VĂN HOÁ TRÌ TRỆ NHÌN TỪ HÀ NỘI ĐẦU THẾ KỶ 21 – Lê Thị Huệ

VĂN HOÁ TRÌ TRỆ NHÌN TỪ HÀ NỘI ĐẦU THẾ KỶ 21
1 – Vấn Đề Thuộc Về Văn Hóa (VH).

Văn: đẹp, hóa: làm thành, biến hóa ra thành một cái gì đó. Văn hóa có nghĩa là làm cho trở nên đẹp hơn, tốt hơn. ở một nghĩa rộng, văn hóa được xem là lối sống đáng mong ước của một cộng đồng, một dân tộc, nhằm làm cho đời sống của xã hội đó một ngày một tốt đẹp hơn. Sách VNVH Sử Cương của Đào Duy Anh có 2 định nghĩa về VH. Định nghĩa thứ nhất của tác giả Felix Sartiaux: “VH, về phương diện động, là cuộc phát triển tiến bộ mà không ngừng của những tác dụng xã hội về kỹ thuật, kinh tế, tư tưởng, nghệ thuật, xã hội tổ chức, những tác dụng ấy tuy liên lạc mà vẫn riêng nhau. Về phương diện tĩnh thì VH là trạng thái tiến bộ của những tác dụng ấy ở một thời gian nhất định, và tất cả các tính chất ấy mà những tác dụng ấy bày ra ở các xã hội loài người.”  Định nghĩa thứ hai theo Đào Duy Anh thì “VH tức là sinh hoạt“. (1)

VH thường hàm nghĩa là tôn giáo, là những tác phẩm chứa đựng tư tưởng và nghệ thuật, là những động thái của con người, và là những định chế của xã hội đó.
VH là những điều mà con người học hỏi và truyền bá cho nhau sau khi chào đời. VH không phải là một dấu ấn bẩm sinh. Một đứa bé mới chào đời đòi bú sữa mẹ là chuyện bẩm sinh. Nhưng một người lớn đã trưởng thành thích mút sữa chua hơn uống sữa đậu nành thì đó là thuộc về VH ăn của cá nhân ấy. Vì bản chất VH là học tập và truyền bá.  Nên VH có thể thay đổi. Có nền VH này được nhiều người học theo hơn là nền VH kia. Sự học theo này có thể là một tình trạng tự nguyện.  Như ở cuối thế kỷ 20 có nhiều người Á Châu học cách mặc quần áo vét, sửa sóng mũi gồ, sửa mắt hai mí theo tiêu chuẩn của Âu Mỹ.
Có khi VH lại bị ép buộc nhồi nhét học hỏi và thực hành. Dưới thời các đế quốc xâm chiếm thuộc địa trong những thế kỷ trước đây, các chính sách truyền bá VH của những kẻ xâm lăng là bắt dân bị trị xóa bỏ các nền VH của người bản xứ. Rồi dạy và ép các quốc gia bị trị này phải áp dụng nền VH của họ mang đến. Trường hợp này đã xảy đến cho VN dưới thời bị Tàu và Pháp sang VN cai trị. Người Tàu và người Pháp đã bắt người VN học tiếng Tàu, tiếng Pháp. Họ đã truyền bá các tư tưởng Khổng, Lão, và đạo Thiên Chúa vào VN.
Nỗ lực thông thường của con người là muốn biến cuộc đời thành một nơi chốn tốt đẹp hơn để sống.  Con người luôn luôn khích lệ nhau hãy bắt chước những cái hay và loại bỏ những cái dở. Sự học tập VH có lẽ cũng nằm trong chiều hướng muốn vươn tới nguyên lý hoàn hảo tốt đẹp này. “VH được mô tả một cách thích hợp nhất là sự yêu thích sự tuyệt hảo; nó là một sự nghiên cứu về sự tuyệt hảo”. (2)

Các nhà xã hội học Âu Mỹ thường chia VH ra làm hai nấc: VH qúy phái và VH bình dân(3).  VH quý phái thường là những sinh hoạt VH được tiêu thụ bởi giai cấp quý phái, trí thức, và có quyền lực trong xã hội. Ở Mỹ,  thú chơi đánh gôn được xem là một nét VH của thành phần qúy phái. VH bình dân là loại VH được đa số dân chúng ủng hộ. Nhạc “sến” tại VN được xem là một nét VH bình dân.

