tổ, sau khi viết thành công quyển cẩm nang, vì ngồi suốt đêm nghiên cứu động não miệt mài quá độ, thêm bị cái vụ té lăn chiêng xuống giường hồi đêm kia nên lúc này mới thấy mình mẫy rêm không kể xiết. Tổ linh tính thấy chuyện không yên bèn đánh tay tính thêm một quẻ nữa. Nhằm quẻ: “Lôi Địa Dự” hóa “Thuần Khôn”.

 

Thôi chết ! Tức là:

Xây dựng bùng nổ (Dự) tùm lum (Thuần Khôn)

Làm ăn chụp giựt (Dự) làm tan hoang (Thuần Khôn)… vân vân…

 

Càng giải quẻ Tổ càng lo lắng và ân hận. Tiếc rằng đã lỡ viết rồi mà bỏ thì uổng văn của mình quá. Thôi đành chịu vậy ! Tổ đành tiếp tục rặn ý viết thêm một “cẩm nang cứu giải” trong trường hợp khẩn cấp. Về sau trước khi tịch, Tổ bắt buộc đệ tử phải luôn truyền bá song song 2 cẩm nang. Anh nào làm sai sẽ bị Tổ vật đừng trách ! Song có vài đồ đệ sẵn tánh xấu ưa giấu nghề , bất chấp lời nguyền, vô ý một cách tính tóan làm thất lạc bản gốc “cẩm nang cứu giải” nên Tổ giận lắm. Để tránh bị Tổ phạt, nên về sau, lễ Truyền thống nào cũng phải nhắc tới Thần Kiến trúc, thậm chí một vài năm có thêm cả lể tế Thần kiến trúc cho chắc ăn là vậy.

Tổ tiên tri không sai. Nhiều năm gần đây khi xây dựng được mùa, ngòai KTS ra, tất cả kỹ sư, thầu tay ngang tay dọc đều có thể làm thiết kế kiêm xây dựng. KTS cũng nhảy vô làm thầu để cạnh tranh với đối thủ. Rồi ngòai ngành xây dựng ra, ngành nào có tiền cũng mở thêm công ty xây dựng được thỏai mái. Muốn chất lượng cỡ nào cũng được đáp ứng tới bến. Hể dính tới xây dựng là có tiếng, tốt xấu tính sau.

“Người người xây dựng, nhà nhà xây dựng, đâu cũng xây dựng được” búa xua . Riết đâu cần học kiến trúc cũng có thể xây nhà dễ ợt vì kiến trúc đã đại chúng hóa đến tận cùng của xã hội. Cứ ra đường là gặp dân Kiến Trúc. Hể làm quen là anh nào cũng “xì” ra hàng cọc cái “cạc vi-sít” rải như truyền đơn nào là giám đốc, phó giám đốc, manager…tệ lắm cũng là một design supervisor (nói văn chương là “cai thiết kế”). Kèm theo thêm đủ chức vị “sư” này “sỹ” nọ đầy nhóc tấm “cạc”. Đã lỡ tốn một lần thuê thợ thì phải yêu cầu thợ nó in nhiều nhiều chữ cho đáng đồng tiền bát gạo và xứng cái danh mình hằng mong ước. Tình hình này thì riết KTS chỉ khác với người ngòai duy nhứt ở cái bằng mà thôi. Tội gì học cho tốn tiền mất thì giờ nếu không muốn bon chen khoa bảng với chúng nhân. Đất đai lên giá vô tội vạ. Đất vườn, đất ruộng, đất tôn giáo, đất nghĩa địa … đều thổ cư hóa đến tột cùng mà vẫn không đáp ứng nổi nhu cầu xây dựng của thiên hạ. Dân Kiến làm ăn ban đầu còn dễ dàng, càng về sau bị nhiều “ngọai đạo” dành ăn nên Kiến thật hay Kiến lụi chẳng ai biết nổi. Lợi dụng Kiến thiệt-Kiến giả dành ăn nhau, nhiều “ngư ông” nảy ra sáng kiến nhập vật liệu xây dựng, sách vở, các mẫu nhà trên thế giới vào để mà “đắc lợi”. Đầu tiên là dụ cho khách hàng mua mấy cái catalô mẫu nhà từ lạ tới lập dị chưa từng có. Từ đó khách hàng sáng tạo kết hợp thêm nhiều kiểu từ nhiều nguồn tạo một phong cách kiến trúc cho riêng mình. Người ít học thì cứ tự do bắt chước cái có sẵn bên hàng xóm mà xây cho chắc ăn vì chẳng có ai chết mà sợ. Chưa có luật bảo vệ bản quyền kiến trúc của nên bà con cứ thỏai mái chụp hình, cóp-py lại cái có sẵn và từ đó theo giống là yên bụng. Tất cả biến cái đất này thành cái thế “quần Kiến tranh thực”, tự do hơn cả thế giới tự do vì ai cũng làm xây dựng được mà không bị ai khác kềm hãm ý tưởng và hành động của mình. Các trường phái thế giới từ ngàn xưa đến nay tha hồ được phát huy và thí nghiệm trong cái thiên đường xây dựng này đến tận cùng ngõ hẻm. Chúng còn được vinh dự sánh vai kề bên nhau làm khu phố thêm đa đạng như một cuộc thi hoa hậu đường phố. Kiểu kiến trúc mới về ồ ạt, chưa biết chất lượng ra sao song nhiều người cũng đã thẳng tay phá sạch những căn nhà cổ vô giá của mình để “lên đời” cho thiên hạ nể. Rồi cái phố nhà ta nó trở nên phong phú với nhiều chủng lọai. Trường phái tân cổ giao duyên này đến nay chưa ai có thể định nghĩa được rõ ràng. Đại khái nó tạm có cái tên dài, khá dài, dài vô tận: “Chino-greco-romano-franco-americano… vietnamese” . Bác sĩ còn phải lỡ tay giết ít nhứt vài người mới có kinh nghiệm để thành bác sĩ giỏi thì KTS trước khi nổi tiếng thì thiết kế tiêu tùng vài căn nhà là chuyện tất nhiên không chối cãi. Nên sẵn dịp này các Kiến thả cửa chế biến, nhào nặn các chi tiết kiến trúc từ nhiều nguồn tài liệu, nhiều công trình tham khảo để “dợt thử ” ý tưởng của mình. Nhiều anh rút kinh nghiệm ở dơ hồi trong trường rồi sản sanh ý tưởng lấy gạch cầu tiêu mà ốp mặt tiền nhà cho dể rửa ráy , càng thêm sạch sẽ. Mấy anh sẵn tính lười thì có sáng kiến dùng cây nhựa cắm trong các bồn hoa cây xanh để đở mất công tưới tiêu, trừ sâu gì ráo mà luôn thấy thấy xanh dờn. Thí nghiệm vũ khí thì bị chống kịch liệt chứ thí nghiệm ý tưởng thì nhiều người còn khuyến khích nhứt là những người không bỏ cắc nào ra và mình chẳng mất mát gì mà sợ . Tạm tóm tắt thì bộ mặt mấy khu phố loại “kiến trúc nhà dân” được diễn tả như sau:

 

Quán thiên hạ đèn mờ, đèn tỏ

Phố nhà ta đủ kiểu: cửa vòm,

Lan can “bà chửa” khum khum,

Hoa văn “rồng lộn”, cột lùn, cột vuông

Sơn trắng xóa trên tường ba mặt

Gạch vệ sinh ốp lát mặt tiền.

Phù điêu vằn vện ốp lên,

Tượng Lân, Sư, Chó dựng bên lối vào.

Mái đủ loại muôn màu muôn cách

Tượng đại bàng tung cánh phía trên,

Trong nhà, bồn tắm như tiên,

Kiểu nằm, kiểu đứng lại thêm kiểu ngồi.

Đủ vật liệu, ôi thôi! nội thất

Kiểu Việt, Âu, Trung Quốc lung tung,

Đài Loan loè loẹt đèn chùm,

Hy-La, “Gô-tích” um tùm hoa văn.

Thang xương cá tung hoành uốn lượn,

Cạnh quầy bar ngất ngưỡng giữa nhà,

Kề bên: hồ cá, bồn hoa,

Salon đồ sộ kiêu sa muôn màu.

Phòng giải trí thần sầu, lác mắt,

Karaoke, dàn nhạc, video…

Sắm toàn đồ hiệu cho kiêu,

Sao cho lác mắt bao nhiêu người ngoài…

 

Song song phần “xịn” của “chợ” xây dựng thì cũng có phần “dỏm” mà giới bình dân gọi là “chợ trời xây dựng”. Ai vào đó đều tự do thiết kế, thi công, tính tóan, thỏai mái kỳ kèo mọi thứ trong xây dựng từ tiền thiết kế phí, thời gian thực hiện, chất lượng công trình, vật liệu,… ngay cả kết cấu và tải trọng công trình nếu cần cũng sẵn sàng được anh em trả giá miễn cho nhẹ tối đa kinh phí. Đúng luôn theo nghĩa “chợ trời” trong thực tế với kết quả và hậu quả của nó. Vì tiền là căn bản, mục đích nên tất nhiên cũng có tệ nạn trung gian đủ chủng loại: cò nhà, cò giấy phép, cò mô hình, cò phối cảnh, chuyên gia quảng cáo thiết kế cho các công ty, buôn lậu ( làm xây dựng không chính thức), và cả … Kiến tặc, Thầu gian (chôm ý tưởng công trình, làm lụi, vẽ lụi, xây ẩu … rồi … ôm tiền quất ngựa truy phong). Lâu lâu cũng có những vụ thanh toán nhau vì tiền đúng bài phim Tàu, phim Mỹ. Chưa nói tới mấy trò “thanh lý môn hộ” lặt vặt thì nhiều không kể xiết.

Nói riêng về lòai Kiến hai cẳng, trong thời buổi nhiểu nhương này số Kiến chúa thành công thì ít mà số thất bại hay đi làm Kiến thợ thì đông vô kể. Kiến thợ cũng bị Kiến chúa bóc lột và xù tiền như ai. Thây kệ trong trường trước đây là “anh em” chứ ra trường thì “chúng ông, chúng mày” ráo ! Rồi “bôi mặt đá nhau” không ai cấm. Dân Kiến tốt bụng thì lại chẳng khi nào nói khoe khoang ào ào ra ngòai nhiều nên thiên hạ chẳng ai biết rõ đâu mà tìm, trừ khi có khách quen giới thiệu tới. Khắp nơi tràn lan Kiến thợ, đa số là bị buộc “bán thân” cho “lầu xanh Thiết kế” để cong lưng vẽ hòai theo ý của người khác phứt cho rồi mà chẳng được tiền bao nhiêu. Đường đường là một Đại Kiến trúc sư mà lúc nào cũng phải bị “e thẹn cúi đầu” trước thu nhập của mấy ả “hàng một triệu” mới tức chớ.

Cái kiếp “sống nhờ lương” mà lương không đủ sống thì sướng nhờ cái chi chi nữa hở trời!

Thỉnh thỏang có thấy mấy anh sinh viên ra trường năn nỉ xin làm không công cho mấy văn phòng KTS để học thêm nghề. Thời thế bắt mấy bác sĩ “chạy” xin làm không công cho bịnh viện vài năm mới được ra làm phòng mạch tư chưa đủ sao mà bây giờ lại tới lượt hành hạ lòai Kiến hai cẳng ?

Trong sự bùng phát xây dựng tất nhiên gặp nhiều thủ tục khách hàng phải giải quyết. Thì tất cả đều sẵn sàng có người chạy lo phục vụ khách hàng tới nơi tới chốn. Kiến nhà ta để tiếp tục cạnh tranh tồn tại thì ô-kê “lãnh sô” chơi đại luôn cho công việc xong tới nơi tới chốn. Riết rồi từ chuyên môn ban đầu là khâu thiết kế, Kiến nhà ta liều mạng thực tập dần để làm căn nhà thân chủ từ a-z một mình. Có Kiến sau khi thiết kế xong thì đứng ra làm “cò” thi công cho thân chủ luôn để vét hụi kế. Nếu công trình gặp sự cố thì lại nghiêng về thân chủ làm bộ tư vấn mà xúi thân chủ lấy lý do chất lượng thi công kém mà trừ tiền thầu cho bỏ ghét vừa để tiết kiệm tiền. Nếu êm xui thì đứng nghiêng qua ông thầu mà đòi phần trăm. Do đó luôn được lòng một trong hai bên và thừa cơ bắt tiếp các công trình khác. Anh nào tệ lắm cũng biết chỉ đường cho khách “chạy” sao cho đúng chỗ , đúng thầy, đúng thuốc. Nhưng khi rành rẽ các khâu thủ tục thì nhiều Kiến lại “lục” tay nghề dần. Có anh đạt đến tuyệt đỉnh võ công chỉ bằng độc chiêu ký giấy. Vì trong dân gian đã có câu rằng: “Một tràng chất xám thua đám nước bọt, đám nước bọt không bằng giọt bút bi” là thế.

