Các bài về Giáo Dục (sưu tầm)

Học sinh trung học phổ thông bây giờ có thích học văn ?

HÀ HUY LƯƠNG

Thứ tư, 2/6/2004,

Trong những năm gần đây việc dạy và học phân môn Văn-Tiếng Việt ở trường Trung học phổ thông (THPT) đã có một số chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả nhất định so với khi chưa cải cách giáo dục.

Có được sự chuyển biến tích cực phải nói đến việc các thầy cô chấp hành tốt các qui định về chuyên môn, nhiệt tình trong giảng dạy và có tinh thần trách nhiệm cao. Chất lượng giờ lên lớp, chất lượng chấm bài đã có những tiến bộ.  Nhiều thầy cô có năng lực và tâm huyết với nghề đã tìm tòi, thể nghiệm phương pháp giảng dạy mới đã gặt hái được nhiều thành quả rất đáng trân trọng. Việc sinh hoạt chuyên môn ở tổ bộ môn đã đi vào nề nếp, góp phần nâng cao chất lượng giờ dạy. Đặc biệt các thầy cô đã vận dụng phương pháp giảng dạy (PPGD) lấy học sinh làm trung tâm, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp đàm thoại đã thu hút sự chú ý của học sinh .Việc học tập bộ môn Văn của học sinh nhìn chung cũng có nhiều tiến bộ đáng kể, nhiều em say mê học văn và đạt được giải thưởng cao trong các kỳ thi tuyển học sinh giỏi khu vực và quốc gia. Nhiều học sinh tốt nghiệp THPT có nguyện vọng thi vào ngành sư phạm Văn. Đó là điều phấn khởi. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận học sinh học văn chỉ là để đối phó, không đầu tư tâm huyết cho việc cảm thụ cái hay, cái đẹp của tác phẩm, mặc dù sách giáo khoa đã bớt đi tính chính trị, thay vào đó là những tác phẩm giàu tính văn chương và tinh thần nhân đạo.

Đất nước đổi mới, tiếp cận rộng rãi với nền khoa học và văn hóa thế giới, đặt ra cho các thầy cô một thách thức mới. Thời bao cấp, sách văn học khan hiếm, phim ảnh cũng chưa phong phú như bây giờ và rất ít các trò vui chơi giải trí. Ngày nay phim ảnh cổ, kim, Đông, Tây tràn ngập, hát karaoke, xem chương trình ca nhạc… bất cứ lúc nào. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc học sinh giảm sút lòng say mê học văn. Nhiều học sinh học văn cũng chỉ là để đối phó với thầy. Nhất là ở lớp cuối cấp,  miễn sao được điểm trung bình. Phần lớn thời gian các em dành cho việc học và luyện thi các môn khoa học tự nhiên. Nhiều em chưa có thói quen soạn bài trước khi đến lớp. Thậm chí khi cần thiết chỉ chép lại bài của bạn, hoặc xào xáo một số tài liệu rồi nộp cho thầy (trừ những học sinh trường chuyên). Hầu như các em không để ý đến việc đọc các tài liệu tham khảo. Năng lực cảm thụ các tác phẩm cũng như kỹ năng phân tích đề, làm bài văn nghị luận còn nhiều hạn chế. Một số nguyên nhân nêu trên đã dẫn đến việc các em thiếu nhiệt tình trong học văn, hoặc không cảm nhận được cái hay, cái đẹp, cái thơ mộng của một tứ thơ, một tâm sự, một nỗi niềm trong tác phẩm văn chương. Hơn ai hết những thầy cô dạy văn ít nhiều đã từng chứng kiến cảnh trong giờ văn thỉnh thoảng có em còn tranh thủ cúi xuống nhìn ngắm những trang “Người mẫu thời trang “, “Mực tím” và cả những cuốn “Truyện tranh ” nữa. Rất ít khi các em lên Thư viện mượn sách về nhà đọc. Ngoài các bài thơ, truyện ngắn được trích học ở ba khối lớp THPT và THCS các em hầu như không biết thêm tác phẩm nào khác nữa. Còn đâu nữa cái thời mà học sinh thiếu sách tham khảo, phải chuyền tay nhau đến nhàu nát một cuốn tiểu thuyết, hoặc truyền sổ tay văn học chép cho nhau những bài thơ hay. Nếu có đam mê chăng nữa thì đó là những cuốn nhạc có hình các siêu sao ca nhạc có khi cả những cuốn sổ chép bói toán nhảm nhí. Hỏi các em nhà thơ Nguyễn Du của nước ta có tác phẩm nào nổi tiếng, nhiều khi phải suy nghĩ mãi mới trả lời được. Có khi lại nói nhầm tên tác phẩm của nhà thơ, nhà văn này sang tác phẩm của nhà thơ, nhà văn khác. Đặc biệt hỏi tác phẩm đó ra đời vào giai đoạn nào, thế kỷ nào thì các em trả lời ít khi chính xác. Song thử hỏi ở Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Công, Trung Quốc.v.v… có những bộ phim nào hay với những tên tuổi diễn viên nổi tiếng thì các em có thể trả lời một cách vanh vách, với các siêu sao: Jang Jong Jun, Choi Jin Sin, Hà Gia Kính, Tô Hữu Bằng, Triệu Vy, Cổ Thiên Lạc, Tuyên Huyên .v.v…

Còn đâu cái thời học sinh nức nở lấy khăn thấm những giọt nước mắt khi nghe thầy giảng đến đoạn chị Dậu phải bán con, bán ổ chó mà vẫn không đủ tiền nộp sưu cho chồng. Hoặc cảnh đau đớn của Thúy Kiều khi phải chia tay mối tình của mình với Kim Trọng “Ôi Kim Lang ! Hỡi Kim Lang ! Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây” (Truyện Kiều). Hoặc cảm động trước cảnh chia ly nhưng tình ly biệt giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều “Người về chiếc bóng năm canh, Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi, Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường” (Truyện Kiều).

Thế kỷ XXI là thế kỷ của khoa học, kỹ thuật. Con người cũng bị cuốn hút bởi dòng chảy công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hơn ai hết những thầy cô làm nhiệm vụ giảng dạy môn Văn trong trường Trung học với trái tim và nhiệt huyết của mình càng phải cố gắng nhiều hơn nữa. Không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy đem đến cho học sinh những rung động, những tình cảm trước cái hay đẹp, cái chân, thiện, mỹ của tác phẩm văn chương. Khơi dậy trong các em lòng yêu quê hương, đất nước, những tình cảm trong sáng, thấm đượm chủ nghĩa nhân đạo. Sinh thời cụ Nguyễn Du từng tâm niệm “Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Để thu hút lòng say mê học văn của học sinh người thầy vừa phải có tâm lại vừa phải có tài, nếu không thầy sẽ biến giờ học văn thành một giờ tra tấn học sinh không hơn không kém.

Đọc văn học trò vừa cười, vừa khóc
29/10/2004 3:24:58 PM GMT +7

Một học sinh “miêu tả hình dáng cô giáo em”: “Cô giáo em hiền, nhưng hơi mập, tóc cô ngắn được buộc gọn ra đằng sau, khi đi tóc cô ve vẩy ngo ngoe như cái đuôi con lợn con khi em ra cho nó ăn cám. Cô có đôi chân vòng kiềng, có lần em nghe mẹ em bảo với mẹ thằng Hà, chân như vậy sau này cô sẽ dễ đẻ…(?!)”

Ở bậc học phổ thông, các môn khoa học xã hội, nhất là môn văn đã và đang bị xem nhẹ, thậm chí xem thường. Các môn khác như nhạc, họa, thể dục càng không được coi trọng. Cho nên, số đông học sinh ngày nay còn mơ hồ, ấu trĩ về nhân sinh quan, về lẽ sống, nhiều em rất ngô nghê, ngớ ngẩn về tư duy và kỹ năng sử dụng tiếng Việt.

Xin nêu một số dẫn chứng về “kết quả” dạy và học văn hiện nay:

1. Em hãy ghi lại sự giằng xé, quằn quại trong nội tâm của văn sĩ Hộ trong tác phẩm Đời thừa của nhà văn Nam Cao.

Văn Sĩ Hộ sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống thể thao, các anh em của Văn Sĩ Hộ đều là những cầu thủ xuất sắc trong đội hình đội tuyển Sông Lam – Nghệ An. Đặc biệt là người anh cả Văn Sĩ Hùng- người đã ghi nhiều bàn thắng quan trọng cho đội tuyển Việt Nam tại Seagames 19 và Tiger Cup 98… Thử hỏi con người “tài không cao, phận thấp, chí khí uất” sống trong một gia đình toàn những người nổi tiếng và tài năng như vậy thì làm sao Văn Sĩ Hộ có thể thoát khỏi sự giằng xé, quằn quại trong nội tâm – không “Đời thừa” sao được ?

2. Em hãy phân tích tấm lòng người mẹ của bà cụ Tứ trong chuyện “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân.

”Trong cuộc sống sinh hoạt đời thường, hàng ngày chúng ta đã từng được thưởng thức rất nhiều loại lòng, như lòng lợn, lòng chó, lòng gà, lòng vịt chúng đều rất ngon và có vị riêng biệt khác nhau, nhưng tất cả đều không thể bằng lòng…. mẹ.”

3. Em hãy phát biểu cảm nghĩ của mình về việc Nguyễn Du đã để lại cho chúng ta tác phẩm Truyện Kiều.

Một em học sinh lớp 11, PTTH Cái Bè đã viết:

… “Nguyễn Du là lão tiền bối của chúng ta. Mặc dù, tiền bối đã sớm ra đi vào một chiều gió lạnh, nhưng vẫn làm chấn động cả giới hậu bối của chúng ta, qua bí kíp võ công “Vương Thúy Liều” hay còn gọi là “Đoạn trường thất thanh”. Bằng chứng là qua các kỳ thi, pho bí kíp này lại xuất hiện và làm thất điên bát đảo cả giới hậu bối chúng ta…”(!!).

4. Trong các tác phẩm em đã học và đã đọc thêm, em thích tác phẩm nào nhất? Vì sao? Hãy chứng minh?

Bài làm của em N.A.T lớp 10, PTTH viết:

“… Trong kho tàng văn học Việt Nam, ca dao dân ca rất giàu tình nghĩa… Trong các tác phẩm đó, em thích nhất là tác phẩm “Tắt đèn”. Vì nó đã thể hiện tinh thần chống lại sự bóc lột phụ nữ của chế độ phong kiến. Chứng tỏ chị đã bán con và chó để thể hiện tinh thần kiên quyết đó…”.

5. Em hãy phân tích trình tự diễn biến tâm trạng nàng Kiều trong đoạn trích “Những nỗi lòng tê tái”.

Bài làm của em C.V.T lớp 10, PTTH P.N có đoạn viết:

“Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng”. Qua đó ta thấy tên khách họ Hoàng thật là tàn nhẫn, hắn hôn Thúy Kiều đã rồi lại bắt Kiều hôn lại làm cho Kiều ngày càng biến thành gái lầu xanh chuyên nghiệp muốn ngóc đầu lên cũng không nổi”.

6. Em hãy cho biết bất công của phụ nữ dưới chế độ phong kiến. Bằng các tác phẩm đã học của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, hãy chứng minh.

Một em tên Hoàn Nhân, lớp 9, TPCS viết:

“… Sự bất công của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến đó là: Họ không được tham dự bóng đá quốc tế, họ không được lái xe nhất là các loại xe con, xe gắn máy (!). Ngày nay quyền giải phóng phụ nữ đã được củng cố. Hàng năm người ta lấy ngày 8-3 làm ngày quốc khánh phụ nữ…”.

7. Một bạn học sinh lớp 9, PTCS T.A, Huế đã viết:

“Thúy Kiều là người con gái tài sách vẹn toàn, song nàng đã bị chế độ phong kiến vùi dập vào chốn bùn nhơ. Đến nỗi nàng đã nhảy xuống sông Tiền Giang tự vẫn, may thay lúc đó có một bà đảng viên đi công tác về, bà liền nhảy xuống sông cứu nàng. Sau đó Kiều giác ngộ và đi theo con đường cách mạng”(!!!).

8. Em hãy tả con gà trống nhà em:

“Chú trống choai nhà em lớn nhanh như thổi, càng lớn chú càng giống gà mái”!?

9. “Em hãy tả hình dáng và tính tình một cụ già mà em rất kính yêu” – Đề tập làm văn trong kỳ thi tốt nghiệp tiểu học vừa diễn ra ở tỉnh X. Dưới đây là những đoạn tập làm văn của học sinh:

– “Hình dáng của bà nội rất là thấp được hai mét rưỡi dáng đi rất chậm chạp, mắt thì lừ đừ ít thấy gì nữa… Tính tình cụ già rất là bực bội… Khi bà nội cười liền nhe mầm răng ra còn được ba bốn cái mà thôi.”

– “Con mắt của bà tròn như hòn bi, mũi có hai cái lỗ, cụ già có hai cái tai, tóc của bà đã bạc phơ. Cổ ngắn gọn, thân của bà 2, 3 thước, bà có hai cái tay, có hai cái chân.”

– “Bà cụ ngoài 40 tuổi. Hình dáng bình thường, chiều rộng ba mươi, chiều cao một mét sáu.”

– “Khi cười miệng bà em móm mém như miệng cái hố ”

– “Khuôn mặt ông bầu bĩnh; đôi mắt ông như mắt bồ câu trắng; dáng đi của ông rất hoang thai và cái miệng của ông như trái tim rất mảnh liệt.”

-“Ông của em dài thì bằng 1 mét và không mập. ”

….

Dạy các môn xã hội, nhất là môn văn là nhằm hình thành nhân cách cho học sinh, giúp các em tích lũy hiểu biết, từng bước làm giàu tình yêu gia đình, quê hương, đất nước và con người. Vậy mà bây giờ có không ít học sinh không thích học văn, thậm chí rất sợ học văn. Lỗi ấy liệu có chỉ thuộc về các em.

Theo Tintucvietnam

 

Đổ xô kiếm “mác” tiến sĩ để thăng tiến

Tiến sĩ là học vị cao nhất trong khoa học. Tuy nhiên, tại Việt Nam, bằng tiến sĩ “hấp dẫn” chủ yếu đang chỉ bởi tư cách là “giấy thông hành” bắt buộc cho sự thăng tiến. Số người dự định theo học sau đại học với toan tính có bằng cấp cao để dễ bề tiến thân mà không phải vì thực sự đam mê nghiên cứu khoa học ngày càng nhiều.

Mục tiêu của Việt Nam từ nay đến năm 2010 đào tạo 19.000 tiến sĩ và hiện nay, cả nước đã có khoảng 4.500 tiến sĩ. Tuy nhiên, có vẻ đây sẽ là một kế hoạch rất “lãng mạn”!

Một ví dụ, ở Thái Lan hàng năm, số lượng tiến sĩ đào tạo chỉ có khoảng 120-130 người. Trong khi đó, Việt Nam đứng sau Thái Lan về số lượng công trình được đăng trên các tạp chí quốc tế và trường ĐH tốt nhất của Việt Nam còn kém Thái Lan nhiều bậc mà chúng ta lại dự kiến đào tạo hàng nghìn tiến sĩ mỗi năm!

Tiến sĩ là học vị cao nhất trong khoa học. Đòi hỏi chính của luận án tiến sĩ là sự đóng góp về mặt lý luận và luận án là bằng chứng cho thấy ứng viên tiến sĩ có trình độ nghiên cứu độc lập chứ không đòi hỏi phải giải quyết một vấn đề thực tiễn, sau khi lấy bằng tiến sĩ, tuỳ theo yêu cầu công tác lúc đó mới cần nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn.

Bằng tiến sĩ – giấy thông hành cho quan chức

Người có học vị tiến sĩ trở lên ở nước ngoài được coi là bác học mà nghề nghiệp chính là nghiên cứu và sáng tạo, việc đào tạo tiến sĩ chủ yếu phục vụ nghiên cứu khoa học tại các phòng thí nghiệm, giảng dạy ở bậc đại học và cho sản xuất chế tạo.

Trừ một số bộ ngành có liên quan nhiều đến học thuật như các Bộ Khoa học, Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, còn các bộ ngành khác không nhất thiết đòi hỏi phải có văn bằng tiến sĩ làm tiêu chuẩn quan trọng để bổ nhiệm cán bộ quản lý.

Lãnh đạo, quản lý có yêu cầu riêng, đòi hỏi nhiều về khả năng tập hợp, tổ chức và hoạt động thực tiễn. Các nước tiên tiến không đặt vấn đề đào tạo tiến sĩ cho mục tiêu quan chức.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, bằng tiến sĩ “hấp dẫn” chủ yếu đang chỉ bởi tư cách là “giấy thông hành” bắt buộc cho sự thăng tiến. Số người dự định theo học sau đại học với toan tính có bằng cấp cao để dễ bề tiến thân mà không phải vì thực sự đam mê nghiên cứu khoa học ngày càng nhiều.

Một số vị quan chức ở các cơ quan Đảng và Nhà nước chẳng liên quan gì đến nghiên cứu khoa học hay giảng dạy cũng loay hoay kiếm cho được tấm bằng tiến sĩ để đạt “chuẩn hoá”!

Còn bản thân người “chèo lái” cho “con thuyền” tiến sĩ này là Bộ GD-ĐT thì luôn luôn báo cáo thành tích qua các con số về những người được đào tạo sau đại học ở trong nước cũng như ngoài nước đã và đang giữ những vị trí quan trọng trong công tác quản lý, chỉ đạo và hoạch định chính sách ở các cơ quan, đơn vị Nhà nước, các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố, trong hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp.

Như vậy, sự nhận thức về ý nghĩa của văn bằng này có thể nói bị lệch lạc ngay từ đó. Sự bùng phát của văn bằng tiến sĩ từ năm 1990 đến nay đã trở thành một xu thế tất yếu.