Khi đã nói về VH thì những dấu ấn gốc rễ­, thời gian, thói quen, sự tương đối, sự phổ thông của nó, và niềm tự hào hay tự ty về nền VH mình, thường bao phủ lên đấy như một lớp tín điều. VH bốc tay ăn xảy ra trong cao ốc của một nền VH mạnh sẽ được tôn trọng và được những kẻ đứng chung quanh chiêm ngưỡng  và rồi sẽ ồ à lên trong một bữa tiệc họ được mời tham dự. Nhưng cũng thói quen ăn bốc ấy,  được biểu diễ­n bởi một nhóm người bộ lạc thiểu số, thì có kẻ sẽ kết luận đó là một loại VH ăn thiếu vệ sinh.  Điều này phản ánh sức mạnh của VH thường đi kèm với những quyền lực khác như kinh tế, chính trị của nhóm người biểu thị VH họ.

VH này có yếu điểm làm trì trệ kinh tế, văn khóa khác với yếu điểm d­ễ gây bạo động xã hội. VH này ưu điểm của chủ nghĩa cá nhân, VH kia mạnh mẽ với triết lý phục vụ cộng đồng.

Giá trị của VH có một độ cách biệt khá xa nhau. Từ điểm vô nghĩa cho đến điểm cực kỳ quan trọng của nó.  Có những VH được đông đảo người theo ở thời điểm này nhưng lại không còn ai hưởng ứng ở thời điểm khác. Tục lệ ăn trầu của người VN ngày xưa được mọi người VN dùng theo, nay gần như hoàn toàn biến mất. Có những nét VH lại đóng vai trò cực kỳ quan trọng, giúp cho một quốc gia tiến bộ hẳn lên. VH tạp chủng ở HK đã giúp quy chế di dân của họ cởi mở hơn với người khác giống. Kết qủa là HK thu hút được một lượng trí thức chất xám khắp thế giới đổ về.  Lực lượng di dân đa giống này giúp HK phát triển khoa học, kinh tế, vượt trội hẳn hơn hết mọi quốc gia trên thế giới hiện nay.

Nhân loại cũng càng lúc càng tranh đấu để loại bỏ những thể chế chính trị độc tài, áp bức, bóc lột, và thiếu nhân quyền và dân chủ.  Như vậy, nhân loại cũng sẽ càng lúc càng không ưa những hình thức áp đặt VH kiểu thời thuộc thế kỷ 19 và 20

Cửa mở ra lối ngỏ trong tương lai là con người là sẽ tự nguyện tìm hiểu và học tập về VH nhau.  Chứ không còn chuyện ép súng kề ná bắt phải học VH của chủ thuộc địa, chủ đồn điền, chủ kho bạc, của ai cả

Cho đến nay, yếu tố được dùng làm thước đo để nhân loại ngưỡng vọng những nền VH mạnh thường vẫn là yếu tố kinh tế và chính trị. Nước Mỹ với VH Fast Food, Mickey Mouse, Hollywood, English,  đang chế ngự những thành phố những quốc gia từ Âu sang Á. Sở dĩ có hiện tượng này là vì nước Mỹ đang là một biểu tượng giàu mạnh về kinh tế nhất hiện nay. Mấy chục năm trước đây, giải Nobel văn chương hàng năm hầu như chỉ dành cho các ông da trắng. Với thỉnh thoảng cũng ưa xen kẽ vào vài ông da màu  làm kiểng.  Bỗng dưng các ông Nhật mạnh lên trở thành một cường quốc kinh tế kể từ thập niên 1960. Thế là các ông Nhật tự nhiên được cấp giải đi cấp giải lại trong những năm cuối thế kỷ 20.