Khi kiếm ăn càng dễ dàng thì Kiến cũng như lòai khác càng giảm bản năng sinh tồn tức là không còn bền bĩ nghiên cứu chuyên môn cho mệt xác trong khi “chạy ngòai” hiệu quả hơn. Thấy khách hàng không rành chuyện xây cất thì cũng chẳng ai tội gì vẽ kỹ, cứ “thi công tới đâu binh sửa sai tới đó”. Vì vậy thấy hòai chuyện nhiều nhà xây xong phát sinh đủ sự cố mẹ, sự cố con, trong khi …

 

Rủ nhau, Kiến tặc, Thầu gian,

Om tiền chạy sạch, cùng ăn chia lời,

Chúng ông đã trốn đằng trời,

Chủ nhà ở lại chịu đời đắng cay…

 

… với mọi hậu quả phát sinh không lường trước được.

Đất đai lên giá vùn vụt, xây dựng thỏai mái, nghề xây dựng thu tiền như nước, hỏi ai hổng ham ? Thấy miếng mồi quá ngon trước mắt thì việc dành ăn xâu xé không tránh khỏi.

Tại vậy mà xưa nay, bên Tây có câu: “Qui terre a, guerre a“. Quả là chí lý !

Rồi đời sau có thơ vịnh rằng:

 

… Cảnh xâu xé loi nhoi lúc nhúc,

Như cá tra giành giựt mọi ngày,

Sặc mùi “Đại Kiến” bậc thầy

Mồm loa mép dãi, lưỡi dài hơn râu.

Trò “bảy chử” thuộc làu như cháo,

Thầy “tám nghề” chơi bạo thẳng tay,

Corbusier phải chạy dài,

Kenzo Tange thấy mặt mày thất kinh …

 

Thị trường béo bở tất nhiên bị liệt cường xâu xé như Trung hoa đời cuối Mãn Thanh. Các Kiến, Thầu trên tòan thế giới đổ xô vào để chia lợi nhuận. Thôi thì khắp nơi nhan nhản tập đòan “hàng ngọai” với chất lượng và giá cả đáng nể. Không ai cấm những tay Kiến tặc, Thầu gian “ngọai nhập” tràn vô khi không còn đất sống bên bản quốc. Cũng Kiến này Kiến nọ mặt mày bảnh tỏn, ăn nói miệng dẻo quẹo đi dụ khách hàng đúng họ Kiến nhà ta. Ban đầu còn chảnh chỉ tuyên bố nhúng tay vô các “độ” công trình lớn. Dần dà thất thế vì nội lực yếu thì công trình “nhà dân” hay trang trí lặt vặt họ cũng chẳng từ. Khách hàng vốn quá sợ các “gian tặc” nội địa thì khi vừa thấy “hàng ngọai” tất nhiên sẵn sàng bỏ số tiền lớn ra thuê mà không cần thắc mắc, trả giá. Trúng tay “Kiến tặc” ngọai nhập thứ dữ thì kể như tiền nào họa nấy và tệ hơn với nhiều ý tưởng lông lá ngoại bang chưa từng có xưa nay. Dân tứ xứ đổ về phải luôn hợp tác nhau cho tăng thế lực để cạnh tranh với lực lượng nội địa hùng hậu sẵn có. Cứ thế nên dần dần hàng trăm “ông khổng lồ” về quy hoạch, xây dựng, địa ốc xịn, dỏm nhảy vô đây tha hồ giựt dây cho giá nhà lên cao thả cửa. Dân đen bị lóa mắt trước mấy chân dung tươi rói của “thần tượng Franklin” hay mấy cục “999” bóng lộn nên cứ bán đất cũ chạy mua nhà chổ khác liên tục. Thơ rằng:

 

…Cảnh chụp giựt tràn lan bát nháo,

Quậy lung tung, nổ láo kiếm tiền.

Chỉ thương một lủ dân đen,

Nghe tin giải tỏa mấy phen hết hồn…

 

Tuy vậy có nhiều Kiến “ngoại” vô đây hợp tác nhau rồi bị “dính chấu” ôm nhau chết chùm vì bên nào cũng tưởng bên kia giỏi hơn mình để mà dựa hơi nhờ vả. Nếu có đụng chuyện kiểu gì thì rồi công trình cứ bỏ phế đó mặc cho khách hàng méo mặt tự xử phần còn lại với hầu bao đã bị rút sạch.

Khi Kiến chúa ngọai vào đây buộc lòng phải tìm Kiến thợ nội địa như các lực lượng lính “khố đỏ, khố xanh” làm sức mạnh. Và để chỉ huy đám lính này cũng cần có đầy đủ Kiến bộ sậu nào là Kiến thầy đội, thầy cai, cập-rằng, thầy thông hay cô ký, loong-toong chạy việc…, chưa kề cả mấy “me”, mấy “bồi” ngoài biên chế, nội ngọai nhiều ít tùy theo nhu cầu công việc và tình cảm. Gặp Kiến chúa tài giỏi và nhân từ thì anh em nhà Kiến thợ đở khổ dù áp lực công việc căng thẳng hơn nhiều nơi khác, nhưng bù lại có dịp học hỏi trau dồi nhiều kinh nghiệm chuyên môn. Đó chỉ là cái phúc tí ti.

 

Than ôi ! Lương cao thì cao (trung bình 200-500 usd/tháng, trong khi một lượng vàng khoảng 500 usd) nhưng thử đọc sách truyện sử rồi dại dột đem lương mình ra so sánh thì biết. Bảo đảm sẽ không ai cầm được nước mắt vì lương hàng tháng thời ấy của một cung nử hay thái giám cũng đã tròm trèm 3 lượng ! (cứ thử đọc bộ “Nam Quốc Sơn Hà” của Yên Tử cư sỹ Trần Đại Sỹ thì rõ). Buồn thay ! Trong khi lương một sếp ngoại quốc thì trung bình 2500-4000 usd/tháng.

 

Cái họa không nhỏ nếu Kiến nào lọt vô ổ Kiến “lụi từ trên xuống dưới”. Từ lão Kiến Chúa “tiền nhiều hơn chữ” đến một đám Cai, Đội tài năng, đạo đức chẳng ra gì và nói nhiều hơn làm. Rồi thêm một đám lâu la tay sai chỉ biết nhắm mắt tuân lịnh núp dưới đuôi mấy quan thầy. Mấy xếp dùng “mồm miệng đỡ tay chân” tha hồ trây trét công việc. Có gã xếp, để có dịp rút kinh nghiệm thiết kế, nhắm mắt nướng quân thả cửa để “thí nghiệm chiến trường” thiết kế với nhiều ý đồ quái đản và bất khả thi. Lính Kiến không làm được thì cũng sẵn có mấy tên Đội, Cai tha hồ chửi đổng mà chẳng sợ bị kiện cáo gì vì mấy tiếng ấy không nằm trong tự điển thì đếch anh Kiến nào hiểu được ! “Bảy chử tám nghề” được chuyên môn hóa lẫn hiện đại hóa bằng mọi phương tiện vi tính đi sau miệng lưỡi. Tất nhiên dẫn đến tai họa từ “charette” đến hậu quả thiết kế là không tránh khỏi mà “bom đạn” lỗi lầm được trút thả ga lên đầu đám Kiến thợ với lý do chất lượng hồ sơ không đạt, cũng vừa là nhằm “đỡ đạn cứu nguy” cho trách nhiệm quản lý. Từ đó mấy thầy chú mới có cớ ép buộc đám Kiến thợ tự nguyện làm ngòai giờ miễn phí thường xuyên mà không oán trách được do trình độ ngọai ngữ Kiến thợ không đủ để lý giải biện bạch “tay đôi”. Đám tay sai nghẹn họng vì lương không còn sức lên tiếng đấu tranh bảo vệ “người đằng mình”. Nhiều anh chị bị cho “lên đường” oan mạng chỉ vì lương tâm nghề nghiệp buộc họ bất tuân thượng lệnh hơn là vì trình độ kém. Nhiều anh bị đuổi do “gian thần sàm tấu” mà mình không đủ từ vựng để tự bào chữa. Nguyên nhân quái đản hơn là tài mình quá giỏi nên xếp quê độ tống khứ đi cho rảnh mắt để khỏi mất công ganh tỵ. Rốt cuộc chẳng ai thưa kiện được ai vì chứng cớ đều là lời nói bị gió bay mất. Con Kiến kiện củ khoai còn chưa nên thân thì kiện cái gì nữa được? Công cuộc “đánh nhỏ thua nhỏ, đánh lớn thua lớn” cứ kéo dài dài tùy theo nguồn “đạn dược” của ổ Kiến, miễn sao lợi ích cá nhân của mấy Kiến xếp chóp bu không sứt mẻ là được. Có người đồn rằng bên nước ngòai cũng có đường dây “chạy” bằng cho mấy sếp trước khi vào đây hành nghề nên mới xảy ra mấy tệ nạn trên. Chẳng biết có đúng không ?? Trước mắt là một chuyện thật 100% như sau: tại một công ty thiết kế kiến trúc 100% vốn nước ngoài nọ có một ông Kiến Tây chức vụ “Đê-em-mờ” (D.M: design manager) với thành tích trên lý lịch 15 năm hành nghề (nghe kinh lắm!). Cách “binh” bài độc nhất vô nhị của ông là: dùng máy scan mấy công trình kiến trúc trong tạp chí sau đó sai “lính” dùng photoshop xử lý lại ít mắm muối, ghép qua ghép lại làm ra tác phẩm của mình, cũng như lấy nhiều thành phần bản vẽ khác nhau của thiên hạ chế thành bản vẽ mới vừa tăng thêm tính đa dạng về phong cách. Binh bài thì binh từ phối cảnh trước, rồi suy ngược về mặt bằng. Thậm chí còn bắt mấy xì-táp (staff) thể hiện các mặt bằng chi tiết lát gạch nền nhà hay địa hình khu đất quy hoạch bằng phối cảnh thì ông mới chịu đọc (!). Ông có cái bạo gan là bố trí quy hoạch sân tennis hay mấy sân thể thao ngoài trời khác theo đủ tám hướng tùy theo ý thích của mình cho đã mắt. Cái biệt tài này của ông mới ác đạn: giải quyết trường hợp ý đồ bị “lủng” do lỡ “binh” công trình lấn vọt ra ngoài ranh đất. Cách thức đơn giản nhẹ nhàng thôi: cứ tiếp tục “binh” lấn ra ngoài xả láng và giải thích một cách cực kỳ trí tuệ:” Đề nghị của nhà thiết kế: yêu cầu khách hàng mua thêm phần đất bên cạnh như vầy… như vầy … theo bản vẽ này để tăng giá trị của công trình mới”. Hay chưa? Đã vậy sẵn quyền sinh sát trong tay nên hể bị “bể ổ” là ông luôn đổ thừa lỗi cho cấp dưới rồi đuổi người như ngoé khiến nhiều anh chị tài giỏi đều bị nhục vì mang tiếng oan là bất tài không ít… Ở bên VN mấy “kiến ngoại” không nhiều nên ai có nhu cầu tìm gặp ông này để trau đổi kinh nghiệm thì cứ hỏi thăm dần là tìm được ông ngay. Mấy Kiến buồn đời kể chuyện ra ngoài để dãy bày tâm sự lại bị thiên hạ chê là xạo vì ai cũng tưởng đã là công ty “ngọai” thì phải đàng hòang hơn công ty “nội” nhiều (?!).

Tức khí sanh tình, lợi dụng tính chiến đấu của thơ văn mà có mấy bài thơ được vài Kiến thi sỹ mô tả lại kiếp nạn của dân Kiến “khố đỏ, khố xanh”:

 

Ai ơi ! Vẽ lụi cho mau !

Xếp cần phối-cảnh làm câu trau mình.

Scan tài-liệu công-trình khắp chốn,

Chép CD ảnh bốn phương trời,

Thu gom chi tiết nơi nơi,

Xì-keo (scale) từng bộ-phận rời ghép vô.

Photoshop chơi trò mà mắt,

“Mắc-3D” (3D-Max) thêm-thắt đại tài.

Công-trình tứ xứ về đây

Như hoa đậu trái, như cây thêm cành.

Theo trường-phái “Ngoại Tình Kiến-trúc”

Lắm “con rơi”, bức-xúc anh em.

Làm đêm thân xác rã mềm,

Sáng ra đổi ý, kéo thêm tới chiều

Mặc ai nấy tiêu-điều mỏi mệt,

Tiền ngoài giờ, xếp đếch xì ra,

Việc thì trây líp ba-ga,

Trây lui trét tới, trét qua trây về.

In khổ lớn, ép-phê cuồn-cuộn,

Giấy photo ấn-tượng sửng-cồ.

Giao-thông phối-cảnh sơ-đồ,

Mô-hình cơ-cấu, họa-đồ dọc ngang

Anh phối-cảnh kinh-hoàng thiên-hạ,

Đủ mọi “viu” (view) thấy cả đề-tai (detail),

Châm vào mắm muối lai-rai,

Cứ theo “mửng” ấy, đúng bài là êm…

…xuôi theo kiểu “xêm xêm lai thít”               (same same like this)

Xếp nhà ta là “típ” anh tài,

Xẻo-xui “bể ổ ” tầy-huầy,

Đổ thừa ai đó, cho ngay “lên đường”

“Người thay của” chuyện thường ở huyện.

“Của hơn nguời” hết chuyện lạ đời.

Dựa theo phối-cảnh tuyệt-vời,

All you! See that, mau ngồi triển khai!

