Tại sao người Việt không khá nổi ? (3)

1-       Tôn giáo:

Người Việt cổ có tục thờ thần và thờ cúng ông bà. Những người có công với dân với nước thường được triều đình ký sắc phong thần, thậm chí được người dân tự ý tôn thánh (đức thánh Trần Hưng Đạo). Qua nhiều thời kỳ, nhiều tôn giáo ảnh hưởng đến xã hội người Việt không nhỏ.

  1. Một sự pha trộn và biến chất chen vào tôn giáo

Tục tin quỷ thần và cúng tế của Nho giáo [i] đã an lan trong dân gian và núp bóng dưới các tôn giáo nhất là Phật giáo. Sau nhiều lần thay đổi vị thế Quốc giáo giữa Nho và Phật, Phật giáo biến chất khá nhiều so với nguyên thủy.

Đạo thờ ông bà được nhiều người người VN dần dần đánh đồng xem như cũng là đạo Phật. Nhất là trong chuyện tang chế, đạo Phật trộn lẫn với tục thờ quỷ thần kèm những bày vẽ các “thủ tục hành chánh” dưới cõi âm[ii] bên cãnh những tủ tục đám ma rườm rà mà không sách vở nào chứng minh thỏa đáng.

Tục thờ đa thần gặp Nho giáo như cỏ gặp mưa. Từ  việc thờ những ông thần cây đa giếng nước, ông Hổ… đến việc thờ những vị thần của Tàu: Thần tài, Thổ địa, Táo quân, thần giử cổng, Quan Công, Cửu Thiên Huyền Nữ, bà Thiên hậu, bà Ngũ Hành, cậu Tài cậu Quý,.. đến đủ hạng tổ các ngành nghề: Thợ may, thợ bạc, thợ mộc, nghể võ, hát xướng, thầy pháp, trộm cắp, ăn mày, mại dâm… Những nhân vật trong tiểu thuyết Tàu [iii] cũng thành thần thánh để tôn thờ. Thêm cúng sao giải hạn và cúng cô hồn theo định kỳ. Lúc bệnh ngặt còn lập đàn cầu Tiên bà giải bệnh.

Việc thờ cúng tốn kém làm tăng nỗi sợ vào thế giới vô hình, như là hình thức hối lộ thần thánh [iv] tiếp tay triệt tiêu ý chí và lòng tự tin ở mỗi con người.

  1. Tệ mê tín:

Như đã viết, tệ cúng tế xâm nhập sâu trong tôn giáo, kèm thêm thuyết nhà Phật bị chế biến hạ thấp ngang hàng với các dị đoan: coi ngày, đặt mộ, trấn yểm… thành hủ tục khó xóa bỏ.

Riêng khoa chiêm nghiệm của Dịch lý [v] đã chứng minh được việc tiên đoán, điềm báo..  qua phương pháp tương quan tương hợp dựa trên lý Dịch. Song sự cố chấp và mê tín của người đời vẫn bám theo thói quen chung mà làm ô danh tôn giáo, [vi] và cầu kỳ thần bí hóa thêm các khoa phong thủy, tướng số vốn có.

Sự mê tín làm con người sợ hãi và mất tính chủ động trong mọi việc của mình. [vii] Thậm chí vì sợ kỵ tuổi, kỵ mạng mà không thèm tương trợ nhau. Vì tư lợi, có thể đánh nhau khi mà giành giựt “giờ tốt” cho cá nhân mình. [viii]

Nguy hại nói chung là các hủ tục mê tín núp bóng tôn giáo và dần dần bị tục lệ hóa thì không ai dám thay đổi, thậm chí còn tự hào nó như là một truyền thống dân tộc.

  1. Trông chờ vị cứu tinh:

Bị đèn nén, chịu đựng không phản kháng, thêm tục thờ cúng và tôn giáo chi phối, người Việt không ít thì nhiều tin vào thuyết nhân quả một cách thụ động. Thay vì  suy nghĩ giải pháp tự cứu thì họ chấp vào các giáo điều trong kinh kệ giúp họ thêm lạc quan chịu đựng, thậm chí lập cúng tế để giải trừ. Tôi cảm thầy câu “Ở hiền gặp lành” hay “ông Trời có mắt” bị lạm dụng ở khía cạnh. Nhiều kẻ lợi dụng câu “cái nghiệp nó phải thế” để né khỏi phải ra tay cứu giúp người khác.

Đứng trên cương vị giai cấp cầm quyền độc tài và tham lam, có được những người dân tiêu cực hèn nhược như thế thì quả là không còn gì sung sướng hơn nữa.