Trong vấn đề nhân quyền, các chính trị gia của các nước bị tố cáo là chà đạp nhân quyền, thường viện dẫn sự khác biệt VH như là một lý do để không áp dụng sự tôn trọng nhân quyền lên cho xứ sở họ.

Chính quyền CS VN cùng với chính quyền CS Trung Quốc hiện tại là những chính quyền lớn tiếng nhân danh sự khác biệt VH để khỏi trao quyền tự do báo chí, tự do hội họp, tự do sinh hoạt chính trị cho người dân

Vài nét VH chính của người VN.

Nền VH VN thường được người VN truyền tụng rằng đã hiện diện rất lâu, hơn 4000 năm nay. (4)

Những di tích của nền VH thời đá cổ (palaeolitic) được phát hiện tại các tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Thanh Hóa, Quảng Bình, VN. (5)  Điều này chứng tỏ VH và con người VN đã hiện diện từ thời nhân loại bắt đầu biết chế tạo và xử dụng các vũ khí và dụng cụ bằng đá.

Nền VH VN phục vụ cho con người làm ruộng và con người làm biển từ bấy lâu nay. Đó là một nền VH chậm. Làm việc thì theo tiêu chuẩn phục vụ công việc cày cấy và mùa màng lưới cá. Làm từ từ. Chạy theo và hoàn tất mục tiêu theo thời tiết và theo những yếu tố ngoại tại hơn là thiết lập kế hoạch và thi hành công việc theo nhân sinh chủ quan.

Cái yếu tố “nhanh và chính xác”, chủ chốt của VH tin nghệ hiện nay, không có trong nền VH nông ngư nghiệp cổ truyền của người VN. Bản tính chậm chạp của nền VH “từ từ ” ở chị nông dân và anh kẻ biển cũ đã thấm sâu vào VH VN.  Người Việt thường nói  những câu như “để từ từ coi”, “chậm mà chắc” “dục tốc bất đạt“.

Đây là một nền VH nông ngư-nghiệp, đong bằng vựa cá, đong bằng bồ lúa.  Nên sự rộng rãi co giãn dễ­ được chấp nhận. Ví dụ trong cách dùng thời giờ, người Việt chấp nhận sự du di của giờ giấc, nay thường được gọi là “giờ dây thun”.  Trễ­ 30 phút cho một cuộc hẹn là chuyện mà người VN có thể chấp nhận được. Nét VH “co giãn” này còn được triết gia Kim Định phát hiện ra trong tính chất “nói lái” của tiếng Việt. “Thứ nhất phải kể đến nét ‘co giãn’ làm cho nó (Việt Ngữ) biến hóa vô cùng mà hình thức đầu tiên là nói lái. Riêng tiếng nhị âm mới nói lái được, đa âm như Tây hay độc âm như Tàu  đều không nói lái.  Tây thì đã rõ: dù tiếng hai âm nhưng không là bản chất của tiếng, nên không thể nói lái, thí dụ maison mà lái ra thì son/mai thì hết nghĩa.; còn Việt mà nói “nhá cài” ai cũng hiểu liền là “cái nhà“. (6)

