Quy họach (Hướng Dương)

VÀI Ý KIẾN VỀ TÌNH HÌNH QUY HOẠCH, QUẢN LÝ & PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ Ở SG HIỆN NAY             Hướng Dương

Phát triển đô thị đang là một vấn đề nóng sốt hàng đầu ở VN hiện nay. Nhìn đất nước mở mang, ai mà không vui, phải không bạn? Tôi cũng thế, chỉ có điều là nên hạn chế sai lầm, ngăn ngừa tai hại về sau, nếu được; nhất là cố thoát khỏi những rối rắm do cả chủ quan lẫn khách quan trong giai đoạn phát triển ban đầu này. Tôi yêu lắm SG bởi đó là nơi tôi đa gắn bó gần 30 năm trước khi phải ra đi nên khi trở lại SG, tôi không thể chỉ biết “cỡi ngựa xem hoa,” không thể nhìn các vấn đề của SG hiện nay một cách vô tình, thiều tìm hiểu, thiều cảm thông cho được.

Tôi chỉ mong ước SG mãi là một “hòn ngọc” sáng thật sự ở phương Đông. Vì thời gian về thăm nhà quá hạn hẹp, tôi chỉ ở SG trong một thời gian ngắn ngủi, ít tiếp xúc với giới chuyên môn, cũng không có dịp gặp gỡ bất kỳ ai thuộc giới lãnh đạo có thẩm quyền về sự phát triển của SG nên những ý kiến mà tôi nêu ra có thể có nhiều chủ quan và sai lầm. Rất mong nhận được ý kiến của những người hằng quan tâm đến SG, hiểu SG, biết nhiều về SG hơn tôi. Mục đích chính của chúng ta là bày tỏ sự quan tâm với tất cả tình cảm và trách nhiệm đối với mảnh đất mà chúng ta đa và luôn gắn bó với nó, một nơi vừa trải qua 20 năm chiến tranh khốc liệt, nhiều vết thương chưa lành thì lại có thêm những khó khăn mới do cả chủ quan lẫn khách quan. Với một địa hình và hoàn cảnh lịch sử phức tạp, qua ảnh hưởng của nhiều thế lực chính trị, kinh tế và văn hóa khác nhau, tôi mong người SG sẽ tỉnh táo vượt qua mọi trở lực và hạn chế để giữ vững vị thế sáng ngời của

một “hòn ngọc Viễn Đông”.

Vấn đề thứ nhất là nhu cầu quy hoạch cần phải đi trước sự phát triển của đô thị, ít nhất là 5 hay 10 năm, thậm chí 20 hay 50 năm. Mở mang SG phải là một công việc quy hoạch có tính toán và sắp xếp hợp lý, với sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều cơ quan có chức năng hay liên hệ (từ cơ quan quy hoạch, xây dựng & thiết kế, công chánh, cứu hỏa, công an, vệ sinh, cấp thoát nước, môi sinh, y tế, giáo dục, văn hóa/lịch sử đến ngân hàng, các dịch vụ thương mại, kiến trúc, cảnh quan, quốc phòng,v.v…) trong khi thông qua các mục tiêu (quan điểm quy hoạch) & phương hướng phát triển (trước mắt và lâu dài, qua cách bố cục không gian theo nhiều phương án khác nhau). Khi quy hoạch với một kế hoạch rõ ràng, có sự quan tâm đầy đủ đến nhiều yếu tố

tự nhiên, kinh tế và xã hội (trong đó cần lưu ý vị trí ven sông như hầu hết phố xá Nam Việt, lại gần cửa ngỏ mở ra biển Đông nên từ đó có hướng khai thác & tận dụng vị trí địa lý thuận lợi này), có sự phân vùng hợp lý và khoa học giữa các khu hành chánh – dân cư – thương mại – kỹ nghệ – quốc phòng để nối kết thành một tổng thể tương đối hài hòa & hoàn chỉnh. Có ý kiến đóng góp của quần chúng, tất nhiên sẽ hạn chế tối đa sai sót và kêu gọi được sự hỗ trợ của quần chúng, ít ra là tránh được những tồn tại chủ quan có hại cho dân và còn mở ra cánh cửa tương lai cho SG khi mà toàn dân đồng lòng với hướng xây dựng và phát triển chung đó.

Ngoài những nguyên lý căn bản phải tuân thủ tuyệt đối khi quy hoạch, tôi nghĩ SG nên chú ý đến 3 nguyên tắc mà tôi cho là hết sức quan trọng: Trật Tự, Vệ Sinh, Thẩm Mỹ (nói nôm na: Gọn, Sạch, Đẹp). Có thể nêu vài điển hình mà SG có thể tham khảo: Singapore (thành phố trẻ và mới hoàn toàn), Kuala – Lumpur (mới tách biệt với cũ), Tokyo (cũ trộn lẫn với mới khá hài hòa). Tôi mơ SG sẽ có kinh tế phát triển nhanh như Thẩm Quyến nhưng tôi thật sự không muốn mất đi những hình ảnh thân quen đẹp đẽ khi mà kiến trúc hightech sẽ phá vỡ cảnh quan & lịch sử có tính truyền thống của dân tộc. Tôi xin nhấn mạnh: chúng ta chỉ nên “học hỏi” chứ không nên “sao chép” rập khuôn theo bất kỳ ai bởi hoàn cảnh chúng ta có những đặc điểm riêng, chưa kể đến việc phải gìn giữ bản sắc riêng của dân tộc chúng ta.

A. Nói đến “trật tự” hay “kỷ luật” thì đoi hỏi sự biểu hiện ở cả 2 phía: chính quyền và quần chúng; bởi nếu không, “thượng bất chánh, hạ tắc loạn.” Như đa nói, chính quyền phải có kế hoạch rõ ràng và thống nhất trong quy hoạch (dù là phát triển trọng điểm theo cụm, theo trục giao thông từ trung tâm đến phụ cận, hay phân bố dạng điểm) và tái phối trí (cải tạo, chỉnh trang); dân chúng không được tùy tiện chiếm cứ, xây dựng, mở mang mà xem thường luật pháp, kỷ cương. Tôi xin nêu 5 dẫn

chứng cho việc mất trật tự trong việc quản lý & phát triển đô thị ở SG hiện nay:

1. Vấn đề tuỳ tiện chia chác trong việc chiếm cứ, mua bán, mở mang và xây dựng ở các khu vực quân sự (như phi trường Tân Sơn Nhất, khu đường 3/2 tức Trần Quốc Toản cũ, khu Gò Vấp và Hóc Môn, khu Bộ Tổng Tham Mưu cũ chẳng hạn). Hầu như họ cứ …”bừa đi”(!), cứ đặt vào thế “chuyện đa rồi, thôi thì cho qua” để …”vui vẻ cả làng” chứ không theo trật tự của bất kỳ quy chế pháp định nào(?). Biết bao nhiêu người đa giàu lên nhờ “làm bừa” như thế trong giai đoạn “tranh tối

tranh sáng” này nhưng con cháu chúng ta sẽ khó khăn như thế nào khi “đụng chuyện” sau này, chẳng lẽ lại cứ đập bỏ, bất kể lãng phí như thế nào trong khi VN hãy còn là một trong những nước nghèo nhất thế giới? Ai có đủ khả năng giải quyết và chận đứng tình trạng không hay này?