Khoảng cách so với chuẩn quốc tế

Bằng tiến sĩ của chúng ta có một khoảng cách khá xa so với chuẩn mực quốc tế! Đó là một thực tế không thể phủ nhận. Theo GS.Phạm Sỹ Tiến, Vụ trưởng Vụ sau đại học (cũ) Bộ GD-ĐT, chất lượng khoa học nhiều luận án tiến sĩ chưa cao, chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo chưa tương đồng với các nước, đề cương các môn học thường viết sơ sài, có tính hình thức, tài liệu tham khảo liệt kê vừa ít, vừa lạc hậu, thậm chí có tài liệu hầu như không tồn tại.

Ở Việt Nam, việc học bậc tiến sĩ quá đơn giản. Người học tại chức cũng có thể bảo vệ thành công luận án trong 3-4 năm. Tại nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu sinh chỉ phải học 3 chuyên đề thầy giáo gói… trong một ngày sau đó tự làm các tiểu luận, quan hệ với giáo sư hướng dẫn khá lỏng lẻo, tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn chưa được quy định nghiêm túc.

Nếu như ở trường đại học lớn của các nước trên thế giới, chỉ có khoảng 50% số giáo sư tại mỗi khoa có tư cách dạy ở bậc tiến sĩ thì ở Việt Nam, thầy là tiến sĩ hướng dẫn cho trò làm tiến sĩ là chuyện không có gì đáng ngạc nhiên!

Một điều rất lạ nữa là nhiều người có học hàm, học vị nhưng đã chuyển sang làm các công việc khác không liên quan đến nghiên cứu và giảng dạy lại vẫn được mời làm thành viên hội đồng chấm luận án, thậm chí được mời làm giáo sư hướng dẫn cho nghiên cứu sinh!

Nhưng, dễ thì rất dễ mà khó thì cũng rất khó! Dễ dãi trong đào tạo và nhiêu khê trong thủ tục cấp bằng.

Quy trình đào tạo tiến sĩ của Bộ GD-ĐT vừa rắc rối kiểu hành chính mất nhiều thời gian, vừa tốn kém mà thiếu cơ sở khoa học đòi hỏi nghiên cứu sinh nhiều công sức, thời gian và tốn kém, có người phải bỏ ra tới 50-60 triệu đồng sau khi hoàn thành một đống thủ tục rườm rà.

Đơn cử như thủ tục trước khi bảo vệ chính thức, nghiên cứu sinh phải đi xin khoảng 20 lần nhận xét luận án tiến sĩ của các thành viên trong và ngoài hội đồng chấm luận án, riêng việc đi lại chầu chực đã mất 40 lần rồi!

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Trần Văn Nhung khẳng định: “phải thắt chặt công tác đào tạo sau đại học!”. Tuy nhiên, thắt chặt bằng cách nào thì hình như Bộ GD-ĐT chưa có kế hoạch. Chỉ biết, chỉ tiêu đào tạo sau đại học vẫn tăng đều hàng năm mà mặc kệ chất lượng đào tạo cùng nhiều điều kiện cả khách quan và chủ quan đều còn hết sức ngặt nghèo.

Ngành giáo dục vẫn đang tiếp tục sản xuất bằng tiến sĩ theo tiêu chuẩn của riêng mình và văn bằng này được xem như “hàng nội địa” tự cấp tự tiêu! Còn những người được đào tạo, họ ép plastic tấm bằng này và thở phào như vừa lo xong thủ tục “chạy” được giấy thông hành bắt buộc cho sự thăng tiến.

Theo Thời báo Kinh tế Việt Nam (http://www.vneconomy.com.vn/

 

 

Khi thầy không còn được kính!

Mệnh danh là trường phổ thông trung học chuyên – một thời là niềm tự hào của tỉnh nghèo hiếu học, nhưng cơ chế thị trường lại ùa vào lớp học. Thành ra thầy cũng chẳng được chọn, mà trò cũng chẳng còn được chuyên như trước nữa. Niềm tự hào chạy đâu mất, chỉ còn lại những ì xèo khôn tả.

Ấy là khi những thầy giỏi thực sự từng làm rạng danh mái trường này lần lượt nghỉ hưu. Một lớp giáo viên mới ra trường đưa về.

Buồn thay, chẳng mấy thầy cô giỏi mà toàn con gái, con dâu cụ nọ, con trai bà kia đều có chức sắc dây rợ. Trò thì cũng nào đâu khác, cũng lại con cháu các cán bộ đầu ngành ăn mặc có thừa nhưng học hành thì lại hơi bị đuối.

Một cô giáo dạy văn như cơm nguội, thẩm văn, bình văn còn thua cả học trò cũng được xếp là giáo viên trụ cột dạy lớp cuối gây bất bình trong giáo giới. Thế mà đùng một cái lại được phong nhà giáo ưu tú. Tờ báo tỉnh đăng quảng cáo thành tích giáo dục của tỉnh này in cả ảnh cô giáo dạy văn như cơm nguội ấy. Thì ra cô có được diễm phúc là nhà giáo ưu tú và dán ảnh lên mặt báo chỉ vì cô là phu nhân của ông giám đốc sở!

Một nhân viên văn phòng khệnh khạng như ông quan khư khư ôm hồ sơ học bạ được đôn lên dạy môn giáo dục công dân. Chả hiểu tài năng đến đâu hay trường chuyên này thiếu thầy dạy mà để anh cán bộ văn phòng lên lớp giảng cho trò về đạo đức công dân, trong khi chính tư cách của thầy thì còn lắm chuyện phải bàn.

Những học trò giỏi tất cả các môn đều điểm 9, điểm 10 nhưng môn giáo dục công dân của thầy không thể vượt qua điểm trung bình. Trò nào muốn hơn không cách gì khác là phải đến thăm thầy!

Một cô giáo tạo danh tiếng cho mình bằng cả một đội trò giả giỏi. Tiếng chưa kịp thơm thì đã xì ra chuyện phù phép cho những học trò con ông nọ bà kia và những phụ huynh có bao gói nặng được vào thẳng đại học theo tiêu chí tuyển thẳng của bộ mà giờ đây đã phá sản! Ngỡ tưởng cô phải ra hầu tòa. Nhưng nhờ nặng nghĩa ân sâu nên rồi cô cũng được hạ cánh nghỉ hưu sớm!

Khi người thầy tự đánh mất mình, không còn được kính nữa thì chất lượng giáo dục làm sao có thể tốt. Trường chuyên mà chất lượng không bằng các trường bình dân của huyện!

Liệu có còn giữ nghiêm trong giáo dục ở tỉnh này khi ông phó giám đốc sở phụ trách PTTH cứ thư tay cho con cháu các vị chức sắc không đủ điểm vào lớp 10, nhưng vẫn chễm trệ trên ghế như ai, bỏ ngoài tai sự bất bình của ngay trong giáo giới. Buồn hơn thế là khi nhận được đơn thư tố cáo, tỉnh cho người xuống kiểm tra.

Chả biết mấy vị cán bộ kiểm tra tỉnh này thu lượm, làm việc thế nào cuối cùng bảo việc thì đúng như thư tố cáo, nhưng cũng chỉ kết luận gọn một câu “Để rút kinh nghiệm nội bộ” thì thật lạ thay!

Đỗ Quang Đán, Sức khoẻ & Đời sống

 

 

Tôn vinh thầy cô bằng… tiền bạc?

Gần đây, cứ đến tháng 11, nhiều cửa hàng lại tung ra những món quà độc đáo. Có những món quà mà người thu nhập thấp không bao giờ dám mua vì giá của chúng bằng cả tháng lương. Vậy thì ai là người mua những món ấy? Chắc chắn là những phụ huynh hoặc học sinh giàu có. Họ mua để tặng thầy cô giáo nhân Ngày nhà giáo VN 20-11.

Hình ảnh những phụ huynh đến ngày 20-11 chở hàng chục túi quà đắt tiền đến từng nhà phân phát cho các thầy cô dạy con em mình không còn lạ đối với mọi người ngày nay. Có những phụ huynh suốt năm học không bao giờ đến gặp thầy cô để hỏi thăm việc học của con em mình. Đại hội cha mẹ học sinh tổ chức ở lớp, giáo viên chủ nhiệm mời họ cũng không đi.

Thế nhưng đến Ngày nhà giáo thì họ lại tìm đến tận nhà để “chúc mừng” thầy cô bằng những món quà sang trọng đắt tiền. Phải chăng phụ huynh khi tặng thầy cô những món quà đắt tiền là gửi cho thầy cô một “thông điệp”: “hãy nhẹ tay” đối với con em của mình? Và người giáo viên khi nhận một món quà đắt tiền coi như đã “mắc nợ” và không thể “nặng tay” đối với “chủ nhân con” của món quà ấy?

Dần dần việc tặng quà nhân Ngày nhà giáo đã hình thành trong một bộ phận học sinh suy nghĩ lệch lạc: phải tặng quà thầy cô giáo mới là biết ơn thầy cô, quà tặng càng đắt tiền thì lòng biết ơn càng lớn (!).

Sau ngày đất nước thống nhất, tôi đang học trung học. Mỗi năm đến ngày 20-11, lớp chúng tôi và nhiều lớp khác cũng có tổ chức kỷ niệm Ngày nhà giáo. Ngày ấy toàn trường chúng tôi chỉ học buổi sáng nên các lớp đều tổ chức kỷ niệm vào buổi chiều.

Lễ kỷ niệm diễn ra thật giản dị: không bánh, không trà và cũng không quà nhưng thật vui và có ý nghĩa. Học sinh nào có khả năng văn nghệ sẽ giúp vui vài bài hát theo kiểu “cây nhà lá vườn”. Thầy cô dạy lớp được mời đến dự kể cho chúng tôi nghe những kỷ niệm vui buồn thời đi học cũng như trong nghề nghiệp. Lồng trong những câu chuyện ấy là những bài học giáo dục rất nhẹ nhàng nhưng sâu sắc mà đến ngày nay chúng tôi vẫn còn nhớ. Rồi cả lớp – không phân biệt giàu nghèo – cùng đi đến nhà những thầy cô không đến dự được hoặc thầy cô cũ để chúc mừng.

Kể lại những chuyện ấy chắc lớp học sinh ngày nay cho là chúng tôi lạc hậu, quê kệch. Có lẽ các em cho rằng phải tặng thầy cô những món quà đắt tiền mới là biết ơn thầy cô (!). Còn một số phụ huynh bảo phải tổ chức những buổi liên hoan mặn tưng bừng, phải ép các thầy (có khi cả các cô) uống say đến độ “quên đường về” thì mới là biết cách tổ chức Ngày nhà giáo!

Ngày 20-11 lại đang tới. Mong sao ngày này được trả lại đúng nghĩa của nó là ngày tôn vinh thầy cô giáo. Đừng để những món quà trên mức tình cảm làm vơi đi ý nghĩa thiêng liêng của ngày lễ ấy.

Nguyễn Anh Dân, Tuổi Trẻ

 

 

 

 

Phút nói thật của giáo viên: Sự thật nhức nhối!

 

– Em không làm được bài à? Đi… “vệ sinh đi”!!!? – Em chưa học bài gì sao? Về chỗ, … 5 điểm!?”. Có những chuyện kể ra nghe như tiếu lâm ấy mà lại là sự thật, sự thật nhức nhối có ở hầu khắp các trường hiện nay. Phút nói thật dưới đây của các thầy cô cũng là giây phút người ta phải giật mình: hoá ra cả thầy cả trò đều là nạn nhân.

Tên và nơi công tác của các giáo viên dám nói lên sự thật này xin được giấu. Bởi một lẽ đơn giản, nó không cần thiết, vì bản chất của vấn đề là bệnh thành tích và tính phổ biến của nó đang “ngự trị” ở khắp nơi.

Đếm đầu học sinh xuất sắc để… thưởng

Nơi tôi công tác có đặt ra thêm nhiều sổ sách không cần thiết (10 loại) và chỉ mang tính hình thức. Tuy nhiên, đây không phải là chỉ đạo của Phòng GD-ĐT mà là của ban giám hiệu trường. Vì năm nay, tất cả giáo viên các trường đều sử dụng chung giáo án in sẵn do thầy trưởng phòng chỉ đạo các trường chia nhau soạn và nộp lên Phòng GD-ĐT duyệt rồi in ra “nhượng lại” cho giáo viên dạy, chỉ bổ sung khi thấy cần thiết. Sổ sách quá nhiều làm mất thời gian, giáo viên không còn thời gian tập trung lo cho việc giảng dạy.

Về việc đặt ra các chỉ tiêu, tôi thấy cần thiết nhưng phải đúng thực tế. Ví dụ: Ở trường tôi, năm ngoái ban giám hiệu đưa ra chỉ tiêu: Lớp nào duy trì sĩ số đến cuối năm (100%) và có số học sinh xuất sắc 30% trở lên thưởng 50.000 đồng, nếu số học sinh xuất sắc từ 20% – 29% thưởng 30.000 đồng.

Điều này dẫn đến có lớp cuối năm chỉ có 1 em giỏi còn lại là học sinh xuất sắc (chiếm gần 100%), nhưng so với các lớp có số học sinh xuất sắc ít hơn thì chất lượng không bằng (cụ thể qua đợt khảo sát chất lượng đầu năm nay).

(Một số GV ở huyện H. – TPHCM)

Đau lòng khi phải hạ bút 5 điểm cho học sinh chỉ đáng điểm… 1!

Tôi cũng xin được trình bày thêm một số điểm bất hợp lý trong cuộc đua rượt “chỉ tiêu” nhằm dựa vào đó đánh giá, xếp loại giáo viên:

1. Giáo viên đạt chiến sĩ thi đua hoặc giáo viên giỏi: Cuối năm không được có học sinh đạt điểm dưới 5/môn dạy.

Để lấy được danh hiệu này, nhiều giáo viên đã làm dù biết sai: Học sinh không học bài, không làm bài tập nhà, kiểm tra miệng hoặc 15 phút dưới điểm 5, giáo viên chỉ ghi vào sổ cá nhân của giáo viên, chứ không được vào sổ điểm lớp. Do nếu vào điểm ở sổ lớp rồi là học sinh không được cho làm kiểm tra lại để gỡ điểm.

2. Mỗi cột điểm kiểm tra hầu như mỗi giáo viên sau khi chấm vài trăm bài phải chép đi chép lại gần 5 lần cho 1 cột điểm.

Lần 1, giáo viên ghi vào sổ điểm cá nhân; lần 2 ghi vào sổ điểm ở lớp, lần 3 ghi vào sổ chủ nhiệm, lần 4 ghi vào sổ liên lạc học sinh (nếu là giáo viên chủ nhiệm) và lần 5 là ghi vào sổ gọi tên và ghi điểm của nhà trường.

3. Khi học sinh khối 9 thi tốt nghiệp, hầu như toàn giáo viên được huy động đi dò bài, kiểm tra bài cho học sinh vào các buổi không có tiết dạy hoặc các buổi tối! Do đó cả ngày chủ nhật chúng tôi cũng phải đi dạy và học sinh cũng phải đi học.

Tôi thèm có thời gian để nâng cao kiến thức, được học tập để có cái nhìn sâu rộng, được sống thật với mình hơn. Tôi rất đau lòng khi phải hạ bút cho điểm 5 đối với học sinh nào không học hành, lười ỷ lại, bài vở chỉ đáng 1 điểm.

(Một số GV ở Q. T. – TPHCM)

 

Học sinh muốn rớt cũng khó mà rớt nổi!

Để đeo đuổi và giữ vững tỉ lệ học sinh đậu tốt nghiệp 100%, Phòng GD-ĐT đưa ra những chỉ tiêu thật cao, để ban giám hiệu lấy đó làm chuẩn và chỉ tiêu phấn đấu của trường là phải bằng hoặc cao hơn nữa.

Thế là thầy và trò dù muốn hay không muốn cũng phải bơi trong suốt cả năm học bằng nhiều biện pháp như tăng tiết, phụ đạo, bồi dưỡng… qua nhiều hình thức thi đua muốn hụt hơi giữa trường với trường, giữa thầy với thầy, giữa trò với trò (đây chỉ là vòng 1).

Ở vòng 2 còn hấp dẫn hơn, trong ngày thi tốt nghiệp, các trò được căn dặn phải cố gắng làm bài cho tốt, nếu bí làm không được thì in… đi vệ sinh, ở đây các em sẽ được cung cấp phao, có những em đi vệ sinh từ 2 – 3 lần cho một môn thi (đa phần là những em kém).

Vậy người cung cấp phao là ai? Đó cũng chính là những giám thị 3 được gài lại, hoặc bị nhờ. Có những giám thị 3 khác lại tất bật với nhiệm vụ của mình không xuể đưa học sinh tới nhà vệ sinh. Sau khi làm bài thi xong cũng không quên không được khóa bài làm, để được tiến hành ở giai đoạn 3.

Ở giai đoạn này, tức phần làm việc của ban giám khảo, vì chỉ tiêu cho 100% tốt nghiệp, đối với những bài không đủ điểm trong lần chấm sơ khởi, các bài thi này sẽ được làm “ảo thuật” là xong ngay, với những màu mực không khác gì màu mực của bài làm học sinh. Mặc dù trước khi chấm bài, các vị giám khảo này được sinh hoạt, làm công tác tư tưởng rất kỹ, rất “khéo”. Chả thế mà học sinh có muốn rớt cũng khó mà có thể rớt nổi.