VH VN nghiêng tình hơn nghiêng lý. “Duy tình , được đánh giá cao trong gốc rễ­ VH của người Việt gốc Mỹ, nhấn mạnh tầm quan trọng của cảm giác, tình cảm, cảm tính, và lòng tin.”  (7)   Còn gọi là VH “đối tình” hơn là “đối lý”. Người Việt đối xử với nhau bằng tình cảm nhiều hơn bằng lý trí. “Hợp tình” là nguyên tắc mà người VN dùng để xử thế. Dĩ nhiên “hợp lý” cũng vẫn được nêu lên như một mẫu mực đối chiếu.  Tuy nhiên khi một người VN gặp một hoàn cảnh phải chọn lựa giữa bên tình bên lý, thường họ nghiêng về một quyết định có tính cách tình cảm hơn. Vì nếu không chọn lựa theo cảm tính họ có thể sẽ bị người đời gọi cho cái tên là “đồ vô ơn bạc nghĩa”.  Không thấy câu nói phổ thông nào trong kho ca dao tục ngữ khuyến khích thờ phượng một người duy lý, mà chỉ thấy những câu nói bảo vệ triết lý sống vì tình. “Tình ngay lý gian” là một câu nói thông thường để xây thành trì củng cố niềm tin của triết lý sống cho có tình có nghĩa. Vì trọng tình nên người Việt dễ­ chấp nhận và thông đồng với những điều vô lý. Người Việt gần gũi với tôn giáo hơn khoa học. Tôn giáo cần niềm tin và sự thông cảm. Trong khi khoa học cần hợp lý và chứng minh.  Tôn giáo dân gian như Đạo Thờ Mẹ (Đạo Mẫu) vẫn duy trì sự sinh họat cho đến ngày nay dù bị bao nhiều chính quyền của chính người VN cố tiêu diệt vì cho đó là mê tín dị đoan, đồng bóng.  Các tôn giáo đến VN đều được người dân VN đón chào nồng nhiệt và phát tri­ễn mạnh mẽ phong phú. Phật giáo vào VN qua ngả đô hộ củaTàu.  Công giáo là sản phẩm chế độ thực dân Pháp mang sang VN.  Hồi giáo cũng còn có người theo. Hiện tại đang phong trào đạo Tin Lành theo đường truyền của Mỹ.  Những “thần thánh” là Chúa Phật  khi đầu tiên được truyền vào VN có thể bị các chính quyền gây chiến cấm cản đôi chút. Nhưng về phía quần chúng VN thì chưa bao giờ thấy họ phản bác “thần thánh” như họ từng trường kỳ  phản kháng những “con người” là Tàu, Pháp, Nhật, Mỹ,  v..v…

Trong VH tình này, cao điểm của nó chính là sự hiện hữu của VH tình mẹ của người VN.

Tình mẹ là một biểu tượng tình cảm hoàn hảo đến gần như tuyệt đối. “Mẹ già như chuối chín cây. Như xôi nếp một như đường mía lau“.  Mẹ VN là một biểu tượng ngọt ngào, êm ái, tràn trề hy sinh, và phục vụ chồng con đến độ quên cả đời sống của chính mình. Hình ảnh con cò đi kiếm mồi nuôi con là hình ảnh mẹ VN bất hủ trong tâm hồn mỗi người Việt.

Con cò mà đi ăn đêm.

         Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

         Ông ơi ông vớt tôi nao.

         Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.

         Có xáo thì xáo nước trong.

         Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.
VN có đạo thờ  Mẹ, thờ Mụ, hay còn được gọi là Đạo Mẫu. (8)  Tôn giáo này thờ những bà Mẹ của mặt đất. Những bà Mẹ Nước, Mẹ Đất, Mẹ Lúa là những biểu tượng đầy lòng thương người, sẵn sàng ban phát cho mặt đất thứ tình thương mà các bà mẹ thường ban phát cho các con.

Cùng với thế lực của Hai Bà Trưng, Đạo Mẹ là một đạo mang mầu sắc VN cổ. Là sinh hoạt tôn giáo phản ảnh vai trò người đàn bà VN có một vị thế khá chế ngự trong VH và xã hội VN cổ. Hội Phủ Giầy là một trong những sinh họat thể hiện đạo thờ Mẹ của người Việt cổ. Câu tục ngữ như “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ” ghi lại nguồn gốc Giỗ Mẹ là ngày hội Phủ Giầy mở vào mười ngày đầu tháng ba tại xã Kim Thái, Vụ Bản, Nam Định. (9)

Với truyền thống chuộng tình hơn lý này mà một quan niệm rất tâm linh đã hình thành trong VH VN. Đó là quan niệm phúc đức.