2. Ngay như việc tuỳ tiện chiếm cứ và sử dụng lòng lề đường, đất công & tài sản công bừa bãi, trái chức năng cũng đa là một căn bệnh khá phổ biến và khó trị dứt; thậm chí họ bất kể đến việc gây hư hỏng hay ảnh hưởng xấu đến các công trình công cộng (như cột nước chữa lữa, hệ thống cáp ngầm hay điện thoại, đường dây hạ thế, đường ống dẫn nước, cống thoát nước, khu vực đường bay…).

Tháng 7/94, tôi tận mắt chứng kiến một chiến dịch “càn quét” nạn lấn chiếm trái phép lòng lề đường khá hữu hiệu của nhiều quận nội thành SG, không hề bị đồng tiền hay tình cảm ngăn trở. Thế nhưng 2 tuần sau, hiện trạng trở lại y như cũ. Người có tiền chỉ cần nộp phạt nếu muốn thu hồi tài sản, nếu không thì bỏ cái cũ, làm lại cái mới khác to đẹp hơn và vẫn ung dung tự tại trên hè phố!

Chỉ tội những người buôn thúng bán bưng lại chịu đựng thiệt thòi nhiều hơn. Bên cạnh đó, khi quy hoạch & phát triển đô thị, chúng ta cũng không thể quên việc cải thiện hệ thống cầu cống, đường sá và các tiện ích công cộng khác. Chính cầu đường là sự nối kết giữa Khối và

Không Gian, là yếu tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế và xã hội. Ngoài ra, xin đừng quên nhu cầu khoảng trống, nhất là “khoảng xanh” cho đô thị, bởi đó là “buồng phổi” của chính chúng ta.

3. Vấn đề xây bừa rồi nộp phạt hay hợp thức hóa sau cũng là một tình trạng rất phổ biến hiện nay ở SG và VN. Nguyên do: “con rùa” hành chánh vừa quá chậm, vừa quan liêu lại vừa rất “chịu ăn” (hối lộ). Rất nhiều nhà, cả kiên cố lẫn tạm bợ, đều được sửa chữa, xây cất vội vàng trước khi có giấy phép, thậm chí cứ hối lộ hay nộp phạt mà chẳng cần xin phép (bởi đợi có giấy phép thì …”cây đa có trái” !). Có nhiều thủ tục quá đỗi rườm rà không cần thiết (như thẩm định, xét duyệt kỹ thuật các hoạ đồ sửa chữa nhỏ cho nhà ở , hay công chứng chẳng hạn) nhưng có nhiều vấn đề kỹ thuật lại không được quan tâm đúng mức do trình độ chuyên môn hạn chế, thiếu chuyên viên kinh

nghiệm, hoặc do cẩu thả, tắc trách, tham ô (như toà nhà PDD. ở SG hay việc xây nhà trên đê sông Hồng ở Hà Nội chẳng hạn). Việc thiết kế kiến trúc hiện nay cũng khá lộn xộn trước việc “sao chép” từ sách báo nước ngoài nên sự lai tạp đôi khi rất buồn cười mà bên trong lại gần như vá viú trong một không gian rất đỗi “quen thuộc”. Rất nhiều nhà trong phạm vi giải tỏa đa bị đập bỏ đáng tiếc để kịp đáp ứng yêu cầu trước mắt của kinh tế địa phương trong khi việc cung ứng chổ ở mới chưa được giải quyết thoả đáng. Trong tương lai, tình trạng này vẫn cứ tiếp diễn, trong khi dân vẫn còn rất nghèo – vậy trách nhiệm này thuộc về ai?

4. Vấn đề giải tỏa nhà ổ chuột trong các xóm lao động dọc theo sông rạch, ao tù, hay trong các nghĩa địa đa có nhiều chuyển biến khích lệ; chỉ còn khó khăn về ngân sách, cư dân, môi sinh và …quy hoạch. Tại Bình Thạnh đa xảy ra chuyện ngược đời: vừa giải tỏa xong cư dân sống trên đường ống dẫn nước từ Nhà Máy Lọc Nước Thủ Đức về nội thành (dọc xa lộ Biên Hoà, từ cầu Phan Thanh Giản đến Hàng Xanh) thì chính quyền lại xây dựng ngay tại đây một loạt các cửa hàng (kiosques) và

bán lại cho tư nhân “để giải quyết ngân sách địa phương”. Ở các quận 3,4,5, 6,8,11… không thiếu gì những nhà làm bằng vách ván , thậm chí chỉ là vài tấm ny-lông giăng mắc trong các nghĩa địa hay dọc theo kênh rạch; cứ giải tỏa xong thì vài ngày sau vẫn cứ mọc lên nhiều hơn (!). Hầu như ai cũng chỉ lo “cơm ăn, áo mặc”, chẳng ai để ý đến môi sinh. Chỉ ở một khúc sông, bạn có thể thấy cư dân ở đây vừa tiểu tiện và xả rác xuống sông, vừa dùng chính nước sông đó để ăn uống, giặt giu,ơ tắm rửa. Nói lên điều này với nhiều chua xót, không phải chỉ để tội nghiệp cho dân mình bằng những lời nói suông mà tôi thật sự mong ước những chuyên viên VN trẻ ở trong nước lẫn ở nước ngoài

sẽ lưu tâm nhiều hơn đến những bài toán nan giải này của VN hôm nay. Tôi thật sự ao ước vừa giúp được những người dân nghèo tội nghiệp đó có được một chổ trú thân đàng hoàng hơn, đồng thời hy vọng sẽ thấy nhiều hơn những khu chung cư đẹp với các công viên rợp mát dọc theo các kênh rạch được khơi dòng chảy chứ đừng vội cất lên đó các khách sạn, tửu điếm ngang nhiên bít kín các đường thoát nước của thành phố! Công tâm mà nói, tạo công ăn việc làm và giải quyết nhu

cầu đời sống(y tế, giáo dục, dịch vụ sinh hoạt…) cho một số lượng người nghèo đông đảo đó không phải là dễ cho chính quyền. Chúng ta cần thông cảm cho giới có chức năng. Chỉ có 3 điều mà tôi mong mỏi giới chức thẩm quyền cần lưu ý:

· Không thể tái diễn tình trạng “đem con bỏ chợ” như “chuyện dài Kinh Tế Mới” trước đây. Trước khi giải toả, chính quyền cần thông báo, giải thích rõ ràng và đầy đủ về chương trình, kế hoạch, chính sách một cách cụ thể, hợp tình, hợp lý để mọi cư dân hiểu rõ quyền lợi và bổn phận của họ, để nghe nguyện vọng, yêu cầu của họ hầu nghiên cứu, tìm kiếm phương án khả thi hiệu quả nhất. Tất cả phải tuân thủ quy định chung của Nhà Nước, dưới sự kiểm tra và xử lý của các cơ quan chuyên

môn và chấp pháp (Viện Kiểm Sát, Toà Aùn), không cho phép bất kỳ ai ở trên pháp luật. Tránh tối đa việc tạo ra tâm lý bị dồn ép, xua đuổi.

