Khi nền giáo dục độc quyền đang xuống cấp, nhìn lại những nhà giáo dục Công giáo xưa … (1)

http://www.vinhanonline.com/index.php?option=com_content&view=article&id=683:jean-baptiste-de-la-salle1651-1719&catid=93:chung-nhan-kito-giao&Itemid=276

Jean Baptiste de La Salle(1651-1719)

Gioan La San tên đầy đủ là Jean Baptiste de La Salle(1651-1719), nhà giáo dục, người sáng lập Dòng Sư huynh các trường Công giáo(Dòng Lasan), Thánh bổn mạng các nhà giáo Công giáo. Ngài sinh tại lâu đài Cloche, được rửa tội cùng ngày tại nhà thờ thánh Hilaire thành Reims. Ngài là con trưởng một gia đình có 10 con, ba người chết từ lúc còn thơ ấu, 6 người còn lại thì Jacqnes Joseph và Génovéfain đi tu, làm giáo sư thần học, hai người Jean Remy và Pierre theo nghiệp cha, em gái Rose Marie vào tu viện thánh Etienne.

I. Tiểu Sử

Jean-Baptiste de La Salle (Gioan Bao ti xi ta La San) sanh ngày 30 tháng 4 năm 1651 ở thành phố Reims trong một gia đình khá giả và quý phái đã lập nghiệp lâu đời trong vùng Champagne này. Gioan La San theo học trường Collège des Bons Enfants cho đến khi xong bằng Cao học Văn chương vào năm 18 tuổi (1669). Năm sau ông lên Paris, theo học chủng viện Saint-Sulpice. Khi mẫu thân rồi phụ thân của ông kế tiếp nhau qua đời, ông phải trở lại nhà chăm sóc các em và quản trị tài sản gia đình. Ông vẫn theo đuổi ơn kêu gọi, và trở lại học ở chủng viện, sau khi đã lo lắng xong cho các em. Thụ phong chức linh mục ngày 9 tháng 4 năm 1678 và hai năm sau, ông hoàn tất học trình Tiến sĩ Thần học vào tháng 6 năm 1680. Trong thời gian này, ông chịu ảnh hưởng của Nicolas Roland, một tu sĩ và một nhà thần học ở Reims.

Theo di ngôn của Nicolas Roland, Gioan La San nhận giúp các nữ tu dòng Chúa Giê Su Hài đồng, trong việc giảng dạy trẻ em ở trường dòng này. Nhờ đó, ông làm quen với các phương pháp sư phạm thời bấy giờ, và qua sự quan sát các lớp học, ông đã thấy các cải cách cần thiết để dạy trẻ em một cách có hiệu quả hơn. Do đó ông có ý hướng thành lập trường học dành cho các em trai con nhà nghèo khổ.

Thời kỳ đó ở Pháp , chỉ có một số ít người sống phong lưu, nhàn hạ, còn đa số nông dân, thợ thủ công, và dân cư ở thành thị đều thiếu thốn và nghèo khổ. Trong hoàn cảnh này không có nhiều trường học và số trẻ em được đi học cũng rất ít ỏi. Thanh thiếu niên hầu như không có tương lai. Trước thảm cảnh đó, Gioan La San tự nguyện đem hết sức học và khả năng của mình để giúp các trẻ em thường bị bỏ mặc bên lề cuộc đời và không hề được dạy dỗ. Ông từ bỏ quyền thừa kế gia tài của gia đình, bố thí tất cả của cải đã có trong nạn đói năm 1681, và từ chức Cha sở nhà thờ, để hoàn toàn hòa mình sống với các thành viên trong Dòng tu mới. Dòng được gọi là Dòng Sư huynh các trường Công giáo (Frères des Écoles chrétiennes, thường được viết tắt là FSC) cho đến ngày nay.

