LÃO ĐỊA SANH TẬT

Nguồn:

http://webcache. googleusercontent. com/search?q=cache:hWxvTF_KsEsJ:thegioivohinh. com/diendan/showthread. php%3Ft%3D131%26page%3D3+th%C3%A1nh-tr%E1%BA%A7n+tr%E1%BB%AB+t%C3%A0&cd=3&hl=vi&ct=clnk&gl=vn&client=firefox-a&source=www. google. com. vn

(Chép từ tạp chí Khoa Học Huyền Bí trước 1975)

LÃO ĐỊA SANH TẬT
Ông Năm ngồi hút huốc ở trường kỷ thì bà ở dưới bếp đi lên đứng cạnh ông vừa têm trầu vừa thủ thỉ:
– Ông nè !  Sao tôi nghe mấy đứa nhỏ nói cái ghế chạm nhỏ biết đi hả ông?
Ông nhìn sững bà rồi trả lời:
– Bà nói gì vậy !  Ghế gì mà biết đi?
– Tụi nhỏ nó nói nó thấy rõ ràng ông à !  2-3 bửa này rồI !
– Đứa nào thấy, bà kêu lên cho tôi hỏi cái coi.
Bị kêu lên hỏi, thằng Hưng đứng nép bên cột trả lời:
– Ban đầu chúng tôi nghe có tiếng lụp cụp nho nhỏ nhiều lần như vậy, sau để ý, thấy cái ghế nó nhúc nhích đi. Nó chỉ đi vào những đêm trăng, mà hể lại gần thì nó im liền.
– Chắc là chuột bọ gì nó chui ở dưới nó khua động. Bây khéo nói bá láp, báo hại bả sợ hết hồn.
Rồi quay qua bà, ông cười và nói tiếp:
– Đây rồi, mai mốt nó biết chạy, biết nói tiếng người, coi chừng không khéo nó thót lên cổ, nó nuốt tọng bà luôn à nhen !
Rồi đổi giọng nghiêm trang, ông nói tiếp:
– Bà còn nhới cái tủ ma của ông Cả không? Tủ cũ, ban ngày bị nắng làm cho nở cây ra, ban đêm trời mát nó nhót lại kêu kìn kịt. Vậy mà thiên hạ bu đi coi, thiệt dốt nát hết sức.
Mươi hôm sau, độ chừng 9 giờ đêm, theo lời dặn của bà Năm, thằng Hưng sẽ lén đi vòng qua ngả đầu hông lên cho hay cái ghế đang đi dưới nhà cầu. Ông bà và người con trai nhẹ bước xuống rình ở cửa hông.
Bóng trăng vằng vặc soi sáng khu sân nhỏ, cái ghế chạm thấp thường ngồi để sàng gạo lựa thóc, đang ở giữa mấy đống vỏ cau mới bửa ban chiều.
Đợi chưa giập miếng trầu nó đã khởi sụ nhúc nhích, rồi cử động mạnh, lịch kịch nhích mình đi tới. len theo mấy khỏang trống trên sàn.
Ông Năm nghiêng mình sát mặt đất, xuyên qua khoảng hổng của tấm gạch, ông xem xét khá lâu, nhưng không thấy có con gì ở dưới hết. Mươi phút sau ông nhẹ nhàng rút chốt mở cửa, 3 người rón rén đi ra, còn cách vài bước, cái ghế mới ngưng hẳn. Người con trai bước tới cẩn thận vói tay lật ngược cái ghế: bên dưới trống trơn. Mấy người làm công tự nãy tới giờ núp rình phía bếp cũng xúm lại chung quanh.
Thằng Hưng lên tiếng:
– Ông Năm ơi, cái ghế này bằng câm lai nặng quá, có con chuột bọ nào mà hất nó đi nổi.?
