Cây gạo làng Dương Lôi, sư Vạn Hạnh và Lý Công Uẩn

Cây gạo làng Dương Lôi, sư Vạn Hnh và Lý Công Un

Làng Dương Lôi trước kia có tên là hương Diên Uẩn (nay là xã Tân Hồng, Huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh, cách Đình Bảng 1km về phía đông Bắc. Nơi đây có cây gạo nổi tiếng sống hơn 1000 tuổi. Có lẽ không có một cây đại thụ nào được sử sách nhắc đến nhiều như cây gạo này.

Nguồn gc cây go làng Dương lôi

Đó là cây gạo do thiền sư La Quý An trồng vào năm 936 ở chùa Minh Châu. Sách Thiên Uyể tập anh viết: “trước khi tịch, sư (La Quý An) gọi đệ tử là Thiền Ong đến bảo rằng:

“Trước đây Cao Biền đắp thành ở sông Tô Lịch, biết đất Cổ Pháp ta có khí tượng vương giả bèn đào sông Điềm Giang, đầm Phù Chẩn để cắt yểm long mạch, tất cả là 19 nơi. Ta đã sai Khúc Lãm đắp lại như cũ, lại trồng cây gạo ở chùa Minh Châu để trấn chổ bị cắt long mạch, đời sau tất có bậc đế vương xuất hiện để vun trồng chính pháp của ta. Sau khi ta mất, ngươi nên cho đắp đất, dựng nhiều bảo tháp, dùng thuật mà yểm tàng, không đề cho người ngoài biết.”

Nói xong, sư qua đời thọ 85 tuổi.

Nguồn gốc việc trồng cây gạo ở làng Dương Lôi là như vậy. 73 năm sau (tức năm 1009) cây gạo bị sét đánh nhưng không chết. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa đông, tháng 10 ngày quý sửu, Lý Công Uẩn tự lập làm vua. Trước đấy, ở hương Diên Uẩn (tên Lý Công Uẩn dịch ra nghĩa đen là: ông họ Lý người Diên Uẩn), châu Cổ Pháp, có cây gạo bị sét đánh, người làng ấy xem kỹ dấu sét đánh thấy có chữ:

Thụ căn điu điu

Mộc biu thanh thanh

Hòa đao mc lc

Thập bát t thành…

(Gốc cây thăm thm

Ngọn cây xanh xanh

Cây hòa đao rng

Mười tám hạt thành…)

Theo quan niệm dân gian và được sử sách ghi chép lại thì đây chính là điềm trời báo Lý Công Uẩn lên làn vua thay Lê Ngọa Triều. Bời vì “Hoà đao mộc lạc” thì chữ “hòa” + “đao” + “mộc” ghép lại thành chữ “Lê” và “thập bát tử thành” thì “thập” + “bát” + “tử” ghép lại thành chử “Lý”. Lê “lạc” Lý “thành” ấy là nhà Lê đổ, nhà Lý lên thay. Điều này ứng với việc Lê Ngọa Triều mất và Lý Công Uẩn lên thay sau đó (10-1009).

Cũng có cây gạo bị sét đánh, mà làng mang tên Dương Lôi, lại có tên là đình Sấm.

Những giai thoi xung quanh s ra đời ca Lý Công Un.

Lý Công Uẩn sinh ngày 12-2 Giáp Tuất (974), con bà Phạm thị Ngà làm thủ hộ trong chùa với công việc hàng ngày là “quét nhà, gánh nước, tưới cây, giữ chùa” (cũng có sách chép là bà là con nhang trong vùng, hàng tháng ngày rằm, mồng 1 lên chùa thắp hương niệm Phật). Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Vua họ Lý, húy là Công Uẩn, người châu Cổ Pháp, Bắc Giang. Mẹ là họ Phạm đi chơi chùa Tiên Sơn, cùng với người thần giao cấu rồi có chửa, sinh ra vua vào ngày 12-2 Giáp Tuất. Vua sinh ra, mới 3 tuổi. Mẹ ẳm đến nhà Lý Khánh Văn. Khánh Văn nuôi làm con, nhân đấy theo họ Lý”. Lại có sách chép rằng hôm bà nằm ở hiên chùa, ngủ quên, có nhà sư bước qua, cảm động mà thụ thai. Đây là những chuyện hoang đường để giải thích sự ra đời không bình thường (không có cha) của Lý Công Uẩn, chứ “thần nhân” nào mà giao cấu được với người đến mức có con và nếu chỉ “bước qua” thôi thì làm sao mà thụ thai được? Thật ra người có “quan hệ” với bà Phạm Thị Ngà làm cho bà có thai là sư Lý Vạn hạnh. Vạn Hạnh là nhà sư có tiếng tăm, danh vọng lớn. Ong đã từng được mới làm cố vấn cho nhà vua dưới thơì Tiền Lê. Vào năm sinh ra Lý Công Uẩn, ông khoảng 36 tuổi.

