Đông và Tây y – Quái y

http://quanvan.net/index.php?view=story&subjectid=26678

Đông và Tây y – Quái y

Bài viết vẫn chưa toàn diện do viết dưới quan điểm cá nhân của tác giả. Mỗi đọc giả sẽ có suy nghĩ riêng để tự suy xét. Mong phổ biến cho mọi người biết rõ hơn phần nào. ….

Trước hết nói về Tây Y:

Người phương Tây thường nhìn thẳng vào vấn đề, rồi phân tích, mổ xẻ đi sâu vào, nên đòi hỏi mỗi người đảm nhiệm một chuyên môn. Càng đi sâu vào thì lại đòi hỏi nhiều phạm vi chuyên môn khác nhỏ hơn, và cứ thế…

Do đó, với nguyên tắc đặc thù như trên, khi gặp một ca bịnh, người BS chữa trực tiếp thường yêu cầu nhiều xét nghiệm bổ sung có liên quan, thậm chí xét nghiệm tổng quát bịnh nhân cho chắc ăn.

Việc này có ưu điểm là ông BS khám không mất công động não chẩn đoán quá nhiều cũng như nắm toàn bộ các thông tin khách quan từ các bộ phận chẩn đoán khác nhau.Nhưng với điều kiện là mỗi khâu xét nghiệm phải “tuyệt đối” hoàn chỉnh cũng như nhanh chóng.

Điều này phải nói là khó. Từ đó ló cái khôn, nhưng khôn lõi, hại người là chính…

Trong điều kiện điển hình tại VN, khi đi khám đều có yêu cầu kèm xét nghiệm vốn mất rất nhiều thì giờ, có khi 5-7 ngày để có kết quả kéo theo chi phí tiền bạc tốn kém, đặc biệt là đối với dân nghèo hiện chiếm đa số. Nhiều khi có kết quả thì bịnh đã sang giai đoạn khác bắt buộc bịnh nhân phải thụ động đua theo “tình hình mới” không dứt được.

Trước hết, phải nhìn nhận sự thật đây là một “dây chuyền công nghệ xét nghiệm”. Mà kết quả giữa các bịnh viện thường khác nhau, và giá trị của nó không được công nhận ờ bịnh viện khác ! Khiến người bịnh tốn thì giờ, tiền bạc để tái xét nghiệm (vốn hay xảy ra khi “bị” yêu cầu chuyển viện) . Rồi những kết quả đó, khi trình BS của mình, thì coi như thành “thông tin hành quân” sai lạc. Kết quả điều trị chắc chắn sai theo. Nếu dính líu tởi mổ xẻ thì hậu quả không lường được. Mổ lầm, cắt lầm bộ phận là chuyện không hiếm xảy ra.

Từ đó các tiêu cực nảy sinh mà phạm vi bài viết này không bao giờ liệt kê xuể.

Bản thân giửa các bịnh viện, Bs đã không tin tưởng lẫn nhau thì làm sao người bịnh có thể đặt trọn niềm tin vào đó ? Chưa kể đến những chỉ tiêu thi đua đề ra trong nội bộ bịnh viện nhằm tăng thu nhập mà người ngoài khó biết. Thêm nữa, từ khi có bộ phận + phương tiện xét nghiệm ra đời, ông BS trở nên ỷ y vào kỹ thuật mà “lục nghề” hay xao lãng khả năng chẩn đoán của mình, chưa kể có lý do đổ thừa vào khâu xét nghiệm để giảm tội khi có sự cố, kiện cáo.

Từ chẩn đoán sơ bộ, khi chưa biết kết quả làm sao, bất kỳ ông Bs nào cũng có thể dùng “tâm lý chiến” trấn an bịnh nhân bằng cách bán cho một đống thuốc bổ, giảm đau hay an thần, kháng sinh.. rồi.. tính tiền, hẹn vài ngày sau tái khám để thăm dò triệu chứng. Tiện tay “lụi” thêm 1,2 mũi thuốc cho vui lòng các bịnh nhân trình độ thấp vốn sẵn quan niệm “ đi Bs phải có chích, BS không chích là Bs dở”. Mà cho thuốc hoặc chích, đặc biệt không bao giờ ra tên thuốc, chỉ nói viên màu này thì uống thế nào.. Sợ bịnh nhân biết là thuốc rẻ tiền thì lại chê Bs dở nên có ông lại cà nát thuốc viên thành bột cho khỏi ma nào biết. Thêm cái toa “ chữ BS”, mà nếu đọc được thì cũng không tìm ra chổ mua, vì thuốc chỉ bán ở nhà thuốc quen của BS, hay chỉ có bán ở phòng mạch Bs. Từ đó Bs mới được các hãng dược chi ít phần trăm xem như “3 lợi ích” ngày xưa nhằm cải thiện đời sống của mình. (mà giới thiệu hay quảng cáo thuốc tương tự kiểu này đã ăn lan trong hầu hết các bịnh viện, giảng đường đại học y khoa). Gặp bịnh nhân rủi bị đi cấp cứu thì coi như BS cấp cứu cũng không biết bịnh nhân đã vừa dùng thuốc gì để mà đối phó (nói vừa uống mấy viên xanh xanh, đỏ đỏ thì bố thằng nào mà biết được !)