Nhưng nhiều giới chức trong đạo không hài lòng về dòng tu mới do Gioan La San dựng nên. Họ không thích cách thu dụng những người “thường” để đưa vào đời sống tu đạo, và họ không mấy hài lòng khi thấy mục tiêu của dòng là việc giáo dục và dạy dỗ chứ không phải là thờ kính Thiên Chúa, và tôn kính Giáo hội. Những người trong ngành giáo dục thời đó thì không thể chấp nhận lối dạy mới do Gioan La San đề ra. Họ lại không thể hiểu được tại sao dòng này lại muốn dạy học mà không thâu học phí, và cũng không màng biết là cha mẹ các học sinh có đủ sức trả tiền hay không. Ðây là bước đầu trong việc lập nền giáo dục cưỡng bách và miễn phí, một trong những nhân quyền căn bản được Liên Hiệp quốc nhìn nhận sau này.

Dần dần Dòng các Sư huynh do Gioan La San lập ra thành hình và lớn mạnh. Cách dạy dỗ trẻ em theo lối dùng tiếng mẹ đẻ có kết quả rất tốt, và có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội. Nhiều người trẻ tuổi đã đến xin theo học cách dạy, cũng như nhiều họ đạo gởi người đến để học hỏi. Năm 1685, Gioan La San mở một nhà tập để đón nhận tất cả những người này. Sau một hay hai năm vừa học, vừa tập sự cách dạy, những người do các họ đạo gởi đến sẽ quay về họ đạo và mở trường dạy theo cách của Gioan La San, không phải vào Dòng. Những nguời trẻ khác sẽ tùy trường hợp, xin khấn nguyện làm Sư huynh, và sống theo luật của Dòng. Nhà tập trở thành trường Sư phạm đầu tiên ở Âu châu và ở cả Mỹ châu (xem phần III c)..

Gioan La San đã cùng các tu sĩ trong dòng liên tục làm việc và mở rộng cửa trường thu nhận học sinh mọi giới. Trong dòng chỉ có ông là linh mục, có quyền hành lễ Mi-sa và có quyền giải tội. Gioan La San định trao quyền điều khiển Dòng lại cho một môn đệ, vừa là Sư huynh, vừa là linh mục nên gởi Sư huynh Henri L’Heureux theo học thần học ở Sorbonne. Nhưng đến tháng 12 năm 1690, Henri l’Heureux qua đời trước khi sắp được thụ phong linh mục. Gioan La San xem việc này như ý muốn của Thiên Chúa nên quyết định sẽ không có linh mục trong Dòng Sư huynh.2

Gioan La San dời nhà Dòng lên Paris khi thấy Dòng các Sư huynh đã được vững chắc và có cơ hội phát triển trong công tác giáo dục trẻ em cũng như người lớn. Tại đây, vào năm 1699, Gioan La San mở trường dành cho người lớn ở Saint-Sulpice, học vào ngày chủ nhật. Ngoài các môn học đọc, viết, và đạo lý, trường còn dạy thêm toán, nhất là hình học, hội họa và kiến trúc. Năm 1705, Gioan La San về Saint-Yon, Rouen để mở trường nội trú trung học ở đây. Ông đã dựng thêm bên cạnh trường này một trường kỹ thuật, dạy nghề và dạy thương mại, và một khu vườn để dạy thêm về thực vật, canh nông. Ðây là trường trung học đầu tiên của Dòng, vì từ lúc đầu các Sư huynh chỉ chuyên chú dạy trẻ em con cái các gia đình nghèo ở cấp sơ học và tiểu học. Dường như đây cũng là trường đầu tiên mà các Sư huynh có thâu học phí đều đặn mỗi tháng (Reisner, 1935, trang 23) Lúc đầu ở Reims, rồi qua Vaugirard (giờ nằm trong Paris), và sau cùng ở Saint-Yon, Gioan La San còn mở một nhà, gọi là Nhà Chung, hay nhà mẹ (Maison Mère) để đào tạo các chủng sinh, là chỗ nghỉ ngơi và bồi dưỡng khả năng sư phạm cho các Sư huynh trong dịp hè, và cũng là nơi an dưỡng cho các Sư huynh khi về hưu.