“Im-mê-điát! Tu-đai, đu-ít!                             ” Immediate , today, do it !

Thít uyệc-giăng! Phi-nít tu-nai !                      This urgent ! Finish tonight !

Bic-gơ ! mo đạc ! mo lai!                                 Bigger ! More dark ! More light !

Cất hia ! pát thít ! thát rai,… Ố-kề !               Cut here ! Paste this ! That’s right , OK !

Tú-đờ xuýt, stốp-pê men-nẳng!                       Tout de suite, stoppez maintenant !

Đề-mẹc-đê, giơ mẳng phú xa !                       Demerdez, je m/en fous ca !

Tu phu xơ truyếc là ba !                                  Tu fous ce truc là-bas !

Vẻng xi ! xken vít puộc moa xơ là !                Viens ici ! scannes vite pour moi celà !

A-lê vít ! Pát xà oong nốt!                              Allez vite ! Passes à un autre !

Phu troa-đê ken giốt ốp-xông !…                   Fous 3D quelques autres options ! …

Sa-lô ! Mẹt !Tú lơ mông !                                Salaud ! Merde ! Tout le monde !

Tút en-ca-páp đờ com-prăng-drờ !”               Tous incapables de comprendre !”

Thầy Đội giận, chửi xơ chửi xói,

Đếch lạ chi “nhất Đội nhì Trời”!

Tay thì trây việc rối bời,

Mồm phun mắm muối chẳng thôi bao giờ.

Mùa cao điểm nổi lo không dứt,

Tìm Cập-rằng phụ giúp thầy Cai,

Tuyển dân kiến-trúc sắc tài,

3d, Phô-(tô)-sốp để xài dài lâu…

Khiến lắm kẻ lo sầu méo mặt,

Tựa cung phi nhan sắc “về chiều”

Hết thời, thất sủng hẩm-hiu,

Lãnh cung rộng mở, đìu-hiu tháng ngày…

“Cục cưng mới” xếp xài mửa mật,

Xếp ra “quần”, vô “quật” tới lui,

Thừa cơ, Cai “dí” túi-bùi (túi-bụi),

Dựa oai, chấm mút dưới đuôi quan thầy.

Búa-xua cảnh tối ngày “sa-rết”(charette)

“Tống” việc xong, mới biết mình hay,

Kèm theo sản-phẩm dẫy đầy,

Nhân viên ai có dám xài hay chăng?

 

Một bài khác:

“Chợ trời thiết kế” biết hay chưa ?

Ngất ngưởng “lầu xanh” (*) trọn bốn mùa.

Làm đêm miễn phí bao nhiêu bận ?

Của ở người đi đã mấy phùa ?

“Cải tạo thiết kế ” khi nát bét.

“Cấp cứu công trình” lúc te tua.

Khố đỏ, khố xanh, đây, đủ cả,

Cập-rằng, Cai, Đội “quất” từa lưa.

 

(*) vì bấy giờ công ty ấy thuê mặt bằng tại một cao ốc sơn màu xanh.

 

Có thêm một bài vè đang lưu truyền:

Chuyên môn là ta,

Ba hoa là xếp

Khó khăn trùng điệp,

Giải quyết mặc ta

Xếp ưa đàn bà,

Ta là đàn ông.

Xếp “binh” lòng vòng,

Ta làm bỏ mẹ,

Xếp ưa ọ ẹ,

Ta buộc lắng tai,

Xếp biết mình sai,

Ta đã bị bay … “lên đường” vĩnh viễn !

 

Với cách này thì mới hy vọng thiên hạ ai cũng thấu hiểu và Kiến nào cũng “thấm dần kinh nghiệm vào đầu” rồi liệu mà giữ mình sau này…

Chuyện đời Kiến viết không tài hết dù dùng sạch cả rừng trúc Nam Sơn. Lấy hết nước biển Đông cũng không gột hết nỗi nghiệp chướng đeo đẳng dân Kiến.

 

Ôi thương thay !

Mà vẫn có người say mê Kiến trúc và lỳ lợm dấn thân vào.

 

Je ne regrette rien,

J’avance.        

(Eluard)

 

Quả là thật đáng phục những người ấy !

 

Kiến Lửa. (4-2004)

 

Bắt đầu viết 3-3-2004 lúc giờ Thân (Ðịa-Thiên Thái – Ðịa-Trạch Lâm). Viết xong sơ bộ ngày 17-3-04. Hoàn thành ngày 22-4-04. Lúc giờ Hợi (Ðịa Lôi Phục – Thuần Chấn).

 

Trân trọng biết ơn nhiều đồng nghiệp đã tậm tâm bổ sung ý tưởng cho bài.

“Sự thật luôn bị che dấu nhưng vẫn tồn tại mãi mãi ” . Chuyện kể chơi rủi có sai cũng không ai chấp vì mục đích chỉ mua vui mà chẳng hại ai, không có ý xuyên tạc bất cứ ai. Tác giả hoàn tòan không chịu trách nhiệm khi có kiện cáo về những việc trên.

Chuyện kể về Kiến Trúc (3/4) – Kiến Lửa.

Hồi thứ ba:                 Phùng xoè phối cảnh, thân chủ mê ly,

                                    Hù dọa 3d , bà con kiêng nể

                                    Vì ham của rẻ, trúng bả Thầu gian

                                    Thấy giá ngon ăn, dính mồi Kiến tặc.

 

Sau nhiều năm trường Kiến ta hoan hỉ thu tiền nhận sinh viên thả cửa để đáp ứng nhu cầu bằng cấp của thiên hạ thì ngành kiến trúc lại chuyển tới thời kỳ suy bại về lương tâm nghề nghiệp. Các sinh viên ra trường xâu xé tranh ăn dành “độ” dành “khứa” ì xèo trên cơ sở “tiền nghĩa” rồi tha hồ mà “binh lụi, xây ẩu” gây mất niềm tin sâu sắc ở khách hàng. Tội cho những anh Kiến làm ăn chân chính chán nản buộc lòng phải bỏ nghề lui về nhà ăn lương vợ.

 

Sử nhà Kiến chép rằng:

Tổ Kiến trúc ngày xưa đã tiên đóan đến chuyện này nên buồn rầu ghê lắm vì thấy mình không giúp gì được. Thôi thì “gặp thời thế, thế thời phải thế” biết làm sao. Mà giúp bằng cách nào thì Tổ còn bí tít-tìn-tịt huống chi ai khác.

May thay, nhờ lòng thành khẩn chai tịnh cầu quỷ thần, Tổ đêm nằm mộng thấy Vương Thúy Kiều hiện lên nói:

 

Này anh thuộc lấy nằm lòng,

Vành ngòai bảy chử, vành trong tám nghề.

 

Em làm được thì ai chả làm được.”

 

Rồi Kiều bất thần nhào vô ôm đại Tổ khiến Tổ giựt mình té lăn cù xuống đất mà thức dậy.

Tổ thấy điềm lạ liền bấm tay tính được quẻ Dịch là “Hỏa Địa Tấn” hóa “Lôi Địa Dự” dựa theo điềm mộng:

 

Kiều nhảy vô ôm mình (Tấn), mình hỏang hốt (Dự) té lăn cù (Tấn).

Việc này sẽ tương quan tương hợp với ý nghĩa:

Cứ liều mạng làm ăn đại (Tấn) thì nổi danh (Dự) như sóng cồn (Tấn).

 

Liền sau đó nhớ lại câu “Vành ngòai bảy chử, vành trong tám nghề“, Tổ dành hết tâm huyết điều nghiên thêm mắm dặm muối suốt đêm để viết ra một cẩm nang gối đầu truyền cho các Kiến đời sau. Hiệu quả của cẩm nang thần sầu tựa hồ “Tịch Tà Kiếm Phổ” trong giới giang hồ võ hiệp.

 

Đây, nguyên văn do Tổ viết:

 

” Thời thế nhiễu nhương, làm ăn thất bát. Nhân nằm mộng thấy Thúy kiều giáng hạ chỉ bảo, ta viết cẩm nang này hầu truyền cho hậu thế làm kế sinh nhai.

Kiều:

            – Bảy chử tám nghề,

Nếu chàng không chê,

Em xin chỉ giáo..

Nhân đấy, Ta hỏi:

           – Ta xin thọ giáo,

Vậy nghĩa là sao ?

Kiều giảng:     – Bảy chử nghĩa là:

–           Nổ                   Múa mép “cương” hết ga, rù quến thiên hạ để bắt công trình.

–           Lụi                 Vẽ “lụi” hồ sơ để dành khách trước rồi tính sau.

–           Ghép               Ghép các chi tiết kiến trúc công trình khác thành kiến trúc của mình.

–                              In phối cảnh, làm phim 3D cho le lói cho khách “rét” ý đồ mình.

–           Chôm              Bí mật “ẵm” bản vẻ chổ khác về phô-tô lại làm tác phẩm của mình.

–           Chế                 “Luộc” công trình cũ thành công trình mới để xài tiếp.

–           Tẩu                 Biết “chạy” khi thiết kế hay thi công bị “bể ổ”.

Ta khen:

            – Quả là hay vậy !

Tám nghề còn lại,

Xin giảng tận tường..

Kiều giảng:    

– Tám nghề tức là:

 

–           Thiết kế dân dụng.                

–           Thiết kế công nghiệp.

–           Thiết kế quy họach.   (3 nghề này trường Kiến trúc đã dạy)

–           Thiết kế phối cảnh     (Binh phối cảnh cho đẹp để câu khách).

–           Quảng cáo dự án       (Phô trương dự án áp đảo thiên hạ) .

–           Lắp ghép kiến trúc     (ghép nhiều chi tiết bản vẽ khác vô thành hồ sơ của mình).

–           Cải tạo thiết kế          (Sửa chửa hồ sơ bị vẽ “lụi” ).

–           Cấp cứu công trình   (Khi thi công bị tê liệt do vẽ “lụi”, phải chỉnh sữa khẩn cấp).

Ta khen:

            – Quả thật là hay.

Kiều giảng:    

– Đó là những bí kíp chân truyền. Dân Kiến ráng tu luyện thiết kế lâu năm tất có người lên làm vua như vua nhà phố, vua biệt thự, vua bếp, vua vệ sinh, vua phối cảnh, vua mô hình… Tệ lắm cũng là một Đại Kiến Trúc Sư. Chứ sự học thì vô cùng tựa Đông Hải. Em không tài nào một đêm mà giảng hết vậy.”

 

Cẩm nang làm sáng mắt biết bao nhiêu chàng Kiến và là một diệu kế xóa đói giảm nghèo cho cả râu ria tộc họ nhà Kiến hai cẳng. Chẳng làm lạ khi thấy bụng Kiến Chúa nào cũng ngày càng phệ do được bầy Kiến Thợ tận tình cung cấp bia bọt, em út thừa mứa quanh năm …

Chuyện của Tổ còn nhiều nữa, ấy là chuyện về sau…

Vì cạnh tranh gay gắt với các đồng nghiệp nên họ Kiến phải học thêm mọi thủ thuật để mà tồn tại. Để thuyết phục đám khách hàng chưa rành về chuyên môn là dùng phối cảnh. Ngày xưa nhà trường cũng đã tinh ý dạy phối cảnh cho mọi người nhưng nói trắng ra là để câu khách thì quá sống sượng nên không ai dám tuyên bố hụych tọet. Anh sinh viên ban đầu phải rị mọ tập dựng hình, tô màu., tỉa chi tiết bản vẽ phối cảnh. Trước áp dụng cho đồ án của mình. Sau đó là thỉnh thỏang bắt mối bên ngòai để kiếm thêm chút đỉnh. Nhiều ông cũng dấu mấy tuyệt chiêu không cho bạn bè biết dù chỉ là mẹo vặt. Ngày ấy vẽ một phối cảnh cũng được lắm tiền nên có anh chỉ vẽ thuê chơi chơi mà bạc tiền rủng rỉnh.

Càng về sau, khi càng văn minh thì thiên hạ lại càng làm biếng tư duy do quá ỷ lại vào phương tiện khoa học kỹ thuật, nên dần dần bản vẽ khó được khách hàng hình dung nổi và phối cảnh càng thêm cần thiết để nói chuyện với thân chủ. Thay vì vẽ nghiên cứu kỹ lưỡng cả mấy ngày về một mặt bằng kiến trúc, người ta chỉ vẽ sơ sịa cũng ra một phối cảnh thật đã mắt vừa sướng hai tay, chất lượng thừa sức bỏ bùa mê hoặc khách.

 

Nhớ ngày trước có thầy tên Th. đã dạy khai tâm SVKT như sau:

 

“Khi người ta bịnh, thì người ta tìm tới Bác sĩ. Khi người ta có tội, họ cầu khẩn Luật sư. Hai vị này hét bao nhiêu tiền thì khách cũng phải chạy trả cho đủ vì họ không cần khách mà khách cần họ. Ngược lại, khi người ta giàu có sung sướng họ mới tìm đến Kiến trúc sư. Vì thế họ coi Kiến trúc sư không ra ký lô nào hết. Kiến trúc sư cần tiền nên phải dùng hết bản lĩnh của mình mà cố gắng chinh phục thân chủ “.