Sách Thiên Nam ngữ lục chép: “Vào một đêm Phật Đản, bà ngủ thiếp đi.

Tự nhiên thấy giấc hồn hoa

Ngỡ ai đã đến giao hòa cùng ai

Am dương thăng giáng một hồi

Thủy Liêm mở động, ngọc lơi dề dề…

Khi cái thai đã rõ ràng, bà thưa với nhà sư:

Tôi nằn ngủ mát, tối thầy chạm chân…

Chẳng ngờ một tháng hay lòng có thai…”

Nhà sư đã “chạm chân” hay “bước qua” đó là Lý Vạn Hạnh. Qua cách mô tả của Thiên Nam ngữ lục, với những cụm từ như “giao hòa”, “âm dương thăng giáng”, “Thủy Liêm mở động”…ta thấy dù cách nói xa xôi bóng gió thì tác giả vẫn có ý đề cập đến một cuộc ân ái nam nữ đích thực. Bia “Lý gia linh trạch” cho ta hiểu một cách xác thự hơn: “Chùa Thiên Tâm chủ trì tăng viện là sư Vạn hạnh người Cổ Pháp. Đặc biệt phía đông bên tả ngạn có bà Phạm Thị Ngà, quê ở Hoa Lâm, khi lên chùa đèn nhang thường thấy một vị thần nhân đứng cạnh cột chùa. Người dạy đi theo vào giữa hang núi lầy của…Từ đó bà ngẫu nhiên thành ra có thai, sanh ra người con họ Lý (bia “Lý gia linh trạch” chùa Tiêu, Tiên Sơn, Bắc Ninh). Vị “thần nhân thường đứng cạnh cột chùa” đó phải chăng chính là Vạn hạnh, vị sư trụ trì chùa? Việc ông dẫn bà vào hang núi (nói trệch ra để đi “lấy củi”) thực ra là để có dịp gặp gỡ, ân ái ở nơi kín đáo hơn. Chúng tôi cho rằng đều này là hợp lý, bởi vì một nhà sư trụ trì chùa, không ai lại đi làm chuyện ân ái nam nữ (mà quan niệm xưa cho là ô uế)  ngay ở trong chùa!

Sau khi bà Phạn Thị Ngà có mang, bà bị đuổi ra khỏi chùa, phải đi khất thực (xin ăn). Chúng tôi cho rằng có thể đây là một sự bố trí của nhà sư Vạn Hạnh, cốt để bảo vệ uy tín và danh dự của minh. Chắc rằng ông đã đưa bà một số tiền, khuyên bà đi nơi khác sinh con để tránh tiếng cho ông. Chứ đối với người phụ nữ bụng mang dạ chửa, mà cái thai chính là giọt máu của mình, thì ông càng không thể nhẫn tâm đuổi bà ra khỏi chùa, bắt phải đi khất thực.

Vai trò của sư Vạn hnh trong vic lên ngôi của Lý Công Un.

Bà Phạn thị Ngà sinh Lý Công Uẩn ở xóm Đường San (thuộc làng Dương Lôi). Thành ngữ ở đây có câu: “Nở Đường San, đau chùa Dặn” là ứng với sự kiện này. Khi con trai được 3 tuổi, bà đem “gửi” nhà sư Lý Khánh Văn nuôi hộ. Đây là một việc làm đã được sư Vạn Hạnh bố trí đạo diễn. Bà chưa thể trả con cho người cha đẻ của nó là sư Vạn Hạnh, vì sợ ảnh hưởnh đến uy tín của ông. Giao cho Lý Khánh văn, người em ruột của Vạn Hạnh nuôi cháu là hoàn toàn hợp lý. Bởi vì Lý Khánh Văn không có tình ý gì với bà Phạm Thị Ngà thì chẳng sợ lời đàm tiếu của thiên hạ. Em nuôi con cho anh, chú nuôi cháu ruột thì không gì bằng, mà lại che mắt thiên hạ dưới hình thức nhận con nuôi. Một điều hợp lý hơn nữa là để đứa trẻ được khai sinh mang họ Lý, họ của bố nó. Năm Lý CôngUẩn lên 7 tuổi thì Lý Khánh Văn đem “gửi” con nuôi cho Vạn hạnh “nhờ” anh dạy dỗ. Đây là sự tính toán đạo diễn của Vạn Hạnh từ trước, từng buớc để bố con được sum họp. Để ông có dịp kèm cặp dạy dỗ nó nên người. Như vậy bằng màn kịch anh dạy con “hộ” em, Lý Công Uẩn được về với người bố đích thực của mình!