Bà lấm lét đứng thụt lại phía sau, ông đứng vuốt mấy cọng râu thưa, trầm ngâm 1 chút rồi nói:
-Kỳ thiệt !  Thuở giờ mới thấy cái ghế biết đi. Nhớ lại nó cũng lâu đời lắm rồi, tao thấy chạm trổ khéo léo nên để dành:có lẽ nào lâu năm nên sanh chuyện quái gỡ chăng?
Chú Hai Còn, 1 trong số những người giúp việc cho ông năm, trang trọng nói:
– Thưa !  ông Năm nói đúng đó ! Có nhiều món đồ mình dùng lâu ngày chày tháng,  thọ khí âm dương đầy đủ, thường sanh ra linh thiêng, như pho tượng ông Địa của nhà tôi năm nẳm:
– “ Năm đó thằng em trai của tôi mới cưới vợ, để cho nhà đỡ chật hẹp, tía tôi cho vợ chồng tôi ra riêng.
Chúng tôi vô trong ngọn cất ngôi nhà nhỏ. Cất xong tía tôi vào thăm và khen nhà gọn ghẻ vén khéo, nhưng thiếu cái bàn thờ nên không được ấm cúng. Ông biểu tôi gác cây ngang 2 cột cái làm cái trang, rồi ông cho thỉnh lư hương và pho tượng ông Địa về thờ. Pho tượng này bằng sành chắc đâu cũng từ thời ông cố tôi để lại.
Một hôm, nhìn nhà sau trước trống trơn, vợ chồng tôi bàn nhau:đứa thì lo nuôi heo gà;đứa thì chịu khó cực khổ đi làm thuê, kiếm chút đỉnh sắm tủ,  sắm bàn với người ta.
Tôi lên Rạch Tra xin làm cho ông Hương chủ kiểng, được 5-6 hôm mới về thăm nhà.
Bên mâm cơm tối, tôi để ý thấy gò má của vọ ửng đỏ, tưởng là bị hơi nóng dưới bếp;nhớ lại hôm mới cưới, gò má nàng cũng đỏ hây hây dễ thương như vậy;tôi nhìn sững, vợ tôi xấu hổ hỏi tôi:
-Đi làm trên Rạch Tra có vui không mình?
– Chiều chiều nhìn về giang cây làng, thấy sương mù mịt, nhớ nhà muốn chết chớ vui nổi gì?
– Vậy sao không chịu khó lội về thường thường để rồi than thở?
– Mình mới vô làm có mấy ngày mà về hoài coi sao được !
Gò má nàng càng ửng đỏ hơn, tôi đang ngạc nhiên định hỏi thì nàng đã thỏ thẻ mét:
– Mình đi hổm rày, đêm nào cũng có 1 thằng cha mập ú, nó lẽn vô mùng rờ em hoài hà !
– Sao không đóng cửa đóng nẻo?
– Ở nhà 1 mình sợ gần chết:mặt trời chưa lặn em đã đ1ong cửa kín mít. Mỗi lần hay nó vô mùng, em la là nó chạy mất. Lật đật dậy soi đèn, cửa nẻo còn y nguyên, không biết nó vô cái ngã nào mới kỳ?
Tôi nhìn sững vợ, tự nghĩ:”số mình muộn màng, lấy nhau đã 3 năm mà chưa có mụn con để hủ hỉ cho vui nhà vui cửa; chắc vợ vì chịu không nổi cảnh nhà hiu quạnh nên bịa ra chuyện bị rờ để mình năng về với nó. Chớ đàn ông con trai trong xóm có ai bậy bạ bao giờ. Hơn nữa có người nào mập mạp như nó vừa kể đâu. ”
Sau bửa cơm, tôi soát lại cửa nẻo cho chắc ý, dặn vợ gài cửa sớm hơn thường lệ. Khuya lại đi làm sớm, tự hẹn vài bửa sẽ về 1 lần, kẻo vợ thui thủi 1 mình tội nghiệp.