Tác giả từng là nạn nhân đi khám tại nhà một ông BS tên Th. ở miệt Cư xá Đô Thành, sáng sớm đến nhà ông BS lấy số, chiều vô khám.Khi khám xong, ghi toa đi ra ngoài, có vợ BS bán thuốc, con gái thu tiền, sau đó đưa vài gói thuốc vô danh với liều dùng. Tôi thử hỏi tên bịnh của tôi là tên gì theo tiếng Anh để có gì nhờ người bà con ở “bên kia” giúp đỡ. Ông BS chi nói tên bịnh bằng tiếng Việt, đặc biệt chứng đau gi không biết, cứ nói là bịnh “viêm+(bộ phận bị đau)”.., nếu cần biết thì nói người “bên kia” về đây mà nói chuyện ! Mình khỏi hỏi tiếp được.  Kết cục là phải trả một số tiền khá cao và khi về nhà uống thuốc xong, hết đau lưng lập tức. Thử hỏi dân ít học thấy vậy không khen Bs giỏi sao được ? Sáng ra, đem thuốc tới nhà thuốc Tây hỏi thử, người ta nói chỉ là thuốc giảm đau rẻ tiền của VN,không có gì khác !

Hầu hết các ca chữa bịnh, các BS đều tìm cách thuyết phục bịnh nhân đi xét nghiệm, tiện thể để mình nghiên cứu thêm, vì chi phí đã được bịnh nhân trả hết. Trường hợp nhẹ nhứt cũng phải ráng bắt bịnh nhân mua của mình vài nắm thuốc kháng sinh, giảm đau, an thần… để lấy tiền thêm. Chưa kể nếu thuyết phục bịnh nhân lên bàn mổ thì có dịp “thí nghiệm chiến trường” tiếp. Chưa hết, còn bắt bịnh nhân ký giấy cam kết không kiện cáo gi khi có sự cố trong phầu thuật. Coi như trách nhiệm BS là con số không to tướng trong khi lại được bịnh nhân “tài trợ” thí nghiệm trên cơ thể của mình! Gặp cấp cứu, nhiều ông còn ráng “lụi” bịnh nhân một mũi thuốc để cầm cự chờ sang ca trực của BS khác để mình thoát trách nhiệm nếu nạn nhân có chết bất tử. Ông Bs ca trực sau có gì sẽ lo hậu sự … Khi các  chính trị gia thành công ở trên xương máu đồng bào mình, thì Bs cũng tương tự với “tầm sát thương” nhỏ hơn song bản chất nguy hại thì không khác.

Về mặt thuốc, vi thuốc uống ít nhiều hiệu quả trước mắt thấy liền: hết đau trước tiên, nên trong thời đại công nghiệp hối hả, người ta cho là tiện lợi, hay hơn thuốc Đông y. Cũng từ đó, người ta ỷ y không biết giữa gìn sức khỏe. Cứ xem là có thuốc thì khỏi lo. Lại có những loại thuốc trị dứt bịnh, dứt đau tức thì, chắc chắn phía sau có những tác dụng phụ. Nó làm cho bề ngoài người ta cảm thấy là “hết” nhưng thực tế, ít nhiều gì đã phong bế hệ thần kinh cảm giác trước, và, nếu vi trùng thâm nhập thì trong những giai đoạn này, cơ thể coi như không biết để phản ứng. Giống như đồn biên phòng (hệ thần kinh cảm giác) bị bỏ ngõ.

Rổi các giải pháp dùng hóa chất các loại, lạm dụng lâu ngày tạo cho cơ thể có tính kháng thuốc nhanh chóng, nhiều trường hợp suy thận tăng báo động trong những ngày gần đây cũng do nguyên nhân này một phần.

Tóm lại việc dùng thuốc Tây như dùng phân hóa học cho cây trồng. Dễ làm đất bị “chai”, cũng như gây ô nhiễm do quá liều, cây cối phát triển mất cân đối do phân hóa học chưa hoàn toàn đủ chất vi lượng có trong thiên nhiên.