Lòng thương cha mẹ, tình gia đình đã tạo nên nét văn hoá phúc đức của người VN. Phúc là gia tài hồng ân may mắn của thế hệ người đã chết (ông bà) để lại cho người đang sống (con) và sắp sống (cháu). Đức là hồi môn hồng ân may mắn của thế hệ đang sống (cha mẹ) để lại cho những thế hệ sắp ra đời (con cháu). Đức là do người đang sống tích tụ tạo lập ra.

Quan niệm này thúc dục người đang sống làm những việc tốt. Tạo dựng của hồi môn may mắn để dành cho con cháu sẽ chào đời mai hậu.  Cái nguyên lý sống bằng và sống bởi phúc đức này là một thứ triết lý lõi cốt ăn vào đời sống tinh thần của người VN.  Người VN dù theo tôn giáo nào đi nữa, cũng dùng khái niệm phúc đức như một hệ thống giá trị khuyến thiện cho con người noi theo.

Theo triết gia Kim Định, một học giả VN trước được đào tạo trở thành  linh mục Thiên Chúa Giáo Tây Phương, sau nghiên cứu nhiều về VH VN, đã kết luận VH VN lấy con người làm gốc. Gọi là VH Nhân Chủ.

Vòng con giáp của Việt Nho còn là một chứng tích hùng hồn về “Nhân Chủ Tính”. Thay vì  bị mất hút trong đám sự vật, thú vật thì ở đây con người ngự ở giữa như một “Ông Vua” để thuần thục hết mọi loài vật… Chính vì con người “ngự giữa hai vòng” như vậy nên đã không vong thân mà còn gây được ảnh hưởng  quyết liệt vào các con thú bên ngoài, nói lên rõ giá trị của con người linh thiêng hơn vạn vật (nhân linh ư vạn vật). Đấy chính là tinh thần của dân tộc “trọng nghĩa khinh tài” khác xa một trời một vực với duy vật sử quan y cứ trên vật bản (Chosisme) đánh giá người theo mức độ cao thấp của sản xuất vật thể: sản xuất nhiều là người cao.” (10)

VH làng hay VH tập thể chủ nghĩa, khác với VH cá nhân chủ nghĩa,  là một nét VH bao trùm lên con người VN. Con người cá nhân nằm khuất lấp dưới con người của tập thể . Thi thoảng tôi chú ý thấy có  những người VN vẫn xử dụng từ “chúng tôi” thay cho từ “tôi”.   Lúc đầu tôi thăc măc tại sao chỉ mỗi mình cá nhân ấy nói. Câu chuyện chỉ liên quan đến cá nhân ấy chứ không có tập thể nào đứng chung quanh hay đứng đằng sau cả. Nhưng sao họ lại xử dụng từ “chúng tôi” một cách rất tự nhiên  Nghĩ mãi tôi mới nhìn ra rằng chính cái “tâm thức tập thể” của VH làng đã tạo nên cụm từ “chúng tôi” cho người VN biểu lộ đúng cái VH áp đảo này.

Nhìn chung trong đời sống tư tưởng của người Việt, do nhiều nguyên nhân xã hội và lịch sử, “tâm thức duy cộng đồng” luôn luôn chiếm ưu thế đối với “tâm thức duy cá nhân”.  Đúng là ở các nước Đông-Nam á, con người cá nhân đã hình thành ít ra như một tiềm năng chực bùng nổ khi có điều kiện, nhưng cũng đúng là con người cá nhân ở đây nói chung phụ thuộc vào cộng đồng, bị cộng đồng chi phối gần như từ đầu đến cuối, từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đi.” (11)

Tâm thức tập thể ám choán tâm thức cá nhân. Vì vậy người Việt rất quan tâm đến tiếng tăm do hàng xóm láng giềng sẽ nghĩ như thế nào về mình. Danh dự gia đình hoặc danh dự cá nhân là động cơ mạnh lèo lái những hoạt động thường ngày.  Con người tập thể đè nặng trên vai khiến người VN thường có tình đồng hương rất cao. Ít tự quyết một mình mà thường tìm kiếm quyết định chung từ gia đình, từ họ hàng.

