Học và dạy kiến trúc

Học và dạy Kiến trúcKTS Cổ Minh Tâm.

  • Nguyên nhân khách quan trước đại học:

 Giáo dục: Từ giáo dục mầm non đến hết phố thông đã duy trì nhiều sai lầm từ phụ huynh học sinh lẫn phương pháp nếu theo quy định (vốn luôn cải cách nửa vởi). Trong giáo dục phổ thông, việc học theo bài mẫu, máy móc giải bài theo đáp án quy định [1]… nhiều năm đã làm mất đầu óc sáng tạo sau này. Giáo dục cá nhân có thói quen đọc sách chưa được chú trọng. Bản thân nếp sống và phong cách giới giáo viên cũng chưa đủ hình thành được tấm gương sáng cho học sinh noi theo.

  1. Gia đình: Về phía phụ huynh học sinh: Ai cũng mong muốn đời con mình phải sung sướng nên luôn đầu tư tối đa cho con cái. Tuy nhiên, do trình độ hạn chế nên họ muốn con em mình theo ý mình hơn là theo khả năng bẩm sinh từng cá nhân trẻ. Đồng thời tâm lý đám đông “làm cho giống người ta” và muốn con mình hơn người khác mà rất nhiều trẻ thành “cỗ máy học tập ngày đêm” mất hẳn cả tuổi thơ hồn nhiên. Mặt khác, do ít người nắm tâm lý trẻ em nên trẻ bị học những thứ mà không phù hợp đô tuổi phát triền khiến tiềm năng sáng tạo bị thui chột [2]; hay phải học thêm những môn với yêu cầu trái ngược nhau. [3]Ngoài ra cách dạy con kiểu độc tài, gia trưởng đã làm trẻ mất tính độc lập trong mọi việc.
  2. Luyện thi vào đại học: Một thời gian dài trong thời bao cấp, đã có nhiều thí sinh (thường là thí sinh ở tỉnh) thi vào ĐHKT vẫn chưa hình dung mình học để làm cái gì và yêu cầu phải có năng khiếu cơ bản ra sao. Đại đa số có tư tưởng “miễn có vào đại học cái đã”. Bấy giờ, quy định chỉ cho thi sinh nộp đơn thi vào một trường duy nhất kèm các tiêu chuẩn ưu tiên gắt gao (khoảng 14 đối tượng) nên đầu vào rất gay gắt. Đối với luyện thi vào kiến trúc, môn vẽ có thể học sớm trước mấy năm, nên việc học môn toán, lý còn lại nhẹ nhàng hơn khi thi vào trường khối A khác.

Các sinh viên “hệ hợp đồng” không phải trải qua thi tuyển là thế hệ được đào tạo đại trà đầu tiên sinh lạm phát kiến trúc sư.

Về sau, dù chế độ thi tuyển thoáng dần, nhưng với việc thu nhận ồ ạt sinh viên tại nhiều trường đại học nhằm mục đích lợi nhuận nên chất lượng đầu bị hạ thấp hơn trước.

Trình độ của sinh viên kiến trúc mới vào trường thế nào đã rõ !

  • Học Kiến trúc

 Sinh vên mới vào đã ô hợp, lại còn bị sinh viên đàn anh “xúi bậy” như sau: mình cứ làm concept cho tốt, không cần học nhiều, những thứ còn lại sau này có sẵn họa viên và kỹ sư lo. Suy nghĩ này sai len lỏi và càng lan rộng trong sinh viên. Mặt khác, những thói hư tật xấu để tự thể hiện mình (cafe, thuốc lá, nhậu nhẹt, tính trễ nãi “sarết”) làm thế hệ sinh viên thêm bạc nhược với tác phong lề mề trễ nãi.

Có thời gian từng có nhiều sinh viên “ở tỉnh gởi lên đi học” hay các khóa “chuyên tu, tại chức”. Những thành phần sinh viên này đã đi học thì có bằng tốt nghiệp là tất yếu !

Hoc hỏi ý tưởng lẫn nhau là đặc thù của môn kiến trúc đã dần biến tướng thành copy bài nhau gây thói xấu và hệ lụy sau này. Nhiều thầy từng hy vọng mỗi lớp chỉ cần có một, hai anh giỏi để có thể kéo lớp tiến bộ theo mà không tìm thấy. Hơn nữa tính thụ động trong học tập từ thời học phổ thông làm giảm hiệu quả học đại học.

Một thời gian dài với quan niệm “đầu vào luôn khó hơn đầu ra” nên sinh viên khi đã vào trường đều sinh lười, mất động lực học tập, đúng ra là không cần học (cũng được tốt nghiệp như mọi người).

Ngoài ra qua bảng thống kê các môn học kiến trúc của tôi (1987-1992), đọc giả sẽ hình dung rủi ro rớt môn phụ của chúng tôi từng trải rất vô lý (do thầy khó hay không có trình độ, ưa trù dập, thích quan trọng hóa môn phụ… và nhất là lãng phí thời gian). Với tỷ lệ này, thấy rõ thời gian đầu tư nghiên cứu đồ án chuyên môn quá thấp.

 

Năm học Hạng mục Học kỳ 1 Học kỳ 2 Tổng
tiết học/năm
% số tiết
lãng phí/năm
Năm 1          
(87-88) Tổng số tiết (Không tính đồ án) 394 388 782  
  Các môn không cần thiết     175 22.38
  Nga văn 42 75 117  
  Thể dục 28 30 58  
  Các môn rủi ro cao khác
(thầy trù dập hay thầy khó, dễ rớt…)
(theo quan điểm tác giả)
    309 39.51
  Toán 84 45 129  
  Hình họa 98 82 180  
Năm 2          
(88-89) Tổng số tiết
(Không tính đồ án)
704 313 1017  
  Các môn không cần thiết     498 48.97
  Quân sự 4 tuần (ước tính = 240 tiết) 240   240  
  Thể dục 42   42  
  Nga văn 80 46 126  
  Triết 45 45 90  
  Các môn rủi ro cao khác:     241 23.70
  Toán 56   56  
  Sức bền 75   75  
  Quang học   30 30  
  Cơ kết cấu   80 80  
Năm 3          
(89-90) Tổng số tiết
(Không tính đồ án)
386 375 761  
  Các môn không cần thiết     391 51.38
  Kinh tế chính trị 48 42 90  
  Nga văn 61   61  
  Quân sự 4 tuần   240 240  
  Các môn rủi ro cao khác:     170 22.34
  Khí hậu nhiệt 35   35  
  Nguyên lý công nghiệp 60   60  
  Âm học   35 35  
  Cấu tạo công nghiệp   40 40  
Năm 4          
(90-91) Tổng số tiết (Không tính đồ án) 330 495 825  
  Các môn không cần thiết     235 28.48
  Chủ nghĩa CS khoa học 60   60  
  Ls Đảng   60 60  
  Mỹ học   30 30  
  Đồ án Thi công   40 40  
  Đo đạc 45   45  
  Các môn rủi ro cao khác:     160 19.39
  Điện 45   45  
  Thi công   75 75  
  Đồ án thép   40 40  
Năm 5          
(91-92) Tổng số tiết (Không tính đồ án) 385   385  
  Các môn không cần thiết     270 70.13
  Lịch sử nghệ thuật 60   60  
  Nga văn 30   30  
  Môi trường cây xanh 45   45  
  Kinh tế xây dựng 60   60  
  Chuyên đề 75   75  

 

Nhiều sinh viên cũng chịu khó thực tập bên ngoài với các đàn anh KTS, cũng là một hình thức làm thêm tự trang trải. Tuy nhiên, việc này thường ảnh hưởng đến việc học do đồng tiền cám dỗ. Từng có anh sinh viên nghỉ học giữa chừng để … đi ra lãnh thầu công trình !

Trong môi trường kinh tế và cạnh tranh đã quần chúng hóa việc học và dạy, coi nhẹ chất lượng. Và chế độ học phí làm nảy sinh suy nghĩ “trường ăn tiền mình thì phải cho mình đậu, nếu không mình đi qua trường khác” đã làm hỏng tư tưởng sinh viên.

Tâm lý đám đông bắt chước hình thức làm bài không hợp lý với những yêu cầu vốn không bắt buộc) luôn tồn tại làm mất thì giờ và chất lượng bài làm mà người thầy không có biện pháp ngăn chặn (thể hiện bài bằng photoshop, vẽ những thứ vô ích, đưa ra những phương án chọn một cách hình thức …)

Chất lượng đào tạo kém khiến ra trường thất nghiệp làm nản lòng sinh viên trước tương lai mờ mịt. 

  • Dạy Kiến trúc

 Một người thầy của chúng tôi từng nói:

“Trường Kiến trúc ai dạy cũng được và ai học cũng được”

Câu nói vẫn duy trì hiệu lực từ 30 hơn năm nay !

Lâu nay, trường từng thu nhận một số thầy chưa đủ khả năng sư phạm, thậm chí là thiếu chuyên môn hay non tay nghề (SV mới ra trường) để giảng dạy sinh viên. Nguy hại là họ dạy cho sinh viên năm thứ nhất !. Đây là sai lầm lớn.

Môn chính được coi nhẹ và các môn phụ không cần thiết chiếm đa số với những đồ án môn nặng hơn yêu cầu thực tế. Và kiến thức các môn phụ này không ai dám thuê KTS thực hiện vì luôn có chuyên gia có liên quan thực hiện (đo đạc, dự toán, thiết kế biện pháp thi công, điện, nước…)[4]. Đồng thời, những thầy dạy môn phụ ký hợp đồng giảng dạy với trường kiến trúc chưa hình dung phạm vi mức độ nào là vừa đủ cho sinh viên kiến trúc. Có người lại quá quan trọng môn học của mình, nên đã dạy quá nhiều cho sinh viên tạo tácdụng ngược.

Nhiều hạng mục chuyên môn cần thiết cho sinh viên (liên quan đến tiêu chuẩn, luật xây dựng..) lại bị bỏ quên. [5]

Nói về chất lượng môn học chính (thiết kế đồ án, học cấu tạo kiến trúc), do trình độ đầu vào sinh viên đã không đạt nên các thầy lâm vô thế kẹt tiến thoái lưỡng nan. Có thầy than với tôi rằng: “Chấm đàng hoàng thì rớt hết, còn bị sinh viên thù oán ! Đã vậy còn bị mang tiếng dạy dở và bị ở trên ra lệnh cộng thêm điểm để cải thiện kết quả thi”. Những sinh viên rớt đồ án còn phải làm bài trả nợ song song với việc nghiên cứu đồ án mới. trước tình hình đó nhiều thầy cũng nản lòng và chấm đậu bài trả nợ phứt cho xong [6] !Đó là chưa bàn sâu đến phương pháp nghiên cứu đồ án hiện nay đã tụt hậu và lệch lạc so với phương pháp trường kiến trúc xưa nay.

Ngay các môn học chính, nhiều thầy quan trọng những yếu tố phụ (mô hình, phối cảnh) làm sinh viên mất thêm giờ nghiên cứu thiết kế mà chú trọng hình thức trình bày hào nhoáng bên ngoài. Có một thời gian, chương trình đồ án chuyên môn duy trì một “khung chương trình” tức là mỗi năm đều thực hiện rập khuôn những đồ án như nhau và người thầy không cần đầu tư để đưa ra đề mới khiến chương trình học không cải tiến nổi. Trong quá trình dạy và học, khái niệm phản biện tranh luận giữa thầy và trò (nhằm giúp nhau tiến bộ) chưa được coi trọng nên hiện tượng thầy trù dập trò hay thầy áp đặt trò không tránh khỏi.

Với việc học quá nhiều môn phụ kèm kết quả dạy và học không tới nơi buộc nhiều sinh viên phải xin học thêm ngoài giờ như học sinh phổ thông với một học phí đôi lúc không phải là rẻ. Nghịch lý này lại được xem là chuyện bình thường trong trường đại học ! [7]

Trong hệ thống quản lý, sự quan liêu của phòng giáo vụ (nay còn gọi là phòng đào tạo) tạo nhiều bất mãn trong giới sinh viên lẫn cả các thầy. Đã một thời gian phòng giáo vụ đã thay phòng tài chánh đứng ra thu tiền thi lại, làm đồ án trả nợ của sinh viên và trích phần trăm trả cho các thầy tạo nhiều tiêu cực lộ liễu. Việc này làm nản lòng thầy và trò mà không biết kêu ca vào đâu và ảnh hưởng chất lượng dạy và học. Phòng giáo vụ từng tự tiện can thiệp vào việc giảng dạy cũng như ra những quy định vô lý (điểm danh, kiểm tra giữa học kỳ, ai không đủ bài kiểm tra sẽ bị cấm thi, đóng tiền trả nợ…) làm ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy không ít.

  • Về phía người tuyển dụng:

Cá nhân tôi, khi mới ra trường, cũng phải tự học lại rất nhiều thứ mà nhà trường đáng lẽ phải dạy !

Việc đào tạo tính hình thức gây thiệt thòi cho sinh viên mới ra trường với nhiều lổ hổng kiến thức và kinh nghiệm. Tinh hình kinh tế thị trường chụp giựt khiến phần đông KTS nghiêng về khả năng biểu diễn phối cảnh “hù” khách dưới cái gọi là ”concept” với năng lực khai triển thiết kế kỹ thuật bị hạn chế.

Ngoài các văn phòng thiết kế bậc trung trở lên thường có những người đảm trách từng mảng chuyên môn ngoài thiết kế. Những văn phòng nhỏ thì KTS buộc phải đảm nhận thêm những mảng thủ tục ngoài thiết kế thì việc tuyển KTS làm việc đúng yêu cầu càng khó khăn. Nhưng điểm chung là hầu hết các công ty buộc phải đào tạo lại các KTS mới ra trường cho phù hợp công việc cụ thể. Kỹ năng khai triển thiết kế kỹ thuật, thường là điểm yếu ở các KTS mới ra trường, là hậu quả từ những đồ án có tính trình diễn ở trường. Cách đào tạo của nhà trường, nếu không muốn nói là nửa mùa, đã xa rời thực tế làm việc bên ngoài.

Số lượng sinh viên hàng năm ồ ạt ra trường [8] và tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn làm phức tạp hóa tình hình xã hội nói chung (thất nghiệp, làm việc trái nghề) và ảnh hưởng chất lượng xây dựng nói riêng (làm ăn chụp giựt, phá giá, xây nhà chất lượng kém).

Thực trạng dạy và học đã nêu dù chưa đầy đủ cũng đã cho thấy là một hậu quả tích lũy từ hàng chục năm chứ không phải do ngày một ngày hai mà có. Những biện pháp qua các quy định hiện nay chỉ là phần ngọn như đem dầu chữa cháy. (25-9-2017)

 

[1] Tôi có biết một trường hợp câu hỏi đề thi như sau: “Định nghĩa tam giác vuông” trong đó có hai câu đáp án như sau  a) Tam giác có một góc vuông; b) Tam giác có một góc bằng 90 độ . Nhưng đáp án a mới là đúng !

[2]Rèn chữ là một thí dụ lãng phí thì giờ của trẻ thay vì cho trẻ chơi những trò chơi trí tuệ hay học ngoại ngữ. Ở tuổi trí não đang phát triển tốt thì lại buộc trẻ ngồi hàng giờ rèn chữ theo mẫu quy định. Đây là trường hợp triệt tiêu óc sáng tạo điển hình.

[3] Cụ thể có trẻ vừa học đàn (đòi hỏi tay phải mềm mại) vừa học võ (đòi hỏi tay chân cứng cáp).

[4] Đây là hậu quả thời bao cấp với quan niệm mổi KTS khi được chuyển công tác vùng sâu vùng xa có khả năng tự xoay sở khi công việc thiếu nhân lực. Khái niệm này lạc hậu trong giai đoạn chuyên môn hóa hiện nay.

[5] Thế hệ sinh viên chúng tôi chỉ biết khái niệm quy chuẩn, tiêu chuẩn, cũng như các quy trình thiết kế sau khi ra trường đi làm. Vì trong trường hoàn toàn không dạy đến.

[6] Năm 1989, trường chúng tôi có quy định đồ án trả nợ dù lớn hay nhỏ đều phải tập trung vẽ xong trong vòng 2 ngày ! (Trong khi làm một đồ án phải tập trung trong họa thất vẽ ròng rã từ thứ hai đến trưa thứ bảy). Đã có thầy lên tiếng phản đối nhưng không kết quả.

[7] Môn học thể dục năm II của chúng tôi là môn bơi lội và với số lượng sinh viên trong lớp đông nên giờ học bơi là ngâm mình trong nước là chính. Để đạt kết quả thi học kỳ, nhiều người phải xin học thêm môn bơi lội ngoài giờ. Nghe tưởng chơi mà là thật !

Bấy giờ có những môn được tính học phí theo giá chỉ vàng. Nhất là các môn buộc phải thi tuyển giai đoạn. Đó là thế hệ sinh viên sau khóa chúng tôi phải chịu đựng.