Riêng về Đông y, nhiều vấn đề trái ngược, mà giải thích thì người “tây học” lại bác bỏ không thèm nghe. Nên Tây y có dịp độc quyền làm mưa làm gió.

Người Đông phương nhìn nhận vấn đề có tính bao quát trước khi đi thẳng vào sự việc, nên nền y học cũng theo đó mà khác nhiều (không biết có phải vậy mà dân châu Á hay rào đón ít khi đi thẳng vào vấn đề ngay như người Tây phương ?)

Cũng vì vậy, người thầy thuốc Đông y cũng có cách trị bịnh đặc trưng của mình. Họ phải tự mình làm từ a-z. Khởi đầu là phải chẩn bịnh bịnh nhân với tất cả các phương pháp: vọng, văn, vấn, thiết theo hết khả năng của mình. Sau đó tự tay mình ra toa, hốt thuốc, châm cứu, chích lễ cho bịnh nhân… theo lý luận chẩn trị của riêng mình, và không ai giống ai. Việc giải thích cũng khá “biến hóa” khiến nhiều người không rành văn hóa, lý luận Đông phương bị hiểu lầm và cho là ngụy biện. Cũng vì phải thực hiện từ a-z, ông thầy thuốc Đông y phải làm hết trách nhiệm của mình với mọi khả năng, vì không có lý do đổ thừa vào bất cứ khâu chữa bịnh nào cũng như vào ai khác.

Với phương pháp điều trị dựa trên thuyết “khí – huyết” (khác với Tây y là dựa trên “chứng”) hết hợp với lý thuyết “âm-dương” và “thủy-hỏa” mà luận ra kết quả. Từ lý luận biến thông riêng từng người, mỗi thầy thuốc phải tự học, rèn luyện ngay từ những ngày đầu, để ngộ ra những kinh nghiệm riêng vốn không dễ trau truyền bá một cách bài bản như bên Tây y . Lại thêm phải làu thông “Nho, Y, Lý, Số” nên ông thầy thuốc lại bị chụp mũ thêm với tội mê tín dị đoan. Còn nữa, người thầy thuốc còn phải biết Dịch. Trong Dịch lại có nhiều phái. Phái của Tàu, của Việt cũng đã khác nhau nhiều.

Bao nhiêu đó, lý thuyết căn bản nhiều khi học chưa thuộc hết chứ đừng nói tới lý luận hay trau đổi lẫn nhau. Do ý mỗi người khác nhau trên cách điều trị. Rồi trong đào tạo, một đáp án đề thi cũng chưa chắc là đúng nhất vì có quá nhiều giải pháp hay mà chính thầy chưa chắc hay hơn trò nếu thầy chưa đụng chuyện, mà có đụng, chưa chắc có thể áp dụng đủ số lượng ca bịnh để có thể xác nhận như nguyên tắc của tây y. Vậy thì một ông thầy đã qua trường lớp + bằng cấp vẫn chưa có gì bảo đảm về trình độ tay nghề, mà kết quả hành nghề và lòng tin tưởng của thân chủ quyết định sự tồn tại của ông thầy Đông y này. Vì vậy ta thấy rất ít ông thầy Đông y tồn tại khi mở phòng mạch riêng, thương đa số phải làm trong các bịnh viện y học dân tộc. Song song đó, các ông lang vườn vẫn được nhiều người tin tưởng, nên vấn đề cần xét lại. Tuy nhiên thầy bịp cũng không phải không có.

Về thuốc, vì thuốc chủ yếu lấy từ thảo dược thiên nhiên, nên liều lượng có tính tương đối, cũng không bao giờ quy được ra thành công thức máy móc, chưa kể chất lượng cây cỏ không bao giờ đồng đều để làm được tính tuyệt đối đó.

Khá mơ hồ ! Nếu không nắm y lý Đông phương rõ. Cũng chính đây là nhược điểm bị Tây y công kích không thương tiếc.

Do suy nghĩ có tính tổng hợp nên việc điều trị bề ngoài mang tính tổng quát, truy từ gốc mà trị (trong khi Tây y thì trị chứng: trị ngọn) mà kết quả điều trị mang tính chiến lược lâu dài và toàn diện hơn, it gây tác dụng phụ hơn bên Tây y. Khiến cho người bịnh trong thời đại ngày nay trở nên nản chí trước nhiều trường hợp kéo dài hàng năm trời. Người thầy thuốc có lương tâm cỡ nào cũng dễ bị mang tiếng là “nuôi bịnh” kéo dài để ăn tiền lại bị chê là cho thuốc dở, công hiệu chậm. Nhưng đến khi thuốc tác dụng thì coi như căn bịnh dứt, không dễ tái phát như bên Tây y, cũng như cơ thể được bồi bổ thêm trong quá trình dùng thuốc.