Cuối thế kỷ thứ 17, Gioan La San cử hai Sư huynh sang Rome để mở trường. Một Sư huynh bị bệnh không đi được, phải trở về Pháp. Sư huynh Gabriel một mình sang Rome, mở trường và ra công dạy học. Trường hoạt động liên tục trong 30 năm. Hiện giờ Nhà Mẹ của Dòng ở tại Rome, và trở thành trụ sở chính thức của Dòng. Các địa phận của Dòng đều có cơ sở riêng dành làm tiểu chủng viện và chủng viện, cùng có nhà hưu dưỡng riêng. (Leo, 1921)

Sau đó Gioan La San trao quyền điều khiển Dòng cho Sư huynh Barthélemy, một người vừa thông thái, vừa đức hạnh và về sống ẩn dật tại Saint-Yon, Rouen, hàng ngày suy gẫm, hãm mình và viết sách. Vô hình chung Gioan La San đã thực hiện cách sống thanh cao của những hiền triết Á đông: “công thành, thân thoái !” Ông mất vào thứ sáu tuần Thánh, tức ngày 7 tháng 4 năm 1719 tại Saint-Yon, Rouen. Sáu năm sau, vào tháng 1 năm 1725, Ðức Giáo Hoàng Benoît thứ 13 đã chính thức công nhận Dòng Sư huynh La San. Ngày 19 tháng 2 năm 1888, Gioan La San được phong Á thánh, và được phong Thánh vào ngày 24 tháng 5, năm 1900. Ðến ngày 15 tháng 5 năm 1950, giáo hội nhìn nhận Gioan La San là Quan thầy các nhà giáo dục Công giáo vì sự đóng góp vô giá của Dòng trong việc giáo dục trẻ em.

Khi Goan La San qua đời, Dòng các Sư huynh đã có trường dạy học ở Alois, Avignon, Boulogne, Calais, Chartres, Dijon, Grenoble, Guise, Laon, Marseille, Mende, Moulins, Paris (trường tiểu học, trung học và trường sư phạm), Reims, Rouen (trường kỹ thuật, trường trung học), Saint-Denis, Troyes, Les Vans, và Versailles.

Năm 1782, sau cuộc Cách mạng ở Pháp, các trường Dòng cũng như các trường đạo bị cấm chỉ và Dòng bị giải tán. Nhưng đến năm 1801 , các Sư huynh đã tập họp nhau lại, và năm sau, đã mở lại các trường ở Lyon, ở Paris, ở Saint-Germain-en-Laye, và ở Toulouse. (Vollet, 1885) Năm 1808, chánh phủ nhìn nhận Dòng và đặt các Sư huynh dưới quyền kiểm soát kỹ thuật dạy học của Viện trưởng Viện Ðại học Pháp quốc 3 . Giữa thế kỷ thứ 19, trước khi sang Việt nam, Dòng La san đã có 750 cơ sở, hơn 1350 trường học và khoảng 275 ngàn học sinh. Ðến năm 1878, Dòng có 9818 Sư huynh dạy trong 1064 trường trung tiểu học và 385 trường nghĩa thục. Dòng có nhà tập (tiểu và đại chủng viện) ở Albano (Ý), Alost (Bỉ), Baltimore, New-York, Saint-Louis, San Francisco (Hoa kỳ), Castletown (Ái nhĩ lan), Colombo (Tích lan), El-Biar (Algérie), Madrid (Tây ban nha), Montréal (Canada), Quito (Equateur), Ramleh (gần Alexandrie, Ai cập), Saint-Denis (đảo Réunion), Santiago (Chí lợi), và Vienne (Áo).

Vào thế kỷ thứ 20, Dòng Sư huynh còn có cơ sở Tu thư, Librairie générale, viết tắt là LiGel, tọa lạc ỏ số 77 đường Vaugirard, Paris để soạn, in và phát hành khắp thế giới sách giáo khoa các cấp tiểu và trung học. Phần tác giả được ghi chung là Par une réunion de professeurs – do một nhóm giáo sư. Ðến đầu thế kỷ thứ 21, Dòng La san có hơn 4100 Sư huynh, cộng với 68 ngàn giáo chức và nhân viên hành chánh, văn phòng, trông nom việc dạy dỗ 800 ngàn học sinh các cấp, từ tiểu học đến đại học trong 82 quốc gia. Tại Hoa kỳ, có trường Võ bị (Académie Militaire) ở Nữu ước, do các Sư huynh điều khiển. Ngoài ra còn có hơn 10 triệu cựu học sinh và sinh viên các trường La san. 4