Advertisements

Nhớ lại những câu nói để đời của các thầy trường Kiến Trúc: (sẽ còn nhớ thêm để cập nhật)

Trường Kiến trúc ai dạy cũng được và ai học cũng được” (Võ Thành Lân)

KTS nhà thổ cũng phải biết thiết kế cho đúng dây chuyền công năng !” (Nguyễn Quang Nhạc)

Giờ thì trường không ra trường, thầy không ra thầy, trò không ra trò” (hình như của thầy Nguyễn Quang Nhạc – cần xác minh lại)

Với trình độ sinh viên bây giờ thì tui chỉ còn nước đào tạo đại trà !” (Võ Đình Diệp)

Các anh đừng chê trường mình xây dở mà nhà trường cố ý xây như vậy để dạy mấy anh học” (Võ Đình Diệp)

Sinh viên ngày xưa họ chững chạc đứng đắn, còn sinh viên mấy anh ngày nay nhiều chuyện quá !” (Nguyễn Ngọc Giả)

Mấy anh chị học thế này thì chỉ có nước ở lại trường này làm thầy!” (Vũ Đại Hải)

Mấy anh ưa vẽ cửa giả, vách giả. Thử hỏi vợ anh mang vú giả anh chịu hông ?” (Cổ Văn Hậu)

Nhà không có nóc như con gái không có tóc” (Cổ Văn Hậu)

Bằng KTS tui xài còn chưa hết. Học cao học làm gì ?” (Cổ Văn Hậu)

Các anh không cần chọn đề tài tốt nghiệp như trung tâm này hay trung tâm nọ cho nó cao siêu. Chỉ cần các anh vẽ một căn nhà đàng hòang là được” (Cổ Văn Hậu)

Lương sao thì tôi dạy vậy. Dạy hết lương thì chúng ta về !” (Vũ Mạnh Hùng dạy kết cấu)

Khu vệ sinh công cộng mà có phòng đệm !?? Thằng nào dạy anh thế hở ?” (Trần Khang)

Sao anh không mang tiền lên một lần cho hết một học kỳ mà cứ phải lâu lâu về quê lấy tiền lên ?” (Vũ Thị Lũng nói với anh Đào Đông Nhựt)

Tôi nói thật, nếu gia đình anh khó khăn thì anh đừng nên học trường này“. (Vũ Thị Lũng nói khi anh Man Đức Bảo xin đóng học phí chậm )

Tất cả các con đường của kts đều dẫn vào nhà đá” (Nguyễn Trường Lưu)

Thôi mấy anh cũng ráng ôn để thi tiếng Nga. Như tôi đây cũng lỡ thời rồi” (cô Lưu Hòa Lý dạy Nga văn)

Nếu muốn ngồi để ký giấy thì học cao học” (Khương Văn Mười)

Mấy anh coi tui như c..t, muốn ăn lúc nào thì ăn” (Nguyễn Hoài Nam)

Cần cù bù năng khiếu” (Trương Văn Ngự)

Phải vẽ nhiều lần, giống như vào tù ra khám nhiều lần thì mới giỏi” (Trương Văn Ngự)

Tao dạy mà tao còn hổng hiểu huống gì tụi bây” (Nguyễn Hữu Quang dạy đại số tuyến tính)

Thi bài khó thì cũng phải ráng làm cho được. Giống hồi xưa mấy bà già bị phong thấp đi không nổi mà khi bị Việt Cộng rượt thì cỡ nào cũng phái ráng mà chạy…” (Nguyễn Hữu Quang)

Tui muốn biết “CÓ” làm bài hay không ?”, chứ không cần biết “BIẾT” làm bài hay không” !” (Trần Hồng Quân dạy môn sức bền)

Tui không quan tâm giá trị bằng cấp, nước ngoài chơi với mình thì tụi nó phải công nhận bằng cấp mình” (Mai Hà San – hiệu trưởng)

Anh xin tui ký giấy để anh đi du học. Bộ anh chê trường này dạy dở sao ?” (Mai Hà San)

Đầu tư máy tính rồi mấy anh làm biếng vẽ hay sao ?” (Mai Hà San)

Khi người ta bị tù người ta cần luật sư, khi người ta bệnh thì cần bác sĩ. Nhưng khi người ta có tiền thì người ta mới tìm KTS. Nên KTS bị coi không ra ký lô nào hết. Vậy thì KTS phải dùng hết bản lĩnh mình ra để thuyết phục thân chủ“.  (Phạm Văn Thâng)

Tôi ra đề đúng mấy anh cũng làm sai” (Văn Đình Thông dạy hình họa)

Thấy trời mưa thì mấy anh tự động nghỉ học” (Văn Đình Thông)

Ngày xưa người ta xả thân cứu nước còn ngày nay người ta xả nước cứu thân“(Hà Anh Tuấn)

Sau một đêm, tôi binh hết ba cuồn giấy can, mỗi cuồn bốn mươi thước, ra hàng trăm phương án quy hoạch” (Võ Khắc Vấn)

Tui chờ anh 2 năm nữa lên học với tui, tui đố anh thi đậu môn của tui !” (Võ Khắc Vấn nói với anh Văn Thanh Cường).

**********************

Còn tui, tui chỉ nói: “Con KTS chẳng thằng nào giỏi cả !”

Chuyện kể về Kiến Trúc (4/4-hết) – Kiến Lửa.

Hồi thứ tư:     Trúng vô thời thế, xây dựng tràn lan

                        Hạ cám thượng vàng, dân đen lãnh đủ.

                        Ham mới nới củ, đô thị tan hoang,

                        Tấc đất tấc vàng, liệt cường xâu xé.

 

Nói tiếp về Tổ, sau khi viết thành công quyển cẩm nang, vì ngồi suốt đêm nghiên cứu động não miệt mài quá độ, thêm bị cái vụ té lăn chiêng xuống giường hồi đêm kia nên lúc này mới thấy mình mẫy rêm không kể xiết. Tổ linh tính thấy chuyện không yên bèn đánh tay tính thêm một quẻ nữa. Nhằm quẻ: “Lôi Địa Dự” hóa “Thuần Khôn”.

 

Thôi chết ! Tức là:

Xây dựng bùng nổ (Dự) tùm lum (Thuần Khôn)

Làm ăn chụp giựt (Dự) làm tan hoang (Thuần Khôn)… vân vân…

 

Càng giải quẻ Tổ càng lo lắng và ân hận. Tiếc rằng đã lỡ viết rồi mà bỏ thì uổng văn của mình quá. Thôi đành chịu vậy ! Tổ đành tiếp tục rặn ý viết thêm một “cẩm nang cứu giải” trong trường hợp khẩn cấp. Về sau trước khi tịch, Tổ bắt buộc đệ tử phải luôn truyền bá song song 2 cẩm nang. Anh nào làm sai sẽ bị Tổ vật đừng trách ! Song có vài đồ đệ sẵn tánh xấu ưa giấu nghề , bất chấp lời nguyền, vô ý một cách tính tóan làm thất lạc bản gốc “cẩm nang cứu giải” nên Tổ giận lắm. Để tránh bị Tổ phạt, nên về sau, lễ Truyền thống nào cũng phải nhắc tới Thần Kiến trúc, thậm chí một vài năm có thêm cả lể tế Thần kiến trúc cho chắc ăn là vậy.

Tổ tiên tri không sai. Nhiều năm gần đây khi xây dựng được mùa, ngòai KTS ra, tất cả kỹ sư, thầu tay ngang tay dọc đều có thể làm thiết kế kiêm xây dựng. KTS cũng nhảy vô làm thầu để cạnh tranh với đối thủ. Rồi ngòai ngành xây dựng ra, ngành nào có tiền cũng mở thêm công ty xây dựng được thỏai mái. Muốn chất lượng cỡ nào cũng được đáp ứng tới bến. Hể dính tới xây dựng là có tiếng, tốt xấu tính sau.

“Người người xây dựng, nhà nhà xây dựng, đâu cũng xây dựng được” búa xua . Riết đâu cần học kiến trúc cũng có thể xây nhà dễ ợt vì kiến trúc đã đại chúng hóa đến tận cùng của xã hội. Cứ ra đường là gặp dân Kiến Trúc. Hể làm quen là anh nào cũng “xì” ra hàng cọc cái “cạc vi-sít” rải như truyền đơn nào là giám đốc, phó giám đốc, manager…tệ lắm cũng là một design supervisor (nói văn chương là “cai thiết kế”). Kèm theo thêm đủ chức vị “sư” này “sỹ” nọ đầy nhóc tấm “cạc”. Đã lỡ tốn một lần thuê thợ thì phải yêu cầu thợ nó in nhiều nhiều chữ cho đáng đồng tiền bát gạo và xứng cái danh mình hằng mong ước. Tình hình này thì riết KTS chỉ khác với người ngòai duy nhứt ở cái bằng mà thôi. Tội gì học cho tốn tiền mất thì giờ nếu không muốn bon chen khoa bảng với chúng nhân. Đất đai lên giá vô tội vạ. Đất vườn, đất ruộng, đất tôn giáo, đất nghĩa địa … đều thổ cư hóa đến tột cùng mà vẫn không đáp ứng nổi nhu cầu xây dựng của thiên hạ. Dân Kiến làm ăn ban đầu còn dễ dàng, càng về sau bị nhiều “ngọai đạo” dành ăn nên Kiến thật hay Kiến lụi chẳng ai biết nổi. Lợi dụng Kiến thiệt-Kiến giả dành ăn nhau, nhiều “ngư ông” nảy ra sáng kiến nhập vật liệu xây dựng, sách vở, các mẫu nhà trên thế giới vào để mà “đắc lợi”. Đầu tiên là dụ cho khách hàng mua mấy cái catalô mẫu nhà từ lạ tới lập dị chưa từng có. Từ đó khách hàng sáng tạo kết hợp thêm nhiều kiểu từ nhiều nguồn tạo một phong cách kiến trúc cho riêng mình. Người ít học thì cứ tự do bắt chước cái có sẵn bên hàng xóm mà xây cho chắc ăn vì chẳng có ai chết mà sợ. Chưa có luật bảo vệ bản quyền kiến trúc của nên bà con cứ thỏai mái chụp hình, cóp-py lại cái có sẵn và từ đó theo giống là yên bụng. Tất cả biến cái đất này thành cái thế “quần Kiến tranh thực”, tự do hơn cả thế giới tự do vì ai cũng làm xây dựng được mà không bị ai khác kềm hãm ý tưởng và hành động của mình. Các trường phái thế giới từ ngàn xưa đến nay tha hồ được phát huy và thí nghiệm trong cái thiên đường xây dựng này đến tận cùng ngõ hẻm. Chúng còn được vinh dự sánh vai kề bên nhau làm khu phố thêm đa đạng như một cuộc thi hoa hậu đường phố. Kiểu kiến trúc mới về ồ ạt, chưa biết chất lượng ra sao song nhiều người cũng đã thẳng tay phá sạch những căn nhà cổ vô giá của mình để “lên đời” cho thiên hạ nể. Rồi cái phố nhà ta nó trở nên phong phú với nhiều chủng lọai. Trường phái tân cổ giao duyên này đến nay chưa ai có thể định nghĩa được rõ ràng. Đại khái nó tạm có cái tên dài, khá dài, dài vô tận: “Chino-greco-romano-franco-americano… vietnamese” . Bác sĩ còn phải lỡ tay giết ít nhứt vài người mới có kinh nghiệm để thành bác sĩ giỏi thì KTS trước khi nổi tiếng thì thiết kế tiêu tùng vài căn nhà là chuyện tất nhiên không chối cãi. Nên sẵn dịp này các Kiến thả cửa chế biến, nhào nặn các chi tiết kiến trúc từ nhiều nguồn tài liệu, nhiều công trình tham khảo để “dợt thử ” ý tưởng của mình. Nhiều anh rút kinh nghiệm ở dơ hồi trong trường rồi sản sanh ý tưởng lấy gạch cầu tiêu mà ốp mặt tiền nhà cho dể rửa ráy , càng thêm sạch sẽ. Mấy anh sẵn tính lười thì có sáng kiến dùng cây nhựa cắm trong các bồn hoa cây xanh để đở mất công tưới tiêu, trừ sâu gì ráo mà luôn thấy thấy xanh dờn. Thí nghiệm vũ khí thì bị chống kịch liệt chứ thí nghiệm ý tưởng thì nhiều người còn khuyến khích nhứt là những người không bỏ cắc nào ra và mình chẳng mất mát gì mà sợ . Tạm tóm tắt thì bộ mặt mấy khu phố loại “kiến trúc nhà dân” được diễn tả như sau:

 

Quán thiên hạ đèn mờ, đèn tỏ

Phố nhà ta đủ kiểu: cửa vòm,

Lan can “bà chửa” khum khum,

Hoa văn “rồng lộn”, cột lùn, cột vuông

Sơn trắng xóa trên tường ba mặt

Gạch vệ sinh ốp lát mặt tiền.

Phù điêu vằn vện ốp lên,

Tượng Lân, Sư, Chó dựng bên lối vào.

Mái đủ loại muôn màu muôn cách

Tượng đại bàng tung cánh phía trên,

Trong nhà, bồn tắm như tiên,

Kiểu nằm, kiểu đứng lại thêm kiểu ngồi.

Đủ vật liệu, ôi thôi! nội thất

Kiểu Việt, Âu, Trung Quốc lung tung,

Đài Loan loè loẹt đèn chùm,

Hy-La, “Gô-tích” um tùm hoa văn.

Thang xương cá tung hoành uốn lượn,

Cạnh quầy bar ngất ngưỡng giữa nhà,

Kề bên: hồ cá, bồn hoa,

Salon đồ sộ kiêu sa muôn màu.

Phòng giải trí thần sầu, lác mắt,

Karaoke, dàn nhạc, video…

Sắm toàn đồ hiệu cho kiêu,

Sao cho lác mắt bao nhiêu người ngoài…

 

Song song phần “xịn” của “chợ” xây dựng thì cũng có phần “dỏm” mà giới bình dân gọi là “chợ trời xây dựng”. Ai vào đó đều tự do thiết kế, thi công, tính tóan, thỏai mái kỳ kèo mọi thứ trong xây dựng từ tiền thiết kế phí, thời gian thực hiện, chất lượng công trình, vật liệu,… ngay cả kết cấu và tải trọng công trình nếu cần cũng sẵn sàng được anh em trả giá miễn cho nhẹ tối đa kinh phí. Đúng luôn theo nghĩa “chợ trời” trong thực tế với kết quả và hậu quả của nó. Vì tiền là căn bản, mục đích nên tất nhiên cũng có tệ nạn trung gian đủ chủng loại: cò nhà, cò giấy phép, cò mô hình, cò phối cảnh, chuyên gia quảng cáo thiết kế cho các công ty, buôn lậu ( làm xây dựng không chính thức), và cả … Kiến tặc, Thầu gian (chôm ý tưởng công trình, làm lụi, vẽ lụi, xây ẩu … rồi … ôm tiền quất ngựa truy phong). Lâu lâu cũng có những vụ thanh toán nhau vì tiền đúng bài phim Tàu, phim Mỹ. Chưa nói tới mấy trò “thanh lý môn hộ” lặt vặt thì nhiều không kể xiết.

Nói riêng về lòai Kiến hai cẳng, trong thời buổi nhiểu nhương này số Kiến chúa thành công thì ít mà số thất bại hay đi làm Kiến thợ thì đông vô kể. Kiến thợ cũng bị Kiến chúa bóc lột và xù tiền như ai. Thây kệ trong trường trước đây là “anh em” chứ ra trường thì “chúng ông, chúng mày” ráo ! Rồi “bôi mặt đá nhau” không ai cấm. Dân Kiến tốt bụng thì lại chẳng khi nào nói khoe khoang ào ào ra ngòai nhiều nên thiên hạ chẳng ai biết rõ đâu mà tìm, trừ khi có khách quen giới thiệu tới. Khắp nơi tràn lan Kiến thợ, đa số là bị buộc “bán thân” cho “lầu xanh Thiết kế” để cong lưng vẽ hòai theo ý của người khác phứt cho rồi mà chẳng được tiền bao nhiêu. Đường đường là một Đại Kiến trúc sư mà lúc nào cũng phải bị “e thẹn cúi đầu” trước thu nhập của mấy ả “hàng một triệu” mới tức chớ.

Cái kiếp “sống nhờ lương” mà lương không đủ sống thì sướng nhờ cái chi chi nữa hở trời!

Thỉnh thỏang có thấy mấy anh sinh viên ra trường năn nỉ xin làm không công cho mấy văn phòng KTS để học thêm nghề. Thời thế bắt mấy bác sĩ “chạy” xin làm không công cho bịnh viện vài năm mới được ra làm phòng mạch tư chưa đủ sao mà bây giờ lại tới lượt hành hạ lòai Kiến hai cẳng ?

Trong sự bùng phát xây dựng tất nhiên gặp nhiều thủ tục khách hàng phải giải quyết. Thì tất cả đều sẵn sàng có người chạy lo phục vụ khách hàng tới nơi tới chốn. Kiến nhà ta để tiếp tục cạnh tranh tồn tại thì ô-kê “lãnh sô” chơi đại luôn cho công việc xong tới nơi tới chốn. Riết rồi từ chuyên môn ban đầu là khâu thiết kế, Kiến nhà ta liều mạng thực tập dần để làm căn nhà thân chủ từ a-z một mình. Có Kiến sau khi thiết kế xong thì đứng ra làm “cò” thi công cho thân chủ luôn để vét hụi kế. Nếu công trình gặp sự cố thì lại nghiêng về thân chủ làm bộ tư vấn mà xúi thân chủ lấy lý do chất lượng thi công kém mà trừ tiền thầu cho bỏ ghét vừa để tiết kiệm tiền. Nếu êm xui thì đứng nghiêng qua ông thầu mà đòi phần trăm. Do đó luôn được lòng một trong hai bên và thừa cơ bắt tiếp các công trình khác. Anh nào tệ lắm cũng biết chỉ đường cho khách “chạy” sao cho đúng chỗ , đúng thầy, đúng thuốc. Nhưng khi rành rẽ các khâu thủ tục thì nhiều Kiến lại “lục” tay nghề dần. Có anh đạt đến tuyệt đỉnh võ công chỉ bằng độc chiêu ký giấy. Vì trong dân gian đã có câu rằng: “Một tràng chất xám thua đám nước bọt, đám nước bọt không bằng giọt bút bi” là thế.

Khi kiếm ăn càng dễ dàng thì Kiến cũng như lòai khác càng giảm bản năng sinh tồn tức là không còn bền bĩ nghiên cứu chuyên môn cho mệt xác trong khi “chạy ngòai” hiệu quả hơn. Thấy khách hàng không rành chuyện xây cất thì cũng chẳng ai tội gì vẽ kỹ, cứ “thi công tới đâu binh sửa sai tới đó”. Vì vậy thấy hòai chuyện nhiều nhà xây xong phát sinh đủ sự cố mẹ, sự cố con, trong khi …

 

Rủ nhau, Kiến tặc, Thầu gian,

Om tiền chạy sạch, cùng ăn chia lời,

Chúng ông đã trốn đằng trời,

Chủ nhà ở lại chịu đời đắng cay…

 

… với mọi hậu quả phát sinh không lường trước được.

Đất đai lên giá vùn vụt, xây dựng thỏai mái, nghề xây dựng thu tiền như nước, hỏi ai hổng ham ? Thấy miếng mồi quá ngon trước mắt thì việc dành ăn xâu xé không tránh khỏi.

Tại vậy mà xưa nay, bên Tây có câu: “Qui terre a, guerre a“. Quả là chí lý !

Rồi đời sau có thơ vịnh rằng:

 

… Cảnh xâu xé loi nhoi lúc nhúc,

Như cá tra giành giựt mọi ngày,

Sặc mùi “Đại Kiến” bậc thầy

Mồm loa mép dãi, lưỡi dài hơn râu.