(Một số GV ở Q. G. – TPHCM)

Chúng tôi phải đi ngược lại quy luật giáo dục

Tôi xin đơn cử ở trường tôi như sau: Đã từ lâu, Phòng GD-ĐT đã đặt ra một thứ luật bất thành văn về tỉ lệ tốt nghiệp tiểu học và THCS ở các trường phải là 100%. Điều đó khiến giáo viên chúng tôi phải dạy nhồi nhét và xoay bài gạo cho học sinh rất phản khoa học (sang giai đoạn thi cử 5 học sinh theo 1 giáo viên trả bài cả sáng lẫn tối, rất mất thời gian và sức khỏe, giáo viên dạy cả ngày, có khi phải ở lại đến khi các em trả bài xong mới được về).

Có trường hợp học sinh quá lười thì cả trường lao đao, kiếm đủ mọi cách, kể cả tiêu cực trong kỳ thi để đạt đủ chỉ tiêu. Thử hỏi với cách đào tạo như vậy thì đằng sau các tỉ lệ đỗ tuyệt đối đó là các sản phẩm như thế nào? Là những người trực tiếp giảng dạy, chúng tôi rất đau lòng trước những căn bệnh thành tích đã ăn rất sâu khiến chúng tôi phải đi ngược lại quy luật của giáo dục.

(Một số GV ở Q. N. – TPHCM)

 

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Minh Hiển: “Tôi rất ngạc nhiên là có quá nhiều loại sổ sách như vậy!

Nhiều trường đưa ra chỉ tiêu học sinh lên lớp, tốt nghiệp… quá cao. Để đạt chỉ tiêu, giáo viên phải cho học sinh học bài mẫu trước hoặc nâng điểm khiến chất lượng giáo dục trở thành chất lượng “ảo”. Căn bệnh thành tích này làm sao ngăn chặn?

– Bộ GD-ĐT không bao giờ khuyến khích việc chạy theo thành tích. Thậm chí chúng tôi đã xử lý rất nghiêm.

Song căn bệnh này vẫn kéo dài. Bộ trưởng có thể trả lời thẳng vào vấn đề?

– Tình trạng này vẫn xảy ra. Việc ngăn chặn nói ra thì hơi dài, cần phải phân tích, nghiên cứu tại sao lại xảy ra tình trạng này rồi mới có hướng khắc phục.

Nguyên nhân thì có nhiều, chúng tôi sẽ có giải trình trước Quốc hội.

Nhiều trường quy định quá nhiều loại sổ sách, giáo án quá chi tiết mang nặng tính hình thức làm triệt tiêu sự sáng tạo của giáo viên trong giảng dạy. Bộ trưởng có ý kiến gì về việc này?

– Tôi cũng rất ngạc nhiên là rất nhiều loại sổ sách không hề có trong hướng dẫn của Bộ GD-ĐT. Tôi nghĩ là sở GD-ĐT các tỉnh, TP chắc cũng không có hướng dẫn như vậy. Chúng tôi sẽ cho kiểm tra. Trong các hội nghị của ngành, chúng tôi sẽ bàn với các giám đốc sở GD-ĐT vấn đề này.

Nhiều trường tổ chức dạy tăng tiết đồng loạt, bắt giáo viên dạy thêm giờ, tổ chức truy bài học sinh từ 6 giờ sáng đến 20 giờ 30 đêm, rồi hội họp liên tục… khiến giáo viên bị vắt kiệt sức. Họ là nạn nhân của căn bệnh hình thức và thành tích. Bộ trưởng làm gì để chấn chỉnh hiện tượng này?

– Tình trạng này không phải diễn ra phổ biến mà chỉ cá biệt ở một số trường, một số địa phương. Việc này, các địa phương chủ động giải quyết.

Theo Người lao động

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tản mạn về mảnh bằng Ph.D

Những năm gần đây có khá nhiều sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ và nhiều nước khác, bằng nhiều con đường khác nhau. Người có học bổng, chức trợ giảng (teaching assistant – TA), hoặc trợ nghiên cứu (research assistant – RA), người thì du học tự túc. Tôi không nhớ chính xác là đã đọc ở đâu đó rằng có hơn nghìn du học sinh mỗi năm sang Mỹ. Nhiều người trong số họ theo học tiến sĩ (Ph.D).

Thông tin về làm thế nào để xin học bổng, TA, RA, xin thư giới thiệu, cách viết personal statement, vân vân đầy rẫy trên các mailing lists trên Internet. Thế nhưng, một vài câu hỏi quan trọng mà tôi ít thấy sinh viên hỏi là: “tại sao lại học Ph.D?”, “có đáng bỏ thời gian học Ph.D hay không?”, “làm thế nào để đánh giá mảnh bằng Ph.D?”, “tôi có đủ khả năng để học Ph.D hay không?”, “học Ph.D xong rồi làm gì?”, vân vân.

Có lẽ ta cần một luận án … Ph.D để trả lời phần nào thỏa đáng các câu hỏi trên. Cũng có lẽ có ai đó trong các ngành giáo dục hay tâm lý học đã làm rồi. Về mặt kinh tế thì một người bạn cho tôi biết đã có cả mớ công trình nghiên cứu về “returns to education”.

Trong bài viết này, tôi thử lạm bàn lan man xung quanh các câu hỏi trên. Bài viết hoàn toàn không mang tính hàn lâm (academic), nghĩa là sẽ không có các con số thống kê, bảng phân tích, để ủng hộ một (vài) luận điểm nào đó. Sẽ không có tham khảo đến các nguồn thông tin tín cẩn và các thứ tương tự. Tôi chỉ dựa trên các kinh nghiệm, quan sát, và suy nghĩ cá nhân, sau gần chục năm học và “hành nghề” Ph.D ở Mỹ.

Tôi chắc là một cá nhân khác trong hoàn cảnh của tôi sẽ có không ít ý kiến bất đồng. Tôi cũng không có tham vọng nói hết được những cóp nhặt kinh nghiệm của mình. Ngoài ra, tôi sẽ nhấn mạnh nhiều hơn mặt trái của việc học Ph.D.

Điều tôi hy vọng là qua bài viết này, tôi có thể giúp cho các sinh viên (cùng gia đình) sẽ và đang học Ph.D ít nhiều chuẩn bị tinh thần cho đoạn đường chông gai nhưng thú vị này; hy vọng chỉ ra được một góc nhìn khác về Ph.D so với quan niệm chung của xã hội.

1. Ph.D là gì?

Trước hết ta hãy thử bàn về mảnh bằng Ph.D từ cái nhìn hàn lâm. Ph.D là viết tắt của chữ Doctor of Philosophy. Học bậc Ph.D, cao nhất trong các học bậc, đầu tiên xuất hiện ở Đức, sau đó được Mỹ và nhiều nước phương tây khác sử dụng. Bằng Ph.D đầu tiên của Mỹ xuất hiện khoảng cuối thế kỷ 18. (Ở Ý cho đến những năm 1980 mới có bằng Ph.D.)

Từ Ph.D có gốc latin là Philosophiae Doctor. Chữ doctor nghĩa là “thầy” (teacher), và “chuyên gia”, “chức trách” (authority). Chữ philosophy (triết học) có nguồn gốc từ thời trung cổ (medieval) ở Châu Âu, khi mà các trường đại học có bốn chuyên khoa (faculty) chính: theology (thần học), law (luật học), medicine (y học), và philosophy (triết học). Philosophy ở đây dùng để chỉ các ngành học không dẫn đến một nghề nghiệp thực tế nhất định của thời đó (người của nhà thờ, luật sư, bác sĩ).

Đến nay thì không phải Ph.D nào cũng liên quan đến philosophy, cho dù là lấy theo nghĩa bóng nhất của philosophỵ Nhưng chữ doctor vẫn mang đầy đủ ý nghĩa của nó. Ở phương Tây, trong nghi thức giao tiếp người ta gọi một người có bằng Ph.D là doctor.

Hầu hết các trường đại học đều đòi hỏi toàn bộ giảng viên và các giáo sư có bằng Ph.D. Đa số các nhà nghiên cứu ở các phòng nghiên cứu chuyên nghiệp đều có bằng Ph.D.

Tuy vậy, điều ngược lại không đúng: không phải tất cả các Ph.D đều có thể làm giảng viên, giáo sư, hay nghiên cứu viên. Có những Ph.D thậm chí chẳng bằng một kỹ sư thông thường. Cũng có khá nhiều Ph.D, sau khi “hành nghề” một thời gian thì lên chức, hoặc chuyển sang làm salesman hoặc manager, vân vân. Ta sẽ quay lại đề tài này sau.

Cái nhìn hiện đại của Ph.D như saụ Để hoàn tất Ph.D, ta phải đạt được hai mục tiêu chính: (a) hoàn toàn tinh thông một ngành (hoặc phân ngành) nào đó, và (b) góp phần mở rộng nền tảng kiến thức của nhân loại về ngành đó.

Mục tiêu (b) là cái lõi để phân biệt bậc Ph.D với các bậc học khác. Ph.D không phải là cái bằng “nhai lại”: đọc nhiều, thi lấy điểm cao là xong. Một Ph.D đúng nghĩa phải có một vài công trình và ý tưởng nghiên cứu của riêng mình (originality).

Về mặt lý thuyết thì là thế. Thực tế ra sao?

2. “Nghề” Ph.D: đoạn trường cũng lắm chông gai

Ở Mỹ, là sinh viên sau đại học (graduate student) cũng là một nghề. (Tôi không dùng từ “nghiên cứu sinh” vì không phải graduate student nào cũng làm nghiên cứu thực thụ, nhất là các sinh viên đang học thạc sĩ.) Các graduate students thường làm TA hoặc RA, với mức lương khoảng 900USD đến 1200USD một tháng (sau thuế), tiền học được bao.

Sống tằn tiện thì mức lương này vừa đủ một người sống. Thường các grad students sống chui rúc trong một căn hộ nhỏ bé nào đó (dĩ nhiên là có ngoại lệ, đa phần do may mắn), hầu hết thời gian dùng ở các phòng lab (phòng thí nghiệm hoặc phòng máy tính) và thư viện. Tối về đến nhà là lăn ra ngủ để rồi sáng mai mèo con lại hớn hở bút chì bánh mì lên đường.

Kể các chuyện cuộc sống grad students thì có lẽ cần một tiểu thuyết vài trăm trang. Điều tôi muốn đề cập là: trong hoàn cảnh làm việc căng thẳng như vậy, một sinh viên thông thường thỉnh thoảng sẽ phải tự đặt câu hỏi “có đáng không?” (Is it worth it?).

Nhất là khi công việc học tập và nghiên cứu không trôi chảy. Mà kể cả khi nó hoàn toàn trôi chảy, tính về các mặt kinh tế, tinh thần, thời gian, và … philosophy, câu hỏi trên vẫn hoàn toàn hợp lệ.

Về mặt kinh tế thì lương trung bình của Ph.D ra trường có nhỉnh hơn thạc sĩ (M.S) và bậc đại học (B.S) một chút, nhưng sự khác biệt này không khỏa lấp được lỗ lãi cho thu nhập đã mất trong khoảng thời gian làm Ph.D: trung bình từ 4 đến 5 năm. Tính tổng số USD kiếm được cho mỗi giờ học tập thì Ph.D là hạng bét (tính tương đối theo từng ngành học).

Về mặt tinh thần thì làm việc căng thẳng và cật lực trong một thời gian dài trong một môi trường cạnh tranh tương đối công bằng nhưng khắc nghiệt (!) hoàn toàn có thể ảnh hưởng xấu đến tâm lý cá nhân.

Điều này đặc biệt đúng với sinh viên du học: thiếu thốn các nhu cầu văn hóa và tinh thần cơ bản của quê hương, cơ hội tìm bạn tình hoặc bạn đời bị giảm thiểu (với phái nam), vân vân. Không phải hiếm mà người ta hay thấy bọn Ph.D hơi … gàn gàn. Công bằng mà nói, grad students do thiếu thốn văn hóa hay tìm cách nghiên cứu học hỏi thêm cái này cái khác ngoài ngành của mình (nhạc, thơ, lịch sử, chính trị, triết học, …), cho nên bọn gàn cũng có thể rất đa tài. Ở Mỹ thì địa vị xã hội của một Ph.D cũng chẳng hơn gì các nghành nghề khác là mấy.

Yếu tố tinh thần này rất quan trọng. Có không ít các grad students cần đến 8, 9 năm mới làm xong Ph.D. Nhiều năm trời “ở mãi kinh kỳ với bút nghiên”, ngoảnh đi ngoảnh lại chưa làm được gì ra hồn mà đã ngoài 30.

Khi thị trường việc cho Ph.D bị thuyên giảm thì người ta rơi vào cái vực muôn thuở: “về hay ở”, “về thì đâm đầu vào đâu?”. Nhiều năm làm việc với mức lương vừa đủ sống, các Ph.D mới ra trường hoàn toàn không dành giụm được gì, chưa nói đến nợ thẻ tín dụng kha khá. Dù các nhà chức trách đã có kế hoạch đãi ngộ nhân tài, chế độ này vẫn còn xa rời thực tế. Đầu tư tinh thần và thời gian của một Ph.D quá nhiều để có thể hài lòng với một công việc một vài triệu đồng một tháng. Họ sẽ phải tự hỏi: nếu xưa mình không đi học thì bây giờ cũng có thể đã phây phây lương vài triệu một tháng? Vậy cả chục năm trời bỏ ra công cốc à? Tôi đã nhập nhằng yếu tố tinh thần và kinh tế, nhưng đôi khi ta không tách rời chúng được.

Một khía cạnh khác của yếu tố tinh thần là sức ép của gia đình và người thân. “Người ta 4 năm đã xong Ph.D, vợ con nhà cửa đàng hoàng, bọn không Ph.D thì cũng giám đốc với trưởng phòng, xây nhà to cửa rộng cho bố cho mẹ; còn mày bây giờ ngoài 30 mà vẫn cứ lông bông tay trắng. Ông chẳng ra ông, thằng chẳng ra thằng”.

Về mặt triết học mà nói thì có đáng học Ph.D không? Câu hỏi này phụ thuộc rất nhiều vào bản thân sinh viên: đi học Ph.D để làm gì? Ta sẽ quay lại điểm này trong phần tới.

Bây giờ hãy giả dụ cô/anh Ph.D yêu dấu của ta tìm được một công việc ổn định ở nước ngoài, quyết định ở lại tích lũy tư bản giúp gia đình và sau này, cách này hay cách khác, về giúp quê hương. Có hai nhánh công việc chính cho một Ph.D mới ra trường: (a) làm việc ở một phòng nghiên cứu chuyên nghiệp nào đó, và (b) một chân giảng viên hoặc giáo sư ở một trường đại học. (Hai công việc này có thể chỉ có được sau một vài năm làm postdoc nữa. Ta hãy cứ gộp luôn postdoc vào tổng thời gian cho tiện, mặc dù lương postdoc khá hơn lương grad students.)

Lương bổng và giá trị của vị trí mới phụ thuộc hoàn toàn vào việc người ta đánh giá Ph.D như thế nào. Tôi sẽ bàn về việc này trước. Tôi cũng có ý nói lan man về đề tài “định trị Ph.D” sau khi đọc một bản tin ở VNExpress thấy trong nước người ta có nói về đánh giá Ph.D loại “giỏi, khá, trung bình” (sau một buổi họp nào đó). Phạm vi “định trị Ph.D” của tôi chủ yếu áp dụng cho các nghành kỹ thuật và khoa học tự nhiên như điện, điện tử, khoa học máy tính, toán, lý, …

Khi xưa thì giá trị của một Ph.D mới ra trường tùy thuộc vào giá trị công trình nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp. Sau khi ra trường thì doctor mới sẽ phát triển công trình này thành một vài bài báo đăng ở các tạp chí (journals) và hội nghị (conference) chuyên ngành. Các bài báo này đều được phê bình (reviewed) bởi các chuyên gia đã trưởng thành trong cùng ngành. Các bài báo không đóng góp gì nhiều hoặc vớ vẩn sẽ không được nhận đăng.

Hiện nay thì áp lực đăng báo (publication) của grad students khi còn đang học lớn hơn gấp bội. Một công việc kha khá ở một trường đại học hay phòng nghiên cứu danhtiếng thường nhận doctor mới với hơn chục bài báo. Trung bình một giáo sư trẻ mới ra trường trong ngành khoa học máy tính có đến khoảng 3-5 journal papers và cả chục conference papers.

Dĩ nhiên số lượng là thứ yếu, chất lượng mới quan trọng. Một công trình chất lượng cao sẽ được nhiều người biết đến rất sớm, và có thể nói không ngoa là nó quan trọng hơn cả trăm bài báo dạng …”bổ củi”. (“Bổ củi” là tính từ dân gian trong giới khoa học Việt Nam để chỉ các bài báo thường thường bậc trung, ai làm mãi rồi cũng xong.)

Đối với Ph.D ở Mỹ thì điểm học trung bình khi học Ph.D hầu như không mang ý nghĩa gì cả, ngoại trừ điểm tối thiểu để có thể được tiếp tục học, khoảng chừng 3.3 đến 3.5 trên 4.0, tùy theo trường. Số lượng và chất lượng các bài báo và các công trình nghiên cứu khác (một ứng dụng máy tính chẳng hạn) mới là tiêu chí đánh giá Ph.D. Không có chuyện người ta xếp loại Ph.D trung bình, yếu, giỏi, khá, vân vân. Lý do chính là: làm chuyện này hầu như là vô vọng. Ai có đủ thẩm quyền và thời gian để đánh giá? Kể cả giáo sư hướng dẫn chưa chắc đã biết hết về phân ngành mà sinh viên của mình làm, huống gì người ngoài. Có rất nhiều công trình đăng báo vài năm hoặc vài chục năm sau người ta mới thấy hết giá trị của nó. Cũng có cả tỉ công trình lúc mới đăng thì ai cũng xúm vào khen, nhưng vài năm sau thì lặng tăm.