  1. d.       Sợ hãi và kỳ thị

Bản chất bảo thủ tạo nên sự kỳ thị giữa các tôn giáo. Nhất là khi Công giáo du nhập sang VN. Chưa kể các giáo phái khác (Cao Đài, Hòa Hảo…) cũng bị kỳ thị dưới hình thức khác nhau.

Công giáo thờ phụng đấng duy nhất (Đức Chúa Trời), nghiêm cấm thờ các ngẫu tượng cũng như các thần khác,  kèm những hoạt động cộng đồng rộng rãi có ích [ix] cho xã hội và nhờ đó thu hút nhiều người. Đặc tính tích cực này làm Công giáo bị ganh ghét, kỳ thị với nhiều ngộ nhận sai lầm do các phần tử cực đoan cố tình gây ra đễ chia rẻ và chơi xấu.

Việc truyền giáo rộng rãi và có phương pháp, tổ chức của Công Giáo (sau này có thêm Tin Lành) bị lầm tưởng như những thủ đoạn “cạnh tranh giành giựt tín đồ”, cộng thêm những nghi ngờ sợ hãi các cha và giáo dân làm gián điệp nối giáo cho giặc [x] để rồi có những chiến dịch “cấm đạo” [xi] gây đau thương trong lịch sử. Ngày nay, việc phân biệt đối xử với vài tôn giáo, đặc biệt là Công Giáo còn âm ỉ trong cuộc sống, nhất là trong những kỳ thi cử, tuyển dụng. [xii] Hậu quả là nhiều người có tài đã mất cơ hội tiến thân để giúp cho dân cho nước chỉ vì theo tôn giáo.

Đó là một sự lãng phí và vô nhân đạo.

So với Ấn Độ, vốn có nhiều sắc tộc, ngôn ngữ và tôn giáo luôn tranh chấp, VN vẫn còn nhiều thuận lợi còn bỏ ngỏ. Đó là, qua thăng trầm lịch sử, đạo thờ ông bà của người Việt dần dần thành mối liên kết vô hình giữa các tôn giáo. Nhờ đó đã tránh các xung đột tôn giáo. Như vậy việc đoàn kết các tôn giáo rất khả thi cho tương lai.

Mặt khác, tôn chỉ chung các tôn giáo là yêu thương lẫn nhau và làm lành tránh dữ. [xiii] Đó là yếu tố quan trọng và cần thiết để cho các tôn giáo tham gia trong lĩnh vực giáo dục, y tế và các hoạt động từ thiện xã hội. Thuận lợi lớn này là một hy vọng để dân VN xóa bỏ các chia rẽ xưa nay.


[i]  “Tổ quốc ăn năn” (Nguyễn Gia Kiểng) có viết rõ:

…”Khổng Tử là một sĩ. Ông là con của một vị quan nhỏ nước Lỗ tên là Thúc Lương Ngột. Năm 19 tuổi ông được bổ nhiệm vào chức vụ một quan thu thuế, rồi sau đó được cử trông coi đàn súc vật dùng vào việc cúng tế. Vào thời đại đó, cúng tế trời đất quỉ thần là một việc quan trọng hàng đầu. Theo sử sách thì Khổng Tử say mê việc cúng tế ngay từ hồi còn thơ ấu cho nên thạo việc cúng tế rất sớm; ngay khi ông còn trẻ đã có những gia đình gởi con theo ông học nghề cúng. Như vậy nghề chính của Khổng Tử là nghề thầy cúng. Hai nghề thu thuế và thày cúng đã có ảnh hưởng quyết định lên cá tính của ông. Trong suốt cuộc đời, Khổng Khâu rất trọng sự chính xác và các nghi thức, ông tin vào những sự huyền bí mà không bao giờ thắc mắc. Rất xuất sắc trong cúng tế, Khổng Khâu được vua nước Lỗ gởi về kinh đô nhà Chu để học hỏi thêm về lễ nghi. Nhờ cuộc du học đó mà ông rất được kính trọng khi trở về nước Lỗ. Cần nhấn mạnh là vào thời đó cúng là việc quan trọng nhất”…