Trò “bảy chử” thuộc làu như cháo,

Thầy “tám nghề” chơi bạo thẳng tay,

Corbusier phải chạy dài,

Kenzo Tange thấy mặt mày thất kinh …

 

Thị trường béo bở tất nhiên bị liệt cường xâu xé như Trung hoa đời cuối Mãn Thanh. Các Kiến, Thầu trên tòan thế giới đổ xô vào để chia lợi nhuận. Thôi thì khắp nơi nhan nhản tập đòan “hàng ngọai” với chất lượng và giá cả đáng nể. Không ai cấm những tay Kiến tặc, Thầu gian “ngọai nhập” tràn vô khi không còn đất sống bên bản quốc. Cũng Kiến này Kiến nọ mặt mày bảnh tỏn, ăn nói miệng dẻo quẹo đi dụ khách hàng đúng họ Kiến nhà ta. Ban đầu còn chảnh chỉ tuyên bố nhúng tay vô các “độ” công trình lớn. Dần dà thất thế vì nội lực yếu thì công trình “nhà dân” hay trang trí lặt vặt họ cũng chẳng từ. Khách hàng vốn quá sợ các “gian tặc” nội địa thì khi vừa thấy “hàng ngọai” tất nhiên sẵn sàng bỏ số tiền lớn ra thuê mà không cần thắc mắc, trả giá. Trúng tay “Kiến tặc” ngọai nhập thứ dữ thì kể như tiền nào họa nấy và tệ hơn với nhiều ý tưởng lông lá ngoại bang chưa từng có xưa nay. Dân tứ xứ đổ về phải luôn hợp tác nhau cho tăng thế lực để cạnh tranh với lực lượng nội địa hùng hậu sẵn có. Cứ thế nên dần dần hàng trăm “ông khổng lồ” về quy hoạch, xây dựng, địa ốc xịn, dỏm nhảy vô đây tha hồ giựt dây cho giá nhà lên cao thả cửa. Dân đen bị lóa mắt trước mấy chân dung tươi rói của “thần tượng Franklin” hay mấy cục “999” bóng lộn nên cứ bán đất cũ chạy mua nhà chổ khác liên tục. Thơ rằng:

 

…Cảnh chụp giựt tràn lan bát nháo,

Quậy lung tung, nổ láo kiếm tiền.

Chỉ thương một lủ dân đen,

Nghe tin giải tỏa mấy phen hết hồn…

 

Tuy vậy có nhiều Kiến “ngoại” vô đây hợp tác nhau rồi bị “dính chấu” ôm nhau chết chùm vì bên nào cũng tưởng bên kia giỏi hơn mình để mà dựa hơi nhờ vả. Nếu có đụng chuyện kiểu gì thì rồi công trình cứ bỏ phế đó mặc cho khách hàng méo mặt tự xử phần còn lại với hầu bao đã bị rút sạch.

Khi Kiến chúa ngọai vào đây buộc lòng phải tìm Kiến thợ nội địa như các lực lượng lính “khố đỏ, khố xanh” làm sức mạnh. Và để chỉ huy đám lính này cũng cần có đầy đủ Kiến bộ sậu nào là Kiến thầy đội, thầy cai, cập-rằng, thầy thông hay cô ký, loong-toong chạy việc…, chưa kề cả mấy “me”, mấy “bồi” ngoài biên chế, nội ngọai nhiều ít tùy theo nhu cầu công việc và tình cảm. Gặp Kiến chúa tài giỏi và nhân từ thì anh em nhà Kiến thợ đở khổ dù áp lực công việc căng thẳng hơn nhiều nơi khác, nhưng bù lại có dịp học hỏi trau dồi nhiều kinh nghiệm chuyên môn. Đó chỉ là cái phúc tí ti.

 

Than ôi ! Lương cao thì cao (trung bình 200-500 usd/tháng, trong khi một lượng vàng khoảng 500 usd) nhưng thử đọc sách truyện sử rồi dại dột đem lương mình ra so sánh thì biết. Bảo đảm sẽ không ai cầm được nước mắt vì lương hàng tháng thời ấy của một cung nử hay thái giám cũng đã tròm trèm 3 lượng ! (cứ thử đọc bộ “Nam Quốc Sơn Hà” của Yên Tử cư sỹ Trần Đại Sỹ thì rõ). Buồn thay ! Trong khi lương một sếp ngoại quốc thì trung bình 2500-4000 usd/tháng.

 

Cái họa không nhỏ nếu Kiến nào lọt vô ổ Kiến “lụi từ trên xuống dưới”. Từ lão Kiến Chúa “tiền nhiều hơn chữ” đến một đám Cai, Đội tài năng, đạo đức chẳng ra gì và nói nhiều hơn làm. Rồi thêm một đám lâu la tay sai chỉ biết nhắm mắt tuân lịnh núp dưới đuôi mấy quan thầy. Mấy xếp dùng “mồm miệng đỡ tay chân” tha hồ trây trét công việc. Có gã xếp, để có dịp rút kinh nghiệm thiết kế, nhắm mắt nướng quân thả cửa để “thí nghiệm chiến trường” thiết kế với nhiều ý đồ quái đản và bất khả thi. Lính Kiến không làm được thì cũng sẵn có mấy tên Đội, Cai tha hồ chửi đổng mà chẳng sợ bị kiện cáo gì vì mấy tiếng ấy không nằm trong tự điển thì đếch anh Kiến nào hiểu được ! “Bảy chử tám nghề” được chuyên môn hóa lẫn hiện đại hóa bằng mọi phương tiện vi tính đi sau miệng lưỡi. Tất nhiên dẫn đến tai họa từ “charette” đến hậu quả thiết kế là không tránh khỏi mà “bom đạn” lỗi lầm được trút thả ga lên đầu đám Kiến thợ với lý do chất lượng hồ sơ không đạt, cũng vừa là nhằm “đỡ đạn cứu nguy” cho trách nhiệm quản lý. Từ đó mấy thầy chú mới có cớ ép buộc đám Kiến thợ tự nguyện làm ngòai giờ miễn phí thường xuyên mà không oán trách được do trình độ ngọai ngữ Kiến thợ không đủ để lý giải biện bạch “tay đôi”. Đám tay sai nghẹn họng vì lương không còn sức lên tiếng đấu tranh bảo vệ “người đằng mình”. Nhiều anh chị bị cho “lên đường” oan mạng chỉ vì lương tâm nghề nghiệp buộc họ bất tuân thượng lệnh hơn là vì trình độ kém. Nhiều anh bị đuổi do “gian thần sàm tấu” mà mình không đủ từ vựng để tự bào chữa. Nguyên nhân quái đản hơn là tài mình quá giỏi nên xếp quê độ tống khứ đi cho rảnh mắt để khỏi mất công ganh tỵ. Rốt cuộc chẳng ai thưa kiện được ai vì chứng cớ đều là lời nói bị gió bay mất. Con Kiến kiện củ khoai còn chưa nên thân thì kiện cái gì nữa được? Công cuộc “đánh nhỏ thua nhỏ, đánh lớn thua lớn” cứ kéo dài dài tùy theo nguồn “đạn dược” của ổ Kiến, miễn sao lợi ích cá nhân của mấy Kiến xếp chóp bu không sứt mẻ là được. Có người đồn rằng bên nước ngòai cũng có đường dây “chạy” bằng cho mấy sếp trước khi vào đây hành nghề nên mới xảy ra mấy tệ nạn trên. Chẳng biết có đúng không ?? Trước mắt là một chuyện thật 100% như sau: tại một công ty thiết kế kiến trúc 100% vốn nước ngoài nọ có một ông Kiến Tây chức vụ “Đê-em-mờ” (D.M: design manager) với thành tích trên lý lịch 15 năm hành nghề (nghe kinh lắm!). Cách “binh” bài độc nhất vô nhị của ông là: dùng máy scan mấy công trình kiến trúc trong tạp chí sau đó sai “lính” dùng photoshop xử lý lại ít mắm muối, ghép qua ghép lại làm ra tác phẩm của mình, cũng như lấy nhiều thành phần bản vẽ khác nhau của thiên hạ chế thành bản vẽ mới vừa tăng thêm tính đa dạng về phong cách. Binh bài thì binh từ phối cảnh trước, rồi suy ngược về mặt bằng. Thậm chí còn bắt mấy xì-táp (staff) thể hiện các mặt bằng chi tiết lát gạch nền nhà hay địa hình khu đất quy hoạch bằng phối cảnh thì ông mới chịu đọc (!). Ông có cái bạo gan là bố trí quy hoạch sân tennis hay mấy sân thể thao ngoài trời khác theo đủ tám hướng tùy theo ý thích của mình cho đã mắt. Cái biệt tài này của ông mới ác đạn: giải quyết trường hợp ý đồ bị “lủng” do lỡ “binh” công trình lấn vọt ra ngoài ranh đất. Cách thức đơn giản nhẹ nhàng thôi: cứ tiếp tục “binh” lấn ra ngoài xả láng và giải thích một cách cực kỳ trí tuệ:” Đề nghị của nhà thiết kế: yêu cầu khách hàng mua thêm phần đất bên cạnh như vầy… như vầy … theo bản vẽ này để tăng giá trị của công trình mới”. Hay chưa? Đã vậy sẵn quyền sinh sát trong tay nên hể bị “bể ổ” là ông luôn đổ thừa lỗi cho cấp dưới rồi đuổi người như ngoé khiến nhiều anh chị tài giỏi đều bị nhục vì mang tiếng oan là bất tài không ít… Ở bên VN mấy “kiến ngoại” không nhiều nên ai có nhu cầu tìm gặp ông này để trau đổi kinh nghiệm thì cứ hỏi thăm dần là tìm được ông ngay. Mấy Kiến buồn đời kể chuyện ra ngoài để dãy bày tâm sự lại bị thiên hạ chê là xạo vì ai cũng tưởng đã là công ty “ngọai” thì phải đàng hòang hơn công ty “nội” nhiều (?!).

Tức khí sanh tình, lợi dụng tính chiến đấu của thơ văn mà có mấy bài thơ được vài Kiến thi sỹ mô tả lại kiếp nạn của dân Kiến “khố đỏ, khố xanh”:

 

Ai ơi ! Vẽ lụi cho mau !

Xếp cần phối-cảnh làm câu trau mình.

Scan tài-liệu công-trình khắp chốn,

Chép CD ảnh bốn phương trời,

Thu gom chi tiết nơi nơi,

Xì-keo (scale) từng bộ-phận rời ghép vô.

Photoshop chơi trò mà mắt,

“Mắc-3D” (3D-Max) thêm-thắt đại tài.

Công-trình tứ xứ về đây

Như hoa đậu trái, như cây thêm cành.

Theo trường-phái “Ngoại Tình Kiến-trúc”

Lắm “con rơi”, bức-xúc anh em.

Làm đêm thân xác rã mềm,

Sáng ra đổi ý, kéo thêm tới chiều

Mặc ai nấy tiêu-điều mỏi mệt,

Tiền ngoài giờ, xếp đếch xì ra,

Việc thì trây líp ba-ga,

Trây lui trét tới, trét qua trây về.

In khổ lớn, ép-phê cuồn-cuộn,

Giấy photo ấn-tượng sửng-cồ.

Giao-thông phối-cảnh sơ-đồ,

Mô-hình cơ-cấu, họa-đồ dọc ngang

Anh phối-cảnh kinh-hoàng thiên-hạ,

Đủ mọi “viu” (view) thấy cả đề-tai (detail),

Châm vào mắm muối lai-rai,

Cứ theo “mửng” ấy, đúng bài là êm…

…xuôi theo kiểu “xêm xêm lai thít”               (same same like this)

Xếp nhà ta là “típ” anh tài,

Xẻo-xui “bể ổ ” tầy-huầy,

Đổ thừa ai đó, cho ngay “lên đường”

“Người thay của” chuyện thường ở huyện.

“Của hơn nguời” hết chuyện lạ đời.

Dựa theo phối-cảnh tuyệt-vời,

All you! See that, mau ngồi triển khai!

“Im-mê-điát! Tu-đai, đu-ít!                             ” Immediate , today, do it !

Thít uyệc-giăng! Phi-nít tu-nai !                      This urgent ! Finish tonight !

Bic-gơ ! mo đạc ! mo lai!                                 Bigger ! More dark ! More light !

Cất hia ! pát thít ! thát rai,… Ố-kề !               Cut here ! Paste this ! That’s right , OK !

Tú-đờ xuýt, stốp-pê men-nẳng!                       Tout de suite, stoppez maintenant !

Đề-mẹc-đê, giơ mẳng phú xa !                       Demerdez, je m/en fous ca !

Tu phu xơ truyếc là ba !                                  Tu fous ce truc là-bas !

Vẻng xi ! xken vít puộc moa xơ là !                Viens ici ! scannes vite pour moi celà !

A-lê vít ! Pát xà oong nốt!                              Allez vite ! Passes à un autre !

Phu troa-đê ken giốt ốp-xông !…                   Fous 3D quelques autres options ! …

Sa-lô ! Mẹt !Tú lơ mông !                                Salaud ! Merde ! Tout le monde !

Tút en-ca-páp đờ com-prăng-drờ !”               Tous incapables de comprendre !”

Thầy Đội giận, chửi xơ chửi xói,

Đếch lạ chi “nhất Đội nhì Trời”!

Tay thì trây việc rối bời,

Mồm phun mắm muối chẳng thôi bao giờ.

Mùa cao điểm nổi lo không dứt,

Tìm Cập-rằng phụ giúp thầy Cai,

Tuyển dân kiến-trúc sắc tài,

3d, Phô-(tô)-sốp để xài dài lâu…

Khiến lắm kẻ lo sầu méo mặt,

Tựa cung phi nhan sắc “về chiều”

Hết thời, thất sủng hẩm-hiu,

Lãnh cung rộng mở, đìu-hiu tháng ngày…

“Cục cưng mới” xếp xài mửa mật,

Xếp ra “quần”, vô “quật” tới lui,

Thừa cơ, Cai “dí” túi-bùi (túi-bụi),

Dựa oai, chấm mút dưới đuôi quan thầy.

Búa-xua cảnh tối ngày “sa-rết”(charette)

“Tống” việc xong, mới biết mình hay,

Kèm theo sản-phẩm dẫy đầy,

Nhân viên ai có dám xài hay chăng?

 

Một bài khác:

“Chợ trời thiết kế” biết hay chưa ?

Ngất ngưởng “lầu xanh” (*) trọn bốn mùa.

Làm đêm miễn phí bao nhiêu bận ?

Của ở người đi đã mấy phùa ?

“Cải tạo thiết kế ” khi nát bét.

“Cấp cứu công trình” lúc te tua.

Khố đỏ, khố xanh, đây, đủ cả,

Cập-rằng, Cai, Đội “quất” từa lưa.

 

(*) vì bấy giờ công ty ấy thuê mặt bằng tại một cao ốc sơn màu xanh.

 

Có thêm một bài vè đang lưu truyền:

Chuyên môn là ta,

Ba hoa là xếp

Khó khăn trùng điệp,

Giải quyết mặc ta

Xếp ưa đàn bà,

Ta là đàn ông.

Xếp “binh” lòng vòng,

Ta làm bỏ mẹ,

Xếp ưa ọ ẹ,

Ta buộc lắng tai,

Xếp biết mình sai,

Ta đã bị bay … “lên đường” vĩnh viễn !

 

Với cách này thì mới hy vọng thiên hạ ai cũng thấu hiểu và Kiến nào cũng “thấm dần kinh nghiệm vào đầu” rồi liệu mà giữ mình sau này…

Chuyện đời Kiến viết không tài hết dù dùng sạch cả rừng trúc Nam Sơn. Lấy hết nước biển Đông cũng không gột hết nỗi nghiệp chướng đeo đẳng dân Kiến.

 

Ôi thương thay !

Mà vẫn có người say mê Kiến trúc và lỳ lợm dấn thân vào.

 

Je ne regrette rien,

J’avance.        

(Eluard)

 

Quả là thật đáng phục những người ấy !

 

Kiến Lửa. (4-2004)

 

Bắt đầu viết 3-3-2004 lúc giờ Thân (Ðịa-Thiên Thái – Ðịa-Trạch Lâm). Viết xong sơ bộ ngày 17-3-04. Hoàn thành ngày 22-4-04. Lúc giờ Hợi (Ðịa Lôi Phục – Thuần Chấn).

 

Trân trọng biết ơn nhiều đồng nghiệp đã tậm tâm bổ sung ý tưởng cho bài.

“Sự thật luôn bị che dấu nhưng vẫn tồn tại mãi mãi ” . Chuyện kể chơi rủi có sai cũng không ai chấp vì mục đích chỉ mua vui mà chẳng hại ai, không có ý xuyên tạc bất cứ ai. Tác giả hoàn tòan không chịu trách nhiệm khi có kiện cáo về những việc trên.

Chuyện kể về Kiến Trúc (3/4) – Kiến Lửa.

Hồi thứ ba:                 Phùng xoè phối cảnh, thân chủ mê ly,

                                    Hù dọa 3d , bà con kiêng nể

                                    Vì ham của rẻ, trúng bả Thầu gian

                                    Thấy giá ngon ăn, dính mồi Kiến tặc.

 

Sau nhiều năm trường Kiến ta hoan hỉ thu tiền nhận sinh viên thả cửa để đáp ứng nhu cầu bằng cấp của thiên hạ thì ngành kiến trúc lại chuyển tới thời kỳ suy bại về lương tâm nghề nghiệp. Các sinh viên ra trường xâu xé tranh ăn dành “độ” dành “khứa” ì xèo trên cơ sở “tiền nghĩa” rồi tha hồ mà “binh lụi, xây ẩu” gây mất niềm tin sâu sắc ở khách hàng. Tội cho những anh Kiến làm ăn chân chính chán nản buộc lòng phải bỏ nghề lui về nhà ăn lương vợ.

 

Sử nhà Kiến chép rằng:

Tổ Kiến trúc ngày xưa đã tiên đóan đến chuyện này nên buồn rầu ghê lắm vì thấy mình không giúp gì được. Thôi thì “gặp thời thế, thế thời phải thế” biết làm sao. Mà giúp bằng cách nào thì Tổ còn bí tít-tìn-tịt huống chi ai khác.

May thay, nhờ lòng thành khẩn chai tịnh cầu quỷ thần, Tổ đêm nằm mộng thấy Vương Thúy Kiều hiện lên nói:

 

Này anh thuộc lấy nằm lòng,

Vành ngòai bảy chử, vành trong tám nghề.

 

Em làm được thì ai chả làm được.”

 

Rồi Kiều bất thần nhào vô ôm đại Tổ khiến Tổ giựt mình té lăn cù xuống đất mà thức dậy.

Tổ thấy điềm lạ liền bấm tay tính được quẻ Dịch là “Hỏa Địa Tấn” hóa “Lôi Địa Dự” dựa theo điềm mộng:

 

Kiều nhảy vô ôm mình (Tấn), mình hỏang hốt (Dự) té lăn cù (Tấn).

Việc này sẽ tương quan tương hợp với ý nghĩa:

Cứ liều mạng làm ăn đại (Tấn) thì nổi danh (Dự) như sóng cồn (Tấn).