II. Tư tưởng hướng dẫn

Vì không có điều kiện tra cứu tận gốc các sách do Gioan La San đã viết nên không dám nói đến lý thuyết hay tư tưởng chính yếu làm nòng cốt cho Dòng Sư huynh La San, mà chỉ tóm lược một số các tư tưởng quan trọng nhất đã hướng dẫn phương pháp dạy học trong các trường La San, và trong đời sống các Sư huynh Dòng này. Compayré (1901), khi viết về lý thuyết và thực hành trong ngành giáo dục, chỉ dành cho Gioan La San vài hàng, vì theo ông, mối quan tâm chính của Gioan La San là việc tổ chức và điều hành trường cùng lớp học chứ không phải là học thuyết giáo dục hay lý thuyết sư phạm. Trước đó Compayré (1880) đã dành gần trọn một chương để nói về phương pháp dạy học của Gioan La San. Rất mong được sự chỉ dẫn của quý vị độc giả biết rõ hơn lý thuyết giáo dục của Gioan La San bổ khuyết cho sự thiếu sót của bài này.

a. Dạy cho trẻ em, vì trẻ em, theo khả năng của chúng, dùng tiếng mẹ đẻ, và dạy cho hiểu

Gioan La San nhắm vào việc dạy dỗ trẻ em, muốn các em học được, nghĩa là cách dạy phải thu hút cho các em muốn học và có hiệu quả. Vì vậy Gioan La San tạo dựng môi trường học thích hợp, trong không khí khuyến khích sự học, và tạo điều kiện cho học sinh dễ học cũng như cho thày giáo dạy được dễ dàng hơn. Lớp học của Dòng các Sư huynh khác với lớp học bình thường thời đó, thày phải dạy học trò có nhiều trình độ khác nhau rất xa. Các Sư huynh sắp xếp học trò có cùng trình độ lại thành một lớp, để tất cả các em học cùng một bài, đọc chung một sách, trò dễ chú ý, thầy dễ theo dõi.

Thành ra trẻ em mới vào trường bắt đầu học bằng tiếng mẹ đẻ (vernacular, langue vernaculaire) và trong trường của các Sư huynh thời đó là tiếng Pháp. Học trò đã quen tiếng mẹ đẻ, nên học nhanh, nhớ dễ, và không nản như khi học tiếng La tinh, xa lạ và khó nhớ. Quan niệm dạy cho trẻ em, vì trẻ em này giống như quan niệm giáo dục nhằm vào trẻ em (child centered education) mà các nhà giáo dục từ Pestalozzi (1746-1827) đến Dewey (1859 – 1952), đã phát triển và thực hành trong nền giáo dục mới, đại chúng và tân tiến.

Gioan La San cũng nhấn mạnh đến việc giúp trẻ tự học, thầy không nên làm tất cả rồi trò chỉ cần ghi nhớ và học thuôc lòng. Gioan La San đã căn dặn: “Let the teacher be careful not to lend his pupils too much help in resolving the questions that have proposed to them.” (Thầy gíao phải hết sức cẩn thận để không giúp đỡ cho học sinh quá mức trong việc giải đáp các câu hỏi –hay bài toán– đã đặt để cho các em). (Fitzpatrick, trang 18) Và Gioan La san khuyến khích học sinh phải cố gắng và trì chí trong việc tìm ra giải đáp chứ không nên ỷ lại vào thày hay bạn. Ngay trong việc học toán, Gioan La San đã khuyến khích thày giáo hướng dẫn cho học trò hiểu lý luận để tự làm chứ không chỉ làm bài mẫu rồi cho học trò ghi nhớ mà làm theo.

b. Học giáo lý

Gioan La San tin tưởng là trẻ em sau khi được khai mở trí óc bằng cách được dạy đọc, dạy viết, chỉ có thể trở nên người có ích cho xã hội nếu các em được dạy thêm đạo đức làm người. Quan niệm này chắc không xa mấy quan niệm “tiên học lễ, hậu học văn” hay quan niệm “có học phải có hạnh” ở Việt nam ngày trước. Vào thời đó, ở Pháp, đạo đức làm người là theo giáo lý công giáo. Gioan La San rất chú trọng đến việc giảng dạy giáo lý, cho trẻ em thấm nhuần đức tin công giáo và lòng bác ái công giáo. Sau khi đã đọc và viết thông thạo tiếng mẹ đẻ, học trò mới học thêm chữ La tinh, đủ để theo dõi lễ Mi-sa, ứng đáp các câu thông thường với vị chủ tế, và hát các bài đạo ca bằng tiếng La tinh.