 

Từ khi có máy vi tính thì công việc KTS Kiến trúc sư thay vì dễ dàng hơn, đàng này ngược lại càng thêm mệt mỏi phức tạp do dùng sai mục đích. Người ta dùng vi tính để “binh” công năng cho lẹ trong khi ở bên chúng ta thì dùng để thiết kế mỹ quan đầy râu ria mắm muối mà chinh phục khách. Mà muốn như vậy thì KTS phải mất giờ học nhiều thủ thuật đồ họa không ăn nhập gì với kiến trúc để pha chế trong khi thời gian đầu tư vô ý tưởng cũng chẳng khá hơn bao nhiêu. Các phối cảnh nhờ vậy được sản xuất hàng lọat ở mỗi công trình. Gặp phần mềm Photoshop hổ trợ nên anh em có thể ghép công trình người khác làm của mình, thậm chí ôm luôn một hay nhiều phối cảnh nào đó scan từ tài liệu bên ngòai, “luộc” lại một ít bằng ánh sáng, “mông má” thêm màu sắc là có tác phẩm mới đỡ mất công “binh” tới lui mất thì giờ. Thêm máy in tối tân làm cho chất lượng tác phẩm đẹp hơn thực tế hỏi khách hàng nào không khóai mà nhắm mắt ký hợp đồng cái rẹt? Gặp khách hàng khó, thì vẽ thêm phối cảnh công trình vào ban đêm lung linh đèn đóm hay hàng lọat phối cảnh khác từ trong ra ngòai nhà lẫn từng chi tiết phóng to để thôi miên khách cho lẹ. Đụng nhiều độ lớn thì đòi hỏi công phu cao hơn. Lúc đó máy vi tính phải làm việc ngày lẫn đêm để sản sinh ra một bộ phim phối cảnh hòanh tráng nếu trời thương đừng chơi cúp điện bất tử. Có lúc nhà Kiến còn phải chi tiền cho chuyên gia làm thêm mô hình lộng kiếng kiêu sa để khách sờ mó tận tay mà yên tâm. Đó chỉ là giai đọan đầu để dành khách.

Giai đọan tiếp sau thì bắt buộc phải khai triển kỹ thuật sao cho nó khả thi và hợp lý. Anh nào lơ mơ khâu này thì coi như mất cả chì lẫn chài. Thông thường vì ham dành khách mà vẽ phối cảnh bất chấp kỹ thuật. Đến khi vẽ vô kỹ thuật thì mọi cái tệ hại mới lòi ra. Lý do ban đầu là vì mặt bằng binh “lụi” cho có nên về sau hậu quả khôn lường. Thêm khổ một nổi là dân bên ngòai không thèm nghe lời ông KTS chân chính mà khóai nghe lời mấy cha hàng xóm hay đặc biệt là ông thầy địa lý dựa trên cơ sở mấy tạp chí Kiến trúc lá cải đủ lọai bán tràn lan bên ngòai. Nghe mấy chư vị đó bàn ra bàn vô vài lần thì tinh thần chủ nhà lung lay rồi tự xây theo ý mình.

Nhắc tới mấy ông thầy địa lý thì nhiều chuyện lắm. Vì học thuyết Đông phương dựa vào “hình – lý – khí – số”. Nếu có 1 trong 4 yếu tố không đạt thì coi như kết quả sai. Chưa kể rằng tính “Đồng nhi Dị – Dị nhi Đồng” (giống mà khác, khác mà giống) và tính “biến hóa” được ít ai thấu hiểu tận cùng. Khác với Tây phương, lý Đông phương không thể dựa vào công thức đầy tính máy móc để gọi là “nghiên cứu”. Mà cái “lý” thì ít ông thầy nào dám đề cập tới. Vì để thuyết phục thân chủ, mấy thầy ưa dùng “số” bằng cách tra sách thì có chứng cớ cho chủ nhà tin lẹ hơn. Chỉ ông nào thật cao cơ mới dám dùng đủ “hình – lý – khí – số”. Phần vì tính “Đồng Dị – Biến Hóa ” nên chẳng ông nào coi giống ông nào. Mỗi ông có phương pháp áp dụng “liều” nặng hay “liều” nhẹ theo ý riêng mình. Gặp chủ nhà nào ham coi nhiều thầy thì cứ phân vân và thay đổi ý kiến xòanh xọach làm KTS không biết đường nào “binh” cho yên ổn. Có ông thầy bày đặt lập trình vi tính để dễ thuyết phục khách và có lúc còn dám tự ý thiết kế và bắt KTS đem ra khai triển xong rồi ông ngồi sửa lại kích thước địa lý của từng chi tiết cho phù hợp ! Chỉ nói cây thước địa lý thôi mà thị trường có khỏang trên 5 cây với kích thước khác nhau, hỏi biết lựa cây nào gọi là chuẩn? Rồi cách trấn yểm mỗi ông chơi mỗi khác riết thành ra đá nhau làm thiên hạ càng mất niềm tin vô các môn học Đông phương mà vẫn nhắm mắt u mê dùng “trật thuốc”. Rồi thêm thầy bùa, thầy ngãi, thầy mo, thầy chùa, thầy cúng… thiệt giả tùm lum quần thảo chủ nhà kéo theo KTS bị vạ lây. Thơ rằng:

 

… Thầy địa lý thỏa tài sáng chế,

Thước Lổ Ban được thế ra oai

Cửa trong cho tới cửa ngoài,

Hướng nhà, hướng bếp, chiều dài cầu thang…

“Sinh Lão Bịnh…” số thang đếm bậc,

“Càn Khôn Ly…” hướng mặt của giường,

Từng ly tấc chớ coi thường,

Đi cầu đúng hướng, ra đường đúng phương (!)…

 

Khi căn nhà xây xong thì KTS cũng không dám nhận làm tác phẩm của mình dù khách có thể vừa ý khen không ngớt. Nhìn lại phối cảnh bảo đảm cũng chưa chắc giống thật là bao. Hên thì coi như ông KTS ấy được khách hàng vừa ý mà đỡ mất công nghiên cứu. Chưa kể được khách quảng cáo nên nổi tiếng trong thiên hạ. Tha hồ bắt thêm khách nhà giàu khác. Xui thì 2 bên đều lãnh đủ. KTS đổ thừa nói là vì chủ nhà không tuân thủ hòan tòan bản vẽ, nhờ thế cái tội vẽ lụi của “Kiến tặc” được trắng án. Có lúc khách hàng tự làm theo ý mình rồi nói rằng KTS không làm gì cả để kiếm cớ xù tiền hay có lúc lợi dụng một lỗi nào đó để trừ tiền gỡ vốn ít nhiều. Có lúc khách hàng dụ KTS vẽ cho đã rồi sau đó đưa tiếp qua nhiều KTS khác để chắt lọc nhào trộn ý tưởng, rồi ông KTS nào cũng đều bị xù như nhau với lý do là làm không vừa ý. Nên có người nói rằng chưa bị xù tiền lần nào tức chưa là KTS. Gặp sự cố do vẽ lụi không thực thi được trong thi công thì công việc cải tạo thiết kế hay cấp cứu công trình là thường, có lúc phải cầu cứu tới đồng nghiệp khác, Có lúc cũng do lỗi chủ nhà đổi ý bất tử dù đã ký giao kèo thỏa thuận 2 bên. Nhiều công trình hoàn thành với bề ngoài thấy “nét tưng” mà không sử dụng được do nứt, lún, thấm dột vì vật liệu bị nhà thầu hao hớt hay kỹ thuật thầy thợ “tay ngang”, cũng có lúc do KTS binh “lủng” pạc-ti. Có ông thầu dám mạnh mồm nói rằng cứ thêm 10 triệu bạc là ổng sẳn sàng lên 1 tấm sàn dễ ợt ! Bên Kiến trúc thì bạo phổi nói kiểu gì “binh” cũng “tới” láng. Khách hàng là người chịu thiệt thòi nhứt. Cái khổ trong xây dựng là khi khách hàng đã lãnh đủ thì họ mới sáng mắt mà hối tiếc vì không chịu tin lời mấy ông KTS chân chính. ” Sự thật mất lòng” nên mấy ông này cũng chẵng được ai ưa rồi từ đó ế độ dài dài. Tới nước này thì khách không còn khả năng tìm KTS khác giỏi hơn nữa vì gần như sạt nghiệp. Đồn ra cho thiên hạ thì chính mình cũng có lỗi nên chẳng ai dại nói ra cho thiên hạ cười mình thối óc. Thành ra mấy anh Kiến “binh lụi” chụp giựt vẫn có đất sống dài dài. Đám thầu chơi trò “thi công tới đâu binh tới đó” cứ phây phây sống trên đầu mấy khách hàng ngây thơ. Chẳng ai thèm ý thức rằng số tiền lớn trả cho một ông Kiến đàng hoàng vẫn rẻ hơn quá nhiều so với một sự cố hay thiệt hại kỹ thuật nhỏ trong công trình do đám “Kiến tặc cấu kết Thầu gian” quậy mà ra.

Người ta nói rằng để có một công trình tốt trước tiên cần có một sự hòa hợp về ý tưởng giữa KTS và khách hàng như cặp vợ chồng. Mà nhắc tới vợ chồng thì phải đề cập tới cái tệ nạn ngọai tình và con riêng. Cái “ngọai tình-con riêng” ấy trong xây dựng cũng không khác trong tình yêu là bao nhiêu. Việc này gây thiệt hại cho nền kiến trúc nước nhà không ít và KTS hay khách bên nào cũng sẵn sàng phủ phàng công khai cắm sừng bên kia không thương tiếc. Cảnh bên khách nhờ KTS đến vẽ nhà của mình giống như căn nhà X, Y nào đó trong sách hay bên đường A,B. Dĩ nhiên dân Kiến rất tự ái nhưng trước cảnh kiếm cơm nhiều người buộc lòng phải đau khổ tuân theo không chống đối để rồi có một công trình không vừa ý với lương tâm mình chưa kể cũng là lý do để khách tìm cớ quỵt tiền với cớ là tất cả ý tưởng đều do khách đưa ra hết trọi. Hay trong lúc thi công khách tự ý thay đổi thiết kế theo ý người khuất mặt nào đó làm tiêu ma hết ý đồ của Kiến. Ngược lại có KTS ăn cắp công trình ở nơi khác nói là ý tưởng của mình mà dụ khách khỏi mất công nghiên cứu chi cho mệt. Khách, dù có biết, nhiều khi cũng phải nhịn và làm ngơ vì nó cũng “đẹp giai” quá. Tóm lại thì khi công trình hòan tất người ta không thể nào truy ra được một phong cách hay trường phái kiến trúc của nó do bị tính “dị hợp tử” quá nghiệt ngã.

Có cái nhiêu khê như là khi chủ nhà ban đầu không hình dung, dự trù hết tòan bộ mọi chuyện. Trước hết là tiền. Hể đụng một sự cố phát sinh nào thì coi như công trình bị kẹt vốn. Rồi người KTS có lúc phải vẽ lại “cấp cứu” hay chủ nhà tự xoay sở để “chữa cháy” cho vừa hầu bao. Thế là phá sản mọi ý đồ của nhà Kiến. Có lúc chủ nhà không hình dung được không gian của công trình rồi yêu cầu KTS vẽ cho to lên thêm nữa mới thấy “đã”. Mãi tới khi hòan thành thì vỡ lẽ rồi “thầy đổ tớ, tớ đổ thầy” gây nhiều xích mích. Vô số sự cố khác như là luật lệ thay đổi, hàng xóm thưa kiện nhau, tranh chấp, tai nạn lao động … luôn rình rập đe dọa làm phá hết chương trình dự kiến giửa nhà Kiến và chủ nhà.

Chỉ nói về những công trình nhỏ là đủ cho thấy hết mọi vấn đề. Chẳng cần phải mất công đề cập tới công trình lớn làm chi vì báo chí đề cập hòai hòai hàng ngày. Thiên hạ vì quá chú ý chuyện lớn mà quên đi chuyện nhỏ trước mắt mới ra như vậy. Đó cũng là lý do tác giả phải ngứa tay viết vài dòng mong giúp bà con tỉnh ngộ. Mong bà con tha thứ nếu viết có gì đụng chạm. Mời bà con vui lòng xem tiếp hồi sau để biết thêm được chuyện nào hay chuyện đó mà phòng thân.

Chuyện kể về Kiến Trúc (2/4) – Kiến Lửa.

Hồi thứ nhì:              Phòng giáo vụ làm nổi cơn gió bụi

                                    Đời sinh viên gặp lắm nỗi truân chuyên.

 

Báo trước với anh em, hồi này hơi dài, xin chịu khó đọc cho hiểu phần nào cảnh đời sinh viên éo le đủ thứ. Dù nói hòai cũng không hết !