· Mọi kế hoạch giải tỏa, tái phối trí dân cư, cải tạo – chỉnh trang – quy hoạch lại thành phố đều cần có sự phối hợp và nhất trí chung của nhiều cơ quan liên hệ; đồng thời kêu gọi sự hỗ trợ của giới đầu tư và ngân hàng, cũng cần tham khảo ý kiến của các nhà khoa học, chuyên môn, hay nhân sĩ địa phương (trong các vấn đề liên quan đến môi sinh, cảnh quan, văn hóa, lịch sử, an ninh quốc phòng).

· Nên giảm bớt diện tích đất quân sự / quốc phòng để xây nhà ở cho dân nghèo, binh sĩ giải ngũ, công chức. Tránh lối nhà phố (3m/4m x 16m/20m) vốn rất phổ biến ở SG trước đây vì chiếm nhiều đất đô thị, nên thay thế bằng chung cư hay apartment, hoặc condo. Xin đừng quên cây xanh và kiến trúc cảnh quan cùng với việc cung ứng đầy đủ tiện nghi và những phương tiện, dịch vụ cần thiết cho một đời sống mới.

· Rút kinh nghiệm sau mỗi chương trình/ đề án nhưng cần tránh tái phạm những khuyết điểm cũ sau khi đa một lần kiểm điểm và …rút kinh nghiệm! Các biện pháp quy hoạch đều phải chấp hành nghiêm ngặt những quy định chung của Chính phủ hay thành phố và các văn bản quy hoạch phải được thi hành như luật; tránh linh động quá ư tuỳ tiện đến mức xem thường luật pháp Nhà Nước.

5. Từ 4 vấn đề trên,chung quy, chúng ta thấy rõ pháp luật là yếu tố quan trọng hàng đầu để giải quyết các tồn tại như đa nêu trên đây. Pháp luật là yếu tố xuyên suốt và là hệ quả tất yếu cho toàn bộ nguyên tắc trật tự mà tôi nhấn mạnh trước hết. VN có luật nhưng các văn kiện về luật xây dựng, đầu tư, địa ốc, các văn bản và hoạ đồ về quy hoạch, kiến trúc, cảnh quan đều cần được sửa đổi, bổ sung và cập nhật hóa đầy đủ và hợp lý hơn để đáp ứng tiến trình phát triển của đô thị. Có như vậy mới hạn chế nạn “đục nước béo cò,” tránh chuyện lợi dụng hoàn cảnh “tranh tối tranh sáng” để trục lợi cho bản thân mà tai hại vô cùng cho đất nước về sau. Nhìn sang Singapore, Malaysia, Nhật Bản, ai trong chúng ta cũng phải nhìn nhận tinh thần kỷ luật, tôn trọng trật tự chung của xã hội, thể hiện rõ nét qua nếp sống của từng con người, nhất là qua cơ quan nhà nước. Bài học này cần được SG nghiên cứu nhiều hơn để ứng dụng cho chính mình trong tiến trình đô thị hóa.

B. Nói đến “sạch” hay “vệ sinh” là nói đến việc giải quyết rác và các phế thải từ sinh hoạt lẫn sản xuất, là đề cập đến việc bảo vệ môi sinh, gìn giữ sự trong lành của thành phố và sức khoẻ con người. SG nói riêng, VN nói chung đều chưa thật sự quan tâm đến điều này (cho đến thời điểm 1/1995 – khi tôi viết bài này) bởi lẽ người dân thật sự hiện có nhu cầu “ăn no, mặc lành” trước đa. Với 682km cống thoát nước cho trên 5 triệu dân nhưng hư hỏng đến gần 70% , trong khi SG vẫn chưa có hệ thống cống và khâu xử lý nước thải riêng cho sản xuất / kỹ nghệ, sinh hoạt, nước chảy tràn tự nhiên(mưa) mà kênh rạch ngày càng bít kín với đủ loại chất thải. Với các bãi rác chất cao như núi, mức ô nhiễm quá đỗi trầm trọng, trong khi thành phố thật sự bế tắc trong việc tìm biện pháp giải quyết (chưa có nhà máy chế biến & tái sinh rác). Hầu hết quán ăn, nhà hàng, cửa tiệm (trừ hạng sang!) đều không đáp ứng các yêu cầu tiện nghi vệ sinh tối thiểu mà chẳng thấy ai than phiền, kiểm tra. Việc tuỳ tiện xả rác, phóng uế… là chuyện bình thường, chẳng có gì là “ầm ĩ”! Ai cũng mơ SG sẽ sạch như Singapore nhưng không thấy ai chịu cúi xuống nhặt rác ngay dưới chân mình, cho dù đó là một miếng lá chuối hay một vỏ bao thuốc lá. Vấn đề bảo vệ & trồng thêm cây xanh, xây thêm công viên và ao hồ nhân tạo, có thêm các thùng rác và nhà vệ sinh công cộng, việc hạn chế ô nhiễm môi trường (khói xe và khói từ các cơ sở sản xuất/ nhà máy ảnh hưởng đến ô nhiễm không khí, rác và nước thải từ sản xuất & sinh hoạt ảnh hưởng đến ô nhiễm sông rạch, tiếng ồn của các loại động cơ) là những việc cần làm trước mắt nhưng rõ ràng là vấn đề bảo vệ môi sinh hầu như chỉ được tuyên truyền ầm ĩ vào một vài dịp lễ Quốc tế, nặng hình thức chính trị hơn là thực chất quan tâm xử lý nên ngân sách dành cho các chương trình này vẫn còn hết sức èo uột, khó mà đoi hỏi nhiều hơn. Hè 1992, tôi cũng có ý kiến là chỉ nên chỉnh trang phi trường Tân Sơn Nhất chứ không nên mở rộng và xây dựng lớn thêm khi mà khu dân cư đa bao kín phi trường này, với tiếng ồn và việc khó bảo đảm an toàn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thị dân; một phi trường quốc tế mới nên dời ra

khu căn cứ Long Bình cũ hay phi trường Biên Hòa (căn cứ không quân cũ) vẫn tốt hơn. Một điều rõ ràng hơn mà ai cũng thấy là SG ngày càng ồn ào và bụi bậm nhiều hơn với quá nhiều xe cộ. Bạn thử ra đường phố SG một buổi sáng, bạn sẽ nghe thấy người ta bấm còi và gọi nhau ơi ới rất vui tai, khói và bụi mịt mù, sau đó về nhà thử soi gương trước khi rửa mặt, bạn sẽ thấy mặt bạn lấm lem một lớp bụi đen. Thực ra chỉ có người ở nước ngoài đến SG mới để ý đến chuyện môi sinh này; với người SG hôm nay thì còn bận rộn với nhiều thứ chuyện khác quan trọng hơn, chẳng hạn như chuyện bữa ăn sắp tới. Bụi, rác, nước cống hay tiếng ồn chỉ là chuyện “bá láp”, chẳng đáng để ý!