Mặt trái cũng sinh ra nhiều thứ..

Trước hết, học chưa tới nơi, chẩn và ra thuốc sai. Tất nhiên là thời nào cũng có. Rồi do khả năng truyền đạt kinh nghiệm bên Đông y khó hơn bên Tây y nên thầy hay bị mang tiếng giấu nghề dù nhiều khi chính thầy cũng không muốn dấu.

Rồi vấn đề hốt thuốc, nhiều ông thầy “chưa bị đủ” lương tâm, thường trộn thuốc Tây trong thuốc Đông dược để doping thêm, kể cà “hàng trắng”. Còn ông nào có bài thuốc hay, thường khi phải dấu để kiếm sống. Vì nếu đã gọi là bài thuốc, có công thức rõ rệt, nếu bị người khác ăn cắp, sản xuất đại trà thì coi như bị người khác phổng tay trên giựt nồi cơm mình làm giàu, chưa kể còn có hiện tượng đầu cơ thuốc sau này trên bịnh nhân.

Vậy mà, khi bị Tây y chê không cứu nổi, người ta tìm thầy Đông y như là một chiếc phao cuối cùng. Nếu trị được, người ta sẽ khen và truyền bá một cách máy móc cách trị này. Như trên đã nói cách trị cho từng người không ai giống ai thì sẽ dẫn tiếp đến kết quả xấu khi áp dụng cho người khác. Đông y lãnh đủ tiếp và nặng hơn. Nếu không trị được thì : “Biết rồi mà! Tây y còn chào thua, còn bày đặt chữa cho khổ !”

Nhiều bịnh, chi phí Đông y trị nhẹ nhàng hơn, thậm chí dễ như trở bàn tay: trúng gió, quai bị, sốt rét, giời leo, viêm xoang.. nhưng không biết tại sao vẫn không được phổ biến, bị chê là phản khoa học. Người ta nghi ngờ rằng nếu phổ biến ra thì Tây y hết đường bán thuốc chữa trị, nên có ý đồ cản trở không phổ biến nhằm mục đích thương mại.

Tuy nhiên, riêng những bịnh truyền nhiễm phải dùng kháng sinh hay tiêm ngừa thì Đông y chấp nhận chào thua Tây y, do tính khẩn cấp lây lan, nếu dùng Đông y thì không thể ngăn chận kịp. Cũng như các thủ thuật giải phẩu, thay cấy ghép bộ phận, tiếp máu.. cũng phải công nhận Tây y vượt trội rõ rệt.

Rồi từ việc Đông y không được phát triển, người ta thắc mắc ít điều:

Có phải chăng vì các chức vụ chủ chốt của ngành y tế, không có một ông Bs Đông y nắm cả nhằm có thẩm quyền phát triển ngành y học dân tộc vốn tự hào qua nhiều thế kỷ với các danh y : Hải Thượng Lãng Ông, Tuệ Tĩnh..

Hay là vì Tây y đem lại lợi nhuận cao hơn ? Trước mắt thấy có bán thuốc cũng thừa sức làm giàu, chưa kể đến kinh doanh máy móc xét nghiệm, chữa trị…

Nhìn lại mấy danh y đương đại, thử xem thế nào:

Miền Bắc có ông Gs Đỗ Tất Lợi, một trong 6 được sĩ đầu tiên của Đông Dương, , được Liên Xô phong học vị tiến sỹ, với quyển “ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”.

Miền Nam có ông Gs Phạm Hoàng Hộ với tác phẩm “ cây có vị thuốc ở VN”, nhưng với điều kiện thời chiến khó khăn ờ miền Nam, làm được tác phẩm này là một công phu lớn.

Mà tới giờ vẫn không thấy ai nhắc tới ngoài mấy quyển sách bày bán ở ngoài. Cũng không thấy 2 ông này có được một chức vụ nào cho xứng đáng với công lao đã cống hiến.

Chung quy Đông y vẫn bị thiệt thòi thua trắng trên sân nhà, còn bị mang tiếng.

Cuộc chiến Đông Tây y vẫn còn dai dẳng mà mỗi bên có cái hay cái dở riêng. Trọng tài công bằng phân xử.. khó tìm.

Y đức là cốt lõi. Còn lại mấy người để cho bịnh nhân lấy lại niềm tin?

Câu hỏi khó trả lời ngay cả đối với những người trong ngành “lương y như từ mẫu”

Nhứt là khi giữa lương y và kẻ giết người được cấp phép (assassin patenté) không có ranh giời rõ rệt !

Viết xong ngày 9-6-2009 – 11h30. Quái Y.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s