 

Liền sau đó nhớ lại câu “Vành ngòai bảy chử, vành trong tám nghề“, Tổ dành hết tâm huyết điều nghiên thêm mắm dặm muối suốt đêm để viết ra một cẩm nang gối đầu truyền cho các Kiến đời sau. Hiệu quả của cẩm nang thần sầu tựa hồ “Tịch Tà Kiếm Phổ” trong giới giang hồ võ hiệp.

 

Đây, nguyên văn do Tổ viết:

 

” Thời thế nhiễu nhương, làm ăn thất bát. Nhân nằm mộng thấy Thúy kiều giáng hạ chỉ bảo, ta viết cẩm nang này hầu truyền cho hậu thế làm kế sinh nhai.

Kiều:

            – Bảy chử tám nghề,

Nếu chàng không chê,

Em xin chỉ giáo..

Nhân đấy, Ta hỏi:

           – Ta xin thọ giáo,

Vậy nghĩa là sao ?

Kiều giảng:     – Bảy chử nghĩa là:

–           Nổ                   Múa mép “cương” hết ga, rù quến thiên hạ để bắt công trình.

–           Lụi                 Vẽ “lụi” hồ sơ để dành khách trước rồi tính sau.

–           Ghép               Ghép các chi tiết kiến trúc công trình khác thành kiến trúc của mình.

–                              In phối cảnh, làm phim 3D cho le lói cho khách “rét” ý đồ mình.

–           Chôm              Bí mật “ẵm” bản vẻ chổ khác về phô-tô lại làm tác phẩm của mình.

–           Chế                 “Luộc” công trình cũ thành công trình mới để xài tiếp.

–           Tẩu                 Biết “chạy” khi thiết kế hay thi công bị “bể ổ”.

Ta khen:

            – Quả là hay vậy !

Tám nghề còn lại,

Xin giảng tận tường..

Kiều giảng:    

– Tám nghề tức là:

 

–           Thiết kế dân dụng.                

–           Thiết kế công nghiệp.

–           Thiết kế quy họach.   (3 nghề này trường Kiến trúc đã dạy)

–           Thiết kế phối cảnh     (Binh phối cảnh cho đẹp để câu khách).

–           Quảng cáo dự án       (Phô trương dự án áp đảo thiên hạ) .

–           Lắp ghép kiến trúc     (ghép nhiều chi tiết bản vẽ khác vô thành hồ sơ của mình).

–           Cải tạo thiết kế          (Sửa chửa hồ sơ bị vẽ “lụi” ).

–           Cấp cứu công trình   (Khi thi công bị tê liệt do vẽ “lụi”, phải chỉnh sữa khẩn cấp).

Ta khen:

            – Quả thật là hay.

Kiều giảng:    

– Đó là những bí kíp chân truyền. Dân Kiến ráng tu luyện thiết kế lâu năm tất có người lên làm vua như vua nhà phố, vua biệt thự, vua bếp, vua vệ sinh, vua phối cảnh, vua mô hình… Tệ lắm cũng là một Đại Kiến Trúc Sư. Chứ sự học thì vô cùng tựa Đông Hải. Em không tài nào một đêm mà giảng hết vậy.”

 

Cẩm nang làm sáng mắt biết bao nhiêu chàng Kiến và là một diệu kế xóa đói giảm nghèo cho cả râu ria tộc họ nhà Kiến hai cẳng. Chẳng làm lạ khi thấy bụng Kiến Chúa nào cũng ngày càng phệ do được bầy Kiến Thợ tận tình cung cấp bia bọt, em út thừa mứa quanh năm …

Chuyện của Tổ còn nhiều nữa, ấy là chuyện về sau…

Vì cạnh tranh gay gắt với các đồng nghiệp nên họ Kiến phải học thêm mọi thủ thuật để mà tồn tại. Để thuyết phục đám khách hàng chưa rành về chuyên môn là dùng phối cảnh. Ngày xưa nhà trường cũng đã tinh ý dạy phối cảnh cho mọi người nhưng nói trắng ra là để câu khách thì quá sống sượng nên không ai dám tuyên bố hụych tọet. Anh sinh viên ban đầu phải rị mọ tập dựng hình, tô màu., tỉa chi tiết bản vẽ phối cảnh. Trước áp dụng cho đồ án của mình. Sau đó là thỉnh thỏang bắt mối bên ngòai để kiếm thêm chút đỉnh. Nhiều ông cũng dấu mấy tuyệt chiêu không cho bạn bè biết dù chỉ là mẹo vặt. Ngày ấy vẽ một phối cảnh cũng được lắm tiền nên có anh chỉ vẽ thuê chơi chơi mà bạc tiền rủng rỉnh.

Càng về sau, khi càng văn minh thì thiên hạ lại càng làm biếng tư duy do quá ỷ lại vào phương tiện khoa học kỹ thuật, nên dần dần bản vẽ khó được khách hàng hình dung nổi và phối cảnh càng thêm cần thiết để nói chuyện với thân chủ. Thay vì vẽ nghiên cứu kỹ lưỡng cả mấy ngày về một mặt bằng kiến trúc, người ta chỉ vẽ sơ sịa cũng ra một phối cảnh thật đã mắt vừa sướng hai tay, chất lượng thừa sức bỏ bùa mê hoặc khách.

 

Nhớ ngày trước có thầy tên Th. đã dạy khai tâm SVKT như sau:

 

“Khi người ta bịnh, thì người ta tìm tới Bác sĩ. Khi người ta có tội, họ cầu khẩn Luật sư. Hai vị này hét bao nhiêu tiền thì khách cũng phải chạy trả cho đủ vì họ không cần khách mà khách cần họ. Ngược lại, khi người ta giàu có sung sướng họ mới tìm đến Kiến trúc sư. Vì thế họ coi Kiến trúc sư không ra ký lô nào hết. Kiến trúc sư cần tiền nên phải dùng hết bản lĩnh của mình mà cố gắng chinh phục thân chủ “.

 

Từ khi có máy vi tính thì công việc KTS Kiến trúc sư thay vì dễ dàng hơn, đàng này ngược lại càng thêm mệt mỏi phức tạp do dùng sai mục đích. Người ta dùng vi tính để “binh” công năng cho lẹ trong khi ở bên chúng ta thì dùng để thiết kế mỹ quan đầy râu ria mắm muối mà chinh phục khách. Mà muốn như vậy thì KTS phải mất giờ học nhiều thủ thuật đồ họa không ăn nhập gì với kiến trúc để pha chế trong khi thời gian đầu tư vô ý tưởng cũng chẳng khá hơn bao nhiêu. Các phối cảnh nhờ vậy được sản xuất hàng lọat ở mỗi công trình. Gặp phần mềm Photoshop hổ trợ nên anh em có thể ghép công trình người khác làm của mình, thậm chí ôm luôn một hay nhiều phối cảnh nào đó scan từ tài liệu bên ngòai, “luộc” lại một ít bằng ánh sáng, “mông má” thêm màu sắc là có tác phẩm mới đỡ mất công “binh” tới lui mất thì giờ. Thêm máy in tối tân làm cho chất lượng tác phẩm đẹp hơn thực tế hỏi khách hàng nào không khóai mà nhắm mắt ký hợp đồng cái rẹt? Gặp khách hàng khó, thì vẽ thêm phối cảnh công trình vào ban đêm lung linh đèn đóm hay hàng lọat phối cảnh khác từ trong ra ngòai nhà lẫn từng chi tiết phóng to để thôi miên khách cho lẹ. Đụng nhiều độ lớn thì đòi hỏi công phu cao hơn. Lúc đó máy vi tính phải làm việc ngày lẫn đêm để sản sinh ra một bộ phim phối cảnh hòanh tráng nếu trời thương đừng chơi cúp điện bất tử. Có lúc nhà Kiến còn phải chi tiền cho chuyên gia làm thêm mô hình lộng kiếng kiêu sa để khách sờ mó tận tay mà yên tâm. Đó chỉ là giai đọan đầu để dành khách.

Giai đọan tiếp sau thì bắt buộc phải khai triển kỹ thuật sao cho nó khả thi và hợp lý. Anh nào lơ mơ khâu này thì coi như mất cả chì lẫn chài. Thông thường vì ham dành khách mà vẽ phối cảnh bất chấp kỹ thuật. Đến khi vẽ vô kỹ thuật thì mọi cái tệ hại mới lòi ra. Lý do ban đầu là vì mặt bằng binh “lụi” cho có nên về sau hậu quả khôn lường. Thêm khổ một nổi là dân bên ngòai không thèm nghe lời ông KTS chân chính mà khóai nghe lời mấy cha hàng xóm hay đặc biệt là ông thầy địa lý dựa trên cơ sở mấy tạp chí Kiến trúc lá cải đủ lọai bán tràn lan bên ngòai. Nghe mấy chư vị đó bàn ra bàn vô vài lần thì tinh thần chủ nhà lung lay rồi tự xây theo ý mình.

Nhắc tới mấy ông thầy địa lý thì nhiều chuyện lắm. Vì học thuyết Đông phương dựa vào “hình – lý – khí – số”. Nếu có 1 trong 4 yếu tố không đạt thì coi như kết quả sai. Chưa kể rằng tính “Đồng nhi Dị – Dị nhi Đồng” (giống mà khác, khác mà giống) và tính “biến hóa” được ít ai thấu hiểu tận cùng. Khác với Tây phương, lý Đông phương không thể dựa vào công thức đầy tính máy móc để gọi là “nghiên cứu”. Mà cái “lý” thì ít ông thầy nào dám đề cập tới. Vì để thuyết phục thân chủ, mấy thầy ưa dùng “số” bằng cách tra sách thì có chứng cớ cho chủ nhà tin lẹ hơn. Chỉ ông nào thật cao cơ mới dám dùng đủ “hình – lý – khí – số”. Phần vì tính “Đồng Dị – Biến Hóa ” nên chẳng ông nào coi giống ông nào. Mỗi ông có phương pháp áp dụng “liều” nặng hay “liều” nhẹ theo ý riêng mình. Gặp chủ nhà nào ham coi nhiều thầy thì cứ phân vân và thay đổi ý kiến xòanh xọach làm KTS không biết đường nào “binh” cho yên ổn. Có ông thầy bày đặt lập trình vi tính để dễ thuyết phục khách và có lúc còn dám tự ý thiết kế và bắt KTS đem ra khai triển xong rồi ông ngồi sửa lại kích thước địa lý của từng chi tiết cho phù hợp ! Chỉ nói cây thước địa lý thôi mà thị trường có khỏang trên 5 cây với kích thước khác nhau, hỏi biết lựa cây nào gọi là chuẩn? Rồi cách trấn yểm mỗi ông chơi mỗi khác riết thành ra đá nhau làm thiên hạ càng mất niềm tin vô các môn học Đông phương mà vẫn nhắm mắt u mê dùng “trật thuốc”. Rồi thêm thầy bùa, thầy ngãi, thầy mo, thầy chùa, thầy cúng… thiệt giả tùm lum quần thảo chủ nhà kéo theo KTS bị vạ lây. Thơ rằng:

 

… Thầy địa lý thỏa tài sáng chế,

Thước Lổ Ban được thế ra oai

Cửa trong cho tới cửa ngoài,

Hướng nhà, hướng bếp, chiều dài cầu thang…

“Sinh Lão Bịnh…” số thang đếm bậc,

“Càn Khôn Ly…” hướng mặt của giường,

Từng ly tấc chớ coi thường,

Đi cầu đúng hướng, ra đường đúng phương (!)…

 

Khi căn nhà xây xong thì KTS cũng không dám nhận làm tác phẩm của mình dù khách có thể vừa ý khen không ngớt. Nhìn lại phối cảnh bảo đảm cũng chưa chắc giống thật là bao. Hên thì coi như ông KTS ấy được khách hàng vừa ý mà đỡ mất công nghiên cứu. Chưa kể được khách quảng cáo nên nổi tiếng trong thiên hạ. Tha hồ bắt thêm khách nhà giàu khác. Xui thì 2 bên đều lãnh đủ. KTS đổ thừa nói là vì chủ nhà không tuân thủ hòan tòan bản vẽ, nhờ thế cái tội vẽ lụi của “Kiến tặc” được trắng án. Có lúc khách hàng tự làm theo ý mình rồi nói rằng KTS không làm gì cả để kiếm cớ xù tiền hay có lúc lợi dụng một lỗi nào đó để trừ tiền gỡ vốn ít nhiều. Có lúc khách hàng dụ KTS vẽ cho đã rồi sau đó đưa tiếp qua nhiều KTS khác để chắt lọc nhào trộn ý tưởng, rồi ông KTS nào cũng đều bị xù như nhau với lý do là làm không vừa ý. Nên có người nói rằng chưa bị xù tiền lần nào tức chưa là KTS. Gặp sự cố do vẽ lụi không thực thi được trong thi công thì công việc cải tạo thiết kế hay cấp cứu công trình là thường, có lúc phải cầu cứu tới đồng nghiệp khác, Có lúc cũng do lỗi chủ nhà đổi ý bất tử dù đã ký giao kèo thỏa thuận 2 bên. Nhiều công trình hoàn thành với bề ngoài thấy “nét tưng” mà không sử dụng được do nứt, lún, thấm dột vì vật liệu bị nhà thầu hao hớt hay kỹ thuật thầy thợ “tay ngang”, cũng có lúc do KTS binh “lủng” pạc-ti. Có ông thầu dám mạnh mồm nói rằng cứ thêm 10 triệu bạc là ổng sẳn sàng lên 1 tấm sàn dễ ợt ! Bên Kiến trúc thì bạo phổi nói kiểu gì “binh” cũng “tới” láng. Khách hàng là người chịu thiệt thòi nhứt. Cái khổ trong xây dựng là khi khách hàng đã lãnh đủ thì họ mới sáng mắt mà hối tiếc vì không chịu tin lời mấy ông KTS chân chính. ” Sự thật mất lòng” nên mấy ông này cũng chẵng được ai ưa rồi từ đó ế độ dài dài. Tới nước này thì khách không còn khả năng tìm KTS khác giỏi hơn nữa vì gần như sạt nghiệp. Đồn ra cho thiên hạ thì chính mình cũng có lỗi nên chẳng ai dại nói ra cho thiên hạ cười mình thối óc. Thành ra mấy anh Kiến “binh lụi” chụp giựt vẫn có đất sống dài dài. Đám thầu chơi trò “thi công tới đâu binh tới đó” cứ phây phây sống trên đầu mấy khách hàng ngây thơ. Chẳng ai thèm ý thức rằng số tiền lớn trả cho một ông Kiến đàng hoàng vẫn rẻ hơn quá nhiều so với một sự cố hay thiệt hại kỹ thuật nhỏ trong công trình do đám “Kiến tặc cấu kết Thầu gian” quậy mà ra.

Người ta nói rằng để có một công trình tốt trước tiên cần có một sự hòa hợp về ý tưởng giữa KTS và khách hàng như cặp vợ chồng. Mà nhắc tới vợ chồng thì phải đề cập tới cái tệ nạn ngọai tình và con riêng. Cái “ngọai tình-con riêng” ấy trong xây dựng cũng không khác trong tình yêu là bao nhiêu. Việc này gây thiệt hại cho nền kiến trúc nước nhà không ít và KTS hay khách bên nào cũng sẵn sàng phủ phàng công khai cắm sừng bên kia không thương tiếc. Cảnh bên khách nhờ KTS đến vẽ nhà của mình giống như căn nhà X, Y nào đó trong sách hay bên đường A,B. Dĩ nhiên dân Kiến rất tự ái nhưng trước cảnh kiếm cơm nhiều người buộc lòng phải đau khổ tuân theo không chống đối để rồi có một công trình không vừa ý với lương tâm mình chưa kể cũng là lý do để khách tìm cớ quỵt tiền với cớ là tất cả ý tưởng đều do khách đưa ra hết trọi. Hay trong lúc thi công khách tự ý thay đổi thiết kế theo ý người khuất mặt nào đó làm tiêu ma hết ý đồ của Kiến. Ngược lại có KTS ăn cắp công trình ở nơi khác nói là ý tưởng của mình mà dụ khách khỏi mất công nghiên cứu chi cho mệt. Khách, dù có biết, nhiều khi cũng phải nhịn và làm ngơ vì nó cũng “đẹp giai” quá. Tóm lại thì khi công trình hòan tất người ta không thể nào truy ra được một phong cách hay trường phái kiến trúc của nó do bị tính “dị hợp tử” quá nghiệt ngã.

Có cái nhiêu khê như là khi chủ nhà ban đầu không hình dung, dự trù hết tòan bộ mọi chuyện. Trước hết là tiền. Hể đụng một sự cố phát sinh nào thì coi như công trình bị kẹt vốn. Rồi người KTS có lúc phải vẽ lại “cấp cứu” hay chủ nhà tự xoay sở để “chữa cháy” cho vừa hầu bao. Thế là phá sản mọi ý đồ của nhà Kiến. Có lúc chủ nhà không hình dung được không gian của công trình rồi yêu cầu KTS vẽ cho to lên thêm nữa mới thấy “đã”. Mãi tới khi hòan thành thì vỡ lẽ rồi “thầy đổ tớ, tớ đổ thầy” gây nhiều xích mích. Vô số sự cố khác như là luật lệ thay đổi, hàng xóm thưa kiện nhau, tranh chấp, tai nạn lao động … luôn rình rập đe dọa làm phá hết chương trình dự kiến giửa nhà Kiến và chủ nhà.

Chỉ nói về những công trình nhỏ là đủ cho thấy hết mọi vấn đề. Chẳng cần phải mất công đề cập tới công trình lớn làm chi vì báo chí đề cập hòai hòai hàng ngày. Thiên hạ vì quá chú ý chuyện lớn mà quên đi chuyện nhỏ trước mắt mới ra như vậy. Đó cũng là lý do tác giả phải ngứa tay viết vài dòng mong giúp bà con tỉnh ngộ. Mong bà con tha thứ nếu viết có gì đụng chạm. Mời bà con vui lòng xem tiếp hồi sau để biết thêm được chuyện nào hay chuyện đó mà phòng thân.

Chuyện kể về Kiến Trúc (1/4) – Kiến Lửa.

Chuyện viết từ hồi tháng 3-2004, trong lúc bực bội tại công ty Archetype trước lúc đảo chánh, nổi hứng viết ra bài này. coi như bản hồi ký sơ bộ dưới tính cách trào phúng.

Lúc đó, sợ nhiều người chửi nên viết ẩn danh dưới bút danh Kiến Lửa.

Đến ngày hôm nay (2014), những thầy bị SV ghét đều gần như về hưu hay chết sạch nên bài này mới có thể công khai dưới tên của mình ma không sợ bị ai chửi.

Nay post công khai cho anh em thưởng thức.