C. Nói đến “làm đẹp” hay “tăng vẻ mỹ quan” thành phố là nói đến bề mặt của thành phố qua các công trình công cộng (công thự, công viên, trường học, bệnh viện, chợ, phố, đường xá, cầu cống….) lẫn tư nhân (các khu dân cư, nhà ở tập thể, biệt thự…). Qua các công viên, tôi thật buồn khi thấy hầu như ai cũng lơ là trước tình trạng “xuống cấp’ rất nghiêm trọng của các công viên SG. Rất nhiều công viên lớn (Tao Đàn sau Dinh Độc Lập, Chiến Thắng trước Tân Sơn Nhất, Lê Văn Tám ngay trên nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi cũ, Văn Lang ở Chợ Lớn) sau khi tu bổ, sửa sang thì nay trở thành các tụ điểm buôn bán, văn nghệ hết sức “bát nháo”. Về đêm, các công viên còn “phức tạp” hơn thế nữa với nhiều loại tệ nạn xã hội, nhất là mãi dâm và hình sự. Các vĩa hè và “ốc đảo cây xanh” có được chỉnh trang, nhất là khu trung tâm thành phố, với nhiều bồn hoa, bồn phun nước, cây cảnh và thảm cỏ mới trông rất vui mắt nhưng lại thiếu tài khoản và người chăm sóc & bảo quản thường xuyên hơn. Hệ thống thiết bị đường phố cần được tăng cường

đầy đủ hơn, cụ thể là hệ thống đèn đường, vòi nước & cứu hỏa, băng ghế, gạch vĩa hè, bảng chỉ dẫn, thùng rác, cột cờ & biểu ngữ,v.v… Bên cạnh đó, một số công trình văn hóa, kiến trúc, giao thông có giá trị lịch sử ( như Pháp đinh SG, cầu Móng, nhiều trường học, chùa, đinh, nhà thờ…) đang bị thời gian và con người tàn phá, gậm nhấm, xuống cấp thảm hại trước sự lơ là chỉ vì không thể khai thác về kinh tế hay chính trị. Thảo cầm Viên cũng lâm vào tình trạng bi đát chung khi mà nơi nào có thể thu hút khách thì được chăm sóc kỹ hơn, còn cây quý và thú hiếm nào không mấy “ăn khách” thì …mặc tình “trơ gan cùng tuế nguyệt”! Hầu hết ngân khoản của thành phố chỉ đủ cho việc cải thiện & chỉnh trang bộ mặt trung tâm thành phố và vài điểm nổi khác. Các khu

vui chơi (Du Lịch Bình Quới – Thanh Đa, Kỳ Hòa, Đầm Sen,Văn Thánh) luôn thu hút rất đông người với nhiều loại hình văn hóa, giải trí đủ nói lên SG cần nhiều hơn những công viên thật đẹp, thật sạch, thật vui tươi, an toàn và lành mạnh cho mọi người, mọi giới, nhất là cho thanh thiếu niên thành phố và cả khách phương xa. Cũng cần lưu ý việc thiết kế kiến trúc và cảnh quan ở các công viên, khu vui chơi & giải trí cần được nâng cao sao cho hài hòa, mỹ thuật, có tính giáo dục, có tính dân tộc hơn, nhất là nên có các phương tiện cần thiết cho việc tập luyện thể dục thể thao và một khu thiếu nhi riêng biệt với màu sắc và kiểu cách thiết kế phù hợp với lứa tuổi của các em.

Nói đến cái đẹp của SG là nói đến những nét riêng của SG trong kiến trúc, cảnh quan rất hài hòa với khí hậu, tập quán, văn hóa và cá tính của người SG; là sự trộn lẫn hài hòa giữa văn minh Hoa – Aán và Tây Phương (Pháp, Mỹ, Ý…) với bản sắc dân tộc VN. Cho nên SG hãy cố giữ lấy nét duyên dáng của chính mình trong quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa, vẫn tiếp nhận cái mới tiện nghi hơn mà vẫn giữ bản sắc SG rất thướt tha như chiếc áo dài độc đáo của các cô gái VN. Tôi yêu SG bởi ở đó có những con đường rợp lá me, có những ngôi trường thật đẹp như trường Lê Quý Đôn, có những công trình kiến trúc tuyệt vời như Nhà Thờ Đức Bà, Chùa Xá Lợi, cổng Lăng Oâng, tháp đồng hồ chợ Bến Thành, Toà Đô Chính chẳng hạn…

Phát triển đô thị luôn là vấn đề đau đầu chứ không dễ dàng, đơn giản. Cho nên SG cần được sự hỗ trợ và giúp đỡ của mọi người, mọi giới trong việc gỡ rối và tháo bế tắc trong từng giai đoạn của quá trình quy hoạch, cải thiện, chỉnh trang và phát triển. Trong lúc chúng ta chưa đủ khả năng mở rộng SG hay xây dựng một thành phố mới, thiết nghĩ chúng ta nên tập trung cải thiện, nâng cấp, chỉnh trang và quy hoạch lại SG trong chừng mực nào đó, nhất là cần ngăn chận những bước

“xuống cấp” hay sự xô bồ, hỗn độn hiện nay. Trong phạm vi hạn hẹp của bài viết hôm nay, tôi chỉ muốn nêu một số điểm mà giới chức thẩm quyền ở SG hiện nay cần lưu ý, không có tham vọng quy hoạch cả thành phố SG. Xin SG đừng vội chạy theo các mô thức ở Singapore, Trung quốc, Đài loan hay Đại Hàn, hãy tự chọn và xây dựng riêng cho mình mô thức phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện kinh tế, tự nhiên và xã hội của SG, của VN. Từ trước năm 1975, khi lập

bản vẽ & mô hình phát triển cho SG về hướng Bắc (Thủ Thiêm – Cát Lái – Nhà Bè), hãng thiết kế kiến trúc Skidmore, Owings & Merrill (S.O.M.) đa quan tâm đến việc khai thác tầm quan trọng của vị trí ven sông SG và cửa ngỏ ra Biển Đông, đa kết hợp hài hòa giữa không gian kiến trúc đô thị với nền cảnh quan thiên nhiên nhưng hôm nay, khi SG đa dùng công trình đó của S.O.M. làm khung sườn thì việc làm còn lại của chúng ta chỉ là thẩm định lại ưu khuyết điểm, cập nhật hoá

theo nhu cầu và hoàn cảnh thực tế, xác định hướng phát triển kinh tế -văn hóa, điểm bảo tồn lịch sử, bảo vệ môi sinh & cảnh quan, bảo đảm hướng quy hoạch và xây dựng trong tương lai sẽ đáp ứng những quyền lợi lâu dài và thiết thực của người dân, có sự tham gia của chuyên viên các ban ngành hữu quan trong quá trình xây dựng và phát triển SG.