Vì thế, tôi rất ngạc nhiên khi đọc bài báo của VNExpress có đề cập đến chuyện xếp loại Ph.D “khá, giỏi, trung bình”. Dĩ nhiên có khá nhiều các công trình mà người trong ngành đọc biết ngay là “dỏm” hay “xịn”. Nhưng vấn đề chính là không ai có thời gian xếp loại và định trị Ph.D.

Ở Mỹ, kinh tế thị trường tương đối công bằng. Ph.D giỏi sẽ được đồng nghiệp biết đến, tìm được việc ở các trường đại học và phòng nghiên cứu danh tiếng, vân vân. Cũng có thể có Ph.D giỏi không tìm được việc, hoặc Ph.D dỏm “lọt lưới” cung cầu. Các trường hợp này đều là ngoại lệ.

Lại nói thêm về đăng báo. Ta hãy nhớ mục tiêu (b) của Ph.D: đóng góp vào nền tảng kiến thức của nhân loại. Ph.D mà không có bài báo nào thì có 10 Ph.D cũng vô nghĩa, theo nghĩa tinh khiết nhất của chữ Ph.D. Chí ít, Ph.D phải chia xẻ các thu lượm và nghiên cứu của mình với đồng nghiệp ở một hội nghị hoặc một journal danh tiếng nào đó.

Các nhà xuất bản khoa học ở phương Tây cũng làm kinh tế. Có rất nhiều các hội nghị và journals hạng bét, bài vớ va vớ vẩn cũng đăng vào được. Chỉ có người trong ngành mới biết được hội nghị và journal nào có uy tín. Mà kể cả ở các nơi có uy tín này ta vẫn có thể tìm thấy các bài báo tồi.

Tóm lại, công việc “định trị Ph.D” hoàn toàn không đơn giản chút nào. Áp lực phải đăng báo này rất mạnh với các grad students. Ngược lại, cảm giác công trình của mình được đồng nghiệp công nhận và đánh giá cao cũng rất tuyệt vời.

Trong 5, 6 năm đầu sau khi ra trường, bất kể công việc là giáo sư hay nghiên cứu viên, áp lực viết báo và xin tiền làm nghiên cứu còn nặng hơn khi còn là sinh viên nữa. (Ở đây ta loại trừ các trường hợp người ta chỉ muốn có Ph.D để theo đuổi nghề giảng viên (lecturer) nào đó. Có lẽ phải khẳng định rằng mục tiêu này cũng cao quí như các mục tiêu “cạnh tranh khắc nghiệt” khác.)

Nếu Ph.D trẻ không khẳng định được mình trong 5, 6 năm đầu tiên này thì thường là sẽ không giữ được công việc của mình. Có lẽ bạn đọc cũng có thể tưởng tượng được áp lực này nặng như thế nào. Các bài báo đều là các công trình sáng tạo mà trước đó chưa có ai làm, chưa có ai nghĩ ra (chí ít là về nguyên tắc). Làm thế nào mà ai đó có thể đảm bảo một năng suất sáng tạo nhất định trong một thời gian dài như vậy? Có đáng bỏ ngần ấy thời gian và công sức cho một mục tiêu mà phần thưởng về cả kinh tế, tinh thần, triết học, sức khỏe đều khá mập mờ?

3. Tại sao lại học Ph.D? Có nên học Ph.D không?

Ta thử ghi ra đây một phần nhỏ các lý do:

a) Bạn bè đều đi nước ngoài học sau đại học.
b) Được xã hội nể trọng, oách ra phết.
c) Để học được kiến thức tiên tiến.
d) Không rõ lắm. Từ bé học đã giỏi, thì cứ tiếp tục học.
e) Có lẽ là con đường duy nhất để cải thiện đời sống gia đình và cá nhân.
f) Để mở tầm mắt ra những chân trời mới
g) Để sau này về làm giáo sư đại học
h) Để được làm nghiên cứu khoa học
i) Để thay đổi thế giới quan
……
z) Tất cả các lý do trên

Và z phẩy) Không làm Ph.D thì làm gì?

Đối với đa số grad students và sẽ-là-grad-students thì câu trả lời là một tập con khá lớn của vài tá câu trả lời mà ai cũng có thể nghĩ ra.

Ta hãy thử phân tích vài chọn lựa quan trọng nhất. “Làm Ph.D để mở mang kiến thức”. Đây là một mục tiêu rất quan trọng và mang tính cá nhân. Mark Twain từng nói: “đừng để trường lớp cản trở con đường giáo dục của bạn” (Don’t let school get in the way of your education). Trường lớp không phải là con đường duy nhất đến Rome của tri thức. Tuy vậy, trong hoàn cảnh lạc hậu của một nước thế giới thứ ba như Việt Nam ta, thì ra nước ngoài học thêm là con đường hữu lý.

Câu hỏi chính mà ta nên đặt ra là chỉ nên học M.S thôi, hay là học cả Ph.D. Chỉ về kiến thức mà nói, thì hai năm M.S cũng đủ cho một sinh viên thông minh sau đó tự học. Làm Ph.D cũng đa phần là tự học thôi.

“Làm Ph.D để có một cuộc sống tốt đẹp hơn, được xã hội nể trọng hơn; vì bạn bè ai cũng học Ph.D; có bằng Ph.D rất oách; từ bé đã học giỏi thì cứ tiếp tục học; vân vân”.

Một Ph.D thực thụ sẽ cho bạn biết rằng các lý do loại này đều là sai lầm to lớn! Tôi hoàn toàn không có ý định “giảng đạo” về chọn lựa cá nhân của ai. Tôi cũng không nói động cơ “hám bằng cấp” hay “oai oách” là sai trái. Đó là chọn lựa của từng cá nhân. Điểm tôi muốn nói là các động cơ loại này sẽ không thể giúp sinh viên hoàn thành tốt việc học Ph.D. Việc hay so sánh mình với bạn bè và người khác sẽ tạo nên áp lực tinh thần không thể chịu nổi trong khi học. Yêu thích “tiếng tăm” cũng vậy. “Học giỏi”, theo nghĩa ở ta, là thi thố điểm cao và “nhai lại” những gì được dạy, cho nên học giỏi chưa chắc đã liên quan mấy đến khả năng sáng tạo – khả năng sống còn của Ph.D.

Từ khóa dẫn đến thành công của sinh viên Ph.D phải là “đam mê”. Đam mê học hỏi và sáng tạo trong một phân ngành nhất định! Trừ những người thật sự xuất chúng thì đa số chúng ta sẽ không thể làm thành công Ph.D ở một ngành nào đó chỉ vì “xã hội cần nó”, hay “nó kiếm ra tiền”.

Nếu chỉ đam mê học hỏi không thôi thì cũng không đáng bỏ ra ngần ấy thời gian để làm Ph.D. Ta hoàn toàn có thể làm M.S rồi tự đọc, tự học thêm. Tất cả các thành quả như chức vụ, danh tiếng, oai oách, vân vân đều phải, và nên, là sản phẩm phụ của quá trình theo đuổi nỗi đam mê sáng tạo và mở mang tri thức này.

Đấy là nói về “động lực” học Ph.D. Thế còn “khả năng” thì sao? Quá trình học Ph.D lên xuống như hình sin. Sẽ có bao nhiêu trở ngại kinh tế, tinh thần phải vượt qua. Một trong những trở ngại lớn nhất là: sau một vài thất bại trong nghiên cứu, các sinh viên sẽ phải tự hỏi “ta có đủ khả năng làm Ph.D không nhỉ”

Đam mê và khả năng tạo thành cái vòng luẩn quẩn. Ta có xu hướng đam mê cái mà ta giỏi. Và ta thường xuất sắc ở công việc mà ta đam mê. Nhảy vào được cái vòng này là hành trình cá nhân. Có lẽ không ai trả lời thay ta được.

4. Phụ huynh: xin đừng gây áp lực tâm lý

Không ít các bậc phụ huynh mà tôi quan sát được đặt rất nhiều kỳ vọng vào con em mình về con đường hàn lâm. Họ đầu tư tiền bạc và thời gian, nuôi niềm hy vọng ngày nào đó sẽ có một “trạng nguyên” vinh quy bái tổ, nở mày nở mặt với hàng xóm láng giềng và bè bạn. Chuyện này có ở tất cả các học bậc, không riêng gì Ph.D. Tuy vậy, áp lực ở Ph.D lớn hơn khá nhiều vì grad students sẽ phải cạnh tranh với các sinh viên xuất sắc trên toàn thế giới.

Tôn trọng tri thức và học tập là điều tốt, và bằng cấp là một thước đo tương đối chính xác của tri thức. Nhưng nó không phải là thước đo duy nhất. Đó là chưa nói đến các câu hỏi như: đạt được tri thức loại gì thì mới được coi là “thành nhân”? Khó mà có thể đo lường xem một Ph.D và một anh đạp xích lô ai có “đóng góp” nhiều hơn cho xã hội, hay ai “hạnh phúc” hơn ai, theo bất kỳ nghĩa nào của các từ này. Có một ranh giới rất bé giữa “tôn trọng tri thức” và “hám bằng cấp”.

Hy vọng tôi đã hay sẽ thuyết phục được bạn rằng Ph.D cũng thượng vàng hạ cám. Một Ph.D về khoa học máy tính chẳng hạn, nếu làm nghiên cứu về một phân ngành chẳng ai quan tâm, đăng vài bài báo ở các chỗ linh tinh, thì sẽ từ từ xa rời dòng chảy chính của tri thức nhân loại. Có không ít Ph.D về khoa học máy tính lập trình không ra hồn, thua hẳn một kỹ sư thông thường, chính là vì lý do này.

Tôi lại triết lý 3-xu rồi. Điều tôi muốn nói là niềm “hy vọng” của các bậc phụ huynh tạo áp lực cực lớn ảnh hưởng đến kết quả học tập và nghiên cứu của sinh viên. Trong khi chọn lựa nghề nghiệp tương lai đáng lẽ nên là chọn lựa cá nhân!

5. Đạt được Ph.D chỉ là bước đầu

Còn khá nhiều điểm khác tôi muốn nói, nhưng bài đã dài. Lấy Ph.D chỉ là bước đầu rất nhỏ của một nghề nghiệp (career), cũng như bao nhiều nghề nghiệp khác. Có Ph.D có thể đồng nghĩa với những phần thưởng đáng quí về kinh tế và tinh thần về cả mặt xã hội lẫn cá nhân, nhưng bù lại cái giá phải trả về mọi mặt cũng cao không kém. “Nghề” Ph.D chẳng cao quí hơn nhiều nghề khác, mà thời gian và công sức bỏ ra lại nhiều hơn khá nhiều.

Cuộc sống và các chọn lựa cá nhân lẽ dĩ nhiên là phức tạp. Tôi hy vọng qua bài viết này các bạn trẻ có thể có một cái nhìn và suy nghĩ cẩn trọng hơn trước khi theo đuổi “con đường đau khổ” này. Ta không thể theo nó chỉ vì các ảo tưởng danh tiếng, bằng cấp và tiền bạc. Đầu tư như vậy không có lãi!

Một trong những điều kiện cần cho nghề này là khả năng theo đuổi nỗi đam mê nghiên cứu và sáng tạo trong một thời gian dài. Bằng Ph.D chỉ là một bước cỏn con trong hành trình chông gai nhưng thú vị này. Nó hoàn toàn không phải là con đường duy nhất.

Thứ bảy, 29 tháng 11, 2003

Ngo Quang Hung
Assistant Professor
Department of Computer Science and Engineering
State University of New York at Buffalo

Buffalo, NY 14260-2000, U.S.A

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ðịnhmạng của Quốcgia, Vănhóa hay Vănminh? Nguyễn Cường

Cáchđây khônglâu, trongkhi tìm tàiliệu thamkhảo nóivề Ðệnhị Thếchiến, ngườiviết có đọcđược một câuchuyện kểlại cuộc đốithoại khá thúvị, giữa một caitù Hạsĩ (Corporal) của Ðứcquốcxã và một linhmục tuyênúy tênlà Sampson, đạidiệncho tùbinh Mỹ trong trạigiam tù Stalag II. Thờiđiểm xảyra câuchuyện là vào những tuầnlễ cuối của cuộcchiến, khi caitù lẫn tùbinh đều biếtchắc là aithắng aibại rồi, nên nộidung có phần tựnhiên và thànhthật từ vị linhmục, khôngcòn khôngkhí trấnáp hay losợ nhiều như trước nữa. Câuchuyện đốithọai nhưsau:

Caitù: “Ông nghĩgì về bọn Bônsơvích? Làmsao Mỹ cóthể trởthành đồngminh của những ngườiNga vôthần đó được?”

Linhmục: “Theo tôi, cả hai chínhquyền giốngnhư là hai sinhvật được chora đời bởi cùng một giống! Nhưng hiệntại bâygiờ thì Phátxít nguyhiểm nhất, nên chúngtôi phải nhờ bấtcứ phươngtiện nào sẳncó để loạitrừ đi.”

Caitù (nổi nóng): “Ông điên rồi! Nếu còn không tin, thì để tôi chỉ cho Ông thấy tụiNga sống dơbẩn nhưthếnào”.

Nói xong, caitù dẫn vị Linhmục tới gần dãynhà dànhriêng cho tùbinh Nga, chỉ vào và nói:

“Ðó, Ông coi, họ sống dơ như heo!”.

Thật vậy, đólà dãynhà dơbẩnnhất, mùi hôihám xôngra cùngkhắpcả trạigiam.

Linhmục gậtđầu đồngý, nói:” Nhưng làmsao họ cóthể giữcho sạchsẽ được trong hoàncảnh này?”

Caitù: ” Ông chưa hiểu điều tôi muốn nói! Những dãynhà của tùbinh nước khác giữ sạch được. Cónhững tùbinh Nga là Giáosư Ðạihọc. Tôi đã nóichuyện với họ. Ðólà những người tríthức tiêubiểu nhất ở Nga, mà họ không thể nóira được sựkhácbiệt giữa Vănhóa và Vănminh!”.

Linhmục: ” Ô! chẳngqua chỉ là vấnđề xửdụng ngônngữ “.

Caitù: ” Không! Không! Ông vẫn chưa hiểu điều tôi muốn nói! Họ thựcsự khônghiểuđược sựkhácbiệt! Này, Ông có biết là khi có một người chết, họ để đó đến mấy ngày không?”

Linhmục: ” Ðể họ lảnh khẩuphần ăn của người đó!”

Trongsố 21000 tùbinh Nga vào trại, chỉ còn khoảng 4000. Ðasố chết vì đói.

Caitù làmlơ nóitiếp: ” Bácsĩ Hawes thuộc nhà giam của Ông, đã khámnghiệm và khẳngđịnh là có vấnđề ănthịt người chết!”

Linhmục imlặng để chấmdứt cuộcđốithọai, vì chính bảnthân Ông, sau hơn một tháng bị nhịnđói vì thiếu ăn, ông đã hiểurõđược những tùbinh Nga khôngcòn cáchgì kháchơn trong hoàncảnh như trên, nếu khôngmuốn bị chếtđói…!

Tạm bỏqua những câutrảlời khônkhéo của vị Linhmục, cũng như thànhkiến của Caitù bị thấmnhuần bởi chủnghĩa Quốcxã cựcđoan, có một điểm làm cho ngườiviết ngạcnhiên thậtsự về một nhậnxét kháchínhxác của ngườilính Ðức chỉ với cấpbậc Hạsĩ, khi đềcập tới vấnđề Vănminh (Civilization) và Vănhóa (Culture). Chính nhậnxét này đã giúpcho ngườiviết hiểurõ một thắcmắc đãcó từtrước: Tạisao đasố các nước phươngTây thường nói về Vănminh, trong khi ngượclại ở phương Ðông lại thường chútrọng hay nói nhiều về Vănhóa? Ðiểnhình cho dễ hiểu, và cũng là chủđề chính của bàiviết này, nếu làm một consố thốngkê tấtcả các sách chữViệt đã xuấtbản, thì đasố đều viết hay nói về Vănhóa. Một sựkiện rõrệt nữa là chúngta thường nghenói khôngbiết baonhiêulần: ” Ðể bảotồn và pháthuy vănhóa … Ðậmđà bảnsắc vănhóa dântộc…” v.v. và v.v. (cólẽ cũngnên kểluôn các nước phươngÐông, nhất là Áchâu, khôngriênggì Việtnam). Trongkhiđó, thử đivào các thưviện hay các hiệusách lớn ở Âuchâu hay Mỹ chẳnghạn, và nếu sosánh tổngsố đầusách có chữ “Civilization” với “Culture”, thì tỷlệ phải là từ 5 đến 10 lần nhiềuhơn, nghĩalà sách nóivề Vănminh chiếm đạiđasố.

Nộidung của bàiviết này sẽ giớithiệu với quý độcgiả một lýthuyết về “Ðịnhmạng” của quốcgia, đồngthời cũng tìmhiểu sựkhácbiệt giữa hai từ Vănhóa và Vănminh. Phần cuối của bàiviết sẽ thảoluận đến mộtvài “ưutư ” hay “bứcxúc” về Vănhóa Việt.

Vănhóa hay Vănminh?

Trong việc tìmhiểu hay địnhnghĩa cho rỏràng hai chủđề trên, theo nhậnxét của người viết, ngaycả các “Nhàlàmvănhóa” Việtnam cũngcó nhiều tưtưởng khácnhau. Mộtsố vị không biết chịu ảnhhưởng của trườngphái nào, chorằng Vănhóa gồmcó hai loại “nổi” và “chìm”. Vănhóa “nổi” là tấtcả những gì xuấthiện rangoài rộngrãi và phổbiến, nên có một danhtừ baoquát hơn, còn gọilà Vănminh. Nhưvậy theo quívị trên, Vănminh có nghĩalà Vănhóa “nổi”, hay chínhxáchơn, Vănminh là một thànhphần của Vănhóa(!?).