Hồi thứ nhứt:            Từ thuở trước, khi trường ta thưa thớt,

                                    Đến ngày nay, lúc đào tạo đại trà…

 

Thuở khỏang thập niên 60, có hai thầy Tàu đi ngang trường Kiến trúc. Ngắm nghía hồi lâu, một thầy buộc miệng nói: “Cuộc đất thật hay, tiếc rằng nhân tài thưa thớt quá !” Ong kia bấm đốt tay rồi thở dài: “Khi nào bên kia đường có nhà xây, tiên sinh sẽ thấy sinh viên trong trường đông đảo. Nhưng mà khổ nổi …”

Một người đứng gần tình cờ nghe được, tò mò bèn đường đột hỏi tại sao. Một ông bực mình đáp: “Thiên cơ bất khả lậu, nị đừng nên biết nhiều, chỉ thêm hại mình mà thôi”. Rồi hai ông ngoắc taxi rủ nhau lên xe đi mất.

Câu chuyện chỉ có thế, được truyền rỉ tai nhau. Nhưng vì tam sao thất bổn riết không ai thèm để ý. Chỉ biết rằng trong những năm ấy, sinh viên trong trường rất ít. Khi đã vào trường thì học hành rất kham khổ vì thầy nào thầy nấy cực kỳ nghiêm khắc. Nhiều anh than rằng chắc thầy sợ đệ tử ra trường sẽ giựt mối của thầy nên thầy “tiên hạ thủ vi cường” cho chắc ăn. Có tay độc mồm độc miệng dám khẳng định trường dùng chính sách “ngu dân” của thực dân mà bóp chẹt “đầu ra” để duy trì chủ nghĩa độc quyền Kiến trúc. Oi thôi thì mồm miệng thiên hạ ai chấp làm gì. Chân lý chỉ chứng minh rằng bấy giờ hể ai ra trường thì người nào đáng mặt người đó. Vì họ đã phải vượt qua cái ải tốt nghiệp trước một hội đồng hệt kiểu “Thập bát La Hán trận” của Thiếu Lâm tự trước khi xuống núi vậy.

Cái học thì muôn trùng mà sức người thì có hạn. Anh nhà Kiến phải lướt qua hàng chục môn lặt vặt không cần thiết lắm nhưng không học thì không xong. Còn vẽ thì ôi thôi! “Cày” quanh năm suốt tháng. Cứ bù đầu trong họa thất hết hội họa, analogue tới họa cảo rồi đồ án này đồ án nọ. Nai lưng “charrete” làm đêm mà không kịp giờ nộp bài cho thầy là chuyện thường ở họa thất. Gặp anh “trưởng tràng” họa thất cũng có quyền hành dữ dội kiểu “thương cho roi cho vọt”. Thêm anh tay sai “thiên lôi” sẵn sàng trừng trị mấy “ne” nào cứng đầu. Dù là hết lòng nâng đở đàn em song mấy ảnh cũng ưa bắt đám lính mới phải tuân lịnh một cách tuyệt đối. Chỉ đơn giản là “bắt gì làm nấy” cho đúng nghĩa làm “ne” hay nói huỵch toẹt móng heo ra là làm “mọi” (nègre).

 

Ne ơi ta bảo ne này,

Ne vô họa thất ne “cày” cùng ta,

Trưởng tràng có luật đưa ra,

Kêu gì làm nấy, liệu mà biết khôn,

Bắt cởi truồng, phải cởi truồng,

Kêu nằm “quậy cỏ”, liệu hồn “rendu”…

 

Anh nào không tuân theo thì đừng hòng làm dân kiến trúc, liệu hồn mau cuốn gói đi học trường khác. Mới lần đầu thì nghe ghê lắm nhưng từ từ quen rồi thì cũng thấy thường tình, nhờ vậy về sau tình cảm anh em càng thắm thiết. Mà tục lệ này chưa từng có ở trường đại học nào khác. Cảnh vừa học bạn, vừa học thầy theo tính dân chủ làm không khí họa thất lúc nào cũng thân mật kiểu gia đình Kiến trúc. Người viết bài này năm 1993 có lượm một bài thơ tả sinh viên kiến trúc trong hội trường như sau , tiếc thay đến nay chưa biết tên tác giả:

 

Sinh viên kiến trúc thực là hay,

Miệng “nổ”, chạy sô suốt cả ngày,

“Trả nợ” xanh da, quầng cặp mắt,

“Binh bài” quì gối, chống hai tay.

Cà phê, thuốc lá tha hồ hút,

Rượu đế, bia ôm mặc sức say.

Năm năm quần thảo không biết mệt,

Càng già, càng dẻo lại càng dai.

 

Càng già, càng dẻo lại càng dai,

“Nử Kiến” nhà ta chẳng kém ai,

Rotring một cán cầm đúng điệu,

Template mấy vòng quậy mê tay.

Sáng binh, chiều vẽ “lên tới bến”,

Một nử mấy ne (nègre) quậy “mát trời”.

Càng ham đòi hỏi, ne càng khổ,

Mỏi gối, đau lưng lại phồng tay.

 

Trước trường là một công viên thóang mát. Sau giờ “lên” bài căng thẳng ban ngày thì vài anh tranh thủ ban đêm chạy ra công viên để gặp gở hẹn hò một tí ti với mấy chị em cho vơi nỗi “cô đơn nơi tiền đồn”. Yêu nhau lắm cắn nhau đau, tiền bạc trả sau sanh nhiều rắc rối với cảnh “xù tiền” chạy trốn thẳng vô trường làm mấy em bên ngòai đứng vẩu môi đỏ tru tréo, chửi rủa không từ ai, trong đó có một “lời nguyền độc địa” nghe là thất kinh: “…rồi tụi bây khỏi mong ra trường”. Thành ra nhiều anh trong trắng rớt oan mạng hòai vì lời nguyền “lạc đạn” ấy. Họa ứng nhãn tiền cả chục năm là thấy đậu thì ít mà rớt thì đông vô kể. Thời ấy chưa có cảnh trò đi năn nỉ thầy lộ liểu như ngày nay vì ở miền Nam nhứt là ở Sài gòn bấy giờ chưa ai đủ bản lãnh được gọi là cao thủ trong “nghề” này. Mấy thầy đã được ăn lương no đủ thì đừng ai hòng mà đi đêm để mang họa lâu dài về sau. Có anh tên Q. ì ạch thi rớt mãi, tới khi đậu được ra trường bèn hận đời tức khí quăng tập sách ra gốc cây trứng cá sân trường đái xè xè lên cho bỏ ghét! Gặp thời chiến, nhiều anh cố ý ráng trây thời gian trong trường để hy vọng trốn lính ngày nào hay ngày nấy. Kết quả khi hòa bình đến, trong hồ sơ ghi rõ có anh bám rễ trong trường kỷ lục là 21 năm ! Còn trung bình thì cũng là 5 năm, 10 năm. Sau đó , nhà trường phải dùng biện pháp “thanh lý” cho ra lò hết để rảnh tay nhận “hàng mới” thì số lượng Kiến từ ấy về sau “được nước” bắt đầu tăng rõ rệt. Bản kiểm điểm của ban giám hiệu trường ĐHKT về việc thực hiện nghị quyết 28-29 của thành ủy và UBNDTP có một đọan ghi với một sự tràn trề lòng tự hào dân tộc Kiến. Nguyên văn như sau:

 

“…Trong 2 năm qua, nhà trường đã tổ chức tốt nghiệp trên 200 sinh viên – bằng số lượng trên 30 năm mà trường ĐHKT Saigon đã tổ chức tốt nghiệp… “

 

Kinh không, thưa bà con?

Ban đầu người ta dùng phương cách 1 “mở đầu vào, bóp đầu ra” , dùng giáo sư nhằm phong tỏa sinh viên. Sang thời bình, thấy kế sách này nếu duy trì hòai thì kềm hãm công danh mấy anh “khai quốc công thần” quá cở nên kế sách đào tạo nhân tài chuyển sang phương cách 2 “bóp đầu vào, mở đầu ra”, lấy sinh viên phong tỏa lại mấy ông giáo viên (khi ấy mấy ổng bị giáng chức giáo sư gần hết cả rồi ). Chỉ như thế mới hy vọng đền ơn đáp nghĩa đám công thần và con cháu của họ. Ban đầu , kế sách có kết quả đặc biệt. Phe công thần được ưu đãi như dân thời Nghiêu Thuấn. Hể có thi là sẵn sàng “chấp” đối thủ mình vài ba điểm và vẫn được xét đậu ngọt xớt. Tha hồ nhẹ bước họan lộ. Gặp anh gốc gác trong rừng, hay là dân tộc ít người thì càng hay hơn nữa vì trình độ càng thấp thì phải được bù trừ bằng thật nhiều ưu tiên trong đường khoa bảng. Hỏi vậy thi ai mà dám chê trách thi cử không bênh vực kẻ yếu. Khi ấy ấy anh sĩ tử thuộc gien trí thức, học quá giỏi xưa nay thì phải nhường nhịn cho kẻ dở hơn mình ít nhiều điều kiện cho công bằng. Một bên chấp điềm, bên kia chấp lý lịch. Điểm có thể thay đổi còn lý lịch thì có sao để vậy. Rốt cuộc rồi mấy anh “lý lịch đen” phải túi bụi học luyện thi, từ lớp 10,11 mà vẫn rớt hòai rớt hủy. Đại đa số phải nhắm mắt liều mạng “chơi” kiểu đấu cờ tướng chấp Đế Thích 2 xe và chịu ép đi nước hậu. Thấy tội nghiệp mấy anh ấy quá, nhiều lúc hội đồng tuyển sinh thương tình buộc lòng phải thông báo kết quả thi của mấy ảnh trước khi nộp hồ sơ để mấy ảnh khỏi thi mất thì giờ vàng ngọc của tuổi trẻ. Còn mấy anh nòi “công thần” luôn có sẵn “ba đời cùng thi, làm gì chẳng đỗ”. Trò “3 trong 1” này đi trước chiêu tiếp thị ngày nay cả chục năm !

Cuộc thi vũ môn luôn kết thúc tốt đẹp. Sinh viên cuối cùng cũng gồm nhiều thành phần giai cấp được hòa đồng sàng lọc một cách công bằng và âm thầm qua các tiêu chuẩn bên lề trình độ học vấn. Mà đã đậu vào trường rồi thì được trường cưng như trứng. Mỗi lúc vẽ bài thì cứ vô giáo vụ lãnh giấy về vẽ. Vẽ xong một mặt, tận dụng luôn mặt sau cho một đồ án nữa thành thử chẳng bao giờ sợ khan hiếm giấy. Hàng tháng lại được phòng đời sống cấp gạo, thịt… về tẩm bổ tăng cường sinh lực. Để giúp sinh viên đỡ túng thiếu, phòng tài vụ được lệnh phát cho từng anh học bổng để xài vặt. Tệ lắm cũng mua được vài gói thuốc “có cán” hút cho thơm râu. Thì thôi, nếu không đáng công đèn sách thì cũng đáng công dũng cảm chiến đấu dành chức “vô địch thiên hạ” mà bia miệng còn lưu lại.

Vì “bóp đầu vào, mở đầu ra”, đã là sinh viên thì tội chi học nhiều cho khổ. Xưa thì khác, bù lại nay cứ vô tư chơi nhiều, đằng nào thì cũng ra cũng làm giám đốc, tệ lắm thì cũng có bằng KTS lấy le với hàng xóm.. Sinh viên vào tương đối nhiều hơn xưa song vẫn còn thưa thớt. Cảnh trường như một thiên đàng thu nhỏ. Nhớ những năm sinh viên bị điều đi gác trường ban đêm thì sân trường sẵn cây xòai, vài cây mít tha hồ cho sinh viên thưởng thức trộm (vì ăn vụng ngon miệng hơn ăn công khai nhiều). Trời nóng thì có sẵn xe hơi của hiệu trưởng để cho vài anh liều mạng cạy cửa vào mà bật máy quạt ngủ suốt đêm; thây kệ ngày hôm sau xe cạn bình hết chạy làm hiệu trưởng kẹt việc tức điên mà không làm gì được. Vẽ bài tuy không căng thẳng như xưa nhưng cái họa charette thì vẫn còn đó. Cũng may là thầy sau này không dám thẳng tay đánh rớt mấy sinh viên “công thần”. Hể ông nào đánh rớt thẳng tay thì sinh viên sẽ la làng cho ban giám hiệu quở trách chê thầy dạy dở vì làm điểm thi đua và thành tích báo cáo của trường bị sút giảm.. Hơn nữa nhà trường lãnh đào tạo hệ B, chuyên tu, tại chức dùm cho các sinh viên từ địa phương xa xôi nên bằng mọi giá phải làm sao cho họ tốt nghiệp đàng hòang. Nếu không đào tạo được thì mất mặt trường. Tất nhiên phải ráng dàn xếp yêu cầu mấy thầy nhắm mắt cho điểm kha khá để cho “vui lòng khách đi” mà duy trì uy tín và hạ quyết tâm đập tan ý đồ xấu xa của câu xuyên tạc: “Dốt như chuyên tu, ngu như tại chức”. Chưa hết, trường ta còn nhận các du học sinh từ nước láng giềng Cam-pu-chia để mở rộng ảnh hưởng . Cái hay hơn các trường đại học khác trên thế giới là không cần biết rành tiếng bản xứ vẫn ra trường được và có bằng cấp đàng hòang như ai với chất lượng “hữu nghị”. Do vậy, nhiều nhóm ở bển sang học chỉ cần một người hiểu tiếng Việt sơ sơ là có thể kèm cặp níu kéo đồng đội mình lên lớp đều đặn. Khách hàng được xem là vua nên tiêu chuẩn lên lớp của du học sinh được ưu đãi hơn sinh viên bản xứ. Chổ ở của mấy anh luôn ngon lành hơn ký túc xá “phe ta”. Tiền bạc thì bên nước mẹ gởi sang xài thỏai mái, chơi “sộp” hơn cả sinh viên nội địa. Gặp mấy năm có phong trào buôn lậu xe gắn máy ở biên giới nhộn nhịp, có anh lợi dụng cuối tuần chạy ra cửa khẩu đem xe Honda về Sài Gòn bán kiếm tiền tiêu vặt. Mấy thầy hay sinh viên có nhu cầu sắm xe cộ cứ tìm nhờ mấy ảnh để yên tâm tin tưởng còm-măng (order) được hàng tốt mà không sợ bị lầm hàng “luộc”. Từ đó mới thấy tại sao thầy cô bạn bè trong trường luôn quý mến mấy du học sinh này. Lúc tốt nghiệp càng được dể dãi hơn. Ay là chuyện về sau. Để bảo đàm quyền lợi bằng cấp cho các sinh viên nên ban giám hiệu phải dùng biện pháp kinh tế để phong tỏa tính nghiêm khắc của mấy thầy. Trước mắt là lương mấy thầy bị cắt giảm hơn xưa. Thầy cũng lãnh “tiêu chuẩn” thịt, sữa, gạo, khoai lang … hàng tháng với mức chênh lệch về chất lượng lẫn số lượng chẳng hơn trò bao nhiêu. Thầy cũng có lúc bị bắt đi gác đêm, hay xách cuốc đi trồng khoai, bắp cho có kinh nghiệm sản xuất dân gian, cũng vác gậy đi tập quân sự quay trái quay phải, lăn lộn bò lết cho thấm cái khổ ải chiến tranh mà yêu chuộng hòa bình. Ong nào “ba-gai” thì đừng trách khi bị cắt giảm tiêu chuẩn hay cho nghỉ việc. Thỉnh thỏang nhà trường thương tình cho thầy đi nghỉ mát bồi dưỡng sức khỏe để tiếp tục lên bảng làm nghề “kinh doanh cháo phổi” thêm phát đạt. Nghĩ lại nhà trường cũng lao tâm lao lực lo cho từng người mà lúc nào cũng bị thiên hạ đàm tiếu.

Lo mãi cũng kiệt sức, nếu không lầm , thì đến khi ấy trong trường chỉ còn lại dàn hiệu trưởng, hiệu phó là có cái bụng “tương đối ” kha khá hơn các thầy khác mà thôi. Còn các tiêu chuẩn cho thầy trò dần dần bị thay thế bằng tiền “bù lỗ” cho nhẹ gánh. Từ đó nhân sự ở phòng Đời sống cũng được “thanh lý” để giảm ngân sách để đáp ứng thời đại “tiền-lương-giá”. Mãi đến 1987, sẵn tình hình năm ấy có nhiều con ông KTS đi thi mà năm ấy cái lạ kỳ nhứt là đề thi cực dễ mà đa số không ai làm được. Nhiều phòng thi buổi đầu đã vắng mặt vì bỏ cuộc hết gần phân nữa. Tình hình thi rớt đông đảo thấy rõ (năm ấy tỷ lệ 1 chỉ chọi khỏang 60 – còn quá ít so với ngày nay). Từ xưa nay vốn luôn bị ám ảnh tin xuyên tạc “thi rớt sẽ bị bắt lính” nên nhiều ông Kiến cha vì quá thương con phải đồng lòng vận động lên trên Bộ khẩn cấp lập thêm “hệ hợp đồng” (hệ “B”). Hệ này sẵn sàng mở tọac cửa thu nhận tất cả những ai có nhu cầu học kiến trúc mà trước hết là đám con mấy ổng, rủi có rớt thì cũng còn “Sinh môn” mà thoát. Điều kiện đơn giản là: bất cứ ai được ông KTS nào trong Hội KTS chịu đỡ đầu giới thiệu và có tiền đóng thì đương nhiên trở thành sinh viên Kiến trúc ngọt xớt. Mà tiền học thì bấy giờ chi trả dựa trên cơ sở giá gạo. Ac nghiệt ở chỗ, năm ấy vào lúc đóng tiền thì giá gạo biến động vùn vụt. Nhiều “Kiến tơ” lo chạy tiền trối chết. Mừng thay trường chưa dựa trên cơ sở giá gạo Nàng Hương ! Ơn Trời còn thương chúng sanh nhà Kiến. Có năm sợ sinh viên đóng tiền trể, nhà trường yêu cầu ai đóng trể phải kèm thêm “lãi suất tiền trường” làm báo chí phải động lòng can thiệp cứu giúp mấy sinh viên. Dù sao thì kết quả thu nhập của trường vẫn luôn vượt chỉ tiêu làm ngân sách nhà trường dồi dào đáng kể. Mấy thầy cũng có dịp cải thiện hầu bao riêng tư một cách hợp pháp mà trò cũng vui vẻ chi trả rẹt rẹt không than vãn trước sự hợp tác đôi bên cùng có lợi. Dân số trường Kiến trúc nhờ thế tăng ồ ạt. Bãi xe của trường xưa chỉ lèo tèo vài chục chiếc xe đạp. Nay thì từ sân, sảnh , ra tận cổng trường tràn ngập xế nổ của thầy và trò. Lâu lâu có thêm vài chiếc xế hộp xịn hơn cả tiêu chuẩn đi lại của hiệu trưởng đậu chễm chệ trong sảnh nhà trường. Thấy nhiều thầy “lên đời” xe làm mấy anh em nhà nghèo ngứa mắt ganh tỵ rồi bêu xấu không ít.