Chúng ta, những người Việt ở hải ngoại, không thể thấy SG đi sai hay chệch hướng mà mặc nhiên làm ngơ nhìn chỉ vì bất đồng chính kiến, thù hận (?). Lương tâm nghề nghiệp không cho phép tôi có thái độ này. Biết bao chuyên viên ở SG đáng tuổi cha chú tôi, với kinh nghiệm và tay nghề dày dạn bậc thầy nhưng họ vẫn làm việc “cầm chừng” theo kiểu “nín thở qua sông” hay cứ “ẩn dật,” chưa bao giờ dám nói thẳng nói thật những điều họ nghĩ khi mà chén cơm và sự bình an trong cuộc sống đời thường của họ có thể bị đe dọa, khi mà nhiều chuyên viên miền Nam từng làm việc với chế độ cũ vẫn chưa được chính quyền trong nước thật sự tin dùng, khi cần thì vời vào tham khảo ý kiến nhưng quyền quyết định lại thuộc về những “thủ trưởng” /giám đốc là những đảng viên chỉ giàu tuổi đảng và có công lao kháng chiến nhưng kiến thức và khả năng chuyên môn lại quá nghèo nàn, hạn

hẹp. Với những trí thức ở hải ngoại thật sự có lòng muốn đóng góp thì Đảng lại có một “chính sách” rất “khó hiểu” theo kiểu “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, với một chế độ phân biệt đối xử rõ rệt với “Việt Kiều,” với một thái độ đầy nghi kỵ, tỵ hiềm, đôi lúc biểu hiện hằn hộc bằng câu nói thẳng rất phũ phàng: “Các anh cứ đem tiền và trang thiết bị, vật tư, máy móc… về nước là đủ, ở đây chúng tôi thừa người làm việc rồi, không cần các anh phải về nước làm việc.” Hóa ra “Việt kiều” chỉ

là một loại “bò sữa” (?) chứ không là “khúc ruột” như các nhà lãnh đạo thường nói dạo sau này. Bởi thế, hôm nay tôi xin phép được trình bày những gì tôi thấy, tôi nghĩ, trong tinh thần một chuyên viên trẻ muốn đóng góp một chút gì cho quê mình. Tôi tin VN không hề thiếu nhân tài trên mọi lãnh vực, ngay như ở SG cũng thế, chẳng qua họ thiếu phương tiện thông tin để tham khảo những tiến bộ mới mẻ. Nếu như SG thực tâm nghĩ đến dân, muốn huy động nhân lực trong tinh

thần đoàn kết vì quyền lợi chung của đất nước chứ không chỉ đoàn kết quanh Đảng, có chế độ & chính sách cụ thể nhằm bảo đảm quyền lợi & đời sống của từng công dân lương thiện thực tâm với việc cống hiến cho dân tộc, cung cấp đầy đủ phương tiện trong hoàn cảnh thuận lợi nhất thì tôi tin cả SG lẫn VN sẽ tiến xa và vững chắc hơn. Tôi mong SG sẽ sớm chấn chỉnh những điều không hay này để kịp bắt nhịp theo sự phát triển của các thành phố bạn trong khu vực, biết đặt

quyền lợi chung của dân tộc và quê hương lên trên mọi dị biệt, cố gắng không vướng vào những sai lầm của hôm qua.

Vài ý kiến qua một chuyến về Việt Nam – Hướng Dương

I. Trở lại Saigon: Sáu năm về trước (1994), tôi đa viết nhiều bài góp ý về kiến trúc – quy hoạch – cảnh quan – xây dựng và môi sinh cùng với những vấn đề xã hội tại Saigon với tất cả thành tâm mong muốn Saigon của tôi sẽ ngày càng tốt đẹp hơn, sắp xếp một cách quy củ & hợp lý hơn để xứng đáng là “Hòn Ngọc Viễn Đông”. Từ đó đến nay, Saigon có khá nhiều thay đổi mới mẻ song vẫn có những cái cũ vẫn tồn tại như một “thực tế …phũ phàng”(!), đồng thời nảy sinh nhiều “khối u ác tính” mới mà tôi nghĩ khó có thể chữa trị cho những con bệnh nan y này nếu chính quyền cố tình dung dưỡng, như nạn tham nhũng và các tệ đoan xã hội, nạn gia tăng dân số tự nhiên, sự di dân ồ ạt từ thôn quê ra thành thị, tình trạng làm ăn theo kiểu “chụp giựt” và việc kinh doanh độc quyền của Nhà Nước trong một số ngành, trong đó có vấn đề khai thác các di sản văn hóa – nghệ thuật dân tộc một cách “triệt để” qua du lịch để “đạt chỉ tiêu” về ngoại tệ mà thiếu sự bảo vệ đúng mức, do cả nguyên nhân

khách quan lẫn chủ quan (trong đó phải kể tới nguyên nhân chính là giới chức hữu trách chỉ thấy cái lợi trước mắt mà bất kể hậu quả tai hại về sau, cũng như sự thiếu hiểu biết về chuyên môn lẫn trình độ quản ly’. Hôm nay, tôi muốn góp ý với ngành du lịch và văn hóa – nghệ thuật (trong đó có kiến trúc) Việt Nam về vấn đề này.

II. Phi trường Tân Sơn Nhất và đón khách: Tới phi trường Tân Sơn Nhất vào nửa khuya mà sân bay quốc tế này lại tiết kiệm điện quá mức nên đèn điện leo loét, bên trong nóng nực, ẩm thấp mà không có máy lạnh (?), nhân viên công an cửa khẩu vẫn duyệt xét visa từng hành khách một cách chậm rãi, mặt không chút thân thiện, không đếm xỉa gì đến sự khó chịu của du khách đang xếp hàng rồng rắn chờ anh ta ngó mắt đến. Tới baggage claim, bạn tôi lại thất lạc hành lý nên phải chờ giải quyết, trong khi các cô nhân viên đại diện hãng hàng không tiếp tục trò chuyện với nhau cho qua đêm, chẳng tích cực quan tâm gì đến yêu cầu của chúng tôi là được sớm ra khỏi nơi này để về nhà ngủ một giấc sau một chuyến bay dài! Với những điều nhỏ nhoi “tế nhị” như vậy cũng khiến chúng tôi hiểu ra lý do tại sao du lịch Việt Nam khó có

thể cạnh tranh với các nước khác? Thẳng thắn mà nói là du lịch Việt Nam còn xem thường “khách hàng” của họ quá mức và thái độ quan liêu cùng tinh thần thiếu trách nhiệm của các cán bộ, nhân viên là nguyên nhân chính vì trải qua 10 năm tìm tòi, học hỏi mà bộ máy này vẫn luộm thuộm, bê bối, gây phiền hà và chậm trễ một cách vô lý không thể chấp nhận được, chưa kể thái độ hách dịch, quan liêu, bất lịch sự của các công an tại cửa khẩu quốc tế này. 10 năm qua, chính quyền Việt Nam có cải tiến khá nhiều (chẳng hạn, Hải Quan đa không còn đoi hối lộ trắng trợn như trước nữa, trừ phi hành khách “tự nguyện” đưa hối lộ) nhưng tại phi trường Tân Sơn Nhất vẫn tồn tại quá nhiều

điều khó coi mà tôi đa nhiều lần góp ý từ năm 1994 đến nay: từ việc sắp xếp cho hành khách đi và đến vừa hợp lý và thoải mái hơn, đến một nơi lấy hành lý đàng hoàng hơn, hay một chổ cho thân nhân đón khách từ xa về thay vì tập trung đứng lố nhố chờ đợi trước cổng? Cửa hàng Duty Free ở TSN vừa bán quá đắt so với thị trường, vừa thiếu ân cần lịch sự với khách nên tôi lo sợ cho phi cảng TSN khó bề “tranh thủ” thu thêm “lợi nhuận” từ du khách nếu như không mạnh dạn cho phép tư thương mở thêm nhiều cửa hàng ngay tại đây với giá rẻ và cách phục vụ khá hơn; hoặc chính Duty Free Shops phải bán rẻ hơn so với bên ngoài như một cách giới thiệu đặc sản Việt Nam với ngoại quốc chứ không phải là một trạm “móc túi” du khách cuối cùng trước khi rời Việt Nam. Ngay bãi đậu xe, hoặc nơi tập trung xe taxi & bus cũng rất bừa bãi, dơ bẩn, vẫn chưa đủu nhà vệ sinh công cộng thật sự vệ sinh và lịch sự, chưa xứng đáng là cửa ngỏ quốc tế của một thành phố phát triển

nhất nước, khó có thể so sánh với các phi trường ở Hongkong, Kuala-Lumpur, hay Singapore. Quan điểm kinh doanh của Việt Nam thể hiện rõ ràng qua cách đối xử với khách tại đây.