Sau một thời gian đầu lo thủ tục nhập học: cắt hộ khẩu, cắt công nghệ phẩm, cắt sổ dầu, sổ gạo, sổ lương thực… để chuyển vaò trường (kéo dài đến cuối thập niên 1980) thì bắt đầu nhập học. Mấy thủ tục trên dần dần lọai bỏ khi chế độ đào tạo đại trà của trường phát triển sau này. Chương trình học so với ngày xưa không khác bao nhiêu. Có chăng chỉ thêm mấy môn học chính trị chính em, Nga văn, quân sự cho hợp thời đại. Thầy mới khá đông, thầy cũ đa số “ra đi” với mọi hình thức bằng nhiều lý do tế nhị. Sự chuyển hệ làm nội bộ trường hơi lục đục theo đúng công thức của thời “quá độ”. Mấy thầy của “hai hệ” đá nhau âm ỉ. Phe này chê phe kia dốt, hay là chê phe nọ khó khăn kỳ cục… vân, vân. Đặc biệt có trường hợp cô này “chôm” giáo ám thầy kia để dành dạy mấy môn quan trọng, bất chấp mình có chuyên môn hay không, với hy vọng có một chân vô “biên chế ” cho yên bụng. Thương cho đám sinh viên bị nạn “oanh kích tự do” mà lãnh đạn trọn ổ. Nhiều anh học theo “hệ” này tất nhiên bị “hệ” kia đì sát ván cho bỏ ghét.

Tính truyền thống của trường Kiến trúc qua cảnh SV “ne” bài nhau vẫn được duy trì. Khi mà nữ SV đã có mặt trong trường thì việc này lại một phần biến chất thành cảnh “Lê Lai cứu chúa” tức là quân tử xả thân từ vẽ bài “phụ” sang vẽ bài “dùm”cho mỹ nhân tận tình. Nếu trường có bắt trả bài chắc chàng cũng “dốc hết tình này” để trả bài vô điều kiện phục vụ đòi hỏi khắt khe của nàng. Khổ nổi là khi bài mình lo chưa nên thân mà phải lo “ngậm bồ hòn làm vui” ôm sô dùm bài của người khác. Nên cảnh thi rớt “đồng quan đồng quách” là thường tình. Hễ là sinh viên Kiến trúc là biết cảnh:

 

Tiếc thay, anh còn sa-rết hòai, đồ án nợ chưa dứt nên lận đận truân chuyên…” (lời bài hát “Yêu một mình” đã cải biên)

 

Năm đầu tiên vào học, người ta hay nói thiên hạ thường “lọt lỗ chân trâu mà chết”. Vì môn chuyên môn thì học dễ trong khi môn phụ thi cực kỳ gian nan. Có lẽ mấy thầy bị tự ái khi thấy môn học của mình ít ai thèm ngó tới nên phải làm mình làm mẩy tý cho vui dù chẳng “giết” (đánh rớt) ai cả. Có chăng chỉ hù chơi cho vui lần đầu rồi lần sau thi lại cũng cho “qua” tuốt tuồn tuột. Theo hồi tác giả đi học, tác giả cũng phải nhiều phen khiếp vía. Nhứt là môn đại số tuyến tính (năm 1) và tin học (năm 5) của thầy Q. Trong lớp thầy luôn “sạc” lia lịa nếu thấy anh nào có bộ vó học hành lơ mơ. Nhiều “thằng cha, con mẹ” (theo định nghĩa sinh viên của thầy) phải chết rét vừa điếc con rái với những bài toán đúng nghĩa ma-trận. Lúc thi có lúc một lớp (40 người) chỉ có 2 người đậu. Nhưng thi lại lần 2 thì ai nấy cũng đậu tệ lắm là 5vv (5 vớt “vớt”). Vậy mà ai cũng thương và nhắc tới thầy hòai , chỉ vì cái “Tâm” thầy tốt.

Trong các phương pháp dạy học thì ngòai lý thuyết và thực hành, để sinh viên có thêm kinh nghiệm ngòai đời , một sáng kiến một phương pháp vô tiền khóang hậu được giảng dạy một cách âm thầm mà ít người ngòai biết: môn “Hậu Quả Xây Dựng”. Người sinh viên không cần biết thầy mình là ai, không cần thi cử, chỉ cần nhìn rồi từ từ “ngộ” ra chân lý. Chẳng có ai phát minh hay tìm ra môn học này. Tất cả đều được phát hiện một cách ngẫu nhiên. Lịch sử của nó như vầy:

Từ ngày khối phòng học đầu tiên được xây vào năm khỏang 77 với một thời gian đáng kể gần 2 năm.. Sau khi thi công xong thì công trình bị thấm dột đủ thứ giúp cho đám Kiến con có thời gian dài chứng kiến học hỏi mọi thứ tệ hại trong xây dựng để sau này liệu mà tránh. Đúng theo nguyên tắc kiểu binh thư Tôn Võ: “Nếu không biết cái lợi nên làm thì cũng nên biết cái hại để mà tránh”. Một thầy buộc lòng phải giải thích huỵch toẹt cho đệ tử: ” Không phải nhà trường không biết cái sai nhưng nhà trường vẫn cố ý làm sai để chỉ dạy cho mấy anh tường tận đó !” Hay chưa?

Chưa hết, năm 1983, sẵn dịp một sản phẩm do chính trưòng ta thi công bên đại học Kinh tế bên cạnh bị sập chết người vừa sau khi gỡ cốp-pha gây chấn động dư luận, anh em sinh viên được dịp hiếm có học một kinh nghiệm ngàn vàng và cũng được “dợt” qua nỗi kinh hòang do “bể độ” để tập luyện giử vững tinh thần cho quen, cho biết với người ta. Người viết không gọi việc này là sự cố hay vụ án vì kết quả chẳng thấy vị chóp bu nào đi tù cả . Vì yếu tố bền vững trong nguyên lý đã là chân lý và chân lý thì bắt buộc phải đúng ở khắp nơi. Còn vị nào bị đổi công tác thì tức là được lên chức đổi đời nhanh chóng. Phải chăng đây là cách để trả công “khéo” cho một ý tưởng mới trong giảng dạy, một cống hiến to lớn vào sự nghiệp xây dựng ???

1989, không biết có một ông nào nổi hứng chính thức đưa ra luật “cấm ne” kèm theo thêm quy định chỉ cho sinh viên trả nợ trong 2 ngày bất kể đồ án lớn nhỏ. Việc đã làm cho mấy thầy lão làng chân chính phản ứng không ít. Chỉ tiếc một điều là vì mấy lão không còn quyền hành như xưa nên kết quả chống đối chỉ là một cuộc “diễn tập đấu tranh” sương sương không thu kết quả gì. Sinh viên lãnh đủ một trò “thí nghiệm chiến trường” của phòng giáo vụ mà chẳng thấy ai dám can thiệp vô vụ cứu giúp. Trong họa thất thỉnh thỏang có sự “càn quét” của nhân viên giáo vụ đi bắt mấy anh “ne chui”. Rồi còn thêm cái trò hú nhau làm ám hiệu khi thấy “giặc tới” để rồi mấy “ne chui” hè nhau chạy trốn như trò chơi “dọn dẹp lòng lề đường”. Thương chú S. hồi đó quản lý họa thất thấu hiểu truyền thống xưa nay của dân Kiến mà lắm lúc thông cảm nhẹ tay với mấy “ne”. Chú không bao giờ nặng tay với ai cả mà lại luôn phải nhẫn nhục chịu mang tiếng là “tay sai” của giáo vụ. Dù bề ngoài thì lâu lâu thấy chú “hù dọa” làm oai cho lấy lệ. Từ từ riết rồi sinh viên ai cũng biết và trở nên rất quý chú. Một anh sinh viên khóa k88 có câu định nghĩa chữ “KTS” trên sân khấu trong đêm truyền thống năm 1990 như sau: anh em lúc đầu trong họa thất “Kỵ Thầy S.” và riết rồi từ từ “Không Thấy Sợ” là thế. Tuy vậy có một thầy rất sốt sắng trong vụ “bắt ne” này cũng như nổi danh trong nhiều thành tích, phi vụ khác. Đến nỗi có thơ rằng:

 

Tiếng đồn thầy Ng. rất tài năng,

Thi cử mấy phen lấy một bằng,

“Hệ B” chạy chọt bao nhiêu đứa?

“Họa thất” tru di mấy chục thằng.

Bợ mông giáo vụ tay còn dấu,

Đè cổ sinh viên oán chửa tan.

Tưởng nhớ công thầy ghi mấy chử:

“Đ.M. thầy Ng. “viết trên tường !

 

(Năm 1993 nhiều thầy và trò có thấy trên cửa một họa thất có hàng phấn viết nguyên văn như vậy. Nghe kể lại rằng báo hại chú S. phải lo tìm cách xóa cho được hàng chử oan nghiệt ấy !)

 

Sau dần thì cả vụ “cấm ne” và trả nợ chỉ trong 2 ngày” được âm thầm bãi bõ dần vì bỏ liền lâp tức thì mấy ổng thấy quê độ khi tay đã nhúng chàm ! Phải chờ có một “ông con” nào đó vào học mới có cái cớ để “cải cách sửa sai”. Chuyện về sau sẽ biết.

Trước cảnh nợ nần khó chi trả cùng với nhu cầu giúp tăng thu nhập của mấy ông thầy, năm 1990, mấy ông ban giám hiệu, nhứt là phe phòng giáo vụ, tài vụ đã sáng tạo một giải pháp tới ngày nay vẫn còn hiệu quả và siêu lợi nhuận hơn cả dự tính: Đóng tiền với cái gọi là “Lệ phí trả nợ đồ án”. Nó áp dụng luôn trong việc thi lại các môn học. Giá khởi điểm tối thiểu của nó là 4000 đồng/lần. Đến nay năm 2003 nó đã tăng hơn 10 lần vì nhu cầu ngày càng cao của sinh viên và nhà trường. Do vậy, các sinh viên có giỏi thì cứ thi rớt nếu có tiền đóng và thầy thì mỗi lần đánh rớt thì có dịp sửa bài trả nợ mà cải thiện đời sống. Vì có sửa bài thì giáo vụ-tài vụ-thầy đều được hưởng ăn chia theo tỷ lệ phần trăm (ban đầu là thầy 75%, trường 25%). Hỏi ai chê không thèm làm ? Trò thì hể đã đóng tiền thì thi trả nợ cũng dễ “qua”. Thầy-trường lỡ ngậm tiền phải ráng công chấm bài lo thủ tục , sổ điểm… cho đáng đồng tiền bát gạo. Nó tạo điều kiện khuyến khích nhiều thầy thêm hăng say “múa bút tựa múa đao” chấm bài lẫn ký sửa bài trả nợ với sự “ủng hộ” tận lực của các phòng ban trong trường. Có thầy chỉ cần ký bài trả nợ để khỏi mất công sửa bài dây dưa, rút ngắn công đọan cho khỏe anh em và kinh tế của mình cũng được mau cải thiện một cách hợp pháp. Mấy sinh viên Kiến cũng lợi dụng nước đục mà luồn lách. Mỗi lần trả nợ có thể mượn bài của anh nào đậu để chép “nguyên con” cho chắc ăn. Thêm nửa là đã từ lâu nay có sẵn chủ trương rút ngắn xóa bỏ dần ranh giới giai cấp giữa thầy và trò nên vấn đề tình cảm thầy-trò có dịp thể hiện thêm thắm thiết một cách trơn lu qua quà cáp, yến tiệc đầm đìa bia bọt cùng mấy khỏang “tứ khóai trần gian” khác.

Nói vậy chứ cuộc đời còn lắm ngọai lệ. Một hai ông thầy bà cô thấy ăn tiền kiểu này thì sượng quá nên vô giáo vụ và xin từ chối nhận số tiền ấy. Nhưng trò thì vẫn bị buộc phải đóng y số cho đúng luật, còn thầy có chịu lấy tiền hay không thì trò đừng thắc mắc mà mang họa. Cũng còn nhiều ông thầy vì lương tâm cắn rứt khi sợ cảnh học trò mình “mua bằng” nên lâu lâu cũng ra tay trị thẳng cánh một lần trò biết mặt. Cuối năm 1991, khóa k89 (trên 100 người) đã chịu một kỷ lục “rớt” về chuyên môn mà từ sau 1975 chưa thầy nào phá nổi. Đồ án “nhà an dưỡng” lần ấy theo luật của trường thì phải được ít nhứt hai thầy chấm mới hợp pháp. Thầy H. và một đồng nghiệp khác chấm xong cất kết quả vào tủ (rớt khỏang 3/4) chưa kịp đưa cho giáo vụ thế mà hôm thứ hai đầu tuần đã có kết quả khác chính thức đăng lên trước với tỷ lệ đậu 3/4. Sự việc làm hai thầy phản ứng lên tận hiệu trưởng vì có kẻ “chơi qua mặt”. Sau khi thưa kiện lung tung cuối cùng thầy L. trưởng bộ môn yêu cầu khóa 89 nộp lại bài củ và đích thân chấm lại với kết quả ban đầu của hai thầy gần như không đổi bao nhiêu. Nguyên nhân chỉ vì thầy K. “nổi máu nghệ sỹ” vô chấm riêng một mình sau khi hai thầy kia chấm xong và đưa bảng điểm lên phòng giáo vụ trước. Đám sinh viên cả trường từ ấy phải kiêng nể thầy H. và mấy thầy khác nói chung sau trận đánh rớt phủ đầu ấy. Khắp nơi đều lên tiếng rên siết vì trong vòng gần 15 năm chưa thầy nào to gan dám “giết” sinh viên hàng lọat như vậy mà không sợ bị nhà trường rầy. Nhiều “ngư ông đắc lợi” nhờ cái luật “đóng tiền trả nợ” sau đó… Cứ hỏi mấy anh chị K89 “cựu nạn nhân” thì biết rõ hơn.