Sự chuyển biến từ cái thế hệ “AK” thời hậu chiến cần sự nâng đỡ của nhà trường đến thế hệ “a-ccng” ngày nay thừa tiền lắm của tài trợ vổ béo cho ngân sách nhà trường làm bộ mặt trường ta tươi mát hẳn ra với một sự bội thu sinh viên và bội chi KTS chưa từng thấy.

Cuối thập niên 50, cả trường hàng năm chỉ có khỏang chưa đầy 50 sinh viên. Đến nay Số Kiến ra lò đến nay trung bình khỏang gần 200 sinh viên/khóa. Nếu dựa theo bảng kiểm điểm báo cáo của nhà trường như trên đã ghi thì trong 4 năm cuối thế kỷ 20 thôi, số sinh viên ra lò đã tương tương 100 năm đào tạo của ĐHKT Sài Gòn cũ.

Gớm chưa các cụ ?

Sự tiên tri của hai ông thầy Tàu đã ứng nghiệm rõ ràng. Khi nhà nước cho xây nhà thi đấu Phan Đình Phùng xóa sổ công viên “tươi mát” đối diện thì số lượng sinh viên Kiến tăng rõ rệt. “Lời nguyền độc địa” ngày xưa ở xóm công viên ấy đã được hóa giải triệt để kể từ ngày mấy “chị em” không còn đất hành nghề nữa.

Việc học trong trường ra sao, cứ xem hồi sau sẽ rõ.

Sài gòn ngày ấy… (sưu tầm)

http://taberd75.com/linh%20tinh/SaigonNgayAy.htm

Sàigòn Ngày Ấy

Tùy bút của một cô nữ sinh nhớ về Saigon yêu dấu năm xưa.

Năm 1954 – 60

Ngày ấy tôi còn bé lắm. Lênh đênh trên chuyến tầu cuối vào Nam theo cha mẹ chứ chẳng biết gì. Chuyến đi êm đềm không gì đáng nói. Tôi thấy nguời Pháp cũng đàng hoàng. Thì đâu chả thế. Cũng có người này người kia. Nguời hèn nhát, kẻ can đảm. Người quá khích, kẻ trung dung. Nguời Pháp trên tầu tử tế. Họ cho ăn uống đầy đủ. À mà tôi không hiểu tại sao họ phải tốn đủ thứ để đưa nguời di cư vào Nam? Nếu họ cứ mặc kệ thì số dân Bắc có đến đuợc miền Nam dễ dàng không?

Đầu tiên chúng tôi cặp bến Vũng Tầu. Rồi xe đưa vào Saigon. Chúng tôi ở tạm tại Nhà Hát sau này được sửa thành Tòa Quốc Hội. Mấy hôm sau thì phân tứ tán. Chính phủ trợ cấp cho mỗi đầu nguời là bao nhiêu đó, tôi không nhớ vì quá bé.

Nơi tôi ở đầu tiên là Cây Quéo. Đuờng Ngô Tùng Châu. Gia đình tôi là người Bắc đầu tiên đến đây. Sau này đọc truyện và biết con trai Bắc hay bị con trai nam uýnh và xỏ xiên “Bắc kỳ ăn cá rô cây”…. Nhưng gia đình tôi hên. Nơi xóm nhỏ, người Nam thật thà đôn hậu. Họ cư xử tử tế với chúng tôi. Đôi khi tôi lẩn thẩn nghĩ, hay vì gia đình tôi là nhà giáo? Tinh thần tôn sư trọng đạo đã ăn sâu trong giòng máu dân Việt? Họ rất tôn trọng và lễ phép đối với cha mẹ tôi. Một điều “thưa ông giáo”, hai điều “thưa bà giáo”…

Con đường đến trường tiểu học thật dễ thương. Ngày ấy chúng tôi đi bộ nhiều, chẳng vù vù xe máy như bây giờ. Đi bộ đến trường thật vui. Cứ tung tăng chân sáo, vừa đi vừa hái hoa bắt buớm. Ôi sao ngày đó Saigon nhiều hoa bướm thế! Hai bên đường những hàng rào hoa dâm bụt đo đỏ xinh xinh. Nhìn vào trong, nhà nào cũng có vườn, cây cối xum xuê. Bướm bay la đà. Những con bướm đủ mầu sắc nhưng bướm vàng nhiều nhất. Nếu nhìn riêng thì bướm vàng không đẹp nhưng khi bay lượn giữa rừng lá xanh thì đàn bướm vàng thật duyên dáng. Chúng như một nét điểm xuyết cho bức họa hoa lá… Tôi thích nhìn bướm bay.Tôi thích ngắm hoa nở. Trường học to vừa phải. Lớp học đủ ánh sáng. Mỗi sáng thứ hai chào cờ. Đứng nghiêm và hát quốc ca. Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi… Ừ thì thanh niên luôn được dạy dỗ là “đáp lời sông núi”.

Chúng tôi được học những bài công dân giáo dục đầu tiên và… đã ăn sâu mãi vào tiềm thức. Đủ biết các cụ nói uốn cây khi chúng còn non là đúng. Tuổi ngây thơ coi những lời thầy cô là khuôn vàng thuớc ngọc.

Không phá của công
Không xả rác ngoài đường
Phải nhường ghế cho người lớn tuổi, phụ nữ có thai trên xe buýt
Phải dắt em bé hay cụ già qua đường
Phải ngả nón chào khi xe tang đi qua
Không gian lận. Nói dối là xấu xa…

Chúng tôi đã được dậy như thế đó và chúng tôi đã làm theo như thế đó. Ôi Saigon của tôi ơi, bây giờ tôi đi giũa phố phường mà lạc lõng vô cùng khi chỉ mình tôi ngả nón chào nguời chết hay chạy nép vào lề nhường cho xe cấp cứu đi qua!

Rồi những bài học thuộc lòng. Rất giản dị dễ nhớ .

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chẩy ra

Những buổi sáng vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông làng mạc ruộng đồng quê
Chúng tôi ngồi im lặng lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng khắp trong giờ quốc sử…

Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã điểm
Đàn chim non hớn hở dắt tay về
Chín mươi ngày vui sướng ở đồng quê…

Cuộc sống sao êm đềm và thanh bình quá! Không có những cướp bóc lớn lao. Ăn cắp vặt cũng không ghê gớm. Tôi còn nhớ phơi quần áo trước nhà rất an toàn chẳng phải trông chừng…

Tôi còn nhớ ruộng miền Nam nhiều nơi không chia bờ rõ rệt. Tôi còn nhớ cây trái Lái Thiêu không vạch lối ngăn rào. Tình hàng xóm là tất cả. Khi chia rào, ngăn lối là xúc phạm. Tự người dân quê biết đâu là đất là vườn của mình. Vào vườn Lái Thiêu cứ tha hồ ăn. Chỉ khi mua về mới phải trả tiền. Ôi sao ngày ấy người ta hiếu khách và cuộc sống thanh bình đẹp đẽ quá! Có phải là một phần nhỏ thiên đường nơi hạ giới chăng? Tôi nhớ nhiều về Lễ Quốc Khánh đầu tiên năm 1956 thì phải. Đúng là lễ hội. Pháo hoa tưng bừng và người người ra đường trong hớn hở reo vui. Không chửi bới, không chà đạp, không giành đuờng xem lễ… Sài Gòn bấy giờ còn thênh thang lắm. Sài Gòn bấy giờ chưa đông đúc bon chen…

Ngày ấy các bà Bắc hay Trung đi chợ còn mặc áo dài. Lề thói xưa còn ăn trong nếp ấy. Ra đường là phải lịch sự. Khi lễ lạc thì phải mặc quần đen với áo dài chứ không được quần trắng vì như thế là thiếu lễ… Tôi còn nhớ một gia đình trung lưu là đã có thể thuê người làm. Đa phần người làm là các cô gái miền Trung. Đúng là quê hương em nghèo lắm ai ơi! Đất khô cằn sỏi đá đã khiến bao cô gái quê vào miền Nam giúp việc. Thuở ấy người miền Nam hay dùng từ “ở đợ”, còn người Bắc gọi là “người làm”. Các chị giúp việc thường rất trung thành và lễ phép với chủ nhà. Các cô cậu con chủ nhà cũng được tôn trọng. Bà chủ thường ở nhà và chị phụ giúp vì nhà nào cũng khá đông con (viết lại câu này cho rõ ý hơn). Ban đầu thì ba, bốn và sau thành sáu. Tôi còn nhớ lương giáo sư đệ nhị cấp tức dạy từ lớp đệ Thất đến đệ Nhất của cha tôi là 5.200 đồng, vợ được 1.200 đ. và mỗi con là 800 đ. (không hạn chế số con). Tô phở khá ngon là năm đồng. Coi như lương giáo sư là 1.040 tô phở. Lương người giúp việc là 300 đồng. Lương Bộ trưởng gấp 5 lần lương giáo sư, vào khoảng 25.000 đồng. Còn lương Đại úy thì bằng lương giáo sư. Nếu bây giờ 7.000 đồng tô phở bình dân thì lương của giáo viên cấp ba phải là 7.000.000 đ.

Hồi đó chúng tôi thi một năm hai kỳ gọi là đệ nhất và đệ nhị lục cá nguyệt. Đề thi hoàn toàn do giáo viên (cấp tiểu học) hay giáo sư phụ trách ra đề. Hồi đó không có nạn các giáo sư hay giáo viên kéo trò về nhà dậy kèm hay bán đề thi. Đơn giản có lẽ vì đồng lương đã đủ sống nên họ không phải bán rẻ lương tâm. Cuối năm lớp Nhất thì chúng tôi phải thi bằng Tiểu Học. Sau đó thi vào đệ Thất các lớp trường công. Ai rớt thì học trường tư. Tất nhiên phải học giỏi mới thi vào được những trường công danh tiếng như Gia Long, Trưng Vương, Petrus Ký, Chu Văn An. Những tháng ngày tiểu học với tôi là tung tăng chân sáo, là chơi nhiều hơn học, là hái hoa bắt bướm, là nhảy lò cò, là chơi giải ranh, chơi ô quan. Đúng ba tháng hè là chơi thoả thích… Ôi chơi chơi… sao mà thú vị thế! Nhớ đến tiểu học của con gái lại xót xa. Học quá nhiều để có thành tích cho thầy cô, cho trường lớp… và con gái tôi không bao giờ biết đến “chín mươi ngày vui suớng ở đồng quê”.


Năm 1960 – 1967

Đậu tiểu học xong tôi thi hai trường Marie Curie và Gia Long. Lẽ ra phải thi Trưng Vương mới đúng nhưng không biết sao cha tôi quyết định vậy. Những ngày đầu đi học Gia Long xúng xính đầm. Lý do cha định cho học Marie Curie nhưng phút chót lại chuyển sang Gia Long. Số tôi lại hên. Cô Bắc kỳ lạc lõng giữa rừng nữ sinh Nam kỳ mà không hề bị chia rẽ hay kỳ thị. Như ngày xưa, nguời dân Saigon đã cưu mang gia đình tôi ở Cây Quéo. Từ thầy cô đến bạn bè, chẳng ai thắc mắc vì sao tôi mặc đầm.

Tôi học sinh ngữ Pháp văn. Trường có bảy lớp Anh và bảy lớp Pháp. Tôi học đệ Thất 14, lớp chót. Những năm đầu trung học tôi đi xe đưa rước của trường. Thế là hết những ngày chân sáo, hết những ngày đuổi bướm bắt hoa. Chỉ còn ngồi trong xe hiệu đoàn ngắm phố phường qua khung cửa sổ. Xe trường đưa các nữ sinh lớp sáng về nhà và trên đường đi rước các nữ sinh lớp chiều. Trong khi chờ đợi xe đến đón, tôi thường cột áo dài và trèo lên cây trứng cá trước nhà để hái trái nhâm nhi ăn chơi hay đem vào lớp cho bạn. Nghe tiếng còi xe ngoài đường thì tụt xuống xách cặp chạy ào ra. Nhà xa nên tôi bị đón sớm và về muộn. Bây giờ nhớ lại thuở cột áo leo cây thấy vui vui… Hay khi vào trường cũng cột tà áo để nhảy lò cò. Trường Gia Long rất đẹp! Trường thật đồ sộ, bốn phía là bốn con đường. Ngày ấy chính phủ đặt tên đường có chủ đích rõ ràng. Đặt theo từng vùng các danh nhân văn võ, không đặt lộn xộn lung tung. Gia Long của tôi đã được bao quanh bởi các danh nhân văn chương như Bà Huyện Thanh Quan, Phan Thanh Giản, Đoàn Thị Điểm và Ngô Thời Nhiệm. Chính giữa trường là con đường tráng nhựa thật đẹp và chúng tôi hay gọi đùa là đường Bonard. Giờ ra chơi các nữ sinh dắt tay nhau thơ thẩn trên con đường ấy trông thật dễ thương. Rồi gia đình tôi chuyển sang Vạn Kiếp. Trước nhà có một bụi tre và đối diện là khoảng vườn mênh mông của chủ đất với những cây cau thẳng tắp .

Năm 1960 có nghe tin về “Mặt Trận Giải Phóng”… gì đó nhưng tôi chẳng quan tâm. Thứ nhất còn bé phải lo học, thứ hai mọi cái lúc bấy giờ đã được chính phủ đưa dần vào nền nếp, và chiến tranh còn xa lắm. Đó là thời điểm cực thịnh của nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Ngày đó chưa có truyền hình, mới chỉ có truyền thanh. Chương trình khá phong phú. Tôi thích vừa làm toán vừa nghe nhạc. Cũng có chương trình “tuyển lựa ca sỹ” hàng tuần, nhưng phải nói đa số hát dở chứ không như các cuộc thi bây giờ, thí sinh hát khá vững.

Báo chí nở rộ. Ai có tiền thì ra báo. Không cần phải là người của cơ quan chính quyền như bây giờ. Tôi mê xem báo. Tôi đói tin tức. Ngày đó có vụ thuê báo. Các em bán báo lẻ hay quầy bán báo nếu bán không hết thì cuối ngày trả lại toà soạn. Vì thế một số quầy báo có sáng kiến cho thuê báo. Người đọc thuê và trả tiền chỉ chừng phân nửa. Tất nhiên tiền đó chui vô túi chủ quầy báo và người bị thiệt hại là chủ nhân tờ báo. Gia đình tôi chỉ mua một tờ và trao đổi với nhà cậu tôi chứ không thuê. Coi như tốn tiền một mà được xem hai báo.

Báo thiếu nhi hơi ít . Báo chí đối lập được tự do hoạt động. Do đó có gì xấu xa của chế độ hay chính quyền thì những tờ báo đó vạch ra ngay. Còn những tờ thân chính phủ thì bị báo chí đối lập gọi là nâng bi. Sách thì rất nhiều. Đủ các loại. Mỗi nhà xuất bản có nét đặc thù riêng. Như nói đến Lá Bối là biết ngay các loại sách về Thiền, Phật.

Văn thi sỹ nở rộ. Tất nhiên cũng chia làm nhiều loại. Có những văn sỹ chuyên viết tiểu thuyết tâm lý xã hội và được các bà nội trợ bình dân hay các tiểu thương ái mộ như bà Tùng Long. Có những nữ văn sỹ viết khá bạo như Nguyễn Thị Hoàng với cuốn truyện nổi đình đám Vòng tay học trò . Nội dung truyện kể về chuyện tình của một cô giáo với học trò bằng một giọng văn khó hiểu. (theo thiển ý cá nhân tôi !) Có những văn sỹ miền Bắc viết chuyện trong thời gian họ đi kháng chiến chống Pháp rất hay như Doãn Quốc Sỹ. Thời ấy thi sỹ cũng nhiều. Nào Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Du Tử Lê, Nguyên Sa, Hà Huyền Chi, Hoàng Anh Tuấn, Mường Mán…

Thơ văn Sài Gòn hồi ấy như trăm hoa đua nở. Đủ loại và tự do sáng tác theo cảm hứng, không phải viết theo một khuôn mẫu nào, do đó rất phong phú. Nhưng tôi lại thích đọc sách phóng tác hay dịch!( vì chưa đủ trình độ đọc nguyên tác) Mỗi lần hè về là tôi mê mẩn ngốn hàng tá truyện. Vật giá có lên nhưng chỉ chút đỉnh. Cũng chỉ mình cha đi làm còn mẹ ở nhà chăm lo con cái. Thuở tiểu học thì mẹ tôi kèm tất cả các môn. Lên Trung học thì bà không dạy được các môn khoa học nhưng Pháp văn thì vẫn tiếp tục cho đến tú tài vì ngày xưa mẹ tôi có bằng Certificat gì đó.

Cuộc sống vẫn êm đềm và khá thanh bình. Nhưng từ năm 61 thì không còn nữa. Đường đi thuờng xuyên bị đắp mô. Quốc lộ thì ít và tỉnh lộ thì nhiều hơn. Địa phương quân mỗi sáng sớm phải đi phá mô. Xong xuôi thì dân chúng mới dám đi lại. Đã có những mô nổ tung và cả chuyến xe đò tan tác. Rồi những năm sau là những lần nổ ở vũ truờng nơi quân Mỹ thuờng lui tới. Tất nhiên dân thường cũng vạ lây.

Tôi vẫn ngoan ngoãn với sách đèn. Chẳng hề giao du bạn trai vì cha mẹ cấm. Ngày ấy Gia Long và Trưng Vương là hai trường nữ nổi tiếng nhất. Hàng năm chỉ có một kỳ thi chọn học sinh giỏi là Trung Học Toàn Quốc. Lẽ đĩ nhiên số đậu rơi vào bốn truờng lớn. Còn Lễ Hai Bà Trưng hàng năm được tổ chức khá lớn và hai nguời đẹp của Gia Long, Trưng Vương được đóng vai Hai Bà ngồi voi diễn hành (bây giờ ở VN dùng từ diễu hành? Tôi không hiểu vì sao lại diễu hành thay cho diễn hành?)