III. Cùng là người Việt với nhau: Về Việt Nam là chúng tôi muốn thăm lại người thân, bạn bè và “tham quan” những danh lam thắng

cảnh quê nhà đồng thời thưởng thức đặc sản địa phương, nhất là mong ước được đối xử như là những người Việt Nam đi xa nay trở về nhà – hay ít ra cũng là người Việt với nhau chứ không phải là “người dưng, nước lã”. Vì vậy, tôi rất muốn dễ dãi cảm thông và bỏ qua cho những điều chưa tốt đẹp cho lắm ở những nơi công cộng, chẳng hạn như chưa vệ sinh lắm, giá cả và cách đối xử với chúng tôi chưa hợp lý lắm nhưng qua 6 năm rồi mà vẫn thấy …y như cũ thì hơi buồn cho người Việt

xa xứ chúng tôi và lo cho Saigon của tôi (không biết các địa phương khác thì … tệ thế nào?) Tồn tại lớn nhất là thái độ phân biệt đối xử giữa “Việt Kiều” và bà con bên nhà vẫn còn đó, đi đâu cũng bị coi là “Việt Kiều” thì cũng bị … tính giá cao, hay bị “gây khó dễ”, bị công an địa phương “làm tiền” trắng trợn (y như bò sữa bị vắt, trong khi tôi không hề muốn bị gọi là “Việt Kiều” kia mà). Tôi không rõ các “Việt Kiều” khác đa làm gì “mất lòng” những nhân viên Nhà nước này trước đây hay

không nhưng trên những đoạn đường mà tôi đi qua thì các viên chức địa phương có vẻ không mấy “thân thiện” với “Việt Kiều”, thậm chí tôi thấy sự xum xoe quá đáng của họ trước những cô cậu Tây ba-lô nhưng lại cáu kỉnh, khó chịu với những “Việt Kiều” hơi nghèo dollars như tụi tôi. Ngoại trừ những đoàn du lịch có hướng dẫn viên du lịch riêng rất am tường và lịch sự, cảm giác chung của chúng tôi là đa số cán bộ địa phương ï chỉ muốn tiền dollars chứ chẳng có “ý thức phục vụ” gì du

khách cả, ngay những vấn đề thông thường nhất như bản đồ hướng dẫn đi lại trong các khu di tích và các khu “du lịch xanh” cũng không có, thông tin cũng không đảm bảo xác tín, thái độ của cán bộ quản lý các khu vực tham quan này cũng không được vui vẻ, thoải mái lắm. Giá như các địa phương cố gắng huấn luyện cán bộ có trình độ hiểu biết khá hơn, thân thiện và lịch sự hơn với du khách để mọi người từ phương xa có thể đến tham quan và vẫn lưu luyến để có thể trở lại nhiều lần nữa thì hay biết mấy cho chương trình “du lịch xanh” ở Việt Nam của chúng ta?

IV: Bảo vệ di sản văn hóa dân tộc và kiến trúc cổ: Từ Nam ra Huế, Việt Nam có đến hàng trăm di tích đáng được trùng tu, bảo tồn, nâng cấp nhưng hình như người ta chỉ biết lôi kéo du khách đến để moi tiền dollars bằng đủ mọi hình thức mà chẳng biết làm gì để duy trì và dùng phương pháp nào để bảo tồn(?). Người ta cứ đổ tội cho chiến tranh và

những yếu tố khách quan mà chẳng hề thú nhận những lỗi lầm rất chủ quan. Không ai có thể phủ nhận rằng chiến tranh có thể tạo ra những tác phẩm văn hóa – nghệ thuật (văn, thơ, nhạc, họa, nhiếp ảnh,etc.) “để đời” cho dân tộc & nhân loại nhưng lại rất bất công với kiến trúc khi chiến tranh tàn phá và hủy hoại nhiều tác phẩm kiến trúc-một loại sản phẩm nghệ thuật phục vụ con người rõ ràng nhất. Chiến tranh đa hủy hoại quá nhiều di sản kiến trúc bằng bom đạn nhưng hôm nay, khi hòa

bình đa hiện diện tại Việt Nam suốt 25 năm qua với 10 năm “đổi mới” thì người ta đa tận tình khai thác các di sản văn hóa- nghệ thuật, trong đó có các tác phẩm kiến trúc mà chẳng cần biết bảo vệ như thế nào là đúng để chúng còn có cơ may tồn tại với thời gian & con người? Tại Việt Nam, người ta chỉ muốn dùng những tác phẩm kiến trúc có tính chất di sản dân tộc như các lăng tẩm vua chúa, các biệt thự thời thuộc địa, các miếu tự cổ kính để phục vụ nhu cầu “kinh doanh du lịch,” không chút mảy may thương tiếc những tàn phá, hư hại từ con người, thời gian, khí hậu. Tuy Việt Nam không có những bức hoành tráng như Hoàng Cung của Trung Hoa hay Nhật nhưng kiến trúc Việt Nam được xây dựng phù hợp khí hậu – thổ nhưỡng – dân tộc tính, thể hiện một giai đoạn lịch

sử phát triển & lịch sử văn minh Việt Nam và qua góc nhìn thẩm mỹ cũng khá độc đáo; vậy mà các Ban Quản Lý các công trình kiến trúc ở các địa phương hình như chỉ được lập ra nhằm mục đích độcquyền thu các khoản lệ phí, phục vụ nhu cầu thu gom ngân sách cho địa phương chứ họ chưa biết thế nào là làm tốt nhiệm vụ bảo vệ, bảo tồn những vốn liếng quý báu này của dân tộc. Có thể họ cũng chưa hề được trang bị những hiểu biết căn bản về việc bảo vệ, bảo tồn, bảo tàng (từ lau

chùi, gìn giữ và bảo trì các loại vật liệu kiến trúc khác nhau sao cho có thể tồn tại lâu dài trước sự tàn phá khắc nghiệt của thời gian, khí hậu và con người đến việc sử dụng các phương pháp/ phương tiện hiện đại hơn cho việc bảo quản di sản kiến trúc). Khi chúng tôi góp ý, họ có vẻ không mấy thiết tha đến những điều mà chúng tôi muốn chia sẻ về việc bảo tồn/ bảo tàng, cảnh quan, vệ sinh và môi sinh, nhất là “du lịch