Có một thầy khác chơi trò áp đảo học trò bằng “tâm lý chiến” bằng cách nổ cho trò sợ tài năng của mình để liệu mà bắt chước. Thầy bảo rằng trong một đêm thầy có thể binh hàng trăm phương án quy họach, tốn hết 3 cuồn giấy calque. Mỗi cuồn 40 thước (?!) đàng hoàng. Thế là hết ai dám coi thường oai mấy thầy trường ta.

Trong khóa k8… một anh nọ học “quá ể” nhưng vì có ông già tía có mối quan hệ rộng trong trường nên mấy thầy cũng phải nể mặt mà nâng đỡ . Nếu chấm thẳng tay thì tội, chấm đậu vớt thì thương ông già bị quê độ. Chấm đậu cao càng không có cách chi lý giải. Thôi thì mấy thầy mới dùng giải pháp cho đậu khá nhưng nhẹm kín đồ án đi với lý do “xin lưu lại bài để tham khảo ý tưởng mới lạ” (!). Ai bảo thầy nào cũng xấu vì tánh ham đì trò ?

Tình trạng “giết lầm không bỏ sót” bị nhiều anh em ta thán mà không ai để ý. Một lần, không biết mấy thầy bị “Tổ trác” mà mắt thế nào mà đánh rớt nhiều đồ án công nghiệp một cách khó hiểu. Có một bản vẽ trong đó nhiều chi tiết khai triển bị gạch bỏ với lời phê “cấu tạo chưa từng thấy”. Tác giả đồ án đã tuyên bố chi tiết ấy đã được chép nguyên xi đúng bài trong sách cấu tạo của Mittag. Chỉ biết rằng bài trả nợ của anh sau này y chang bài củ thì lại đậu. Về phần đồ án quy họach thời ấy đã có một luật bất thành văn: “Nhà phải bắt buộc 100% quay về hướng nam, trường học thể hiện trên bản vẽ phải có dạng chiếc quầh xà lỏn mà không được dạng khác, trường đại học cấm không được có sân bóng chuyền …” Anh nào không nghe dù giỏi thế nào cũng bị rớt. Vậy mà riết cả lớp buộc lòng phải vẽ theo như cái “luật bất thành văn” làm cho bài ai nấy cũng gần giống nhau , chỉ khác lối diễn họa và tên tác giả. Kết quả có anh này đậu anh kia rớt khác nhau mà tới nay chẳng ai lý giải được. Chưa, còn nữa, nhiều đồ án được đậu cao chỉ nhờ phối cảnh đẹp mà “pạc-ti” mặt bằng “binh” chưa tới. Trong khi mấy anh nào chịu khó nghiên cứu mặt bằng hòan chỉnh thì kết quả khiêm tốn hơn, có lúc lại bị 5v xém rớt. Đó là ý đồ sâu xa của thầy cho mục đích lâu dài về sau. Trường hợp không biết thế nào mà có lần một thầy hướng dẫn đọc bản vẽ hòai không ra trong nhiều lần sửa bài làm mấy anh học hành nghiêm chỉnh còn phải rét vì sợ bị rớt oan; có anh phải chạy đi năn nỉ thầy phó bộ môn lên họa thất làm bộ đi coi chấm bài để có gì “cứu khổ” dùm. Lâu lâu cũng nghe chuyện nhiều bài thi giống nhau như đúc song kết quả thì kẻ đậu người rớt khác nhau.. Chẳng ai giải thích được, kể cả chính mấy thầy chấm bài.

“Vỏ quít dày móng tay nhọn”. Để đối phó với việc thi cử, các phương pháp phổ thông như là “quay phim” hay năn nỉ thầy… thì xưa như trái đất. Có năm trường hợp đối phó thần sầu đầy tính sáng tạo, xin kể lại để anh em tham khảo nghiên cứu, đừng ham bắt chước vội:

Truờng hợp thứ nhứt, một thầy dạy môn nọ (xin dấu tên để bảo vệ nhiều người) nổi tiếng đánh rớt sinh viên. Để được “qua phà” an tòan, một anh Kiến nọ chắc cũng kiến thức lịch sử khá dồi dào bèn áp dụng nguyên xi trò Mỵ Châu – Trọng Thủy bằng cách cặp bồ với con gái của thầy là ăn chắc ! Thơ rằng:

 

Tôi kể ngày nay chuyện Mỵ Châu,

Trái tim đúng chổ để trên đầu,

Đề thi ăn cắp đưa Trọng Thủy,

Biết bao chàng Kiến đội ơn sâu…

 

…vì nhờ thế mà thi cử “qua phà” êm đẹp cả !

Trường hợp thứ hai, môn Nga văn vốn là nỗi sợ hãi của nhiều anh chị. Kỳ thi quốc gia lại vào năm thứ 5 trong khi tất cá anh em lại quên sạch vì khóa Nga văn kết thúc giữa năm thứ 3. Dù thầy cô tận tình dạy ôn lại nhưng kết quả chẳng ai nhớ gì ráo. Trong lần thi quốc gia của khóa k87, một chị trong lớp liều mạng tuồn đề ra cho một cao thủ bạn bên ngòai làm xong thì lén thảy vào cứu được gần trọn cả lớp K87 (chỉ có vỏn vẹn 1 – 2 anh rớt) . Cô T. lần ấy phải thắc mắc tại sao mấy anh làm bài giống nhau quá? Nếu cám ơn anh cao thủ nọ thì tòan thể SV cũng hết lòng nhớ ơn cô T. đã sáng suốt thức thời cứu vớt dân nhà Kiến, không bao giờ ác tâm trù dập bất cứ anh em nào.

Trường hợp thứ 3 ly kỳ không kém kể về một anh sinh viên vốn nhát đòn sợ rớt môn chính trị chính em. Vì anh vốn kha khá ngoại ngữ nên đã chịu khó vừa nghe và tự học ngoại ngữ bằng cách vừa nghe giảng bài vừa dịch lại toàn bộ bài giảng sang ngoại ngữ. Vào phòng thi, anh bình tĩnh để tập sách ấy trên bàn để lót giấy thi và khi nhân viên giáo vụ gác thi hỏi, anh tỉnh rụi đưa tài liệu cho giám thị (cũng là nhân viên giáo vụ mới kinh chứ !) kiểm tra với lý do đó là bài đi học thêm ngoại ngữ ban đêm. Lật đi đọc lại tới lui một hồi, giám thị đã trả lại để cho anh tiếp tục làm bài yên ổn. Kết quả thì đã rõ.

Ngọan mục nhứt là trường hợp thứ 4 này. Trong kỳ thi mỹ học, đề thi lần ấy có yêu cầu liệt kê một số công trình kiến trúc lịch sử đặc trưng ở miền Nam có tiêu chuẩn cái đẹp “theo quan điểm mỹ học của ông M.” của thầy giảng. Một bài đã được thầy chấm với số điểm khá cao. Chủ nhân của bài thi đã thú nhận riêng với các Kiến khác là tất cả những công trình anh viết ra đều có đủ số liệu chính xác về năm xây dựng, năm bị phá hủy, đặc điểm công trình… cao hơn cả yêu cầu thầy đưa ra. Chỉ có cái tội là các dữ liệu đều giả hoàn toàn !

Trường hợp chót mô tả một bàn thắng “vô tiền khóang hậu” để cứu một người anh em nắm chắc vé lưu ban vì rớt 1,5 môn được một anh khóa k88 đã thuật lại như sau: theo luật của trường thì anh lớp trưởng hay anh bí thư Đòan của lớp được tiêu chuẩn ưu đãi hơn các bạn trong lớp ở chổ được vớt lên lớp khi bị rớt 1,5 môn (môn chính = 2 môn phụ = 2 x 0,5 môn) trong khi các sinh viên bình thường thì tiêu chuẩn được vớt lên lớp với 1 môn rớt. Nên để “chuyển bại thành thắng” cho đồng môn, cả lớp liền bầu cho anh làm lớp trưởng để anh được lên lớp an tòan và hợp pháp !

Ai bảo sinh viên là dở ? Sinh viên khôn lắm chứ …

Vì thời trời xui khiến khi xã hội phát triển bằng sự sàng lọc cao hơn nên kể từ khóa k88, cái gọi là “thi giai đọan” năm thứ 2 dùng để thanh lọc ra những tinh hoa của trường. Đơn giản là phương cách 3 “bóp đầu vào, thắt đầu giữa, thả nổi đầu ra”. Nói nghe thì hay nhưng nó cam go bằng mấy năm học hành lè phè cộng lại. Cuộc đua “giai đọan” hàng năm làm nhiều anh chị phải khốn đốn mà cầu Thầy cứu. Cái trò luyện thi, học thêm trong đại học nảy sinh ra làm gợi nhớ ít nhiều lại thời kỳ học phổ thông của chúng mình. Cũng có lợi chứ sao ? Nói chung thì các thầy nào dạy các môn liên quan đến thi giai đọan thì được lâm vào đại vận hanh thông trong cung tài bạch lẫn quan lộc. Thầy thừa cơ tha hồ “hét ra lửa, mửa ra tro”. Chuyện kể lại rằng một ông thầy tên Th. bình thản “dám” đánh rớt người học trò mình dù y đã “thành công” trong việc tặng thầy một chiếc “Đờ-Rim 2″ để trợ giúp thầy trong công tác đi lại. Chính mấy đồng môn của tác giả trước đó vài năm cũng có lần rớt oan mạng khi thầy cố ý ra đề sai khi thi lại. Thầy lý luận: ” Có ra đúng mấy anh cũng làm sai (!?)”

Nói là thi giai đọan có từ năm 1988, song trò sàng lọc “chưa chính thức” đã được manh nha thực thi trước đó bằng việc “thi kiểm tra giữa học kỳ”. Anh nào học lơ mơ rớt 2/3 lần thì bị cấm thi ráng chịu. Lúc đầu mấy thầy lại chơi trò “kiểm tra đột xuất”. Vì vậy lần đó khóa k86 năm thứ 3 đã bị cấm thi gần như 100% vì môn X (xin dấu tên). Trò xỏ lá này làm anh em tuyên bố định làm “reo” (grève) với nhà trường. Báo Tuổi Trẻ năm 1989 có bài ghi lại. Nhà trường phải cải tổ ngay lần đó và hứa rằng sẽ báo trước những kỳ kiểm tra. Song nhiều thầy cũng nhiều lúc “xé rào” do ê mặt trước cảnh sinh viên Kiến chán nản cúp cua môn học của mình khá đông. Thỉnh thỏang có nghe chuyện trò rủ nhau cả đàn “biểu tình” năn nỉ ở trước cửa nhà thầy vì thầy trót tuyên bố cấm thi quá đông anh em.

Trong khỏang thời gian này, uy danh các phòng ban, nhứt là phòng giáo vụ (sau đổi tên thành phòng đào tạo mà có kẻ dám xuyên tạc là “phòng đào tiền” !) như một vị quan “tiền trảm hậu tấu”. Tất cả tiền bạc đều phải đóng trực tiếp tại đây, năn nỉ hay khiếu nại tại đây, rút hồ sơ ra khỏi trường cũng tại đây… Hễ nghe mấy ông bà ở đây gác thi thì phải biết !

Bên cạnh tính hiếu sát thì Trời đất còn có tính hiếu sinh đám sinh viên. Số là sau 2 năm từ khi bắt đầu năm thực hiện chế độ thi giai đọan, ông Trời bèn khiến cho một ông con của một ông KTS nọ (vốn có máu mặt trong phòng giáo vụ) học khóa k90. Thế là tòan bộ khóa ấy được mọi ưu đãi nếu may mắn gặp lúc ông con này bị lận đận “sa-rết” trong đèn sách. Có thơ vịnh rằng:

 

Một lũ con nòi, chẳng giống ai

Idée đồ án rất ” trời ơi”,

Esquisse “rặn” hoài, không ra …ý,

Rendu “quậy” mãi, chẳng lên tay.

Kết cấu, xì-tin (style) trông rợn óc,

Diplôme, charrette thấy bái dàí !

Trả nợ, “lần 2” luôn hiện diện,

Kiến trúc dòng con lại bất tàí !

 

Nhờ vậy vụ “cấm ne” đã được nới lỏng dần. Đặc biệt khi thi giai đọan năm thứ 2 của khóa k90, lần ấy rớt khá đông. Ong con thì khỏi nói ai cũng biết. Ông cha làm trong phòng giáo vụ phải điều chỉnh hạ chuẩn điểm đậu. Thế là rất đông anh em rớt được “ăn theo” ơn mưa móc mà “qua” giai đọan an tòan. Ai bảo dân giáo vụ ác đức ? Mà có hết đâu, những năm mà “ông con” còn mài quần trên ghế nhà trường thì hễ “ông ” gặp khó khăn do làm bài không kịp giờ thì anh em đồng khóa được “dựa hơi” mà “thóat chết” đồng lọat. Khi làm tốt nghiệp anh em cũng được giaó vụ hạ tiêu chuẩn khổ giấy vẽ cho đỡ cực khổ. Có ông KTS bố khi nghe tin buồn: “mặc dầu có sự tận tình chạy chọt song cậu ấm đã không qua được cuộc thi giai đoạn hiểm nghèo”, đã đề nghị mở thêm một khoa mới để “pát-xê” con mình qua đó tiếp tục học. Đám Kiến “đồng nạn” cũng được cứu độ theo. Sướng chưa ! Trách chi hễ có một tiếng đồn tốt là thiên hạ cứ ùn ùn vô ĐHKT. Hễ vào được là chắc chắn ra trường được với một tấm bằng láng cóong lận lưng quần dể ợt. Chưa kể nó còn bao gồm luôn cả bằng B ngọai ngữ cấp quốc gia nữa mà !