Thậtra ởđây khôngcó chuyện đúng hay sai, mà chỉlà sự “thôngdịch” ýnghĩa của hai từ có chínhxác và đầyđủ hay không? Ngườiviết dùng từ thôngdịch, vì hầuhết các nhàvănhóa Áchâu, đều mặcnhiên đồngý nguồngốc ýtưởng của hai danhtừ Vănhóa và Vănminh, xuấtphát từ các nước phươngTây. Trướcđó, điểnhình là ở Trungquốc hay các nước lánggiềng chịu ảnhhưởng, chỉ thấy xuấthiện các từ như là: phongtrào, phongtục, phonghoá, vănchương, trítri, khaitrí, chínhkhí, tháibình thịnhtrị (vănminh?).

Về địnhnghĩa hay ýnghĩa của hai danhtừ nóitrên, dùcó khácnhau ở mộtvài chitiết, đasố các họcgỉả phươngÐông đềucó cáinhìn gần giốngnhau về từ Vănhóa. Nhưng vấnnạn chính đưara đâylà họ thường chútrọng và nói nhiều về Vănhóa, trongkhi chỉ nhắcsơ qua hay bỏquên luôn Vănminh. Vậythì cógì khácbiệt hay giống nhau giữa hai từ Vănminh và Vănhóa quá quenthuộc nói trên? Và nếunhư có khácnhau, thì từ nào sẽ đóngvaitrò quantrọng thíchhợp hơn trongkhi xửdụng, dựavào khônggian và thờigian của sựviệc?

Ðể lạmbàn về các vấnnạn trên, trướchết, xin trởlại với địnhnghĩa gốc của hai từ trên. Theo từđiển “The American Heritage Dictionary,” Second College Edition, nguyênvăn như sau:

Culture: The totality of socially transmitted behavior patterns, arts, beliefs, institutions, and all other products of human work and thought characteristic of a community or population.”

Tạmdịch sátnghĩa, “Vănhóa là: Toànthể những gì xãhội truyềnlại trong lềlối sinhhọat, nghệthuật, tínngưỡng, tổchức, và tấtcả những sảnphẩm nào khác, bằng hànhđộng hay tưtưởng, mang sắcthái chung của một cộngđồng hay tậpthể.”

Dựavào địnhnghĩa trên thì đasố, nếu khôngmuốnnóilà hầuhết, các nhàlàmvănhóa phươngÐông đều đồngý và nói tươngtự. Vậy tạmthời cho là khôngcó vấnđề “hiểunhầm” từ Vănhóa hay “bấtđồng ngônngữ” ởđây. Bâygiờ xin tiếpdẫn qua từ Vănminh.

“Civilization: An advanced stage of development in the arts and sciences accompanied by corresponding social, political, and cultural complexity”.

Tạmdịch, “Vănminh là: Thờikỳ tiếnbộ của những pháttriển về Nghệthuật và Khoahọc, được kèmtheo bởi những đápứng đadạng thuộcvề xãhội, chínhtrị, và vănhóa.”

Nhưvậy, theo cáinhìn của phương ây, trong Vănminh có chứa Vănhóa, hay Vănhóa là một kếtqủa của Vănminh. Nóicáchkhác cho đơngỉản và dễhiểu, thì phươngTây chorằng: Vănminh là “Trítuệ” hay Trithức nóichung của một tậpthể, và vănhóa là “sảnphẩm” có được từ nền vănminh đó dưới nhiều hìnhthức khácnhau như ngônngữ, tôngíao, âmnhạc, phongtục, cách ănmặc, cưxử vớinhau, v.v. và v.v…

Dođó, nếu chấpnhận phươngTây là nguồngốc xuấtphát của hai từ nóitrên, thì liệu chúngta có cầnphải hiểu theo địnhnghĩa của họ haykhông? Ðồngthời, cũng có một câuhỏi khác: Phảichăng phươngÐông đã hiểunhầm phươngTây về từ Vănminh? Câutrảlời của ngườiviết sẽ là “Không”, phươngÐông khônghề hiểunhầm, mà tráilại hiểu rấtrõ. Tuynhiên, có hai lýdo chính để phươngÐông chỉ chuyêndùng hay nói nhiều về vănhóa. Thứnhất do khiêmnhường, một đặctính Vănhóa khôngmuốn trựctiếp nói thẳng vấnđề, và phải dùng hìnhthức giántiếp dễdàng được chấpnhận hơn. Lýdo thứhai là tâmlý tựáí chủngtộc, vì nóiđến Vănminh là nóiđến những thànhtích sosánh tiếnbộ nhất về mọimặt. Chođến bâygiờ, nhiều họcgiả phươngÐông vẫn còn nghĩrằng, sởdĩ Tâyphương giàumạnhhơn là chỉnhờ cóđược ưuthế về mặt khoahọc và kỹthuật, và nếu chỉcó nhưvậy thì chưachắc là Vănminh hơn (!?). Tâmlý của phươngÐông chỉ chútrọng nóivề Vănhóa cóthể được giảithích nhưsau: “Ðây này, xin trìnhbày là chúngtôi có cái A, cái B,….. vật Y, chuyện Z, v.v, tùytheo trìnhđộ của quívị để xemxét và phêbình tốt hay xấu, riêng chúngtôi thì xin miễn đưara kếtluận!”.

Một hìnhảnh thựctế và dễhiểu hơn, Vănminh biểutượng cho trítuệ qua hìnhảnh nãobộ của conngười, giốngnhư những chùmrễ và gốccây ở dưới đất, khôngthấy hay ít xuấthiện, thì làmsao nóira nhiều được để thưởngthức. Trongkhi Vănhóa giốngnhư thâncây có nhiều nhánh, với vôsố cànhlá và các bônghoa tươiđẹp phôtrương ra, tiêubiểu cho những cáihay cáiđẹp trong nhiều lãnhvực Vănhóa. Phảichăng phươngÐông cũng cólý, khi thích nóinhiều về Vănhóa (!?)

Ðúnghơn, khi tìmhiểu về Vănminh của một xãhội, là phải nói tấtcả những gì cóđược, kểcả Vănhóa trong xãhội đó. Nhưng thường là côngviệc lậplại nhàmchán và mấtthìgiờ, nên đasố chỉ muốn nói những gì đặcbiệt nổibật, hay xuấtsắcnhất sovới các xãhội khác. Chẳnghạn, khi nóiđến Vănminh Trunghoa cáchđây gần ngàn năm, ngườita thường ưutiên nói nhiều về những phátminh kỷthuật như labàn, giấyviết, máy in, bàntínhtay, thuốcsúng, vì đólà những tiếnbộnhất vào thờiđiểm mà các nước khác chưa biết hay khôngcó. Dođó, đã tạocho mộtsố người có ấntượng thiếusót về ýnghĩa rộngrãi của từ Vănminh. Một bứctranh đẹp, một bản nhạc hay, một tácphẩm Vănchương nổitiếng, sẽ khôngthể rađời được, nếu tácgiả không xửdụng đến tàinăng và trítuệ của mình.

Dùsao, có hai điểm khácbiệt quantrọng cần chúý là yếutố khônggian và thờigian. Vănhóa thường được dùngcho những tậpthể nhỏ, trong khi Vănminh dùng trong những phạmvi rộnglớn hơnnhiều. Chẳnghạn, chúngta thường nghenói: Vănminh của một chủngtộc hay quốcgia (European Civilization, Greek Civilization), trongkhi chỉ nghenói Vănhóa của côngty (Corporate Culture), hay Vănhóa của bộlạc (Tribal Culture). Tươngtự, ngườita thườngnói là “Vănminh của nhânlọai” mà ítkhi hay khôngnói “Vănhóa của nhânlọai”. Trên là nóivề yếutố khônggian.

Về yếutố thờigian, khi nhắcđến nghệthuật tẩmliệm hay ướpxác cáchđây hơn 4 ngàn năm, ngườita thườngdùng từ Vănminh Aicập (hay Phichâu), mà khôngdùng từ Vănhóa. Nhưng khi nóiđến các nghilễ về tangchế hay hônphối, hoặc các bộmôn nghệthuật đang thịnhhành như âmnhạc, hộihọa, thờitrang và cách ănmặc, thì ngườita lại dùng từ Vănhóa, vì đólà chuyện đang xảyra trong hiệntại. Thídụ, bâygiờ ở Việnam khôngcòn ai nhuộm răng đen, nên tục nhuộm răng đen khôngcòn đượccoi là Vănhóa Việt nữa, dù phongtục đó chỉ mới bị đàothải chưaquá một thếkỷ. Nó đã trởthành Lịchsử (của vănhóa). Trongkhi tụclệ dùng trầucau để ăn hay dành cho đámcưới vẫn còn là hìnhảnh Vănhóa Việt, dù đã kéodài trên cả ngànnăm. Theo hiểubiết thôngthường, khi nóiđến Vănhóa là ámchỉ tấtcả những sinhhọat chung về vậtchất hay tinhthần của một cộngđồng hay tậpthể conngười trong thờiđiểm hiệntại. Nhưng khi nóiđến Vănminh, ngườita thường muốn nhấnmạnh đến những thànhquả tiếnbộ nhất trong hiệntại lẫn quákhứ, và dĩnhiên, sẽ là cáithướcđo của Trítuệ.

Nhânđây, ngườiviết cũng xin đưara mộtvài ýkiến vềviệc sửdụng từ Vănhóa.

* Nước Việtnam có 4 ngàn năm Vănhóa. Ðạikhái, đâylà một cáchnói để khơi dậy niềmtựhào của dântộc, và dùlà một thiệnchí, thiểnnghĩ khôngđược “Ðúng” lắm! Thửhỏi là trước 4000 năm đó, tổtiên của “những ngườidânViệt saunày” đãcó Vănhóa chưa? Hay họ đã khôngcó chút Vănhóa nàohết? Một thídụ, dámchắc trongsố các vị thường nói câutrên, đasố cũng đã từng cho rằng Vănhóa của nước Mỹ chỉ mới có hơn hai trăm năm(?). Câuhỏi tươngtự là: Những người đầutiên đến nước Mỹ trên chiếc tầu Mayflower đã có vănhóa chưa? Thựctế hơn, quívị có dám nói là Vănhóa của Người Mỹ gốcViệt chỉ mớicó 26 năm!? Nếu cảthếgiới này đều nói nhưtrên, thì cólẽ các dântộc ở Phichâu sẽ phải tựhào để nóirằng họ đã có hơn 10 ngàn năm Vănhóa là tốithiểu! Vậy, có điềugì saitrái hay không hợplý khi nói “Nướcta có vài ngànnăm lịchsử”?

* Một số nhàlàmvănhóa Việt vẫn thường đưara một câunói tươngtự như là một chânlý của vănhóa, mà nếukhônglầm, thì có âmhưởng gầngiống như “Truyện Kiều còn…. thì nước Việt còn”, đạikhái nhưsau: “Vănhóa là cái bảnghiệu nóilên sựthịnhsuy của một dântộc. Bảnghiệu chưa mất thì dântộc còn. Và dântộc còn thì quốcgia còn”. Thúthật, ngườiviết khôngbiết nóisao để thuyếtphục quívị đó, hơnlà đưara mộtvài dữkiện cụthể. Thídụ, Vănhóa của giốngdân dađỏ còn đó qua các sinhhọat hay ngônngữ, dântộc dađỏ cũng còn đó, mà quốcgia thì mấttiêu! Gầnđây nhấtlà dân Tâytạng, dân Kusk ở Iraq, dân Chechen ở Nga hay dân Timor ở Namdương. Một kinhnghiệm thựctế khác, ngườiviết cólần thườnghay đi ăn ở một tiệm ViệtNam nổitiếng từlúc mới khaitrương. Vàinămsau, tìnhcờ gặp lại ôngchủtiệm nóichuyện, mới biết ông đã sangtiệm đó cho ngườikhác, nhưng vì sợ mấtkhách, nên họ đã giữ lại nguyên bảng tênhiệu cùng toànbộ ban nhânviên quảntrị! Nếu coi quốcgia như một “cửatiệm” thunhỏlại, thì đó chínhlà mối nguycơ của chủnghĩa thựcdânmới khátinhvi. Chủquyền quốcgia bị khốngchế hay sangnhượng cho ngoạinhân, nhưng nhândân thì lại yêntrí là họ đang phụcvụ cho tổquốc!

* Khôngthể có cáigọilà “Ðavănhóa” được! Vănhóa là một danhtừ trừutượng chung, khôngcó sốnhiều, cũngnhư từ Danhdự. Cóthể nói Danhdự của một cánhân, nhưng khi có nhiều cánhân hợplại thì gọilà Danhdự của một tậpthể, khôngthể nói tậpthể đó có “ÐaDanhdự”! Thídụ, khôngthể nói nướcMỹ là quốcgia “Ðavănhóa”, mà phải nóilà nướcMỹ có một nềnVănhóa đachủng hay tạpchủng (melting pot), trongđó cónhiều sắcthái Vănhóa khácnhau của hơn trăm chủngtộc. Nếu hiểu “ÐaVănhóa” như quívị đãnói ởtrên, thì có quốcgia nào mà khônglà “ÐaVănhóa”? Ðiểnhình, Vănhóa Việt là tổnghợp cuả nhiều Vănhóa sắctộc như : Trunghoa, Chàm , Cambốt, Mường v.v.

Vòng Ðịnhmạng

Ngườiviết đã trìnhbày tổngquát về địnhnghĩa và sự liênhệ giữa hai từ Vănminh và Vănhóa. Trong tiểumục này, xin bàn tiếpđến vaitrò Giáodục và mối tươngquan của cả ba từ. Trướckhi nóiđến Giáodục, tưởng cũng nên nhắctrởlại một đặctính chung của Vănminh và Vănhóa. Ðólà tính thayđổi khôngngừng theo thờigian mà các “Nhàlàmvănhóa” phươngÐông gọi là nềnvănhóa “Ðộng”( ngượcvớilại Vănhóa “Tỉnh”, mà thựcra trong vũtrụ này, chẳngcógì là “Tỉnh” cả theo lýthuyết khoahọc lẫn triếthọc!). Ðộnglực cho sựthayđổi đó chínhlà Giáodục.

Giáodục theo nghĩa nguyênthuỷ từ tiếngHán (Nôm) gồmcó hai phần đầyđủ, về hướngdẫn tinhthần là Giáohuấn, và nuôidưỡng thểxác là Dưỡngdục. Từ Giáodục này có trước khálâurồi, do nguồngốc từ tiếngHán được diễnâm ra tiếngViệt, khôngphải mượn ýnghĩa từ phươngTây. Mặcdù theo địnhnghiã trên, chúngta có một cáinhìn hay địnhnghĩa khá đầyđủ về Giáodục, nhưng khi thêmvào cả việc nuôidưỡng thểxác, thì quả thật ngườiViệt (hay Áchâu) đã hạnchế Giáodục rấtnhiều. Theo đúng ýnghĩa, côngviệc “Dưỡngdục” chỉ dànhcho thiếuniên còn trong tuổi đihọc màthôi, vì chỉcó những đứatrẻ sống với Chamẹ, hay còn nhỏ tuổi mới cần được nuôidưỡng về thểxác(?). Trongkhi phươngTây chỉ nóiđến Giáohuấn (education) về kiếnthức hay tinhthần, nhưng lại ámchỉ cho tấtcả mọi thànhphần không phânbiệt già hay trẻ. Ngườiviết tạmdùng từ Giáodục theo ngônngữ tiếngViệt trong bài này, nhưng xin hiểu với ýnghĩa rộngrãi hơn cho mọi lứatuổi.

Nhiệmvụ chínhthống của “Nhàgiáo” hay ưutiên hàngđầu của Giáodục, chínhlà khaitrí, hay nóirõhơnlà mởmang trítuệ cho người được giáodục, cònlại tấtcả các vấnđề khác chỉlà thứyếu. Khôngcó trítuệ hay thôngminh thì làm bấtcứ chuyệngì cũng gặp khókhăn, dùchỉ muốn làm “ngườihữuích” cho xãhội. Xinmiễn dàidòng giảithích thêm về địnhnghiã, vì ngay trong Giáodục thời Nhohọc cũngcó nói “Nhân bất học, bất tri lý” rồi! Nếucần hơn nữa, thì lịchsử cũng đã minhchứng chothấy, những người yêunước mà thiếu sángsuốt thì chỉcó làm hạinước hơn là cứunước! Từ địnhnghĩa đã trìnhbày ởtrên, chúngta cóthể thấyrõ mốiliênhệ thứhai giữa Giáodục và Vănminh. Giáodục là để khaiphóng trítuệ và chínhlà độnglực cho sựVănminh tiếnbộ của xãhội. Nóicáchkhác, Vănminh là một “sảnphẩm” của Giáodục.

Saucùng, vấnđề cònlại là muốn có một nềngiáodục tốtđẹp, hay ítra là cóhiệu quả, thì phải cầnđến những điềukiện gì? Thắcmắc này, tuy nghequa thấy rắcrối nhưng lại không khó trảlời. Tổngquát, các câutrảlời sẽ là: Cầncó một chươngtrình Giáodục tiêntiến và hữuhiệu…, một nền kinhtế thịnhvượng để quốcgia cóthể xâydựng trường học và huấnluyện giáo chức…, đasố nhândân có côngviệclàm, không bị đóiăn thiếu mặc, v.v. Tómlại cóthể quyvề trong vài lãnhvực chính: Kinhtế, Chínhtrị, và Xãhội, mà tấtcả cácthứ nóitrên là gì, nếu khôngphải là một trong những phầntử kếthợp dưới cái têngọi chung là Vănhóa! Nhưvậy ởđây chứngminh chothấy mốiliênhệ thứba: Giáodục lạilà một sảnphẩm của Vănhóa!