xanh”. Bảo tồn đâu chỉ là cạo hết rong rêu và cả những lớp sơn gốc nguyên thủy để tô lên một lớp sơn rẻ tiền khác một cách hào nhoáng “giả tạo” theo kiểu phim bộ Hongkong, Đài Loan với những chiếc cầu, bờ tường, lồng đèn, cột và hoa văn đặc sệt Trung Hoa vừa nhếch nhác, vừa tắc trách. Mỗi một viên ngói, cục gạch, hay dù là một lớp sơn, lớp vữa… của các đền đài, lăng tẩm, chùa, nhà thờ… đều cần phải nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lưỡng trước khi phục chế và cần hiểu rõ đó là một tác phẩm nghệ thuật do cha ông mình sáng tạo ra mà hôm nay vẫn còn tồn tại để thế hệ của mình còn may mắn thừa hưởng, chiêm ngưỡng và bảo vệ chứ đâu thể nào làm công việc bảo tồn theo kiểu “trả nợ quỷ thần” ! Ngay cả vệ sinh và cảnh quan của khu vực chung quanh các di tích cũng đa là “chuyện dài” mà không biết bao giờ mới có thể có kết cuộc khá hơn một chút! Cũng không thấy nhà vệ sinh công cộng ở những khu “danh lam thắng cảnh” thì làm sao tránh khỏi nạn phóng uế bừa bãi, mất vệ sinh, gây ô nhiễm, phá hại cả một khu vực chứ không chỉ di tích mà thôi. Càng không thể tô sơn trét vữa cho các lăng tẩm nhưng lại để mặc cho rác rưởi ngập đầy các bờ tường với nhiều loại hàng quán bao quanh đó, cây cảnh trồng tạp nhạp không theo một

conceptual design nào hay đang bị phá hại một cách vô ý thức, các sông hồ và cả khu vực môi sinh gần đó đều bị ô nhiễm trầm trọng mà địa phương vừa thiếu ngân sách, thiếu cán bộ hiểu biết chuyên môn, vừa thiếu cả tinh thần trách nhiệm và lắm khi thiếu …lương thiện! Tôi có cảm tưởng người ta đang thi đua “chụp giựt” trên những “di sản” để rồi …bỏ chạy, bất kể “di sản” kia ra sao cũng mặc kệ!?! Ngành văn hóa, bảo tồn/ bảo tàng, du lịch, từ trung ương đến địa phương sẽ nghĩ sao về những sự việc này? Hay là họ cứ thu tiền được đến lúc nào thì hay lúc đó, còn các công trình kiến trúc đó có sụp đổ, hư hại, mất mát thì …tính sau? Lối làm ăn theo kiểu “kinh tế …độc quyền” đến như vậy

thì …kinh thật!

Tôi nêu vấn đề này hôm nay như là một báo động cho những ai đang quan tâm đến di sản văn hóa dân tộc (không chỉ là dân trong ngành kiến trúc hay văn hóa- nghệ thuật mà phải là ý thức của toàn dân và các cấp lãnh đạo cùng nhiều ngành liên quan như môi sinh, động & thực vật, khí tượng -thủy văn, etc…) và mong rằng những ai đang hưởng lợi trên các công trình kiến trúc cổ và các loại hình văn hóa- nghệ thuật khác của dân tộc sẽ biết trồng và chăm sóc cây thì mới mong được ăn ngon lâu dài hơn. Ngay như các khu phố cổ (Chợ Lớn, Hội An…) cũng không thể phó mặc cho dân chúng sửa chữa, trùng tu, khai thác “tự phát” và các địa phương cũng quy hoạch & thiết kế quá …tùy tiện, đơn giản! Ngay sau khi trùng tu và sửa chữa, việc tu bổ, bảo trì cũng là một vấn đề quan trọng chứ không thể không áp dụng đúng theo những phương pháp mà quốc tế đa và đang áp dụng cho từng

loại vật liệu trong từng điều kiện khí hậu, môi trường khác nhau. Người ta đang coi những khu di tích kiến trúc cổ xưa này như những khúc sườn nướng BBQ tẩm ít mật ngọt để thu lợi hơn là cần gìn giữ đúng mức vốn liếng quý báu cho con cháu về sau không những còn được biết về cội nguồn lịch sử – văn hóa – xã hội Việt Nam vào một giai đoạn nào đó, đồng thờiù còn phải biến quá khứ đó trở thành những mối liên hệ cụ thể đối với hiện tại và tương lai. Vì thế, tôi rất mong các địa phương

sẽ đưa các di sản văn hóa – nghệ thuật dân tộc, trong đó có các di tích kiến trúc vào trong chương trình giáo dục phổ thông cơ sở để dạy cho học sinh bậc trung tiểu học hầu mai này thanh thiếu niên địa phương cũng am tường cặn kẻ về những gì họ đang có và thừa hưởng, đồng thời cũng biết quý yêu, trân trọng mà gìn giữ đàng hoàng hơn. Có như vậy, người dân địa phương – nhất là lớp trẻ – có thể giải thích với du khách với tất cả tự hào và lòng yêu quý, biết gắn bó hơn với nơi mà họ sinh ra và lớn lên. Làm như thế, công tác bảo tàng mới có giá trị tích cực thật sự.

V. Vài đề nghị với ngành Quy hoạch và Xây dựng:

Hầu hết các tỉnh miền Tây & Đông Nam Việt và Trung Việt cũng đều do các cán bộ Bộ Xây Dựng “độc quyền” quy hoạch & thiết kế theo quy định & hướng dẫn mà Bộ này soạn thảo nên quy trình thiết kế, thẩm định và xét duyệt của Bộ này cũng quá …đơn giản, cứ như thế mà việc quy hoạch & thiết kế đô thị ở miền Nam Việt Nam dường như “đơn giản” hơn bất kỳ nơi nào khác mà tôi được biết đến. Có gì sai thì điều chỉnh lại sau và cứ thế mà “sửa sai” năm này qua tháng khác, mặc kệ hao hụt tài sản nhân dân, miễn cán bộ có công ăn việc làm là tốt! Gần đây, Bộ Xây Dựng tiến bộ hơn khi quyết định thả lỏng quy hoạch và nhân dân tha hồ thiết kế & xây dựng tràn lan theo kiểu “tự phát”

nên việc quản lý đô thị lại được “ngầm” giao cho các nhà địa ốc mặc tình thao túng. Quy hoạch ở Việt Nam hôm nay được hiểu theo kiểu phân lô bán đất, bất kể đến những không gian mở, không gian công cộng, không gian giao tiếp, chẳng cần đến khoảng xanh cần thiết cho người già dạo mát và trẻ em vui chơi. Ngày xưa, quy hoạch đô thị còn gọi là “city planning” nhưng bao nhiêu năm qua thì người Mỹ chỉ gọi là “urban planning” để xác định hướng đô thị hóa dần các vùng ngoại thành nhưng vẫn phải phối hợp hài hòa giữa đô thị – con người – thiên nhiên, tuyệt đối không phá hoại sinh thái mà còn phải củng cố và bảo vệ môi trường sống và sự ổn định trong phát triển và cuộc sống thường ngày của người dân. Khi bắt tay thiết kế & quy hoạch một khu phố , ông thầy bắt chúng tôi ra đứng ở một góc phố để đếm xem bao nhiêu người (thuộc từng giới tính/ tuổi tác/ thành phần nghề nghiệp, v.v… khác nhau) qua lại góc phố này vào những thời điểm khác nhau trong ngày/ tuần để rút ra mật độ trung bình, xác định rõ nơi nào người ta thường dừng chân nghĩ lại, hay trò chuyện, nơi nào cần có bóng mát và băng ghế để ngồi nghĩ, xác định chổ nào vắng vẻ/ tấp nập, xác