[ii] Nói chung: khi chết thì coi ngày tháng nhập quan, coi tuổi con cháu đứng chầu lúc nhập quan có hợp hay không, đặt bàn thờ Phật, Địa Tạng, tụng kinh định kỳ trong ngày (mỗi thầy bày mỗi khác) với con cháu quỳ xung quanh và lạy theo hiệu lệnh của thầy tụng. Áo tang chế nam, nữ, con cháu, dâu rễ đề có quy định khác nhau. Khi có người đến phúng điếu đến lạy bao nhiêu lạy thì con cháu đứng bên quan tài phải lạy trả số lạy tương tự. Lúc động quan phải cúng thần đạo lộ, đốt giấy tiền vàng bạc cho người chết, bàn thờ vong người chết có 4 chiếc đũa (2 cho người chết và mỗi một cho mỗi âm binh theo hầu để chúng không có đủ cặp đũa mà giành ăn với người chết). Khi động quan có người bày vẽ con cháu phải nằm trước lối đi của quan tài cản đường tỏ vẻ quyến luyến;  nhiều lúc xe đám ma còn phải chở quan tài người chết đến những nơi thân thuộc của người chết và lấy cho quan tài ra ngoài “lạy” nơi ấy trước khi đi ra huyệt; trên đường đi liên tục rải giấy tiền vàng bạc dọc đường; trước lúc hạ huyệt tụng kinh một chầu nữa, 3 ngày sau làm lễ mở cửa mả để cho người chết biết mình chết mà khỏi vương vấn trần gian, cứ 7 ngày cúng thất tụng kinh cho đến 49 ngày, nếu không làm đủ thủ tục thì quá hạn “ở trên” sẽ không cứu xét (!?) công tội của người chết; sau đó cúng 100 ngày. Ba năm xả tang…

Trường hợp con chết trước cha mẹ lại bị buộc tội bất hiếu. Khi liệm phải cho xác con đeo tang cha mẹ. Nhiều người còn dùng roi đánh trên xác con hay quan tài con mình con như là một hành động trừng phạt tội “bất hiếu” (!).

[iii]  Các nhân vật như: Ngọc Hoàng, Bắc Đế, Nam Tào, Bắc Đẩu, Tề Thiên đại thánh, Diêm vương… Có ai vào Chùa Phước Hải (chùa Ngọc Hoàng) ở Đakao (Sài gòn) thì thấy rõ một phần.

[iv] Trong dân chúng có đồn đại rằng mỗi chùa linh ứng một lĩnh vực khác nhau: cầu duyên, cầu con, .. có cả chùa “chuyên” phù hộ cho làm ăn phi pháp (!)

[v] Tham khảo “ Kinh Dịch xưa và nay” của tác giả Nam thanh Phan Quốc Sử, phần “Dịch lý báo tin”.

[vi]  Trong phong thủy, thuyết “Sinh, Lão, Bệnh, Tử” được áp dụng thành những chuyện vô lý. Tại nông thôn VN, nhiều người có thói quen nhậu cũng phải theo con số đó, miễn lọt số “Sinh” mới chịu (uống số ly rượu phải theo công thức 4n+1 = 1, 5, 9, 13, 17…); số tầng xây cao ốc cũng phải 4n+1; số bậc thang nhà cũng phải 4n+1 ; .. riêng tam cấp cấu thang không ai nhắc tới !

[vii]  Trong nhiều quyển lịch có ghi rõ việc nên làm hay kiêng cữ hàng. Đặc biệt, cúng tế là việc nên làm hàng ngày.

[viii] Có những đám ma đi kèm cảnh huynh đệ tương tàn khi mà giờ nhập quan, động quan, giờ chôn.. không hạp với người này người nọ trong gia đình.

[ix] Hệ thống giáo dục cộng đồng, y tế, phúc lợi xã hội, cũng như các tổ chức từ thiện đều cho Công giáo đề xướng và góp công thành lập trước tiên trên thế giới. Riêng về giáo dục ta không phủ nhận việc các nhà nho VN mở lớp từ xưa với quy mô nhỏ là những hệ thống trường tư đầu tiên. Trường công VN chỉ giới hạn ở Quốc Tử Giám (thời Lý) dành cho con các quan lại. Sang thời Trần thì con thường dân học giỏi được thu nạp.

[x] Ngày nay còn nhiều người bị nhồi sọ cho rằng Vatican là một đế quốc dùng tôn giáo để “đi xâm lược”. cũng như xem tôn giáo là những thế lực thù địch cần phải tiêu diệt.

[xi]  Tham khảo thêm “thời kỳ bách hại Công giáo” tại:  http://www.nolaviet.com/cttdvn/lichsu/sacchi.html

[xii] Trong nhiều năm, các kỳ tuyển sinh đại học có luật bất thành văn là không tuyển người Công Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo…vào đại học sư phạm dù thi đậu.

[xiii] Theo thống kê thì tội phạm đa số là dân không theo tôn giáo.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s