Nốilại vớinhau ba mốiliênhệ trên sẽ có: Vănminh chora Vănhóa, Vănhóa chora Giáodục, và cuốicùng thì Giáodục lại chora Vănminh! Ðếnđây, đọcgỉ vậy? ” (Theo đồnggiao của các thiếunhi thường hát: ” Kỳnhông là ông Kỳđà, Kỳđà là cha Cắcké, Cắcké là mẹ Kỳnhông.”) Xinthưa là không, nếu viếtlại ba mốiliênhệ nhưsau: ” Vănminh chora Vănhóa, Vănhóa hìnhthành nềgiáodục, và Giáodục làmthayđổi Vănminh”, thì Vănminh ở câu cuốicùng chắcchắn sẽ không giốngnhư Vănminh ở câu đầu, màlà một Vănminh tiếnbộ hơn Vănminh cótrước! Cụthể hơn, Vănminh hay trítuệ của một dântộc sẽ giúpcho dântộc đó cóđược một xãhội lànhmạnh, rồi từđó, sẽlà cơsở chính để hìnhthànhđược một nềnGiáodục tốtđẹp, trongviệc đàotạora những thếhệ nhântài của đấtnước, giúpcho quốcgia ngàycàng thịnhvượng, vănminh tiếnbộhơn.

(Hình 1)

Từđó, mốiliênhệ giữa ba “hệthống” nóitrên sẽ phải theo dạng chukỳ của “sự trởlại”, hay gọi đơngiản là vòngtròn, nhưng khôngphải là một vòng “Kín” hay “trởlại nhưcũ”, mà là vòng “Hở”. Ðúng hơn là có dạng hình “trôn ốc” (Hình 3).

Nhưng tạisao lại phảicó “sự trởlại”? Ngườiviết sẽ không đisâu vào lýluận triếthọc vì khôngphải là chủý của bàiviết này, nên chỉ nêura một vài thídụ cụthể để giảithích nhưsau:

Một “sựrađi” nếu khôngcó “trởlại” hay trởvề (dùlà tintức) thì coinhư chuyếnđi thấtbại hay vôýnghĩa đốivới những người còn ởlại! Chúngta đi làmviệc thì cuốicùng phải được “trảlại” cônglao bằng tiềnlương. Nếu khôngcó “trảlại cáigì” để đềnbù thì chẳngai dạigì đilàm khôngcông, hoặclà côngty đã sậptiệm! Sauhết, mọi hànhtinh trong vũtrụ đều dichuyển theo một chukỳ với “sự trởlại” nàođó. Nếukhông, thì chắcchắn là đã khôngcó Tháidươnghệï và Conngười.

Cóthể nói mà khôngsợ sailầm, họcthuyết về “sựtrởlại” hay “chukỳ”, vừalà một chânlý mà cũnglà nềntảng của triếthọc Ðôngphương nóichung. Ba hệthống triếthọc chính Tamgiáo của Áchâu đều dựavào lýthuyết trên. Phậtgiáo thì có thuyếtluânhồi, Nhogíao thì có KinhDịch với thuyết ÂmDương, Lãogiáo thì dùng thuyết VôVi và chủtrương trởvề với “Ðạo” CànKhôn, cùng có một ýnghĩa với ÂmDương.

Trongkhiđó, các lýthuyết về triếthọc Tâyphương thường chỉ rựcrở một thờigian, rồi baogiờ cũng đưa đến bếtắc hoặc bị giớihạn trong một khônggian nhỏhẹp nàođó, vì thiếu cơsở của “sựtrởlại”. Thídụ như thuyết Hiệnsinh hay chủthuyết Cộngsản chẳnghạn. Nếu Karl Max đã nghĩ xathêm mộtchút, saukhi tiêudiệt xong giaicấp tưbản chủnhân bốclột hiệntại, để xâydựng cho xãhội mới một “sựtrởlại” của giaicấp tưbản tốtđẹp hay lươngthiệnhơn trong tươnglai, thayvì là “sanbằng” luôn giaicấp, thì ngàynay biếtđâu ông đã thành một “ÐấngCứutinh” của cả nhânlọai, và cuốn TưbảnLuận đã trởthành một loại KinhThánh của thờiđại!

Dù hệthống tưtưởng triếthọc khôngđược hoànhảo, nhưng tạisao chođến bâygiờ Vănminh của phươngTây vẫncòn ưuthế hơn phươngÐông? Câu trảlời giảndị là vì nhờ “Trítuệ” của họ tiếnmạnh tiến mauhơn, giúpcho họ thấyđược chỗbếtắc, nhấtlà có canđảm dứtkhóat loạibỏ cái cũ để thayvào cáimới. Trong cái “dở” lại có cái “hay” là vậy.

Cáivòng của “sựtrởlại” nốiliền giữa ba hệthống Vănminh, Vănhóa, và Giáodục còn cóthể gọi mộtcách chínhxáchơn là “VòngÐịnhmạng”. Ðơngiản là “Ðịnhmạng” của một xãhội hay “Vậnmệnh” của dântộc. Tạisao gọilà Ðịnhmạng? Câu trảlời rấtlà dễhiểu, giốngnhư đồngxu chỉ có haimặt xấp hoặc ngữa, Ðịnhmạng của một quốcgia chỉcó hai conđường, một là đilên và tiếnbộ, hai là đixuống và chậmtiến. Khôngcógì là mơhồ huyềnbí hay khóhiểu cả!

Vòng Cáchmạng

Theođúng triếtthuyết Ðôngphương, hểcó vòngđi thuận thì phảicó vòng ngượclại. Vòngđi ngượclại (Hình 2) còn gọilà Vòng “Cáchmạng”. Tạisao gọilà Cáchmạng? Thídụ sauđây sẽ trảlời. Một cáixe dù chạy tốt cáchmấy, cũng đến một thờihạn nàođó là hệthống dầumở sẽ bị khôcạn dần và dơbẩn, do các chất cặnbả thảira theo thờigian. Ðể duytrì bộmáy xe tốtđẹp lâudài, chúngta phải thay dầumáy và các bộphận quanhệ. Những độngtác tronglúc thay dầunhớt cho xe baogiờ cũng đingượclại! Chẳnghạn khi mở conốc, phải vặn ngượclại chiều lúc conốc được rápvào, và ngaycả hànhđộng tháodầu ra cũng ngượclại lúcđầu khi đổdầu vô, v.v. và v.v… Bộmáy vậnhành quốcgia hay xãhội cũng giốngnhư thídụ trên, một nềnVănminh hay Vănhóa dù tốtđẹp đếnđâu thì cũngcólúc bị trìtrệ hay hếtthời, do những tíchlũy lâungày thànhphần cặnbả (tiếng Anh gọi là Corruption) của xãhội gâyra. Ðólà lúc cầnthiết phải làm một sựthayđổi để điềuchỉnh lại, nên gọi là cáchmạng. (Cũng cần nói rõ, Cáchmạng ở đây hoàntòan dựatrên lýthuyết, nhắmvào mụcđích hay cứucánh tốt, không nóiđến những mụctiêu xấu, lợidụng Cáchmạng vì quyềnlợi riêngtư).

Khácvới vòngÐịnhmạng bắtđầu bằng Vănminh hay Trítuệ của tậpthể, vòngCáchmạng thường bắtđầu bằng Vănhóa. Lýdo là vì Vănminh hay trítuệ có vấnđề, nên mớicó sựtrìtrệ, nếukhông thì cầngì đến thayđổi hay Cáchmạng! Thêmvào, từ Vănhóa được dùng chung cho nhiều lãnhvực như Kinhtế, Xãhội, Vănchương, Chínhtrị, Tôngiáo v.v., nên Cáchmạng nào cũng cóthể gọilà Vănhóa được! Thídụ cuộc Cáchmạng gọilà CáchmạngVănhóa ở Trungquốc vào giữa thậpniên 60, mà thựcchất là Chínhtrị, để Mao TrạchÐông có cơhội loạitrừ dần những đảngviên cấptiến nguyhiểm, hay còn chịu nhiều ảnhhưởng của Nga.

Ðiều cần lưuý ởđây là sựkhácbiệt quantrọng của hai vòng. VòngÐịnhmạng cũng đưađến sựthayđổi, nhưng bắtđầu do Vănminh hay trìnhđộ hiểubiết chung của tậpthể, nên làm “thuận” lòng nhiều người. Ngoàira, do bởi ýdân là ýtrời, nên gọilà Ðịnhmạng, thườnglà suônsẻ tốtđẹp mọichuyện, thậmchí ngườidân còn khôngthấy có sựthayđổi nữa! Những nước tiếnbộ, chủđộng Vănminh là chính và trênhết, thường đi theo vòngthuận này nhiềuhơn. Trongkhi ngượclại ở các quốcgia chậmtiến, vì trìnhđộ dântrí cònthấp nên nếu muốn thayđổi, thì chỉ cóthể bắtđầu bằng Vănhóa, trướckhi có sựhiểubiết và đồngthuận của tậpthể.

Mụctiêu chính của vòngCáchmạng thườnglà thayđổi Vănhóa trước, và tácđộng của sựthayđổi sẽ ảnhhưởng mạnh đến trítuệ hay suynghĩ của tậpthể. Bướckếtiếp sẽ dẫnđến hai trườnghợp: Hoặc trítuệ của đasố sẽ chấpnhận thayđổi liền, đi trởlại thuận theo vòngÐịnhmạng, hoặc sẽ tiếptục chốnglại. Trong trườnghợp hai, thì các quyềnlực chủtrương Cáchmạng phải đưara những biệnpháp hay chánhsách “Giáodục” mới, nhằm thayđổi môitrường sống hay Vănhóa của tậpthể chốngđối. Vòng đi ngược sẽ tiếptục chođếnkhinào cóđược đasố chấpnhận hay phụctùng nghetheo.

Muốn thayđổi mà có nhiều người khônghiểu hay khôngđồngý, thì chỉcòn có cách dùng sứcmạnh hay quyềnlực để trấnáp nếu muốn thànhcông, nên gọilà vòng Cáchmạng! Dĩnhiên, Cáchmạng nào cũngcó cáigiá mà tậpthể phảitrả, bằng khổđau, bằng xươngmáu, hay ngaycả sinhmạng. Cáigiá caonhất phảitrả là làmchậmlại bướctiến của xãhội, hay nóichung là bị chậmtiến (Theo lýthuyết của vòngtrônốc, nếu đi theo chiều ngược thì vòng sẽ bị nhỏ dần). Nhưng còn cách nào kháchơn được(?), thà lùi vài bước để tiếnlên trởlại, hơnlà bị lọtvào quỹđạo của vòngn kín, ùlì và bếtắc, không tiếnđược chútnào! Nguycơ của các dântộc bị “mấtnước” cũng do từđó màra.

Những Cạmbẫy về Vănhóa và Giáodục

Trong tiểumục này ngườiviết sẽ trìnhbày mộtvài vấnđề bứcxúc về chươngtrình Giáodục Vănhóa phổthông, mà biếtbao thếhệ condân nướcViệt đãđược dạydổ từ lúc tuổi cònnhỏ khi đihọc. Ở cái tuổi thiếuniên ăn chưa no, lo chưa tới, thầycô, sáchvở gần giốngnhưlà mẫumực của thầntượng, nghenói sao thì tinvậy, dạycho điềugì thì cũng nhậptâm họcthuộclòng, tríóc đâucó đủ khảnăng đểmà thắcmắc. Nhưng khi đã bị nhậptâm rồi, thì cứtheo thờigian mà ômlấy những điều đã họcđược, coi nhưlà chânlý suốt cả cuộcđời, và mỗikhi cầndùng, thì lại moira để tiếptục truyềndạy lại cho các thếhệ đànem, concháu!

Bâygiờ có cơhội để tìmhiểu và suynghỉlại, thì khôngkhỏi làmcho ngườiviết giậtmình, khi nhớlại câunói làm nhà Vănhóa mà sailầm, còn nguyhiểm hơn là làm tướngquân hay làm thầythuốc! Rảirác đâuđó khôngít, trong các câuchuyện về huyềnsử hay chínhsử (?), những câu cadao tụcngữ nằm trong chươngtrình dạy ở các cấp I và II phổthông, đều ngầmchứa những tưtưởng mà ngườiviết cho là có độcchất Vănhóa, thậmchí trong vài trườnghợp còn cóthể được gọilà phản Giáodục.

Kháchquan mà nói, một nềnvănhóa phổthông hay thựctế baogiờ cũng có haimặt tốt và xấu của nó. Ðólà lẽthườngtình tựnhiên của bấtcứ Vănhóa nào. Nhưng khi có ýđịnh mang Vănhóa vào trong Giáodục thì lạilà một vấnđề khác, vì cần những Nhà làm Vănhóa hay Giáodục một sựthậntrọng cânnhắc và chọnlọc. Khôngthể vì cái lợi nhỏ trướcmắt mà không đểý đến những cáihại quánhiều ẩntàng ở bêntrong. Ðó là những cạmbẫy Vănhóa. Cáitốt ít được đánhbóng bênngoài như miếngmồi thơmngon, nhưng khi đã nuốtvào bụng rồi, thì những độcchất xấu sẽ từtừ xuấthiện và côngphá. Hẳnnhiên, chúngta không quá lýtưởng cũng như khôngthể chủquan để chọnlựa toàn những cáitốt hết, bởi đasố những cái xấu hay tiêucực là hệqủa đươngnhiên của cáitốt sinhra. Dođó thiểnghĩ, một đườnglối Giáodục chânchính là phải làmthếnào để người được Giáodục biết và hiểu cả điềutốt lẫn điềuxấu, biết điều tốt để theo, và hiểuđược điềuxấu để tránh. Tiếcrằng nếu nhớ khônglầm, thì nền Giáodục ở Việtnam giốngnhư một vị ysĩ chothuốc trịbệnh mà khôngmuốn bànthảo hay nói cho bệnhnhân những nguyhiểm do phảnứng phụ (side effects) của thuốc. Những thídụ cụthể tómlược sauđây sẽ minhchứng cho những gì đã nói trên:

* Truyềnthuyết ConRồng CháuTiên và Trămtrứng nở trămcon

Tốt: Rồng là giốngvật caoqúy và thiêngliêng ámchỉ giònggiống dânViệt xuấtphát từ đó, và là niềm tựhào và hãnhdiện của dântộc (?) Trămtrứng trămcon nói về dòng dõi BáchViệt, tổnghợp và kết nạp được Vănhóa của nhiều sắcdân.

Xấu: Con Rồng dù có linhthiêng cáchmấy cũng được xem là loài thú đứng đầu tứqúy (Long Ly Quy Phượng), thường được các bậcTiênthánh cưỡi đichơi. Bảo Rồng lấy Tiên  vừa là một điều philý, vừa xúcphạm nặngnề với tiềnnhân! Chưa hết, đẻ trứng thì có giống gàvịt hay chim, và tấtcả thuộc về giống Cầm. Vậy phải chăng họ muốn ámchỉ bảo dântộc ta có nguồngốc từ loài CầmThú!? Chuyện Ông Lạc Long Quân lấy bà ÂuCơ (khoảngvào thời ÐôngChu LiệtQuốc bên Trunghoa) là Chínhsử hay Huyềnsử? Dùcho là Chínhsử thì chuyện Ông nói gì với Bà cách đây cả hơn hai ngàn năm, có sửgia hay họcgiả ngườiViệt nào có đủ khảnăng để kiểmchứng lại không? Hay là quývị chỉ biết tintưởng chéplại từ trong các tàiliệu ngụỵtạo của ngườikhác viết? Một chitiết vôlý chothấy, vào thời xaxưa đó, làm gì có chuyện lydị  rồi chia con một cách bìnhđẳng nhưvậy!? Nếu Lạc Long Quân thựcsự là Vua (hay Tùtrưởng) thì ông chỉ cần phán một câu quyếtđịnh cho thânphận của Âucơ, đâucó chuyện để Bà mang 50 con của mình bỏ đi ngonlành nhưvậy được!

Tưởngcũngnên nhắclại là ngay bàmẹ Lý Công Uẩn, cũngcó ngụysử cholà bị dãnhân hiếp rồi sinhra Ông! Bổncũsoạnlại hoài, vậymà sửgia và các Nhà làm Vănhóa cứ thảnnhiên insách để dạydỗ biết baonhiêu thếhệ dânViệt!

* Huyềnthoại Sơntinh Thủytinh

Tốt: Chuyện Sơntinh biết đến đúnggiờ để được vợ coi như là phầnthưởng cho người biết trọng chữ Tín. Thủytinh lại trễ không lấyđược Côngchuá, thấtbại đâmra hậnđời, làmphép cho mưagió bãolụt để trảthù. SơnTinh cũng làmphép dâng núi cao lên để tránh lụt. Cuốicùng Sơntinh thắng vì là ngườitốt. Thủytinh thua vì là ngườixấu. Cóngười còn cho mụcđích câuchuyện là để dạycho dân thờixưa biết tìm chỗ cao để tránh lụt.