Trong chương trình học, mỗi ngày đều có giờ cầu nguyện khi vào lớp và khi ra lớp, cùng nửa giờ giáo lý, và dự lễ Mi-sa. Chủ nhật, học sinh nội trú đi xem lễ Mi-sa, học giáo lý buổi trưa, và chầu mình Thánh buổi chiều. Các Sư huynh là những người dạy giáo lý cho học sinh. Thành ra thày phải làm gương đạo đức cho học trò noi theo. Gioan La San chỉ dẫn rành rẽ những điều các Sư huynh phải theo, từ lời ăn, tiếng nói, đến cử chỉ và cách cư xử trong lúc giảng dạy. Như:

He will never speak, either to any pupil in particular or to all in general, unless he has carefully thought about what he has to say and considers it necessary. (Reisner, 1935, trang 148)

Sư huynh sẽ không bao giờ nói, dù riêng rẽ với một học sinh, hay chung cho cả lớp, nếu chưa có suy nghĩ kỹ càng về điều sẽ nói, hay chưa thấy cần phải nói điều đó.

c. Kỷ luật và thi hành kỷ luật

Gioan La San nhấn mạnh đến việc duy trì kỷ luật trong lớp để tạo không khí thuận lợi cho việc học hỏi và tiếp thu. Ngay chính các Sư huynh cũng làm gương trong việc giữ kỷ luật: ăn trong im lặng, để nghe một Sư huynh đọc sách trong bữa ăn. Gioan La San quan tâm rất nhiều đến việc thi hành kỷ luật. Thời đó, ở Âu châu, việc dùng roi vọt để trị học trò là chuyện thường tình, và như ở xã hội cũ bên Á đông, thầy có quyền uy tuyệt đối, trên cả cha (Quân, Sư, Phụ). Nhưng với Gioan La San thì khác hẳn:

To avoid frequent punishments, which are a source of great disorder in a school, it is necessary to note well that silence, restraint, and watchfulness on the part of the teacher that establish and maintain good order in a class, and not harshness and blows. A constant effort must be made to act with skill and ingenuity in order to keep the pupils in order while making almost no use of punishments. (Reisner, 1935, trang 169)

Ðể tránh việc phải trừng phạt liên miên, vì đó là một nguồn tạo nên sự lộn xộn lớn trong trường học, ta cần phải nhớ là chính sự im lặng, sự tự chế, và sự chăm chú của người thày giáo mới tạo ra và duy trì được trật tự trong lớp, chứ không phải là sự khắc nghiệt hay đánh đấm. Thày giáo phải luôn luôn cố gắng để hành động một cách tài tình và khéo léo để học trò giữ kỷ luật mà không cần phải dùng đến hình phạt.

Gioan La San ghi ra sáu trường hợp mà tác phong và hành động của thày giáo làm cho học trò không ham thích học, cùng sáu trường hợp trong đó trẻ em sẽ khinh lờn mà không chăm chú vào việc học.