Trong thời gian Lý Công Uẩn ở với sư Vạn Hạnh, nhà sư đã cố gắng tạo ra hình ảnh một cậu bé siêu phàm trong con mắt mọi người. Những giai thoại về Lý Công Uẩn ra đời vào chính thời gian này. Ví dụ như gia thoại Lý Công Uẩn lau tượng, ông có thể hô cho tượng duỗi tay chân để lau tượng dễ dàng, xong lại hô cho tượng co tay chân lại tư thề bình thường. Hay chuyện Lý Công Uẩn viết vào lưng tượng dòng chữ: “Đồ lưu viễn xứ” (đày đi phương xa) không ai có thể lau được, chỉ có Lý Công Uẩn lau mới sạch. Trong môi trường thâm nghiêm huyền bí của nhà chùa, sư Vạn Hạnh càng dể sáng tác, thêu dệt những câu chuyện siêu phàm về Lý Công Uẩn. Những câu chuyện đó lại rất dễ truyền bá đi xa vì hàng tháng, các con nhang đệ tử khắp vùng về chùa thắp hương niệm Phật. Họ sẽ mang những câu chuyện đó đi khắp mọi miền. Cũng chính sư Vạn Hạnh thường bảo với mọi người: “Đứa bé này không phải người thường, lớn lên có thể phò nguy gỡ rối, làm minh chủ trong thiên hạ”. Đây chính là những bước gây ảnh hưởng, tạo tiền đề chuẩn bị cho con đường ra làm quan sau này của Lý Công Uẩn. Sau đó với cương vị và cố vấn của triều Lê, ông đưa lý Công Uẩn vào đội quân bảo vệ nhà Vua, để có dịp gần vua, gần các quan to, làm quen với các nếp sống trong triều đình.. Từ đây Lý Công Uẩn thăng dần lên đến chức Tả Thân vệ điện tiền chỉ huy sứ, một chức quan to trong hàng võ. Song song với việc đó, sư Vạn hạnh cũng dọn đường dư luận để đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua một cách an toàn khi gặp dịp. Sự kiện sét đánh vào cây gạo làng Dương Lôi là một cơ hội. Sét đánh cây gạo, đó là sự việc bình thường (sét thường hay đánh xuống các cây cao). Nhưng sét đánh thì chỉ thành đường ngoằn ngoèo trên cây (do nứt nẻ) chứ làm sao thành chữ, mà lại thành một bài thơ dài như thế được? Tác giả của bài thơ, tức những câu sấm đó không ai khác hơn là sư Vạn Hạnh! Quả thật sau đó Lý Công Uẩn đã lên thay nhà Lê một cách an toàn êm đẹp. Đại Việt sử ký toàn thư chép: Khi Lý Công Uẩn lên điện, “trăm quan đều lạy rạp dưới sân, trong ngoài đều hô vạn tuế, vang dậy cả trong triều”.

Lý Công Uẩn trưởng thành, đó là công lao của Vạn Hạnh. Lý Công Uẩn lên ngôi, có đóng góp không nhỏ của Vạn Hạnh. Nếu không phải là con để của mình thì hiếm có ai lại tậm tâm, tận lực như thế được!

Sư Vạn hạnh mất năm 1018 thọ ngoài 80 tuổi.

Trở lại câu chuyện cây gạo làng Dương Lôi. Sau khi bị sét đánh, cây gạo không chết. Nó còn sống thêm gần…1000 năm nữa! Năm 1966, trong một trận bão lớn lớn đổ bộ vào miền Bắc nước ta, cây gạo do già yếu quá đã bị đổ. Tính ra cây gạo sống được 1030 năm (936-1966). Tại vị trí cây gạo lịch sử năm xưa, bây giờ người ta đã trồng thay vào đó một cây đa. Cây đa có 8 cành tượng trưng cho 8 đời vua nhà Lý.

Phan Duy Kha  (Thề giới mới 20-3-2000)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s