Xấu: Cáixấu ởđây thựcra không đếnđộ nguyhiểm nếu các nhàgiáodục dùng câuchuyện huyềnthoại trên vào chươngtrình giáodục, thì cũngnên phântách cho họctrò thấy lợihại, tốtxấu nhưthếnào. Ở cáituổi còn nhỏ, những ýniệm đúnggiờ chưa đượchiểu là quantrọng. Nếu nhớ khônglầm, ấntượng duynhất còn sótlại về câuchuyện đãcó với tríóc còn nonnớt, là ôngthần Nước vì không lấyđược Côngchuá nên mới tứcgiận trảthù, đánhnhau với ông thần Núi Cái ấntượng đó theo thời gian với tuổi lớnkhôn, nếu khôngcó cơhội để hiểubiết, chắcchắn sẽ trở thành “Ðược làm Vua, thua làm Giặc”, hay “Ăn khôngđược, thì phá chobỏghét!”. Ðixahơn mộtchút về Tâmsinhlý của ngườilớn, Sơntinh và Thủytinh cònlà biểutượng của Non và Nước, hay ámchỉ SơnHà là hai thựcthể khôngrờinhau của Ðất và nước. Các nhàvănhóa Giáodục coichuyện Sơntinh đánhnhau với Thủy vì quyềnlợi cánhân là chuyệnthườngtình, lại được mặcnhiên đồnglòng và hậuthuẩn bởi nhiều ngườiViệt (hay Pháp? hay Trungquốc? nếukhông thì làmsao câuchuyện được bỏvào chươngtrình Giáodục?), nên cũng chẳnglạgì tạisao trong sửViệt, nộichiến tươngtàn xảyra nhiềunhất so với lịchsử các quốcgia khác! Ðánhnhau hay thùhận nhau vì bị thiệtthòi quyềnlợi, bấtkể là lớnnhỏ hay nguyênnhân, đúng hay sai, biếtđâu, chẳnglà một đặctính Vănhóa của chúngta!

* Chuyện chínhsử :Mỵchâu Trọngthuỷ

Tốt: Nỏthần và việc xây thành Cổloa hình trônốc khôngnhững là biểutượng cho Vănminh về kỹthuật và quânsự, màcòn nóilên được sựđónggóp trítuệ, thôngminh của khốidântộc trong côngviệc dựngnước và giữnước, chốnglại kẻthù xâmlăng. Trọngthuỷ chết theo Mỵchâu cũng đềcao đến sự thủychung, nhất là chuyện tình và lý của Trọngthuỷ phânminh rỏràng.

Xấu: Tiếcrằng Trọngthuỷ là nhânvật của phe địch, trongkhi nhânvật của pheta là Mỵchâu, biểutượng rõràng của sự ngâythơ và umê để bị lườnggạt cho mấtnước. Nhưng đólà chuyện của chínhsử, mà lịchsử thì có khithànhkhibại, có lúcthịnhlúcsuy, nên khôngcógì đáng phànnàn cả. Cái đáng phànnàn ởđây chínhlà đãcó khôngbiết baonhiêu vởkịch, tuồngcảilương, sáchvở chỉ nhằm catụng mốitình lâmly biđát của hai người, và kếtquả hìnhnhư đasố nhiều người vẵn còn ngưỡng mộ, thươngtiếc cho mốitình của Mỵchâu thì phải(!?). Hóara, khôngcần biếtđến thànhtích có làmcho mấtnước hay phảnbội dântộc hay không, chỉ cần nhânvật đó chutoàn chữ Tình hay chữ Hiếu, chếtđi rồi là xíxóa, coi nghĩatử là nghĩatận, là được cảmtình cholên bànthờ ngồi, đểđược cúngvái như các bậcthầnthánh! Và mộtkhi đãđược thờcúng rồi, thì dùcho ai có phêbình mộtchút tiêucực cũng bị cholà Bấtkính , nặnghơn là xúcphạm đến thầnlinh hay tín ngưỡng. Một nềnVănhóa Giáodục mà nặng về Tình nhẹ về Lý, thì tươnglai của dântộc đó sẽ đi vềđâu?

* Chuyện Chữ Ðồng Tử và Côngchuá Tiên Dung

Tốt: Ðây cóthể coilà chuyện cổtích thầntiên, nói lên giấcmơ đẹp để giảitrí của đủ mọi hạngngười. Từ người đang khốrácháoôm bỗngnhiên trởthành Ông này Bà nọ, còngì sungsướng chobằng! Theo các NhàlàmVănhóa thì câuchuyện cũng nóilên tinhthần Bìnhđẳng không phânbiệt giaicấp của dânViệt.

Xấu: Nếu nóivề chuyệntình thầntiên mơmộng giảitrí của dângian theo thểloại trên, thì trên khắpthếgiới khôngthiếugì. Chỉcó vấnđề đángnói ởđây là nộidung của câuchuyện. Thídụ, chuyện “Bạchtuyết và Bảy Chúlùn” nóilên những đứctính caođẹp của ngườicongái phải phấnđấu, vượtqua nhiều thửthách, trướckhi gặpđược Hoàngtử. Chuyện Aladin và câyđènthần cũng nói lòngcanđảm và tàitrí thôngminh của chàngthiếuniên, trướckhi chinhphục được tráitim của Côngchúa. Trongkhiđó, Chữ ÐồngTử thì vì Sợhải khi thấy đoàntùytùng của Hoànggia, và chỉ phải chịu trốn mình dưới cát để cướiđược Côngchuá! Chữ ÐồngTử của thầnthoại Việtnam sướngthật, chẳng phải vàosinhratử, hay chiếnđấu cho côngbình bácái gì cả, mà cũng lấyđược Côngchuá ngonlành!

Chắcrằng khôngai nghĩlà muốn dạy đámtrẻcon cái tưtưởng bìnhđẳng caosiiêu nhưvậy! Và cũng chắcrằng khôngai muốn tậpcho concháumình cáithóihư “tiềndâm hậuthú” (theo nghĩabóng của câuchuyện). Vậythì cònlại, cóphải các nhàlàmVănhóa muốn dạycho những thếhệ trẻ ngườiViệt là cứ sống theocách “Ngusi hưởng tháibình”. hay cứ “Nằm chờ sung rụng” hay tốtnhất là : cứ sống hèn và chịunhục như Chử ÐồngTử, thì hyvọng (Chỉ mớicó hyvọng thôi!) sẽ được vợđẹp conkhôn, nhàcao cửarộng, rồi đếnkhi chết sẽ đượcthành bậctiênthánh!

Trê là những câuchuyện Vănhóa Sử thuộcvề quákhứ, bâygiờ xin nóiđến những câu cadao hay tụcngữ hiệnthời. Thoạtnhìn thì chúngta cóthể xemthường vì khôngthấy đượcrõ mứctáchại về Vănhóa nhưthếnào, nhưng với những ai đãcó ítnhiều hiểubiết về nghệthuật thôngtin và kỹthuật tuyêntruyền, thì mớithấy tầmcôngphá của nó mạnh gấpmấylần các câuchuyện dàidòng vănchương trên rấtnhiều. Bàmẹ MạnhTử chỉcó nghe người khác nóixấu conmình vàilần mà cũng bị nhậptâm tưởnglà conmình xấuthật, trongkhi với những câu cadao tụcngữ thì chínhmình lại nóicho mình nghe, khôngphải vài lần mà cả ngànvạnlần!

Ngườiviết tinrằng những gì được trìnhbày sauđây chẳng cógì mớilạ. Thỉnhthoảng trong quákhứ đã có người nói hay bànđến rồi, nhưng với những lýdo và mụcđích khác.

* Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau.

Trướchết, thậtlà buồncười nếu cholà một câu dạykhôn để giúpđời! Thử suyluận mộtcách khoahọc, vì ai cũng biết khôn cả, nếu ai cũng muốn đitrước để ăncổ, hay chỉ muốn đisau lúc lội nước, thì chuyệngì sẽ xảyra? Một đàng là dànhnhau rồi chắc sẽ đánhnhau, hay đạplênđầu ngườikhác để đi trước (kinhngiệm lịchsử đã chứngminh chothấy rồi, khôngcần đưara thêm bằngchứng). Còn một đàng là chẳng có ai chịu làm gìcả, bỏcuộc, vì ai cũng cầuan, khôngmuốn dấnthân. Nhưng nguyhiểm nhất là truyền lại cho nhiều thếhệ trẻ, tinhthần thamlam vịkỷ trước lợilộc, và ươnhèn khiếpsợ trước khókhăn nguyhiểm.

* Mấy đời bánhđúc có xương, mấyđời mẹghẻ mà thương conchồng.

Dù câu cadao phảnảnh đúng phầnnào tâmlý conngười, nhưng giốngnhư những câu dạykhôn thuộc loại Vănhóa bìnhdân, khôngthể đemvào Giáodục được. Khôngnói đến câunói vívon đầutiên nghe rấtlà ngônghê giữa chuyện bánhđúc bằng bột và xương là của thúvật, đã có baonhiêu dânViệt bị nhậptâm luôn, coi đó như là một địnhluật khônghề sai! Nguyhiểm của thànhkiến này, giốngnhư câu “Ðược làm Vua, thua làm giặc”, là nạnnhân đến từ cả haibên (Bênthua thì chỉcòn cócáchlà làmgiặc, trongkhi bênthắng thì nghingờ, tinchắc là bênthua sẽ làm giặc!) Các nhà làm Vănhóa đã giántiếp dạycho dânViệt cái bảntính hẹphòi của những bà mẹghẻ đốivới conchồng. Nhưng thậmchí tốinguyhiểm khôngphải là họ chỉ dạy, mà còn bắt mọingười tin như là một chânlý khônghề sai!

* Một miếng giữa làng, bằng một sàng trong bếp(?).

Thuộc loại Vănchương bìnhdân để châmbiếm, khôngthể dùng để dạycho trẻcon. Giốngnhư câu “ăn cỗ đi trước,” nhưng ởđây ámchỉ về danhvọng. Nếumuốn trách dânViệt có tinhthần chiarẽ, thì phải trách các nhàgiáodục đã nhồinặn vào những tríóc nonnớt câunói nhưvậy.

* Một con ngựa đau, cả tầu không ăn (cỏ).

Nộidung có ý nóivề tình đồngđội và đoànkết. Nhưng tiếcrằng, tình thì nhiều mà thiếu lýtrí. Chỉ một con đau, mà cảbầy ngựa không ăn thì thậtlà dại!? Nghĩađen cũngnhư nghĩabóng, ngaycả nếu một người trong giaquyến bị nạn, mà những người còn lại chỉbiết buồn thôi, thì thửhỏi có lợi gì cho người đang bịnạn? Tạisao không nói: Một con ngựa đau, cả tầu đều đến giúp! Phảichăng họ muốn huấnluyện cho dânViệt quen với tháiđộ tiêucực, không làmgì hơn là ngồiđó thanthân tráchphận?

* Bầu ơi thươnglấy bí cùng, tuylà khác giống nhưng chung một giàn.

* Nhiểuđiều phủlấy giágương, người trong một nước phải thươngnhau cùng.

Nói đến tình tươngthân tương ái, giúp đỡ lẫnnhau khi hoạnnạn là chuyệntốt. Vấnđề đặtra đây là bầu thương Bí vì chung một giàn, hay người trong một nước phải thươngnhau, thì thậtlà hẹphòi! Khi cóngười hoạnnạn cần giúpđỡ, thì cầngì phảilà cùng một nước hay khác nước!? Nếucó nhiều người bịthương chở tới bệnhviện cùng một lúc, thì ai sẽ được ưutiên, người bịthương nặngnhất hay người có cùng quêquán với vịysĩ ? Cho dùrằng hai câunói trên chỉ muốn nhắcđến thựctế trong đờisống, phảnảnh tâmlý tựnhiên của conngười là giúpđỡ Ðồnghương, nhưng không phải vìvậy mà đemvào giáodục, làm khuônmẫu cho hànhđộng hay tưtưởng hướngdẫn cho cả một dântộc. Mộtkhi các nhàgiáodục cốtình gieo cái nhân nhỏ của tìnhcảm riêngtư vào trong cả việc từthiện cho thếhệ trẻ nhưvậy, thì cái qủa sẽ nở lớn nhưthếnào? Phânbiệt người cùng trong một nước được, thì rồi sẽ phânbiệt đến người cùng địaphương làngxóm, rồi thì chỉcó giađình là trênhết, và cuốicùng là chỉ còn biếtđến quyềnlợi cánhân riêngtư. Nếuvậy, thì các NhàlàmVănhóa và Giáodục đừng có phêbình tráchcứ dânViệt là có tinhthần kỳthị địaphương, Bắckỳ với lại Namkỳ! Một dântộc muốn caocả thì khôngthể chấtchứa một Vănhóa hẹphòi nhưvậy!

* Lờinói là bạc, imlặng là vàng. Ðâylà câunói có nguồngốc từ nướcngoài thuộcvào loại danhngôn có tính triếtlý.

Ai cũng biết câunói đó khôngthể ápdụng tuyệtđối, vì khôngphải lúcnào imlặng cũng tốt hơn lờinói. Thếnhưng lạiđược thầycô trịnhtrọng ghi trên đầubảng (nếu nhớ khônglầm) để tạo ấntượng quantrọng và dạykhôn đám họctrò ở bậc tiểuhọc. Ngườiviết thựcsự khôngdám nghĩlà các vị nhàgíao muốn dạycho khỏe, vì sợ họctrò hay thắcmắc mởmiệng hỏi quánhiều (!?). Ngườiviết cũng khôngdám tinrằng chínhquyền thuộcđiạ Pháp và các chínhquyền saunày, muốn huấnluyện cho người dân nhậptâm với sựimlặng, một điều nhịn, chín điều lành, hơnlà nói nhữnglời phảnkháng khôngcó lợi cho chínhphủ, và dĩnhiên là hại cho bảnthân (!?). Nếukhông phải từ hai lýdo nóitrên, thì còn lýdo nàokhác để các nhàgiáo đem câu danhngôn nặng về triếtlý dạycho những họctrò chưa đủ trìnhđộ để hiểubiết ýnghĩa của sựimlặng?

* Cá không ăn muối cá ươn, con cãi chamẹ trămđường con hư. Hẳnnhiên là một câu vănvần thuộcloại giáodục tốt, nhằm dạycho contrẻ biết vânglời chamẹ. Nhưng có thiếugì cách để dạy trẻcon biết vânglời, hơn là ápđặt một ýtưởng cứngnhắc và tuyệtđối nhưvậy! Chưa nóiđến chuyện khôngphải lúcnào chamẹ cũng đúng, hay tácdụng nghịch làmcảntrở tính tòmò thắcmắc, muốn tìmhiểu của nhiều thếhệ trẻ. Kinhnghiệm thựctế cho thấy, câunói trên chưachắc đã giảmbớt số trẻ ngổnghịch hưhỏng, tráilại còn cóthể tăngthêm, vì phầnđông là do thiếu sựgiáodục đầyđủ từ giađình. Ðốivới truyềnthống vănhóa Áchâu, giữa chamẹ và concái đã có một khoảngcách khálớn rồi, câu tụcngữ trên chỉ ó tácdụng đàosâu thêm khoảngcách. Mộtkhi đứatrẻ vào tuổimớilớn, nếukhôngthể cóđược một khôngkhí đốithọai, tâmsự thoảimái với chamẹ, thì nhucầu tâmlý tựnhiên là tìmđến bạnbè hay những ngườilớntuổi sành tâmlý hơn để giảitỏa. Hưhỏng do sựquyếnũ mêmuội, hay nghe lờixúidục của bạnbè, phầnnhiều cũng do từđó màra.

 

Mối Nguycơ của Một NềnVănhóa Mấtgốc

Thựctrạng của đất nước Việt trong thếkỷ 20 vừaqua đã làmcho nhiều nhàhọcgiả lẫn tríthức phải ưutư, bứcxúc, và độngnão để tìm một câutrảlời cho vấnnạn:

Tạisaođấtnước Việtnam không thiếugì rừngnúi biểncả, tàinguyên dồidào, dântộc chúngta lại lochămchỉ làmăn, cầncù nhẫnnại, hysinh chịuđựng khókhăn, tháovát, hiếuhọc, v.v., mà Việtnam vẫncòn là một trong những quốcgia chậmtiến và nghèođói trên thếgiới? Ðể tìmra câutrảlời, khôngbiết đã có baonhiêu sáchvở, tàiliệu nghiêncứu, phêbình vấnđề rất chitiết không bỏsót một lảnhvực nào. Tấtcả, nếu không biquan, đều lâmvào chỗbếtắc, mặcdù hầuhết đềucó nhậnđịnh chung rấtđúng là do Vănhóa màra. Tạisao? Câutrả lời theo trựcgiác thôngthường là vì chưa tìmra đúng cộirễ của vấnđề. Giốngnhư một conbệnh đang cầnđược chữatrị, côngviệc đầutiên phải làm là tìm chora đúng bệnh. Vậythì cănbệnh kinhniên của nềnvănhóa Việt suốt chiềudài lịchsử là gì? Xin trảlời, chỉcó một cănbệnh nguyhiểm nhất là Trọng Già mà Khinh Trẻ. Cănbệnh này cựckỳ nguyhiểm giốngnhư bệnh AIDS đánhphá sứcđềkháng của cơthể. Cănbệnh Vănhóa nóitrên đã đánhcho têliệt. Trítuệ của dânViệt, và là nguyênnhân của tấtcả mọi cănbệnh khác.

Trướchết, xinđừng hiểunhầm vì khôngphải chỉ có Vănhóa Việt, mà hầuhết tấtcả Vănhóa nóichung trên thếgiới đều kính lão hay tôntrọng ngườilớntuổi. Ðólà một cưxử tốt trong bấtcứ xãhội nào. Nhưng mộtkhi cựcđoan và thiếu phươngpháp chếngự những tâmlý tiêucực, thì hậuquả là phải đưađến khinh trẻ, do luật bùtrừ tựnhiên. Những gì trìnhbày sauđây chothấy, chưa có một Vănhóa nào trên thếgiới vừa coithường, lại vừa khinhkhi tuổitrẻ như Vănhóa Việt (kểcả Trunghoa cũng chẳng khágìhơn, nhưng khôngtệbằng), chẳnghạn:

Trong giađình, khi mới sinhra đời, đasố đã được Chamẹ (xin lậplại là Chamẹ, khôngphải là ai kháchơn!) gọilà Cu, nếulà Trai, Cái nếulà gái. Maymắn hơn trong những giađình thượnglưu hay có giáodục, thì giáchót cũng bị gọilà Thằng hay Con trước cáitên. Lớnlên mộtchút thì bị cả Chamẹ hay AnhChị kêu là Mày, xưng Tao. Là ngườiViệt, ai cũng biết các Ðạidanhtừ trên chỉ dùngđể gọi những giaicấp bầncùng nghèokhổnhất trong xãhội, vào cái thời nôlệ phongkiến xaxưa nàođó. Nhưng dùng lâuđời rồi thì trởthành quenmiệng nhậptâm, biếnthành Vănhóa. Tâmlý của các bậc Chamẹ hay Anhchị gọi conem bằng những từ kém nhânphẩm nhưvậy, xinđược khẳngđịnh ởđây, khôngphải là do sựthânmật trong giađình như chúngta lầmtưởng, mà khởithuỷ là do từ tâmlý để chứngtỏ uyquyền của mình đốivới conem, hậuqủa của sựtiêmnhiễm lâuđời cungcách xưnghô giữa giaicấp chủnhân và đầytớ trongnhà!