Đề thi của mỗi môn cũng vẫn do Giáo sư môn đó phụ trách. Tôi thấy như vậy mà hay. Chẳng có gì lộn xộn xảy ra vì thời ấy không có nạn cha mẹ hối lộ Thầy cô. Mãi năm tôi học đệ nhất thì thi chung toàn khối và đã có rắc rối.  Chẳng hạn đề thi triết đệ nhất lục cá nguyệt là của cô Lan dạy chúng tôi thì lớp chúng tôi làm được còn các lớp khác thì không. Hồi đó bậc Trung Học chúng tôi phải thi tổng cộng: Trung Học (hết lớp đệ tứ) Tú tài 1 (hết lớp đệ nhị) và Tú tài 2 (hết lớp đệ nhất). Nhiều bạn sau khi có bằng Trung Học thì đi làm. Có thể chọn nghề thư ký. Sau Tú tài một, rụng bớt một số bạn. Sau Tú hai rụng một số. Số học giỏi và có điều kiện thì tiếp tục con đường đại học.

Đề thi đại học do các trường tự phụ trách. Ngày thi lệch nhau. Trường nào cũng công bố danh sách thi đậu chính thức và dự bị. Do đó tôi cảm thấy rất trật tự nề nếp chứ không lộn xộn như bây giờ. Nếu gọi danh sách chính thức mà thiếu thì truờng gọi đến dự bị. Đơn giản vậy thôi. Nhưng có lẽ hồi đó vấn đề hối lộ, bán đề thi không kinh khủng để đến nỗi Bộ Giáo Dục phải xen vào ra đề chung như bây giờ. Lại cũng do vấn đề tiền lương. Khi đồng lương không đủ sống thì tư cách con người suy giảm.

Đường phố Saigon của những năm 63 vẫn còn xe Mobylette và dễ thương ngộ nghĩnh là Velo solex. Chiếc xe xinh xắn nhưng có cái bầu to phía trước. Nữ sinh thường đi xe này. Khi chạy xe, tà áo dài phía sau phồng lên trông rất vui. Nhưng đa số học sinh vẫn đi xe đạp. Số xe máy rất ít. Và vì thế đuờng phố Saigon vẫn khá thênh thang. Năm đệ tam thì tôi không đi xe đưa rước nữa mà chuyển qua xe đạp. Cũng khá xa mà sao hồi đó chúng tôi không thấy gì. Chả như bây giờ sân trường cứ tràn ngập xe máy mà lại còn xe phân khối lớn.

Năm tôi học đệ tứ thì xẩy ra vụ Phật Giáo. Sau đó nền Đệ nhất Cộng Hoà sụp đổ. Tôi không ghét ông Diệm nhưng tôi ghét bà Nhu. Vì tính tình xấc xược của bà. Nhưng phải nói hồi đó với tôi, xã hội tương đối ổn định, trật tự nề nếp. Dù ông Nhu có lập Đảng Cần Lao nhưng không ép buộc lộ liễu. Họ cũng gợi ý nhưng không vào thì thôi. Cũng chẳng vì thế mà bị “đì” sói trán. Hay trong ngành giáo dục của cha tôi, người ta không trắng trợn? Tôi chỉ biết nếu học giỏi là được học bổng, không bị phân chia lý lịch gì cả.

Sau 63, các trường có Ban Đại diện. Ngày đó tôi không chú ý lắm các thành phần ứng cử. Nhưng sau này, các anh chị lớn nói rằng, học sinh sinh viên giỏi thường bù đầu với việc học, ít tham gia các hoạt động trên. Do đó VC cài nguời vào nằm vùng ở hầu hết Ban đại diện các trường. Họ được huấn luyện kỹ nên ăn nói hoạt bát. Còn học sinh giỏi thì không có thời gian luyện khoa ăn nói. Sài Gòn  của tôi sau những ngày đấu tranh sôi nổi, sau những biểu tình, sau vụ tự thiêu của Hoà Thượng Thích Quảng Đức ..lại êm ả trở lại. Nhưng không như xưa vì liên tiếp các đột biến về chính trị. Cuộc chỉnh lý của Tuớng Nguyễn Khánh rồi chẳng bao lâu đến phiên của Tướng Thiệu và Tướng Kỳ.

Tôi chỉ biết học và không chú ý đến những việc khác. Liên tiếp hai năm thi tú tài một và hai đã ngốn tất cả quỹ thời gian. Nhưng tôi chỉ nhớ Tú tài một, chuơng trình đã bị cắt giảm vì chiến tranh. Cũng từ năm 1965, quân Mỹ đổ vào đông và đã gây xáo trộn. Lính Mỹ lấy vợ Việt. Đa số là các cô gái nhảy, thời đó gọi là cave hay cả các cô xuất thân là nguời giúp việc. Me Mỹ là tên dân chúng gọi cho những cô này. Nội cái tên gọi đã nói lên sự khinh rẻ của dân chúng dành cho những cô gái ấy. Nghĩ cũng đáng thương. Nhưng cũng chính những đồng đô la mà các cô me Mỹ tiêu vô tội vạ đã làm vật giá Sài Gòn tăng cao. Người làm của chúng tôi lấy Mỹ và đổi đời.

Cuộc sống của giới trung lưu như giáo sư bắt đầu lao đao. Giáo sư nào dạy tư thêm thì còn đỡ. Gia đình tôi hạn chế mọi chi tiêu vì cha không dạy tư và yêu cầu mẹ phải ở nhà chăm sóc việc học của các con. Ai có thời gian để gửi thư tình tự. Ai có lúc lang thang quán ăn hàng. Còn tôi thì không. Cắm đầu cắm cổ học. Đi học là về nhà ngay. Ngày đó chúng tôi, gồm chị tôi và tôi đều học Gia Long nên không có vụ bạn trai nào dám đến nhà. Chúng tôi cũng chẳng học tư nhiều. Mà học tư vào những năm thi thì cũng né con trai tối đa. Lệnh cha mẹ phải chấp hành nghiêm chỉnh. Thậm chí sau này chị tôi học dược cũng vẫn không hề có một tên “ masculin” nào dám đến nhà! Tôi thích con gái đi học bằng xe đạp và nón lá nghiêng nghiêng . Từng vòng xe quay chầm chậm nhỏ bé. Áo dài ngày đó mặc rất kín đáo. Chúng tôi bắt buộc phải có áo lá bên trong. Và các bà giám thị luôn coi chừng nhắc nhở những nàng mặc áo quá chít eo, những nàng khua giày cao lộp cộp. Chúng tôi đi sandal. Rất dễ thuơng. Tôi không thích học trò quá điệu. Áo thật eo hay guốc cao. Mà thật kỳ. Đa số mấy cô điệu thường học kém và có bồ sớm. Các cô giỏi thì nguợc lại. Nhưng cũng có cá biệt. Tôi còn nhớ ngày đó cô bạn ban B, Kim Dung rất xinh học giỏi được chọn làm Tây Thi trong vở kịch cuối năm chẳng điệu gì cả. Riêng lớp tôi thì chỉ có vài chị điệu và tất nhiên học dở, có bồ sớm.

Năm tôi thi tú tài, chỉ còn viết và bỏ vấn đáp. Chứ truớc kia, một số môn phải thi viết và vấn đáp (còn gọi là oral).Tôi đậu tú tài cao và đuợc trường thuởng hai chữ Gia Long quyện vào nhau bằng vàng 18. Những năm sau, truờng đổi lại là hoa mai vàng. Đó cũng là phù hiệu của Gia Long. Tôi mê Y khoa và ghét duợc! Tôi thích là bác sỹ để chữa bịnh cho trẻ em và tự nhủ sẽ chữa miễn phí cho em nào mắc bệnh sài uốn ván. Tất cả chỉ vì tôi mất một đứa em trai vì bệnh này. Còn Dược khoa, chẳng hiểu sao tôi ghét nữa. Tôi nói rằng học dược, ra bán thuốc ngồi đếm từng đồng xu leng keng! Chính vì thế sau này có một dược sỹ đại uý theo, tôi đặt tên anh ta là “đại uý leng keng”! Nhưng nghề chọn nguời chứ nguời không chọn đuợc nghề. Tôi thi rớt dù học giỏi. Năm đó đề thi y khoa bắt đầu có câu hỏi tổng quát, hỏi về những kiến thức xã hội chung quanh. Tôi học chăm quá nên vào phòng thi bị đuối sức, quỵ ngã .


Năm 1967-1971

Tôi ghi danh Khoa Học, Chứng chỉ Lý Hoá Vạn Vật tức SPCN (Science-Physic- Chimie-Naturel) . Nơi đây quy tụ nhiều nguời đẹp nhất Khoa học vì sinh viên xuất thân ban A. Còn chứng chỉ MGB hay MGP thì ít con gái hơn..

Chương trình học khá nặng. Buổi sáng thực tập đủ năm môn và chiều học lý thuyết. Tôi thích thưc tập thực vật hơn các môn kia. Cắt ngang hoa dâm bụt hay lá gì đó xem đuợc cấu trúc của nó duới kinh hiển vi rất đẹp. Tôi không thích thực tập địa chất. Toàn những mẩu đá vô tri giác. Tôi cũng không thích lý với những bài dây điện loằng ngoằng.Thực tâp động vật tuy sợ nhưng cũng thích. Mổ con vật ra và xem cơ thể bên trong rất thú vị. Chính ở đây là những mảnh tình trong sân trường đai học. Vì có cơ hội tiếp xúc bạn trai. Chứ những ngày Gia Long hết đi xe hiệu đoàn đến xe đạp và mê học quá chừng đâu chú ý ai.

Năm đầu tiên đại học tôi chứng kiến tết Mậu Thân. Sáng sớm nghe nổ mà ngỡ tiếng pháo. Khi nghe tin Sài Gòn bị tấn công, tôi bàng hoàng. Trời, thủ đô? Mấy ngày sau từ nhà nhìn về phía Gò Vấp thấy trực thăng thả rocket từng chùm. Lần đâu tiên cô bé nữ sinh chứng kiến tận mắt chiến tranh dù chỉ là một phần nhỏ. Thực ra truớc đó những lần các quán bar bị đặt mìn nổ, xác nguời tung toé. Sau những ngày kinh hoàng, Sài Gòn của tôi lại như cũ.

Ngày đó chúng tôi đi học mặc áo dài. Thỉnh thoảng có cô mặc đầm và không ai mặc tây cả..Nên sân truờng đại học tung bay bao tà áo muôn mầu sắc. Cha mẹ khó nên tôi vẫn đơn giản áo trắng và ôm cặp như thuở Gia Long. Thỉnh thoảng mới áo mầu. Vì vậy khi tôi mặc áo dài mầu, các bạn thấy lạ. Chiều thứ bẩy, tôi thường cùng cô bạn lang thang Sài Gòn để ăn hàng và ngắm phố phuờng. Hồi đó có lẽ không khí chưa ô nhiễm nên con gái Sài Gòn tuổi muời bốn, hai mươi trông rất đẹp. Đẹp tự nhiên ở đôi mắt đen láy, nước da đỏ hồng. Có cô má đỏ au như con gái Đà Lạt .Tôi thích nguời đẹp nên hay ngắm con gái Sài Gòn  trên hè phố. Tuổi học trò thích nhất là lang thang phố phuờng và ăn hàng. Đi học cũng thích thầy bịnh để đuợc nghỉ rồi rủ nhau ra quán tán dóc. Thật ra bọn con gái chúng tôi siêng năng đi học nên thích vậy chứ một số ông con trai rất ít đến giảng đường. Mấy ông đó chỉ đi thực tập vì có điểm danh. Vả lại không đi thì sẽ không biết làm. Còn lý thuyết thì lâu lâu đáo vô một chút. Cuối năm bắt đầu ngồi tụng. Tất nhiên cour đâu bằng bài giảng của Thầy. Thế là các ông tướng này đi theo năn nỉ mấy cô như tôi cho mượn tập!

Đời sống đắt đỏ, vật giá leo thang hoài. Chiến tranh cũng vậy. Quay trái, quay phải, sau lưng, truớc mặt, đâu cũng có nguời đi lính và chết. Có năm sinh viên phản đối chính quyền, đã vô xé bài không cho chúng tôi thi. Sau này, điểm danh lại thì trời ơi ..mấy tay kích động, phá hoại đó toàn là dân nằm vùng. Tôi bắt đầu gửi bài đăng báo năm đệ tứ. Đăng và dấu nhẹm, không dám cho gia đình biết. Hai năm sau thì bận hai kỳ thi tú tài  nên ngưng. Khi lên năm thứ hai đại học thì tôi lai rai viết lại. Thuở đó báo có số phát hành nhiều nhất là tờ Chính Luận. Thiên hạ đổ xô đăng quảng cáo ở đây rất nhiều. Báo có mục Chuyện Phiếm. Nội dung là viết linh tinh đủ vấn đề nhưng khuynh huớng là chỉ trích những việc …đáng bị chỉ trích. Tôi lấy bút hiệu Quỳnh Couteau. Tôi còn nhớ có mấy cây bút sinh viên của mục này: Quỳnh Couteau của Khoa học, Thảo gàn của Nha khoa, Thu hippy dường như văn khoa.

Tôi viết truyện tình cho báo Tiếng Vang. Tôi có thói quen mua từng ram giấy pelure đủ mầu và viết bài trên đó. Tương đối tôi viết khá dễ dàng. Đặt bút là viết. Hiếm khi sửa lại hay bôi xoá. Để bài mình đuợc đăng nhiều và liên tiếp, tôi lấy khá nhiều bút hiệu. Nhưng tôi biết nhà văn Thanh Nam, nguời phụ trách trang đó biết là cùng một người .Vì cùng một nét chữ, cùng cách sử dụng giấy pelure hồng, vàng. Tiếng Vang gửi nhuận bút 500/bài, Chính Luận thì cao hơn 800/bài. Sau này tôi lai rai nhảy qua Sóng Thần của Chu Tử…

Tôi nhớ duờng như sau một năm tôi có bật mí trong một truyện, các bút hiệu 1,2,3,4 …đều chỉ là một nguời! Có điều vui là các độc giả cũng ái mộ, gửi thư đến toà soạn xin làm quen. Vui hơn nữa là khi tôi đến toà soạn lãnh nhuận bút gặp Hồng Vân, cô con gái chủ nhiệm Quốc Phong. Cô này lúc đó thay thế nhà văn Thanh Nam phụ trách trang Truyện tình của bạn. Không biết sao chỉ gặp lần đầu, nhìn xa xa mà cô rất thích tôi. Hôm sau xuất hiện trên báo giòng nhắn tin của cô “ PQ, hôm qua PQ đến mà chị không dám ra nói chuyện vì đang đau mắt. Nhưng thấy PQ xinh quá , giọng bắc thật dễ thưong.” Giời ạ, sau dòng nhắn của cô thì thơ của độc giả ái mộ gửi đến quá xá luôn. Tất nhiên tôi vẫn dấu nhẹm mọi nguời trong gia đình. Nếu không, bố tôi cho ăn chổi chà về tội không học, lo viết chuyện đăng báo! Thực ra tôi vẫn chăm học. Viết truyện tình ngắn với tôi dễ ẹt! Chỉ mất chừng một giờ mà lại có 500 hay 800 để đãi bạn bè ăn hàng thì cũng thú vị. Tiếc là sau này Tiếng Vang tự đình bản và tôi quay qua viết cho Sóng Thần hay Dân Luận.

Hồi đó sinh viên chúng tôi hay ra thư viện để học. Thư viện khoa học thì nhỏ, muốn có chỗ phải đi sớm. Chỉ có môt điều tiện là ngay trong truờng thì sau đó vô giảng đường, không mất thời gian di chuyển. Còn thư viện đẹp là của ĐH Vạn Hạnh nhưng tôi ít đến vì xa nhà. Hai thư viện gần là TV Văn hoá Đức và Hội Việt Mỹ.Thư viện Văn hoá Đức nằm trên đường Phan Đình Phùng. Nhỏ thôi. Có máy lạnh. Nhưng tệ hại là không có nguời giữ xe. Xe cứ khoá để trong sân. Thư viện lại ở trên lầu. Và tại đây, tôi có những kỷ niệm vừa vui vừa buồn. Những kỷ niệm nho nhỏ.

Thư viện bé nên chỉ một thời gian, những sinh viên hay lui tới đều biết mặt nhau. Tôi còn nhớ có một sinh viên già nhất, rất lập dị. Anh để hàm râu dài và xồm xoàm. Nghe nói anh đang học Luật. Gặp tôi vài lần ở cầu thang, mỉm cuời với nhau và thế là quen. Có lần tôi ngồi học và có cảm tuởng.Tôi nhìn sang thấy anh ở bên kia và đang vẽ ký họa tôi. Khi ra về, anh đưa và hỏi “ Hôm nay anh thấy em dễ thưong lắm. Em đã lấy mất một buổi học của anh. Vì .. vẽ em ..”.  Có khi anh bảo tôi “ Khi nào em lấy chồng, nhớ báo anh nhé ” “Anh sẽ mừng gì ?” “ Một tạ muối” “ Kỳ vậy”” “ Cho tình nghĩa vợ chồng của em đậm đà như muối.”

T, bạn cùng Khoa học cũng hay đến đây.T đến vì tôi chứ không vì thư viện vì nhà T xa. Lắm lúc cũng chẳng học, vẽ lăng quăng hay viết lăng quăng mấy câu nho nhỏ gì đó cho tôi. Rồi tôi bị mất xe ở đây. Hôm đó tự nhiên thấy nguời rất khoẻ và sáng suốt. Tôi say mê học. Thư viện về hết, chỉ còn mình tôi. Khi xuống thì chẳng thấy Honda , chiếc Honda mới toanh do gia đinh mới mua, giá 72. 000 đ ( lương giáo sư lúc đó 23.000) . Tôi hoảng hốt xuống phòng duới của bảo vệ, hỏi rất ngây thơ :

-Bác thấy xe cháu đâu không?

Bác cuời:

– Không, chắc lại bị ăn cắp rồi!

Tôi tái mặt. Bác nói tôi đi khai báo. Tôi đi bộ đến bót cảnh sát trên đường Mạc Đĩnh Chi gần đó. Lão cảnh sát thấy ghét. Lão ghi chép xong lời khai rồi cười cuời:

-Thế cô có biết ai lấy xe cô không?!

Tôi đi bộ từ đó về nhà ở Gia Định. Thấy con đi về, không có xe, cha mẹ hỏi. Mếu máo. Bố mắng tơi bời. Mẹ thì không. Tôi nằm trên gác khóc suốt. Sao nguời ta ác thế, sao ăn cắp xe của tôi, khoá rồi mà. Ngày đó tôi ngây thơ và gà tồ kinh khủng. Không thấy tôi đi học hay đến thư viện VH Đức, T tìm đến nhà. Thấy mắt sưng, T hỏi. Rồi thì T “ Tôi sẽ đi hỏi cho LC.Tôi quen tên đầu đảng , trùm ăn cắp xe ở vùng ..” Tôi tròn mắt. T, anh chàng đẹp giai, thông minh, đàn hay, vẽ gỉoi quen trùm du đãng! Thấy tôi tròn mắt, T chỉ cuời. Hôm sau T quay lại “Bạn tôi không tìm được vì không phải vùng nó kiểm soát. Tụi nó rã xe nhanh lắm”

Tôi nghỉ học mấy bữa. T lại tìm đến :

– LC à, LC lấy xe PC của tôi đi học đi. Tôi còn cái Mini Vespa mà.