“Vật cùng tắc biến”. Khi thu nhận sinh viên ồ ạt thì dĩ nhiên nhiều sơ sót bê bối hành chánh, tài chánh bắt buộc sẽ phải lòi ra như cảnh tang gia bối rối mong chính quyền và đồng bào lẫn sinh viên niệm tình tha thứ. Cái “biến tắc thông” là Bà Hỏa “giáng lâm” phòng giáo vụ trong một đêm 16 rạng 17-1-1992 làm sinh viên phải hõan giờ thi để cho cảnh sát vô điều tra. Vì theo quy luật phát triển mà sách nhà trường đã dạy, thì sau khi sinh ra và tồn tại thì nó cũng phải bị buộc kết thúc giống cũng như tòa Imexco cùng thời bấy giờ. Nghĩ tiếc thay khi dân Kiến ở ký túc xá gần đó có dịp chứng kiến suốt đêm giờ phút chót của tòa Imexco mà lại không có dịp chứng kiến cái công trình giáo vụ trù phú của chính trường mình “trở về cát bụi”. Thiên hạ liền chiêm nghiệm lại sự việc qua chuyện Đại hồng thủy trong kinh thánh và cứ thắc mắc bàn tán mổ xẻ “gia đình Noe” lần này gồm những ai ??? Ong mang theo ông những thứ gì để duy trì cuộc sống ??? và nhiều câu hỏi khác. Mãi tới khi phòng giáo vụ được bố trí chổ mới mà nỗi kinh hòang vẫn chưa dứt đến nỗi mấy bà “ở trỏng” phải lập một bàn thờ trước cửa phòng cúng khai trương để cầu an và tạ ơn thần tài phù hộ thóat nạn lâu nay. Riêng về phần sinh viên, sau trận ấy phách rọc bài thi bị cháy sạch không còn khả năng hồi phách vô sổ nên anh em phải rủ nhau đi gặp thầy để nhận dạng bài thi của mình.

Nói đến Kiến trúc mà không không nhắc tới lể truyền thống quả là một thiếu sót to lớn. Thực chất cũng là lể nhập môn cho các “ne” năm thứ nhứt, trình làng trước đàn anh, cũng là một trách nhiệm của anh năm cuối trước khi rời khỏi trường. Vì “đời chỉ có một lần” nên một bên thì cố gắng tổ chức cho thật độc xẹt, một bên thì phải cố gắng làm sao đi có mặt thật đầy đủ để cho mọi người biết mặt. Lể nhập môn bái đàn anh được tổ chức với nhiều hình thức. Cũng đi xin phép chính quyền, in thiệp mời, đi quyên góp mấy nhà hảo tâm, lo dàn dựng, tập dợt… Cảnh tiêu cực cũng không ít vì nhiều anh đi quyên góp cũng thừa cơ chấm mút cho bớt “động lòng”. Ban đầu, thời “phương cách 1” còn áp dụng thì không có gì lớn để mà bàn vì dân số không đáng kể nên không có sự lộn xộn trong tổ chức và sức chứa của trường còn kham nổi. Càng về sau từ khi áp dụng “phương cách 2” trở đi thì mỗi lần truyền thống là luôn có vấn đề lớn từ thượng vàng tới hạ cám. Việc triễn lãm tranh biếm họa làm đụng chạm tim đen mấy thầy không ít. Từ đó nảy sinh thêm chế độ kiểm duyệt tranh truyền thống. Đặc biệt là năm có lịnh “cấm ne” làm phá vỡ truyền thống “dạy nghề” của anh em Kiến làm bất mãn khá nhiều người. Bấy giờ bất cứ hình vẽ hay áp-phích nào có chữ “ne” hay ý nghĩa tương đương đều bị một thầy trong ban giám hiệu đến và thẳng tay lột bỏ vì “phạm húy”. Cảnh chen lấn xâu xé có lúc súyt ẩu đả nhau trong đêm truyền thống là chuyện thường. Các bãi giữ xe của các sinh viên tràn ngập dù giá gởi đã lên gấp 10 lần giá nhà nước. Mà cái vui nhứt theo ý tác giả là tiết mục nhảy đầm cuối lể truyền thống. Mấy năm mới được phép “nhót” trở lại thì phải biết nó sung sướng biết chừng nào. Danh từ “nhảy son-đố-mì”, “múa đôi” hay “quốc tế vũ” thì dẹp quách đi không thương tiếc do hết hợp thời đại. Tiếp sau buổi lể kết thúc, dù có tổ chức bê bối chăng nữa thì luôn có lệ phải tổ chức một tiệc liên hoan mừng thành công của đêm truyền thống và lợi nhuận của nó để lấy tinh thần cho mấy khóa sau. Anh em nào còn lại ở trong trường được bao ăn nhậu thả ga, lúc ấy thật là một lể truyền thống “tập 2” ngòai luồn không sợ chế độ kiểm duyệt bên ngòai “gõ”. Các tiết mục đều có thể biểu diễn tự do không cần đăng ký xin phép. Đêm truyền thống 19 rạng 20-9 năm 1991 còn có cả sô “thóat y vũ nam” kèm nhạc sống coi miễn phí (chuyện có thật 100%.- tác giả thành thật xin lỗi độc giả vì khi ấy tác giả còn quá ngây thơ ham vui không biết hỏi tên tuổi của vủ nam ấy), khán giả đứng xem được tiếp cận diễn viên trong tầm tay, vừa được phục vụ cháo ăn đêm nếu cần. Xong thì từ từ mạnh ai nấy vô tư nàm la liệt ngủ để hôm sau lấy sức thu dọn chiến trường. Lợi nhuận thu được có lúc thừa sức tổ chức bao trọn gói 1,2 chuyến nghỉ mát Đà lạt hay Vũng Tàu cho mấy anh em, bao luôn bồ bịch nếu có. Trước khi đi, cũng có bố trí vài anh sinh viên chuyên “dọn đường” bằng cách ghé nhà mấy thầy để “nói một tiếng xin phép nghỉ mấy ngày” cho đúng lễ. Còn bài vở, đồ án thì để đó ! Chơi trước tính sau. Nghe kể lại vào năm 1999, nhà trường nổi hứng cấm làm truyền thống qua chủ xướng của thầy giáo sư tiến sỹ thạc sỹ Kiến trúc sư T.H. với nhiều sự lý giải không ai hiểu được, có lẽ thầy học nhiều quá rồi điên chữ chăng ? Kết quả là mấy anh em đợt đó ra trường hễ thất bại là đổ thừa “Tổ quở” vì lý do trên.

Trong sự căng thẳng lên bài ngày đêm từ ngàn xưa đến nay, khi thời gian đều đổ hết vào họa thất tất nhiên anh sinh viên Kiến nào cũng đều quên mình vì nghệ thuật dù muốn hay không muốn. Cũng vì lý do học hành càng kham khổ, nếu là nữ, thì tàn phai nhan sắc là không tránh khỏi. Do vậy trong bình minh của lịch sử nhà trường, số nữ không đáng kể (hồi 1955-56 mới chỉ có 1 người duy nhứt là chị K.N !) dù số “Lê Lai liều mình cứu chúa” không bao giờ thiếu. Nguyên nhân một phần ngày trước trong các họa thất có anh “trưởng tràng” hay sanh tật “bắt ne làm gì thì ne phải làm nấy không được cãi ” nên nhiều cô nghe đồn thôi mà đã mất vía rồi. Càng về sau khi “đầu ra” càng dễ thì số nữ tăng dần và nhan sắc Kiến nữ trong trường thấy cải thiện đáng kể thừa sức canh tranh với dân trường Tổng hợp hay trường Kinh tế bên cạnh. Số Kiến nữ tăng đột ngột vào năm 1987. Đang đói xưa nay, giờ gặp cơm hay phở gì thì mấy anh Kiến đều phơi phới rậm rực ra mặt. Có cô lợi dụng lắm anh theo đuổi, liền chơi trò “đấu thầu” bằng cách nhờ mỗi anh làm một bài để rồi chọn cái hay nhứt lên nộp cho thầy. Khiến mấy anh “hụt thầu” ngẩn ngơ mà không làm gì được. Kiến nữ làm không khí tổ Kiến thêm nhộn nhịp. Có hai chuyện, kể về “sự cố ngàn xưa” thời ấy đậm đặc tính mê ly cụp lạc mà sinh viên ai cũng biết. Một cú bởi trò gây ra (thập niên 80), một ca do thầy là thủ phạm (thập niên 90). Cả hai thầy trò luyện công phu “âm dương chỉ” thế nào không biết mà “dến” cái “bầu tâm sự” cho 2 cô bên ngòai (có 1 cô là sinh viên trường bạn) khiến 2 cô đến trường “hỏi thăm”, nói hoa mỹ là đòi “bồi thường chiến tranh”. Nhà trường nghe đâu phải âm thầm vào cuộc giải quyết ổn thỏa. Vì quý thành tích học tập tốt nên trò chỉ bị cảnh cáo cho lưu ban, còn thầy thì phải cuốn gói ra đi không hẹn ngày trở lại. Thôi chuyện nghe qua rồi bỏ, chỉ biết sau đó vài năm, bên ngòai thiên hạ tổ chức ì xèo những cuộc thi hoa hậu làm bên trong trường càng thêm rạo rực trước cảnh “cây nhà lá vườn” đang kỳ mơn mởn chưa từng có xưa nay. Yếu tố “mỹ quan” trong nguyên lý kiến trúc bắt đầu được chú trọng và được “rendu” dưới hình thức tân kỳ mới lạ.

Còn mấy Kiến nam thì thực chất chẳng thay đổi bao nhiêu. Do bù đầu làm bài cho mình và “hết lòng thờ vua (bà), xả thân cứu (nữ) chúa lúc nguy nan” nên riết rồi thời gian tắm rửa cũng chẳng còn. Cũng may ngày nay sinh viên có tiền thuê nhà trọ nên cũng bớt cảnh tốn thì giờ sắp hàng hứng nước hay “dành cơm” ở ký túc xá. Nhằm lúc này nhiều “nữ chúa” vào trường quá cỡ nên quỹ thời gian đã kẹt cứng càng thêm kẹt cứng. Đành mang tiếng ở dơ vậy ! Mà dơ bao nhiêu thì người đời tưởng mình có máu nghệ sỹ thiên tài đầm đìa ý tưởng trên trời dưới đất. Càng về sau có mấy anh thấy thế còn chơi “đốt giai đọan”, cứ ở dơ trước cái đã còn thời gian học hành thiếu đủ tính sau. Thêm cà phê, thuốc lá, nhậu nhẹt lu bù gọi là phương tiện kích thích tìm ý đồ sáng tác kiến trúc thì càng hay hơn nữa. Quên phứt đi cái khỏan vệ sinh, điều độ bằng mấy cái “khóai” thứ dữ khác cho đủ bộ. Để tóc tai bù xù, ăn mặc bê bối làm tăng cường thêm ấn tượng Đã không được nghệ sỹ bề trong thì cũng phải ráng được nghệ sỹ bề ngòai cho bằng anh bằng em. Bắt chước sai bài, “binh” không tới thì ráng chịu. Mà lạ hơn nữa là nhân viên của trường cũng không kém máu nghệ sỹ. Năm 1978, vào ngày quốc tế phụ nữ, một bà nhân viên chơi nổi “tròng” bộ áo cưới vào trường cho nó “độc xẹt” mặc cho chúng sanh thấy mà lắc đầu. Nhân viên trường còn “nghệ” như thế thì đám sinh viên lập dị cũng đừng ai trách. Cũng vào khỏang mấy năm ấy, nhân có phong trào “cấm để tóc dài”, nhà trường cũng định lợi dụng nhằm hạn chế máu “nghệ” của mấy Kiến nhưng sau vài năm thì “mèo vẫn hòan mèo”. Nói tiếp về cái trò “ở dơ sống lâu” dần dần trở thành món võ tự vệ độc hại làm thầy nào cũng phải gờm mùi hương lẫn mặt mày của mấy thằng đệ tử và rồi kiêng dè khi sửa bài của chúng. Mấy đồng môn cũng phải bịt mủi “chạy làng”. Lúc lên bài họa thất hay vào lớp thì liệu hồn! Chúng mà ngồi đầu ngọn gió thì làm cả lủ trong sạch nhiễm độc khí chết nhăn răng. Kiến nữ nhờ vậy thêm được thầy chiếu cố tận tình nhờ bộ vó “dẻo như cơm, thơm như mít” rồi từ đó có tiếng đồn nhau rủ rê nhiều nữ sinh khác đổ xô ồ ạt thi vào kiến trúc.