Chiều thứ 3, tôi lơn tơn về, nghĩ thầm, mình về sớm bất ngờ, chắc vợ mừng lắm, dè đâu vợ đang đón trước của sân, nước mắt rưng rưng kể lể:
– Hai đêm rồi em có dám ngủ nghê gì đâu, hễ chợp mắt là đồ quỷ nó lẻn vô mùng, một đêm không biết mấy chặp !  Hay là sẵn còn sớm mình chạy ra tía, mượn cô Út, tối tối vô đây ngủ cùng với em cho đở sợ nghe mình.
Tôi đáp:
– Con út tuy nó lớn chồng ngồng vậy đó nhưng nó còn ngủ với má, dễ gì nó chịu vô đây.
Rồi kề tai vợ tôi thì thầm;
– Đêm mai anh sẽ lẻn về, mình hé cửa sau để sẵn đó. Anh quyết bắt tại trận tên khốn nạn phá xóm phá làng này mới được.
Vợ tôi vui vẻ gật đầu.

Đêm sau, vào khoảng 7 giờ, tôi về và núp vào 1 lùm cây sau hè. Thỉnh thoảng tôi nghiêng tai sát đất, lắng nghe xem có tiếng bước chân của kẻ nào lảng vảng không, nhưng bốn bề vẫn im lặng. Đợi thiệt khuất mình tôi mới vào cửa sau, nhẹ nhàng cài then cẩn thận, rồi thu mình vào 1 góc khuất ngồi rình.
Chồm hổm thét mỏi chân, tôi cũng không dám nhúc nhích. Muổi vo ve tôi chỉ dám vuốt nhẹ xua đi.
Ánh trăng 19 mới mọc, xuyên qua mắt cáo soi lờ mờ trong nhà. Trong mùng vợ tôi nằm đắp mền nắm im ru, không biết còn thức hay đã ngủ, tiếng chuột xạ rúc dưới bếp làm tôi chú ý. . Bỗng vợ tôi thét lên:
– Đó …đó … !  bớ …
Một bóng trắng từ trong mùng thoát ra thót lên cột cái. Tôi bấm cây đèn pin thủ sẵn soi theo nhưng chẳng thấy gì. Tôi đảo ánh đèn mấy vòng …mái lá còn nguyên …nó đã thoát đi ngã mà mất dạng?
Tôi hối vợ lấy cây sào trúc, rồi tay sào tay đèn, vói lên vén màn ở trên trang thờ:chỉ có mỗi ông Địa bằng sành đang toe toét cười.
Chúng tôi đốt thêm đèn, soát lại cửa, soi khắp hóc kẹt:cũng chẳng thấy ai …
Tôi rọi trở lên trang thờ, bức màn bị gió thổi tạt qua 1 bên bày ra ông Địa, miệng cười chành bành, trơ trẻn đến phát ghét.
Khuya lại, tôi dậy sớm, xách lão Địa về trả lại tía tôi. Sau khi nghe tôi kể lại đầu đuôi, tía tôi ra lệnh:
– Đúng là lão Địa lâu năm sanh ngụy !  Con đem lão ra gốc cây đa ông Táo đập bỏ cho rãnh.
Kể từ hôm đó, vợ tôi thoát khỏi cảnh bị lão Địa quấy rối cho đến ngày nay.
Thói thường:già sanh tật, đất sanh cỏ, nghĩ đến cái tật oái oăm của lão Địa, ai nấy cười xòa. Cười dứt, thằng Hưng nói:
– Con Kỳ lân của chị tôi cũng không kém gì ông địa của anh Hai.
Rồi Hưng hắng gịong kể luôn:
-Đầu năm đó,  chị tôi lấy chồng về làng Tam Ngải. qua tháng năm tôi đến viếng, gặp chị đang ốm nghén, nằm dã dượi trong phòng. Tôi nhõng nhẽo nằm kề bên chị, thủ thỉ kể chuyện nhà 1 chút rồi ngủ quên luôn.