Lớnlên mộtchút. mỗikhi có khách tới nhà thuộc hàng chúbác hay bạn của Chamẹ, thì phải ra Vòngtay cúiđầu chào. Nếu chẳngmay nhà phải đãikhách ăncơm, thì trẻcon thường phải lo hầubàn và nếucần, phải xuống nhàdưới hay ăn sau (Xin nhắclại là ngườiviết nóichung cho tậpthể đại đasố, khôngnóiđến một thiểusố nhỏ nhàgiầu!) Cóngười chorằng làm vậy là để tậpcho contrẻ quen với lễphép cũngnhư tính khiêmnhường, nhưng quênrằng cái hại nhiều hơn chínhlà huấnluyện cho contrẻ mặccảm tựti sợsệt trước ngườilớntuổi, rồi từ lớntuổi sẽ thành lớnchức lớnquyền khôngmấyxa, khi rađời! Cũng có lậpluận chorằng, ngườiNhật khi tiếpđón khách cũng cúiđầu nghiêngmình, thì đãsao(!?) Ðúngvậy, nhưng vấnđề chính là ngườiNhật theo vănhóa, hay phongtục ngoạigiao, và ai cũng làm hết kể cả ngườilớn, nghĩalà họ có ýthức trong việclàm của mình. Trongkhiđó thì chỉcó trẻcon Việt mới bịbắt phải Vòngtay cúiđầu, nhấtlà chưacó ýthức hiểurõ việclàm. Khôngthể sosánh một hànhđộng có ýthức do giáodục hướngdẫn, với một hànhđộng thiếu ýthức do huấnluyện bắt buộc. Hànhđộng sau, nếu không nói quá đáng, là nhồisọ trẻ con.

Lớn thêm chútnữa vào họcđường, thì những danhxưng kém nhânphẩm trên cũng theosát bênmình. Cái khác nhau là lầnnày tuổitrẻ Việt lại bị những ngườibạn cùng tranglứa xưnghô gọinhau, thằngnày, conkia, mầy với tao. Một Vănhóa vôtình huấnluyện cho trẻcon Việt tâmlý thiếu tựtrọng và khinhthường thanhân, và kếtqủa là tự hạ nhâncách của chínhmình khi lớnlên. Mỗi ngườiViệt hãy thử tựhỏi, nếu tìnhcờ nghe aiđó gọi mình bằng Thằng hay Con, thì cảmtưởng của mình sẽ rasao? Riêng đốivới thầycô, thì dámchắc còn khinhkhi và coithường đám ọctrò gấpbội. Cáitâmlý khinhthường họctrò vốn đã ănsâu trong tiềmthức Vănhóa: Nửa người, nửa ngợm, nửa đườiươi, đã chophép các nhàgiáo tiếptục dùng những câu cadao vívon rấtlà vôlý (thậmchí đến bâygiờ vẫncòn dùng, như đã kểtrên, “Cákhông ăn muối cá ươn!”.., “Ba cây chụmlại thành hòn núicao!”)

Tấtcả, chỉlà hậuquả của một nềnvănhóa coithường tríkhôn của những đứa trẻ! Kếtquả rõrệt là nềngiáodục chỉcó một chiều, từ thầycô đixuống họctrò. Ở ViệtNam, hiếmthấy có thầycô nào ở trungtiểu học tổchức tronglớp những cuộc tranhluận về một đềtài nhỏ nàođó. Chẳngphải vì các thầycô khôngbiết, hay vì thiếu phươngtiện, mà vì tâmlý coi chuyện họctrò không đồngý (hay cãi) với thầycô, dù đúng hay sai, cũnglà vôphép và hỗnláo(! ?), một hànhđộng khó thathứ. Cũng dễhiểu vì ngay ởnhà, đasố chamẹ ít hiểubiết hơn thầycô mà còn cholà “Trăm đường con hư” , thì nói được gì hơn với thầycô! Mộtsố vị lậpluận chorằng, trẻcon chưa đủ trìnhđộ để tranhluận, dễ đưa đến cảibậy cảibướng, nhiễm thóihư tậtxấu cứngđầu sẽ có hại cho tươnglai(!?) Giảdụ là đúng, thì xin đặtlại vấnđề: Vậythì cái thiênchức, vaitrò của nhàgiáo bỏ điđâu? Ðó mới chínhlà cơhội tốt để giáodục cho trẻcon biết đúng biết sai, biết độngnão để suyluận, và nhấtlà biết tôntrọng ýkiến của ngườikhác. Nếu không tậpdần cho tuổithơấu những thóiquen tốt, vào thờikỳ dễ  dạy nhất, thì chờ đến lúcnào? Ðừng trách tạisao ngườiViệt mình đasố chỉ biết đánhnhau, chưởi nhau, và độcquyền chânlý, hơn là thảoluận, đốithọai, và dunghòa quyềnlợi!

Ðến khi trưởngthành, tuổitrẻ Việt bướcvàođời còn bị khinhkhi và coithường gấpbội phần hơnnữa. Thửxem lại trong khotàng Vănchương ngônngữViệt, từ bìnhdân đến tríthức, đã đốixử tuổitrẻ như thếnào khi ngườilớntuổi không  vừaý ngườinhỏtuổi, qua các câunói quenmiệng gầnnhư thuộclòng:

“Trẻngười non dạ”, “Ngựanon háuđá”, “Ðồ conranh conlộn”, “Mặtmày lấtcất”, “Mặt còn nonchoẹt”…

Ðồ nhãiranh; Miệng còn hôisữa; Mặt búng ra sữa; Còn ôm vú mẹ; ÔngBà ABC dù sao cũng lớn, đáng tuổi chamẹ mầy… ; Tao từng tuổi nầy, đẻ ra mầy được…; Ðồ…, muốn bợptai chomấycáiv.v. Dĩ nhiên, Vănhóa của dântộc nào cũngcó những câu chưỡimắng có ýnghĩa thôtục và dơbẩn, nhưng dùngchung cho mọingười, và nhấtlà khôngcó nhiều câu đặcbiệt dànhriêng cho tuổitrẻ như ngườiViệt!

Ngoàira, một đặcđiểm vănhóa Việt về ngônngữ là chức “Cụ” để gọi người caoniên. Vấnđề xưnghô thì không cógì đángnói, cái đángnói chínhlà mặccảm tâmlý phátsinh. Một khi mà “Cụ” nói, thì chúngcháu chỉ biết nghe, theo truyềnthống “Kínhlão Ðắcthọ,”  đúngsai cũng khôngdám cóýkiến. Nếu “Cháu” nào mà cãilại là vôlễ hay mấtdạy!

Trên là chỉ nói về tưtưởng hay tiềmthức khinh trẻ của Vănhóa Việt. Còn hànhđộng hay thựctế thì có rấtnhiều bằngchứng. Thídụ ai cũng thấy được, trong các dịp lễtiệc ănuống họpmặt của các hộiđoàn áihữu hay nghềnghiệp, baogiờ cũng phânchia chỗngồi theo tuổitác. Ngườilớntuổi ngồi riêng bàn và nhất là được phụcvụ một cách chuđáo so với các bàn khác. Nếucó phátbiểu ýkiến thì hầunhư baogiờ ngườitrẻ cũng được nói saucùng. Trong các buổi trìnhdiễn vănnghệ hay thuyếttrình, thì ngườilớntuổi được sắpxếp ngồi ở hàngghế trước, trongkhi người trẻ haybọn connít phải ngồi sau! Chuyện ănuống khôngđáng nói làmgì, nhưng hai chuyện sau về cách sắpđặt thứtự, thì khôngbiết cóai thấy thiếu lôgích không?

Nếu chorằng ngườitrẻ cần họchỏi thêmnhiều thì phải cho họ ngồi trước để dễ tiếpthu hơn chớ!, saolại bắt họ ngồi sau(?) Thêm vào, để ngườitrẻ ngồi trước thì họ sẽ hànhđộng cẩntrọng chuđáo hơn, vì biết có người lớn tuổi ngồi sau nhìn vào! Một lối giáodục quầnchúng tựnhiên và hữuhiệu mà chẳng tốnkém gì hơn là phânchia vài ba cái chỗ ngồi hợplý! Cònnữa, tạisao không cho ngườitrẻ nói trước, để nếu có gì thiếusót thì người già nói sau sẽ có cơhội để bổtúc hay làm cho sángtỏ vấnđề, nếu nghĩ rằng họ có kinhnghiệm hiểubiết nhiều hơn. Cóphải tấtcả cũng vì Vănhóa Việt quá kínhtrọng người già mà bo ûqua hay không nhìn thấy những cái lợi khác?

Trong quákhứ xa cũng như gầnđây, đãcó nhiều nhà làm Vănhóa thườngxuyên cảnhbáo dânViệt về mốinguy của một nền Vănhóa mất gốc. Nếu thử hỏi ại: ” Gốc Vănhóa Việt nằm ở đâu?” thì dámchắc đasố sẽ bị trởngại ngay, vì khó tìmra câutrảlời thíchđáng! Nhưng xin hảy cẩnthận! Nếu vị nào chorằng Vănhóa Việt có nguồngốc từ Vănhóa KhổngMạnh là quívị đã vôtình savào cạmbẫy Vănhóa. Trảlời nhưvậy cùnghĩa là tự bảnthân quívị đã mấtgốc rồi, và ngườita chỉ cần khuyên là nên trởlại nguồngốc!

Trong Vănhóa Việt có một câuchâmngôn rất hay: “Tre già, măng mọc.” Ai cũng hiểu ýnghĩa muốn nói điềugì rồi. Nhưng Măng cóphải chỉlà mầmsống của một câytre con không? Khônghẳn nhưvậy! Măng ở đây phải đượ hiểu nh là tíchtụ của tinhhoa, kếttinh ditruyền từ tấtcả những đặctính của câytre già trong suốt thờigian hiệndiện trên mặtđất. Nóicáchkhác, Măng là đạidiện, biểutượng chínhgốc, để tiếptục truyềngiao cái Vănhóa của câytre già cho các thếhệ sau. Nhưvậy, Măng khôngchỉlà mầmnon mà còn chấtchứa nguồngốc của những thếhệ cây tre tươnglai. Cùng trong một ýnghĩa tươngtự, Tuổitrẻ Việt chínhlà gốc của Vănhóa Việt. Ngườitrồngcây mà xemthường, khôngbiết quýtrọng chămsóc rễcây, thì đừngmong cây cho nhiều trái ngon. Một nềnVănhóa mà xemthường và khinhkhi cái “Gốc” của chínhmình, thì hậuquả sẽ rasao?

Trong các tiểumục trước ngườiviết có đưara kháiniệm Vănhóa là một sảnphẩm của Vănminh, hay Trítuệ là nguồngốc của Vănhóa. Rồi ngườiviết cũng cho tuổitrẻ là gốc của Vănhóa. Nhưvậy có sựmâuthuẩn không? Hoàntoàn là không! Ðólà một sựkếthợp hàihòa và tuyệtvời của tinhthần và vậtchất, của Dương và Âm, theo đúng tinhthần triếtlý Ðôngphương. Tuổitrẻ và Trítuệ tuy hai mà là một, khôngthể thiếu nhau. Tuổitrẻ cóthể vínhư cáimáy vitính (hardware), phải cầncó phần tríliệu (software) để xửdụng thì mớicó íchlợi. Nhưng ai làm cái nhiệmvụ để kếthợp tuổitrẻ với trítuệ lại vớinhau? Ðólà tráchnhiệm, mà cũnglà thiênchức của các nhàGiáodục!

Thaycho Kếtluận

Hiệnnay, các nhàxãhội học trênthếgiới, saukhi nghiêncứu tìmhiểu độnglực nào đã giúpcho nướcMỹ trởthành cườngqưốc số 1 trênthếgiới, đềucó cùngchung một nhậnxét. Sởdĩ ngườiMỹ đã thànhcông được nhưvậy làvì nhờ họ có một nềngiáodục tốtđẹp sovới thếgiới(?), với tinhthần khaiphóng và biết quítrọng tựdo cánhân. Nhậnxét trên tuy đúng nhưng không được chínhxác, vì họ chỉ nhìn thấy diện mà khôngthấy điểm. Bằngchứng là nềngiáodục ở các nước BắcÂu đâucó thuakémgì. Xãhội họ còn khaiphóng và tựdo nhiều hơn sovới Mỹ, như trong đờisống tínhdục, đồngtính luyếnái, hay chuyện pháthai chẳnghạn. 

Ðiểm muốn nói ởđây thậtsự chỉlà một mẹovặt của Vănhóa Mỹ về giáodục! Ðólà tháiđộ không tônsư của xãhội Mỹ. Họ coi Thầy như là một Ngườidạyhọc hay người hướngdẫn, hơnlà một bậcsư  (master). Tâmlý đó đã chophép họctrò tựnhiên cóquyền thắcmắc, không đồng ý, hay ngaycả việcphêbình khảnăng của thầy vào cuối nămhọc. Ngượclại, vì Thầy khôngđược xãhội nhìn quá cao, nên không tự cho mình là cáirốn của hiểubiết, nhấtlà khôngdám khinhthường họctrò bằng những câu chửimắng hay tháiđộ xúcphạm đến nhâncách. Nhưng đốivới truyềnthống Vănhóa Áchâu thì cholà khôngtốt, tậpcho họctrò quen thói vôlễ, khôngbiết kínhtrọng thầycô!

Nếu những gì nóitrên đều đúng hết, thì đâulà chânlý của vấnđề, và lợihại nhưthếnào? Sauđây là bàitoán lýthuyết giảithích mẹovặt trên. Giảsử trong hai nền giáodục, A theo giáodục kiểuMỹ và B theo truyềnthống Áchâu, và thídụ khởiđầu có 10 đứa trẻ trìnhđộ ngangnhau. Theo nềngiáodục B sẽ chora 10 côngdân hiềnlành biết “Tiên học Lễ, hậu học Văn”, và trong đó hyvọng sẽ cóđược một nhântài có đónggóp một (1) sángkiến cho xãhội. Trongkhi theo giáodục A, kiểu Mỹ, thídụ trong trườnghợp tệnhất, cóthể sẽ cho một hay vài côngdân xấu tạo gánhnặng cho xãhội. Những côngdân xấu này cóthể là do hậuquả của nền giáodục “Tiên học Văn, hậu học Lễ,” và thiếu sựkềmkẹp khắtkhe như xãhội B. Nhưng bùlại, hyvọng sẽ cho xãhội được hai (2) nhântài, một do xácxuất tựnhiên giống như B, và có thêm một nữa, là nhờ lối giáodục cởimở và khaiphóng. Trong điềukiện bìnhthường, cứ tiếptục giảsử là thànhquả đónggóp thêm của nhântài thứ hai trong giáodục A, sẽ tạora nguồnlợi bằng vậtchất, và phải dùnglàm chiphí để xãhội chămlo các phầntử xấu do chính giáodục A tạora. Theonhư đã trìnhbày, thì hai nềngiáodục A và B đã chora kếtqủa vậtchất bằngnhau, coinhư hòacảlàng! Vậythì cógì đángnói? 

Mẹovặt ởđây chínhlà như triếtgia Socrate đãnói, “là người ai cũng phải chết!” Tộiphạm, hiềnlành, ngudốt hay nhântài, Vuachúa hay bầndân, cuốicùng rồi cũng sẽ chết hết! Thếnhưng, thấy vậy chớ không phải vậy! Trongkhi 10 đứatrẻ của thếhệ đàncon tiếptheo thuộc xãhội A, sẽ thừahưởng được 2 thànhquả sángkiến từ hai nhântài của mình, thì 10 đứatrẻ trong xãhội B chỉ có được 1. Cứ tiếptục như trên và nếu đổi từ sángkiến ra thành chỉsố trítuệ, trong mười thếhệ nữa, thì trungbình A sẽ có chỉsố của trítuệ là 20, gấp đôi sovới B chỉ có 10. Ðủ để xãhội A khốngchế và trởthành những ôngchủ thựcdân mới của xãhội B! Lýdo ngườiviết cho là mẹovặt, vì chẳng tốnkém thêm baonhiêu để thựchiện, hơnlà một thayđổi cảicách về quanniệm và phươngpháp giáodục.

Cuốicùng, còn một yếutố bấtlợi khác cho phươngpháp A, chưa được nóiđến. Giáodục kiểu Mỹ chắcchắn sẽ làm chamẹ và thầycô tốn côngsức nhiềuhơn, nhấtlà buồnphiền vì bị chạmtựái v.v. Nhưng đó mới đíchthực là một sựhysinh có ýnghĩa cho đấtnước. Hysinh lòngtựái và cônglao của thếhệ hômnay, hay hysinh đổmáu và nướcmắt cho những thếhệ tươnglai, vẫnlà một chọnlựa bứcxúc cho những nhàlãnhđạo về Vănhóa và Giáodục.

Nguyễn Cường

Sacto 11/2001

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s