Việc học quân sự tuy bắt buộc nhưng đó không phải là cửa ải. Tuy chỉ tốn có một tháng song là dịp để sinh viên đi ra ngòai thay đổi không khí. Các thầy cũng tương đối dể dãi. Hồi trước, nhớ có một thầy, thật ra là một ông sĩ quan già tên L. mà dân Kiến hay gọi là thầy Sáu L. Nghe cách nói chuyện hóm hỉnh của thầy, dân Kiến phát hiện trong lý thuyết quân sự chứa đựng tràn trề ý nội, ý ngọai, nghĩa đen, nghĩa bóng cực kỳ thâm thúy. Chỉ có thế mà anh em hứng thú có mặt tương đối đông đủ hơn các giờ lý thuyết khác. Thêm giờ học thực hành ngòai trời ( có lúc ở công viên đối diện Dinh Độc lập, có lúc ngay khu đất trống sát tường rào khám Chí Hòa), quả là thiên đường cho mấy anh em có dịp vui chơi hóng mát ngo ngoe tay chân cho đỡ bồn chồn. Lúc giải lao thì thầy trò tụ lại tha hồ đánh “tiến lên”, hòa đồng quân dân với nhau mà không sợ ai bắt lỗi. Cái vui nhứt là vào cuối khóa đi bắn đạn thật trên sân bắn Thủ Đức. Nhiều lớp lợi dụng dịp này tổ chức cắm trại qua đêm, ăn uống bí tỉ , đêm nằm kề bên nhau ngắm trăng tâm sự , kể lể chuyện đời… tựa hồ:

 

“… Nằm kề bên nhau chờ giặc tới,

Đầu súng trăng treo…” (thơ Chính Hữu)

 

… ngay trên bãi tập bắn từ chiều hôm trước. Đến sáng hôm sau thì bắt đầu thi kiểm tra bắn đạn thật. Vì tình thầy trò vốn đã được đầu tư thắm thiết trong quá trình học nên chẳng ai rớt. Tiếc rằng những năm sau đó tiết mục này bị bỏ dần vì sinh viên càng đông đảo khó tổ chức vì tốn kém. Ban đầu mỗi lớp cử vài đại diện đi bắn. Sau dần chỉ kiểm tra thao tác dùng súng của từng anh chị rồi thôi. Chắc vài năm nữa chỉ cử mấy anh đại diện đi học rồi chuyện gì mới nữa chưa biết trước được nhằm đơn giản hóa tận cùng khóa huấn luyện quân sự. Khóa học luôn kết thúc tốt đẹp nên chẳng có gì gọi là “ác nghiệp”. Chỉ kể nghe qua chơi cho đủ bộ.

Chặng cuối của đời sinh viên là tốt nghiệp cũng cực kỳ quan trọng vì “đời chỉ có một lần”. Sau vài tháng đầu tư sức người và của vào đồ án ra trường, anh nào chị ấy cũng bơ phờ, nhiều người xanh như tàu lá do làm việc ngày đêm quá độ. Thầy cũng phải được bố trí “kè” mấy trò mà hướng dẫn. Vì tính quan trọng của nó mà có trò vì quá thương thầy rồi sẵn sàng xì tiền bồi dưỡng riêng cho thầy chút đỉnh lấy sức. Mấy “ne” cũng đổ quân vào cuộc. Có anh thừa tiền lắm của thuê nhà để vẽ, thuê ne thả ga, bao ăn, bao ngủ từ a tới z. Mấy ne chỉ có việc tô màu, vẽ cây, chấm cỏ, nghe sai bảo lặt vặt… Mấy anh nghèo làm thui thủi một mình cũng tốt nghiệp vang lừng như ai. Cảnh “charette” vẫn còn đó. Tới ngày sơ khảo, nhiều người sốt vó là trò thường tình. Có thầy vì quá thương trò, chạy đôn chạy đáo vô trường huy động thêm “ne” kéo về nhà đệ tử của mình vẽ phụ cho kịp giờ. Sơ khảo xong, bài đem về sửa chữa một lần chót trước khi trình bày tốt nghiệp. Hôm bảo vệ mới thật sự là ngày trọng đại. Mỗi tân khoa tương lai phải một thân chống chọi với một hội đồng thầy tràn trề kinh nghiệm. Mấy anh du học sinh xứ Chùa tháp thì không đến nỗi lo lắng nhiều do đã được trang bị nhiều hậu thuẫn ưu đãi công khai. Điển hình là anh nào tiếng Việt còn lọng cọng thì các thầy thấy thương tình liền miễn khỏang trình bày giới thiệu đồ án cho đỡ mất thời gian. Và theo đúng thủ tục tốt nghiệp, mấy thầy vẫn lên thưởng thức đồ án cũng như hỏi vài câu lấy lệ với người ta với tấm lòng tràn đầy gạo muối cầu mong mấy anh mau về nước để truyền bá chất lượng và uy tín của “đằng mình”. Riêng với sinh viên Kiến nội địa nhà ta thì thầy vẫn thương yêu nên những năm gần đây, tỷ lệ rớt ít, ít dần và ít mãi. Có thầy nói nếu chấm gắt quá thì đâu còn đứa nào ra trường, mà mình đánh rớt hòai kiệt sức mình rồi sẽ đánh rớt không nổi nữa, đành phải “cho qua” để “để đức” cho con cháu. Trước trận “biển người” tốt nghiệp đông đảo tất nhiên thầy ủng hộ số đông mà từ bi xí xóa mấy lỗi lặt vặt không đáng kể cho anh em nhà Kiến mừng. Nghe kể lại năm 1994, có một anh sinh viên Kiến “cóp-pi” nguyên xi một sân bay trong sách để làm bài tốt nghiệp. Mặc dù có một thầy phát hiện và phản đối nhưng cả hội đồng thương tình công sức vẽ vời nên thông cảm cho ra trường êm đẹp. Do đó để việc bảo vệ tốt nghiệp thành công thêm rực rỡ, nhiều anh chị mời hết cả bà con họ hàng ông bà chú bác lẫn con cháu đi theo ủng hộ vì biết mình chắc chắn cỡ nào cũng đậu. Có người sau khi bảo vệ xong liền có con cháu đem hoa tặng theo công thức ca sĩ cho thêm tính le lói. Những đêm sau đó, các anh em luân phiên đi ăn nhậu khao quân mừng “chiến thắng” liên tục ở từng nhà các đồng môn với mấy ne ruột. Thầy cũng được mời lu bù và được trò trả công hậu hĩ từ quà cáp tới hiện kim tùy theo nhu cầu hay yêu cầu. Thầy thanh liêm thì chỉ nghe trò nói câu “cám ơn” là thầy mát ruột mà không cần gì khác. Ngày phát bằng còn vui hơn nữa vì còn có thêm tính tập thể cao độ. Rút kinh nghiệm nhiều năm từ các trường khác, trường ta cũng thuê áo mũ cân đai loại “thời trang cử nhân tiến sỹ” đem về trường cho sinh viên thuê lại để có dịp tổ chức đóng tiền đăng ký tên theo thứ tự lên lãnh bằng cho oai. Không khí trường nhộn nhịp hơn xưa vì ngòai sinh viên ra còn có cha mẹ, họ hàng, vợ con, bạn bè, bồ bịch.. đi đến xem chức mừng chia vui rôm rả. Mấy anh phó nhòm cũng có dịp chen chân vô kiếm sống chút đỉnh.

Đời sinh viên là thế đó ! Mà khổ nhiều sướng ít.

Một anh Kiến ôm tê-ke miệt mài thi lại và trả nợ đồ án mãi mới tốt nghiệp được. Ra trường xong, y tủi thân hận đời bèn làm một bài thơ lưu lại:

 

Trời đất hỡi ! Sinh viên khốn khổ,

Phải đóng thêm phí nọ tiền kia,

Có tiền, có gạo bề bề,

Dài dài trả nợ cũng ê bẹ sườn.

Lể tốt nghiệp ra trường cũng đóng,

Thuê áo quần cho giống cử nhân…

Hận thầy ác đức ác nhân,

“Đì” trò, đánh rớt kiếm ăn, làm tiền…

Thương thầy khác liên miên chạy độ,

“Giết” học trò, không nỡ ra tay,

Cứ cho tốt nghiệp mặc bây

Học không ra thợ, ra thầy, ai thuê ?

Sẵn cao học, thôi về học lại,

Ngồi hai năm ra dạy sinh viên,

Thầy già xuống lỗ quy tiên,

Còn bầy đệ tử nửa điên, nửa khùng…

 

… và kèm theo một tuyên bố xanh dờn: “Ta không còn gì để rớt. Không Top Ten thì cũng Bottom Five”.

Xuyên tạc đến nước như vậy mà thiên hạ vẫn cứ mê kiến trúc như điếu đổ , chen chân vô không dứt !

Trò càng đông thì thầy phải có thêm đủ số. Thầy già về hưu hay chết dần mòn mà thầy mới chưa có bao nhiêu để trám chỗ. Nhiều thầy chán nản bỏ trường đi “chạy ngòai” cho khỏe khỏi lo nhức đầu căng thẳng vì đấu trí mà thu nhập chẳng bao nhiêu. Thầy khác tuyển về để bổ sung thì chất lượng không đạt yêu cầu. Nhiều thầy giỏi về vài bữa, cao lắm là một học kỳ là bị “ma cũ” bứng gốc đành phải dứt áo ra đi. Bên ngòai kinh tế thị trường phát triển mạnh nên nhà trường cũng phải khốn đốn chạy theo cho kịp. Trước thế “lưỡng đầu thọ địch”, một bên nhu cầu đào tạo, một bên là kinh tế, thì chỉ còn nước chữa cháy là mở hệ cao học để đào tạo thạc sỹ và tiếp tục có dịp thu tiền “hụi chót”. Nhiều trường trước tiên phải “lên đời” cho mấy ông phó tiến sỹ thành tiến sỹ để có tư cách đào tạo mấy ông thạc sỹ mới. Trường Kiến tất nhiên không ngoài quy luật trên. Anh em nào muốn lên làm thầy hay để ra đời ngồi ký giấy thì đăng ký cao học khỏang 2 năm. Quá khỏe ! Với điều kiện chịu khó đi học có mặt đều vì thầy điểm danh rất ngặt như ở trường phổ thông. Tại vì rút kinh nghiệm sinh viên đại học ưa “cúp cua”, và mấy anh theo cao học vừa có bằng cấp ngon lành ưa sanh tật làm “chảnh” không coi quy định ra gì , nên trường buộc lòng phải dùng biện pháp mạnh. Năm 1993 nghe kể có thầy chuyên gia dạy nguyên lý Kiến trúc trong trường vậy mà khi thi cao học vẫn rớt môn nguyên lý Kiến trúc như thường. Tiếc rằng không biết ai đã chấm bài thầy lần ấy trong khi ngày thường thầy chấm bài người khác. Vì tương lai sáng sủa nên số sinh viên cao học tăng dần bất chấp điều kiện ngày càng gắt. Số thầy được đào tạo từ đủ số đến mức thừa thãi. Miễn “cần cù bù năng khiếu, dù thiếu tài năng” là làm thầy dễ ợt. Có thầy “tu đường tắt” bằng cái mửng “ẵm” trọn gói luận án tiến sỹ của đồng nghiệp đàn em để làm của riêng mình rồi sinh kiện cáo lung tung, phục vụ cho chuyện thâm cung bí sử của trường vốn đã tràn trề nay thêm đa dạng.

Từ cái ngày người ta coi ông KTS như ông trời “nắm thế giới trong bàn tay”, đến nay KTS đầy đường, quần chúng hóa đến mức cao độ. Quả là một sự thay đổi thần kỳ chống chủ nghĩa độc quyền Kiến trúc. Có một thầy đưa ra nhận xét cực chuẩn xác:

“Trường kiến trúc ai dạy cũng được và ai học cũng được”.

Cái tàn ác của kinh tế thị trường là bắt thiên hạ phải chạy theo nó và cạnh tranh với nhau không bao giờ ngưng nghỉ. Từ ngày chỉ có một khoa kiến trúc trong trường, kế tiếp phải mở thêm “hệ B”, chuyên tu, tại chức, rồi quy hoạch, xây dựng, mỹ thuật công nghiệp… để cạnh tranh áp đảo mấy trường khác. Đêm còn có thêm các lớp họa viên, ngọai ngữ, vi tính, luyện thi, cả “mầm non kiến trúc” cho thiếu nhi nhằm thu hút đủ hạng khách già trẻ lớn bé. Có dạo nhà trường sẵn sàng cho một trường đào tạo hướng dẫn viên du lịch, hay xí nghiệp gạch bông thuê mặt bằng, sảnh cho thuê dùng làm bãi đậu xế hộp ban đêm … Khuôn viên trường được khai thác hết ga vừa để chứng minh tính thích dụng và kinh tế cho sinh viên. Nhiều ông KTS đã tâm sự rằng nếu mà có thêm đất trống chắc nhiều bà bán hột vịt lộn, bia hơi, áo quần sida, keo diệt chuột… quanh trường chắc chắn sẽ mừng lắm vì có mặt bằng ổn định khỏi khốn đốn do bị cảnh sát dí chạy hàng ngày.

Cũng phải thế thôi khi cầu nhiều tất phải có cung nhiều để đáp ứng vậy. Kết quả ra sao, xem hồi sau sẽ rõ.