Gioan La San cũng đề ra rõ ràng những phương cách thi hành kỷ luật để việc này có tác dụng hữu hiệu nhất trong việc dạy dỗ trẻ em. Theo Gioan La San, việc trừng phạt phải:

1.      Thuần lý và vô tư; không nhằm để thày giáo trả thù riêng tư.

2.      Nhân ái, nghĩa là chỉ đưa ra hình phạt để nhắm vào sự cứu rỗi linh hồn học trò có lỗi.

3.      Công bằng

4.      Phù hợp với mức độ tội phạm, về đặc tính cũng như về sự trầm trọng.

Và hình phạt phải theo các nguyên tắc như chỉ phạt khi nào hình phạt thực sự có hiệu quả; không được phạt một học sinh chỉ đề nhằm răn đe các học sinh khác; … và thày giáo không được phạt khi đang khó chịu, giận dữ, hay mất kiên nhẫn. Và khi phạt, chỉ được khẻ tay mà thôi. Khi xem cách thi hành kỷ luật trong các trường công ở Âu châu cũng như Bắc Mỹ cho đến các thập niên 1950, 1960, có nhiều trường, nhiều nhà giáo chưa được như thế.

Compayré (1843-1913), sau này là Viện trưởng Viện đại học Lyon không đồng ý với việc giữ im lặng trong lớp. Ông cho rằng việc này là một phản ứng quá mức đối với sự mất trật tự trong lớp do vài trẻ em nghịch ngợm gây ra. Compayré muốn lớp học có một không khí vui tươi, có tiếng cười và một sự sinh động lành mạnh. Compayré cũng chỉ trích việc thi hành kỷ luật khắt khe trong các lớp, không tương ứng với lứa tuổi của học sinh. Nhưng Compayré cũng nhìn nhận các đóng góp hết sức quan trọng của Gioan La San như việc khởi xướng các trường sư phạm, việc đưa các trường kỹ thuật dạy nghề vào chương trình học phổ thông, và việc tổ chức cách dạy đồng thời (instruction simultanée) để nâng cao hiệu năng của giáo dục. (Compayré, 1880, Bài XII, trang 210 đến 231) Ông còn đi xa hơn nữa khi ông nhìn nhận sự đóng góp của Gioan La San trong việc giáo dục và ông (1880) trách giáo hội đã thờ ơ chưa phong thánh cho Gioan La San (giáo hội phong Á thánh cho Gioan La San năm 1888, và phong thánh năm 1900).

d. Thích ứng với xã hội

Gioan La San quan niệm dạy học để học sinh trở thành người tốt cho xã hội, cho giáo hội. Ðường hướng giáo dục do đó có tính cách nhập thế nhiều hơn, vì không phải học sinh nào theo học cũng muốn trở thành Sư huynh hay tu sĩ. Và muốn nhập thế thì phải hiểu nhu cầu của xã hội đương thời. Ngay việc dạy trẻ em biết đọc và biết viết bằng tiếng mẹ đẻ đã là một ý thức tân tiến thời đó. Dân Pháp, nhất là giới bình dân – thợ thủ công nghệ và nông dân – đâu có nói chuyện với nhau bằng tiếng La tinh trong cuộc sống hàng ngày ?

Trường Dòng cũng dạy nghề cho học sinh, giúp cho học sinh khi ra trường có một nghề lương thiện, đủ sống. Như thế vừa đào tạo được những công dân có ích, đóng góp công sức cho xã hội, đồng thời làm giảm bớt sự nghèo khổ, và xóa bỏ những cơ hội có thể khiến con người trở nên vô dụng hay có hại cho bản thân, cho cộng đồng và xã hội. Tư tưởng này dựa trên tinh thần nhập thế và bác ái công giáo, khác với một số dòng tu thời trước, chỉ hoàn toàn mưu cầu sự cứu rỗi bằng cách đọc kinh và suy ngẫm, cùng chiêm ngưỡng Thiên Chúa trong tu viện.

III. Phương pháp

a. Dùng tiếng mẹ đẻ dạy đọc và viết

Phương pháp quan trọng nhất là dùng tiếng mẹ đẻ để dạy trẻ em đọc và viết. Cho đến thời đó, các lớp tiểu học vẫn dùng sách viết bằng tiếng La Tinh để dạy trẻ em tập đọc và tập viết. Gioan La San đã nhận xét:

The teaching of the art of reading, in primary and elementary schools, through the vernacular, is of greater and wider utility than by Latin texts. The vernacular is more easily taught to children, who already possess some knowledge of it, than the Latin of which they are wholly ignorant. [Br. Contantius, Annales de l’Institut, I (1883), p. 140].