Đang ngon giấc bỗng chị tôi thét lớn, tôi hoãng hốt ngồi nhỏm dậy. Chị ngồi thở hổn hển. Anh rễ tôi chạy vào hỏi thì chị đáp:
– Em đang mơ màng thì thấy 4-5 con lân:chúng khệ nệ bưng lại 1 dĩa lớn thịt vịt. Một con lên tiếng mời ăn, em không chịu, nó nhảy bổ lên giường, xúm đè chân tay em cứng ngắc, rồi lấy thịt nhét vào miệng em. Em giẫy hết sức mới thoát được, mệt quá !
Anh dìu chị nằm xuống rồi hỏi tiếp:’
– Em có thấy rỏ mấy con lân nó vô lối nào không?
– Nó vô ngả cửa, khi em la được thì chúng buông ra, thót lên đầu tủ áo, biến mất.
– Mấy con lân mắc toi này, để ở đâu cũng tác quái.
– Anh vừa nói vừa bắt ghế vói tay lên đầu tủ. Chị hỏi:
– Ủa !  anh cất ở đây hồi nào sao em không biết?Sao không để ở ngoài bàn thờ.?
– Phải giấu riêng ra, lỡ gặp ăn trộm nó thấy không đủ bộ nó sẽ không lấy. Thôi !  Để anh đem mấy con lân quỷ này đem xuống bếp gửi cho ông Táo. Hồi năm ngoái, cất ở hộc tủ trong buồng của má, nó đã nhát bà già 1 lần rồi. Bộ lư này sắm từ đời ông nội, lâu năm quá rồi nên nó khởi sự sanh quái rồi nha !
– Sau thời kháng chiến, ở quê ngoại nhuy hiểm, gia đình chị tôi mới di cư về quận Trà Ôn. Nhà mới thì nhỏ hẹp, nên chị chỉ mang theo những vật cần thiết: 1 bộ lư xưa và 1 bàn thờ ông bà.
– Trãi qua có hơn 10 năm, vì mải lo tảo tần trong thời củi qué gạo châu, nếp sống êm đềm năn cũ không ai buồn nhắc, mà việc tác quái của mấy con Kỳ lân cũng chìm vào quên lãng.
– Cho đến 1 buổi chiều gần đây, đứa cháu của chị tôi chừng hơn 10 tuổi, 1 mình giữ nhà. Nó buồn nên lấy 1 quyển sách lên võng nằm,  vừa đọc sách vừa đưa võng kẻo kẹt, vừa ngóng ra cổng trông người lớn về. Chợt thấy 1 con vật như 1 con chó lớn, đầu to chần vần, mắt tròn xoe nảy lửa, miệng rộng huếch tới mang tai, chân lùn khuỳnh khuỳnh từ phía bàn thờ từ từ tiến lại.
– Nó hét lên thất thanh, phóng tuốt ra cổng.
– Theo hình dáng con vật mà nó kể lại, cả nhà mới nhớ tới lủ kỳ lân bằng đồng đã từng tác quái năm xưa. Đúng là hắn chứ còn ai vào đây nữa.
– Tiếc bộ lư kỷ niệm của gia đình, anh rể tôi phải đem bộ lư lên chùa gữi đở. Không biết có phải nó mê tiếng chuông mỏ kinh kệ hay không, mà từ ấy đến nay, không còn thấy xảy ra việc gì.
– Hay là mình đem cái ghế này đi gửi vô chùa đi ông Năm. !
-Thôi !  sẵn ngoài sân có lửa đốt un, bây lấy búa, xách cái ghế ra chẻ đốt hết cho rồi, để lâu không nên.
Hưng quay qua anh hai Còn, gãi đầu nói:
-Tôi lấy búa, còn anh cầm cái ghế đi với tôi nha anh Hai.
Lam Điền.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s