đnh cây nào cần phải giữ, chổ nào phải trồng loại cây gì vừa có bóng mát vừa không che bảng hiệu/ tủ kính của các cửa hàng/ hiệu ăn khu phố đó,v.v…trước khi tiến tới quy hoạch cho góc phố đó thành một khu thương mại , một khu hành chánh, hay một khu dân cư? Bước đầu đơn giản đó hình như là dư thừa ở Việt Nam nên cán bộ quy hoạch đa vẽ ngay quy hoạch tổng thể(Master Plan), sơ đồ định hướng phát triển không gian, v.v…mà không cần biết đến những thống kê hết sức quan

trọng và cần thiết về dân cư, kinh tế, mạng lưới giao thông, lộ giới hay right-of-way, những tài liệu hoặc bản vẽ lưu trữ về hệ thống tiện ích công cộng và hạ tầng kỹ thuật (utility systems) ngầm (underground) và nổi, như điện – nước – điện thoại – nước thải,v.v… thì họ quả là tài giỏi hơn ai hết! Ngay như khu giao lộ bùng binh Hàng Xanh được giới thiệu như một công trình quy hoạch quan trọng nhưng khi tôi đến xem thì ….đơn giản quá, “chuyện không có gì ầm ĩ” như người ta thổi phồng! Bản đồ quy hoạch mà người ta cho tôi xem chỉ là một bản vẽ các trục giao thông mới, khoanh vùng các khu vực chức năng với màu sắc hấp dẫn một chút và vài mũi tên “định hướng phát triển”! Tôi đa thấy tận mắt một ông chủ nhà giàu có “lên lớp” cho một anh kiến trúc sư trẻ về việc thiết kế ngôi nhà của ông khi mà ông tự hào là đa làm thợ mộc, thợ hồ mấy chục năm kinh nghiệm, từ khi anh KTS chưa chào đời và anh KTS chỉ biết răm rắp tuân theo bản vẽ (nhớp nhúa như trẻ con

vẽ !) từ tay ông chủ nhà đó. Chưa hết, lối nhà hình ống của các khu phố, cư xá vẫn mọc tràn lan bên cạnh những khu thương xá, cơ quan, biệt thự thiết kế rập khuôn các mẫu nhà trong các tạp chí nước ngoài mà cứ tự hào là “hiện đại”, còn các ngôi chùa và nhà thờ được “biến tấu” với những mái nhà uốn cong lên ở các góc như các lưỡi đao theo “truyền thống dân tộc ” hết sức phổ biến và cứ cho đó là “đúng theo bản sắc dân tộc”! Hình như các cán bộ lãnh đạo ngành Quy Hoạch & Xây Dựng ở trung ương lẫn các địa phương đang coi việc quy hoạch và thiết kế dễ và đơn giản đến thế là cùng!

Bởi vậy, ở Việt Nam, anh địa ốc cũng tự quy hoạch được thì chủ nhà nào cũng có thể thiết kế mẫu nhà mà họ cho là đẹp và lý tưởng theo ý của mình muốn, còn chuyên viên quy hoạch, kiến trúc sư thiết kế chỉ là người làm công lãnh tiền theo “đơn đặt hàng”, không còn dám “hướng dẫn” thân chủ về nhữngnguyên lý/ nguyên tắc căn bản trong thiết kế & quy hoạch mà chỉ ngoan ngoãn chạy theo đồng tiền! Quy hoạch như vậy mà các cơ quan quản lý đô thị vẫn không thấy loạn thì …tài thiệt! Tôi luôn nghĩ rằng bên nhà vẫn có rất nhiều nhân tài thừa khả năng sáng tạo những công trình kiến trúc vừa hài hòa với cái đẹp của thiên nhiên, vừa thể hiện nét riêng của dân tộc mà vẫn thấy cái đẹp sáng

tạo của văn minh hiện đại. Sáng tạo là ước mơ của mỗi kiến trúc sư và họ sẽ gánh lấy tất cả vinh – nhục từ tác phẩm của họ. Cho nên họ cần có đủ can đảm để “làm chủ” nét vẽ sáng tạo và cũng cần hướng dẫn quần chúng hiểu cho rõ và đúng về những nguyên tắc/ nguyên lý căn bản trong thiết kế – quy hoạch – xây dựng, không thể là nô lệ của đồng tiền mà phải biết vui – buồn khi có cơ hội nhìn ngắm lại “con đẻ” của chính mình. Thực tế cho thấy chính các KTS bên nhà có nhiều cơ hội để sáng tạo hơn là những người đang xa xứ lưu vong như chúng tôi; vậy tại sao quý vị không tận dụng để sáng tạo mà cứ phải cóp nhặt, bắt chước lai căng? Tôi cũng mong sao trong thiên niên kỷ mới, các đô thị Việt Nam sẽ sống và phát triển yên ổn mà không có xáo trộn lớn khi cứ phải điều chỉnh việc định hướng và quy hoạch đô thị hàng năm. Ai cũng biết kiến trúc & quy hoạch là công việc quan trọng, ảnh hưởng và chi phối đến đời sống thường ngày của người dân, trong đó có cả kinh tế, văn hóa, xã hội chứ không đơn giản là một bản vẽ 2D hay 3D! Việt Nam còn nghèo mà cứ phung phí trong công tác thiết kế & quy hoạch đô thị, coi nhẹ việc quản lý đô thị thì bao giờ dân mới đỡ khổ?

Mong rằng các cán bộ ngành quy hoạch và quản lý đô thị hiểu và nhớ làm việc cẩn thận hơn, đàng hoàng hơn. Đừng đùa một cách vô trách nhiệm trên sự sống của hàng triệu con người vốn đa khổ nhiều rồi! “Sai một ly, đi một dặm” – đó là sự thật, ít ra là trong quy hoạch và quản lý đô thị. Bộ Xây Dựng hãy chấm dứt vai trò độc quyền từ việc soạn thảo quy định, thiết kế, lập bảng giá, thi công, xét duyệt, thẩm định, thanh tra, xây dựng và bảo trì (từ A đến Z!), hãy tạo cơ hội cho dân tham gia qua việc tổ chức các cuộc thi thiết kế khu phố mà họ đang sống, qua vai trò của các công ty tư vấn thiết kế & quy hoạch, các buổi đóng góp ý kiến của các giới, các ngành (public hearing) hơn là chủ quan

tự mãn tiếp tục đóng kín cửa tự làm rồi tự “sửa sai” dài dài! Đó không phải là lối làm việc khoa học, dân chủ, tiến bộ mà người ta cứ tuyên truyền, hô hào nhưng chẳng hiểu biết thấu đáo gì cả! Tội nghiệp cho kiến trúc và văn hóa – nghệ thuật Việt Nam khi mà các nhà lãnh đạo lại “hồng” hơn là “chuyên” nên mới nảy sinh nhiều chuyện cười ra nước mắt như vậy đó. Ước mong sao lớp trẻ sẽ có cách nhìn, cách suy nghĩ, cách sống và cách làm việc khá hơn để xoay chuyển Việt Nam có thể tiến bộ, văn minh mà vẫn gìn giữ được di sản dân tộc đàng hoàng hơn.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s