Việc dạy đọc trong các trường sơ học và tiểu học bằng tiếng mẹ đẻ có một ích lợi to và rộng hơn so với cách dạy các bài đọc bằng chữ La Tinh. Dạy tiếng mẹ đẻ cho trẻ em rất dễ vì chúng đã quen phần nào với tiếng này, trong khi chúng hoàn toàn không biết gì về tiếng La Tinh.

Gioan La San đã mở đường cho việc dùng tiếng mẹ đẻ để dạy cho trẻ em. Dùng tiếng mẹ đẻ giúp trẻ em tập đọc và tập viết dễ và nhanh hơn, giúp các em có thể tiếp tục tìm hiểu thêm sau khi đã rời nhà trường. Khi các em về nhà, các em có thể đọc sách cho cha, mẹ, anh, chị, em hay những người lối xóm nghe và mọi người đều có thể hiểu. Hơn thế, khi các em đã đọc thông tiếng mẹ đẻ thì chỉ cần thêm một thời gian ngắn là các em có thể đọc được tiếng La Tinh. Căn bản hiểu biết tiếng mẹ đẻ sẽ giúp các em dễ học hơn và nhớ được nhiều hơn các điều đã học, hơn hẳn cách dạy bằng tiếng La Tinh. Người Việt nam chắc cũng có kinh nghiệm về việc học như thế, khi so việc học chữ quốc ngữ với việc phải học ngay từ đầu với các cuốn Nhất thiên tự, Ấu học ngũ ngôn thi, hay Tam tự kinh bằng chữ Nho.

b. Phương pháp dạy đồng thời

Phương pháp thứ hai là áp dụng đứng đắn cách dạy học đồng thời “Méthode simultanée.” Cách này đã được Comenius 5 đề xướng. Comenius đòi hỏi thày giáo phải dạy “semel et omnes simul,” (tất cả như nhau và cùng một lúc). Giám mục de Nesmond (1629-1715) đã dùng phương pháp này. Trong Nội quy dành cho các nữ tu chuyên dạy trẻ em học, thuộc dòng Hội Ðức Bà ở Reims, thánh Peter Fourier (1565-1640) đã nhắc nhở, cần phải sắp xếp để trong mỗi lớp học, trẻ em học cùng một nữ tu phải dùng cùng một loại sách tập đọc, để chỉ cần một em đọc bài cho cô giáo nghe, là các em khác có thể nhẫm đọc theo và cùng học với nhau. Trước đó, một thầy hay cô giáo thường phải dạy một nhóm học trò có nhiều trình độ khác nhau. Trong một lớp như thế, các trò có trình độ cao, chăm sóc và chỉ bảo các trò có trình độ thấp hơn. Thầy hay cô tùy theo trình độ của từng trò mà dạy đọc, hay cho bài học. Lớp đông học trò, sự chăm sóc và theo dõi sẽ không có hiệu quả lắm, và kết quả thường là học trò phải mất nhiều thì giờ hơn để đạt một trình độ kha khá. 6 Các giáo sĩ Dòng Tên (Jésuites) chia mỗi lớp học thành từng nhóm, mỗi nhóm có trình độ gần như nhau, và có một học trò khá hơn gọi là decurion (như trưởng toán) dẫn dắt. Các học trò trong nhóm trả bài với decurion, trong khi thầy giáo dạy riêng một vài học trò hay hỏi bài một vài em khác. Gần cuối ngày học, thày giảng bài chung cho cả lớp.

Gioan La San đi xa hơn trong cách áp dụng phương pháp đồng thời này. Năm 1682 trong các trường của Dòng, các Sư huynh đã áp dụng phương pháp đồng thời ở mọi lớp và trong mọi môn học, từ học đánh vần, rồi tập đọc đến học giáo lý, học toán trong chương trình sơ học. Gioan La San cũng đặt ít nhất là hai Sư huynh trông nom một trường học, chứ không chấp nhận chỉ giao cho một Sư huynh dạy một trường có nhiều trình độ khác nhau. Ông đã ghi rất rõ các nguyên tắc của phương pháp mà các Sư huynh áp dụng khi giảng dạy:

The Brothers shall pay special attention to three things in class: (1) During the lessons, to correct every word that the pupil who is reading pronounces badly; (2) To make all who read in the same lesson to follow therein; (3) To have silence strictly observed in the school. (Br. Contantius, UMAEL, De la Salle, Common Rules)

Các Sư huynh phải đặc biệt chú tâm đến ba điều này trong lớp: (1) Khi một người học trò đọc bài, phải sửa ngay những chữ mà trò này đọc sai; (2) Phải để tất cả các trò đọc cùng bài này theo dõi; (3) Tất cả phải giữ sự yên lặng trong lớp.