Tôi đỏ mặt. T là vậy. Muốn nói gì là nói. Chẳng ngán ai.

Còn Hội Việt Mỹ thì thư viện to, đẹp. Đa phần tôi viết truyện tình đăng báo ở đây! Nhớ lại cũng vui. Khi báo đăng, tôi cắt và đem vào truờng cho bạn xem. Bạn gái xem thì ít (nhỏ Mai không có tâm hồn văn chuơng ) nhưng T xem thì nhiều. Có khi ngang đến độ bỏ giờ học, ngồi ở thềm của lớp để xem truyện cuả tôi! Bởi thế mấy chục năm sau, có người nghi ngờ, đoán rằng T, bạn ông ấy cũng chính là T ngày xưa của Khoa học, đã mét T. T tìm đọc và đã nhận ra văn phong của tôi . “Văn LC lúc nào cũng vậy. Vẫn rất nhẹ nhàng , thơ mộng”.Văn vẫn vậy nhưng cuộc đời thì không vậy, bao nổi trôi sóng gió cho cô nhỏ đuợc một số ông ở khoa học gọi là “nguời có đôi mắt đẹp nhất phòng Hoá”!

Tình hình chiến sự ngày một leo thang. Tôi nhớ những sự kiện đăc biệt như:

– Vụ đầu cơ gạo của thương buôn Tàu và Tuớng Kỳ đã “chơi ngon”,  ra lịnh xử tử Tạ Vinh. Ông tuớng này thuộc loại võ biền, ruột để ngoài da, phát biểu như cao bồi Texas. Chẳng cần biết sau này Tạ Vinh có bị xử tử thật hay không nhưng lập tức vụ gạo đuợc ổn định.

– Năm nào đó tôi tẩy chay không đi bầu khi Tướng Thiệu độc cử

Vật giá ngày leo thang luôn. Thì như đã nói, quân Mỹ xài phung phí, “me Mỹ” xài vung vít. Chỉ còn giới trung lưu như giáo chức là khốn đốn. Tôi vẫn sống trong tháp ngà. Chiến tranh có làm suy tư thì chỉ trong phút chốc. Việc học cuốn hút. Và những ngày thứ bảy cuối tuần vẫn vi vút dạo phố Sài Gòn ăn quà . Tuổi học trò thích nhất là ăn hàng. Tiền bố phát hàng tuần eo hẹp lắm vì nhà giáo mà. Nên tôi đã bổ sung ngân quỹ ăn hàng bằng các bài viết cho Tiếng Vang, Sống, Chính luận.

Thời tiết Sài Gòn ngày ấy không như bây giờ. Vì tôi nhớ đi học phải mặc áo dài suốt ngày. Nhà xa, sáng học thực tập, trưa ở lại và chiều học lý thuyết. Có lẽ ảnh hưởng thời tiết chung toàn thế giới và cũng vì Sài Gòn không qúa đông như bây giờ? Mấy cô bạn Gia Long cũ, bỏ đi làm từ khi đậu tú tài thì có cô vô Ngân hàng, lương rất cao. Cô thì làm cho hãng Pháp, lương coi như khoảng một lượng vàng/ một tháng. Lưong chuẩn uý gần một lượng. Quân nhân đuợc mua hàng rẻ gọi là quân tiếp vụ. Đa số mua xong, đem ra ngoài bán lại cho con buôn. Hồi đó có phong trào làm cho sở Mỹ vì lương rất cao. Thanh niên sinh viên lai rai biểu tình. Cứ “biểu”, cảnh sát biết hết ai là ham vui, ai là VC nằm vùng.Tôi chưa bao giờ tham gia hay đi xem. Vì chăm học quá mà ? Nhưng đừng nghĩ rằng không nghe tiếng đại bác trong tháp ngà! Vẫn nghe đấy chứ. Cũng có những niềm riêng khắc khoải. Nhưng mục tiêu phía truớc phải đạt cho xong ..

Tôi ra truờng năm 1971. Thân cư Mệnh nên suốt đời tự lo. Họ hàng, cha mẹ không giúp dù quen biết nhiều. Tôi viết bài “Ba lần văn bằng cử nhân đi xin việc làm” đăng trên Chính Luận. Nhà báo nói láo ăn tiền. Bi thảm hoá thêm. Chàng Giám Đốc Nha Viện Trợ trực thuộc Tổng Nha Kế Hoạch viết thư mời cô cử đến cộng tác.

Thế là hết những ngày lang thang sân truờng đại học. Hết những ngày khúc khích với anh trên đường Khắc Khoan, nghe lá me xanh reo trên tầng cao, hết những chiều thứ bẩy cùng cô bạn thân ăn hàng chợ Sài Gòn, hết những ngày trong giảng đường nhỏ giờ Thầy Thới, nghe đuợc cả tiếng muỗi vo ve, hết cả những giờ xem hai phe chống và thích ruợt nhau trong sân truờng khoa học.

Tôi bắt đầu vào đời. Từ ấy. ..

Sài Gòn của tôi có những nét khác hơn của thuở học trò. Nhưng vẫn là Sài Gòn của mưa nắng hai mùa, của áo lụa Hà Đông giữa trưa hè nóng bỏng, của tiếng chuông chùa Xá Lợi ngân nga. Của giáo đường nhà Thờ Đức Bà tung bay muôn mầu áo chiều chủ nhật.

Sài Gòn với áo dài tha thuớt.  Áo Sài Gòn không biết ngồi sau lưng Honda hai bên như bây giờ. Áo Sài Gòn  không biết phóng xe ào ào như bây giờ. Áo Sài Gòn không cười hô hố trên đường phố như bây giờ. Áo Sài Gòn  không cong cớn như bây giờ

Và tôi, bao năm tháng trôi qua, vẫn một niềm hoài vọng về Sài Gòn  ngày ấy. ..

Xin trả cho tôi nắng Sài Gòn
Thênh thang đường phố lụa Hà Đông
Xin trả cho tôi mưa ngày ấy
Và trả cho tôi cả cuộc tình …


Hoàng Lan Chi

 

NUÔI LỢN THỜI BAO CẤP…

 

 

http://phamvietdao2.blogspot.com/2011/11/nuoi-lon-thoi-bao-cap.html

NUÔI LỢN THỜI BAO CẤP…

Hôm trước có entry “Tập thể…liệt truyện”, em Vân Linh của WB bên Washington DC đọc xong, liền vào phòng chào anh Cua. Em cười và nói thích những chuyện thời bao cấp. Vân Linh bảo, anh viết truyện nuôi lợn ở nhà cao tầng đi, em giúp cho vài tích. Rồi em vừa kể vừa lau nước mắt.

Người nuôi lợn và lợn…nuôi người?
Những năm cuối 1970, chẳng hiểu ai nghĩ ra nuôi lợn giữa thủ đô đầu tiên. Do đói kém, không có gì ăn đành phải tăng gia, nuôi gà vịt kể cả lợn, dù ai cũng biết là bẩn thỉu cảnh người lợn, lợn người cạnh nhau.
Sau đó, phong trào lên cả những nhà cao tầng. Vào khu tập thể, thay vì hỏi gia chủ có mạnh khỏe không, câu chuyện bắt đầu bằng những chú lợn.
Bác Tâm, hàng xóm ở Thành Công, có ông chồng gầy ho sù sụ cả ngày, nhưng nuôi lợn cực giỏi, béo tốt hơn cả chồng con.
Nhà bác thường nuôi hai con, theo bác nói, để chúng tranh nhau, háu ăn, chóng lớn. Tính bác hơi chan chát, nhưng tốt tính, có lẽ vì thế mà có tay nuôi lợn.
Mang mấy cái xô nhựa đi gửi tầng trên, tầng dưới, lấy nước gạo, thức ăn thừa, rau muống già để không mất tiền thức ăn. Lợi đủ đằng. Mấy ngày Tết thì lợn hưởng như người, có có cả bánh chưng thiu hay giò mốc vì để dành.
Người ta thường chọn lợn cái, ít người mua lợn đực. Bọn thiếu nữ lợn đến tuổi động đực, kêu réo cả ngày không chịu ăn gì, má cứ đỏ hây hây. Các cụ nhìn qua phía đuôi cũng biết là cần kế hoạch hóa gia đình cho nàng.
Thế là có dân hoạn lợn từ Gia Lâm qua Long Biên vào thành phố. Đang làm thơ lãng mạn, anh thương yêu em đến cuối đời, anh thề nguyền sẽ chung thủy, thì bỗng có tiếng rao “Hoạn lợn đây, hoạn cả lợn nam, lợn nữ, một phát ăn ngay, không sót trứng, không bỏ tinh hoàn, hoạn xong, lợn lớn như Thánh Gióng”.
Có lần mình sang chơi nhà bác Tâm, giả vờ khen lợn mới hoạn có vẻ chóng lớn. Bác sa sầm nét mặt vì người ta kiêng khen, nhưng cũng chẳng thích chê. Tốt nhất là ngắm lợn từ xa và tự chiêm nghiệm cuộc đời xem có giống lợn hay không.
Quả thật, hôm sau bác than, chẳng hiểu sao lợn ỉa lỏng, không chịu ăn gì cả. Hai vợ chồng đang lo mất ăn mất ngủ. Nhưng mấy ngày cuối tuần, bác vồn vã gọi, chú Cua vào chơi xơi nước, cứ tưởng do vía chú độc nên lợn ốm, rủa chú oan.
Hóa ra từ hôm chú sang chơi, lợn vật vờ do đau vết hoạn, nay khỏe hơn. Cứt lợn bây giờ khô lắm, tôi có thể bốc tay cho vào chuồng xí được. Chú ăn lạc, uống nước đi. Lợn ỉa vón cục mừng hơn cả chồng vừa dứt cơn hen.
Vân Linh kể rất tội nghiệp. Bố mẹ cũng nuôi chú lợn trên tầng 3. Thiếu nước ăn, tắm giặt cho người nhưng vẫn phải đủ nước để dội phân, tắm mát cho lợn.
Em là con gái mới 8 tuổi vào đi ị, sợ hết hồn, vừa ngồi vừa run. Con lợn gần tạ cứ ủi em ngã đổ vào tường để tranh thức ăn…thải.
Bây giờ lấy chồng, có hai con, định cư bên Mỹ rồi. Em vẫn có giấc mơ Mỹ không thành là nuôi heo bên xứ cao bồi để dạy con cái. Có trải qua gian khổ mới nên người.
Em kể, hồi đó vào mùa Tết, nhà được phân phối 1 kg thịt bò, sang lắm. Các cụ kho mặn rồi để trên bếp dầu, dành cho các con ăn dần ba ngày Tết. Cạnh đó là chuồng lợn, chính là cái buồng tắm, đã ngăn bằng một cái vỉ tre rất to và chắc. Cả nhà yên tâm đi chơi đón Giao thừa.
Khuya về thấy cái vách ngăn tung lên, nồi thịt bò bị lợn xơi sạch hết sạch. Các con nước mắt ngắn dài, tiếc nồi thịt đứt ruột. Thế là hết Tết.
Nhưng hai cụ còn lo lắng hơn khi thấy con lợn 50kg đang kêu réo, chõ mõm vào cái xô nước đã cạn tới đáy.
Hóa ra cu cậu chén cả nồi thịt bò mặn quá nên khát nước. Uống bao nhiêu nước cũng chẳng ăn thua. Mấy ngày liền toàn nằm thở, bụng chướng, tưởng không qua khỏi. Mà lối đời, thịt lợn ốm không bán được cho ai, có bán cũng như cho.
Run lập cập, các cụ thắp mấy nén hương, khấn trời đất giúp cho lợn tai qua nạn khỏi. Giời có mắt, thương người nghèo, chú lợn khỏi bệnh nan y thời đại “đời lợn ăn mặn, đời chủ tràn nước…mắt”.
Được 80kg, bố mẹ bán cho hàng thịt và lấy cả cái thủ chiêu đãi các con đã phải nhịn thèm mấy ngày Tết vì mất nồi thịt bò.
Nhớ thời lụt lội ở bến Chương Dương, người ta thấy một người đàn ông cởi trần, lội nước đẩy một cái bè, sơ tán cả nhà lên đê sông Hồng. Trên cái bè là bà vợ vung vẩy tay chỉ đạo. Bên cạnh là cậu con trai cởi truồng, rét run nhưng vẫn vỗ tay hoan hô.
Trên cái bè là một cái giường, đủ chăn chiếu, chú lợn to tướng nằm ủn ỉn. Lợn phải tránh nước lũ rất độc, nếu không sẽ ốm, mất cơ nghiệp.
Sự phân chia giai tầng rất rõ thời đó: CỤ LỢN trên giường, ÔNG CON trên bè, BÀ VỢ đứng chỉ huy và THẰNG CHỒNG lóp ngóp đẩy bè.
Chuyện của Giáo sư Văn Như Cương còn thú vị hơn. Hai vợ chồng thấy khổ quá, cũng bắt chước nuôi lợn. Chả biết có lãi gì không nhưng hàng xóm ghen ăn tức ở, báo công an.
Nhà công lực lập biên bản “Giáo sư Văn Như Cương nuôi lợn, vi phạm qui tắc vệ sinh thành phố. Phạt vi cảnh 5 đồng (lương hồi đó 60 đồng là to lắm), và phải bán lợn ngay lập tức”.
Giáo sư xem xong và đề nghị “Các anh giúp sửa một vài từ trong biên bản, tôi sẽ ký và nộp phạt ngay”.
Hỏi ra mới biết ông đề nghị sửa “Lợn nuôi giáo sư Văn Như Cương” cho đúng hoàn cảnh gia đình nhà giáo nghèo và lương thiện.
Nghe nói mấy anh công an gạt lệ ra về và suy tư về thời đại “Lợn nuôi người”.
Thịt lợn…trộm
Những năm 1960, nhà ai nuôi lợn phải đăng ký với UB. Thịt, mua bán đều làm đơn trình báo, rồi nộp thuế khá cao. Lợn nhà mình bỏ tiền ra mua, nuôi bằng nước gạo và cám nhà mình, nhưng thuộc sở hữu nhà nước.
Dân thì vốn gian. Chả ai dại gì đi nộp thuế vài đồng một đầu lợn, trong khi cả con lợn chỉ được vài chục đồng. Thế là có chuyện thịt lợn trộm, đủ kiểu, đủ bài. Công an hay dân quân, kể cả lính nhà đoan cũng phải lắc đầu.
Ông Thiêm hàng xóm nhà Cua nổi tiếng là đồ tể lợn. Cụ chọc tiết một phát là đầy chậu, lợn chết ngay tắp lự. Quan trọng nhất là lợn không kêu thành tiếng. Eng éc là hàng xóm đi báo công an xã, họ đến tịch thu cả lợn, lại còn phạt tiền, sạt nghiệp, rồi phê cả vào lý lịch, gia đình không gương mẫu, con cái khó vào đoàn Thanh niên.
Bài giết lợn của cụ Thiêm thật đơn giản. Cho cái vồ vào đầu, lợn ngất, cho ngay bàn lên chọc tiết. Chậm chút là lợn chết, tiết không ra thì thịt đỏ và hôi. Lũ trẻ được giao trách nhiệm trông dân quân đi tuần. Nếu ai lạ thì cảnh báo, chả khác gì ngoài chiến trường.
Một nồi nước sôi cạnh bụi tre, cạo soàn soạt 10 phút xong chú lợn. Chia phần chính xác đến từng khúc ruột kể chim lợn. Các cụ còn gọi là đánh đụng, nhà ông một đùi, nhà tôi nửa đùi, cắt cắt, xẻ xẻ, trong nửa tiếng, con lợn biến mất như chưa từng có trên thế gian này.
Sáng sớm hôm sau, bà già gầm lên, cha tiên nhân năm đời, mười đời nhà đứa nào ăn trộm lợn của bà. Mày ăn rồi mày nôn thốc thốc nôn tháo, chẳng được nên người.
Đó là thông điệp ngầm cho chính quyền địa phương về con lợn “biến mất” đêm qua. Làng Tụ An ấy cứ vài ngày lại có cảnh mất lợn và tiếng chửi vang như hát hay.
Dân quân xã tới lập biên bản và tìm quanh thấy cả một đống lông lợn cùng phân tro ngoài bụi tre. Hỏi, sao bọn trộm giỏi thế, ăn cắp con lợn to tướng, không ai biết, chó không cắn, mang ra bụi tre, đun nước xẻ thịt, không ai hay thì thật lạ. Đây là con dao bầu của nhà bà Ba phải không.
Sau này còn nghĩ ra kiểu cho mấy hạt đậu vào tai lợn, lợn lọng óc không kêu, cứ thế mà chọc tiết.
Thời mở cửa, dân đồ tể châm điện, lợn giật một cái là…đi, không kêu thành tiếng vì sợ ô nhiễm tiếng ồn trong khu phố.
Có lần bà già đánh đụng thịt lợn của hàng xóm, mang về xào nấu thơm lừng. Bỗng dân quân ập vào kiểm tra. Bà vội mang cái chã đầy thịt ra bụi tre giấu. Họ đi khắp trong nhà, dưới bếp cũng không tìm ra.
Dân quân đi rồi, bà ra lấy lại, thì than ôi, kiến vàng bu đầy. Vừa thổi vừa đuổi kiến, lũ con háu ăn chén tất. Kiến vàng hơi đăng đắng, cũng chẳng sao, so với mùi thịt lợn thơm và nước mắm tép vàng ươm chén với cơm trắng đầu mùa, Tổng Cua chưa thấy cao lương mỹ vị nào bằng.
Bây giờ nuôi lũ con sao mà khó thế. Thịt kho tầu cực ngon, chúng bỏ hết mỡ, chỉ ăn nạc, lại còn chê ỏng chê eo, sao nhà mình toàn ăn pork.
Giá như chúng đọc những dòng này sẽ hiểu tại sao, mỗi lần nhìn lũ con chê cơm, vứt thức ăn vào thùng rác, rồi sợ mỡ trong máu, Tổng Cua rơi nước mắt.
Chả hiểu từ bé sống no đủ, Bin và Luck có nên cơm cháo gì không. Thằng bố của chúng ngày xưa, cả năm được vài miếng thịt lợn trộm mẹ mua ăn với kiến vàng, rồi cũng nên người.
HM. 11-11-2011