Như thế tất cả học trò trong lớp cùng học chung một bài, chăm chú theo dõi một người đọc bài, và thày giáo sửa ngay các chỗ đọc sai cho cả lớp cùng nhận thấy. Sau này, phương pháp trên còn được khai triển để bao gồm các môn học khác.

c. Mở trường sư phạm

Muốn phổ biến hai phương pháp trên Gioan La San đã lập ra trường đào tạo giáo viên ở Reims vào năm 1685. Ðây là trường sư phạm đầu tiên và Gioan La San được xem như là người sáng lập ra các trường Sư phạm 7. Gioan La San cho rằng dạy học phải có phương pháp và ông đã nêu ra phương pháp dạy đồng thời và phải bắt đầu dạy đọc cùng dạy viết với tiếng mẹ đẻ. Nhưng như thế chưa đủ. Ông nêu ra những lề luật về dạy học trong quyển Conduite des écoles chrétiennes, một bản in ở Avignon đề năm 1724 8.

Trường Sư phạm do chính Gioan La San dạy lý thuyết và phương pháp. Trường mở ngay bên cạnh trường tiểu học để các giáo sinh thực tập luôn, do đó có cơ hội áp dụng lý thuyết và phương pháp đã học. Gioan La San còn đi xa hơn, vì sau khi học ở trường Sư phạm một hay hai năm, giáo sinh được rời trường, đi dạy ở một trường Dòng, nếu là Sư huynh, và ở trường của họ đạo, nếu do họ đạo gởi đến. Nhưng sau khi đi dạy một vài năm, các Sư huynh hay thày giáo đều được trở lại lại trường Sư phạm để bồi dưỡng khả năng và học thêm những điều mới. Các trường Sư phạm thời nay ở Âu châu cũng như ở Bắc Mỹ đều có chương trình đào tạo căn bản, và các chương trình bồi dưỡng, tinh tiến giống như thế.

Ban đầu, Dòng các Sư huynh được thành lập để dạy trẻ em bậc sơ học và tiểu học, nhưng để học trò có thêm khả năng hầu theo học trường sư phạm, Gioan La San đã mở thêm trường ở Saint-Yon (năm 1705) và ở Passy sau đó, dạy bậc trung học. Ðó cũng là một sự cải tiến xã hội (social reform), giúp con em nhà nghèo thoát ra khỏi sự nghèo túng truyền kiếp bằng cách theo học được làm một nghề tự do.

Chúng tôi chưa có đủ tài liệu về việc đào tạo các Sư huynh, từ việc thâu nhận những học sinh có ơn kêu gọi, đến việc thử thách, dạy quy luật Dòng cùng với chương trình trung học trong tiểu chủng viện, và việc học cùng thực hành phương pháp sư phạm trong đại chủng viện. Phần này chắc phải nhờ các Sư huynh đã có thời kỳ học ở Nha Trang chỉ dẫn giúp.

Ðồng thời với việc mở trường sư phạm, Gioan La San còn chú trọng đến việc mở trường kỹ thuật dạy nghề (école technique). Compayré (1885) cho biết Gioan La San đã mở trường trung học đệ nhất cấp ở Saint-Yon dạy cho thiếu niên học tất cả những gì họ có thể học được, ngoại trừ La-tinh. Họ học để ra làm việc trong các ngành thương mại, kỹ nghệ, và hành chánh. Gioan La San cũng mở các trường cải huấn vị thành niên phạm pháp (maisons de redressement), giúp các thanh thiếu niên trở lại cuộc sống bình thường và trở nên người có ích cho xã hội.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s