Là một xứ sở gần biển, đất đai không khô cằn sa mạc hoặc đông gía tuyết lạnh, nhưng VN chưa bao giờ khai thác các nguồn lợi thiên nhiên này đến tầm cỡ thịnh vượng phì nhiêu tối đa của chúng.  Điều này chứng tỏ những con người thuộc về xứ sở VN này không chú chuộng những giá trị vật chất.

Một kho vàng không bằng một nang chữ“. Câu tục ngữ này nói lên sự xem thường giá trị vật chất và qúy trọng giá trị tinh thần của người Việt. Đây là một nền VH giàu về những sinh hoạt trừu tượng cho tâm hồn.

Về tôn giáo họ có một gia tài thần linh đa phương. Họ d­ễ dàng tìm thấy ở Bà Chúa Li­ễu Hạnh, các ông bà thần làng địa phương , cho đến Ông Chúa Jesus hay ông Phật Thích Ca du nhập từ xa, thảy đều là những điểm nương tựa tinh thần đẹp và cao quý.

Về nghệ thuật họ phát huy những nghệ thuật phục vụ cho tâm hồn hơn là những nghệ thuật phục vụ cho thân xác. Câu tục ngữ bất hủ “Cái nết đánh chết cái đẹp” đã biểu lộ thái độ chọn lựa VH phục vụ tâm hồn hơn là VH phục vụ thân xác.  Nghệ thuật ngôn ngữ với thi ca và âm nhạc của người VN  rất giàu tính chất giải trí. Chơi chữ được xem như là bộ môn nghệ thuật giàu mạnh nhất của VH VN. Vì chuộng tình hơn chuộng lý.  Vì chuộng tâm hồn hơn chuộng vật thể.  Nên nền VH này phát triển mỹ mãn ở cánh cửa VH phục vụ tâm hồn như tôn giáo, âm nhạc, và thi ca. Trong khi đó những cánh cửa phục vụ thân xác như múa, vẽ, điêu khắc, hội họa, thì gần như bị bỏ lơ không được phát triển. Như một người nông dân hưởng thụ nghệ thuật và lạc thú ở đời, người VN chuộng nét đơn giản trong nghệ thuật. Họ tôn thờ triết lý đơn sơ giản dị đến độ  gần giống như đó là mộr thái độ phản nghệ thuật

VH VN bị tôi luyện trong nhiều cuộc chiến chống ngoại nên có tính mưu mô khúc mắc lắt léo trong cách người VN đối xử với những giai cấp ngoài nhóm cá thể của họ .

Tại sao nghèo ?

Người VN thường hãnh diện là VN có những cuộc chiến ngon lành. Chuyên môn đánh thắng các cuộc chiến lớn. Giết người rất giỏi. Giết nhau với Tàu, giết nhau với Pháp, giết nhau với Mỹ..

VN nuốt và đồng hóa luôn một dân tộc Chăm.

Người VN nghĩ là mình học giỏi. Học giỏi là bẩm chất thông minh. Bẩm chất  hơn người nhưng đến khi lớn lên dạy bảo nhau gìn giữ gia tài VH kiểu gì mà đánh nhau (chiến tranh) thì rất giỏi. Học giỏi nhưng lại không sản xuất ra được những công trình  khoa học nào để nâng cao đời sống dân họ,  mà lại còn nghèo thì thuộc hạng nhất thế giới.

Trường hợp Ấn Độ cũng tương tự. Ấn Độ có tiếng là sản xuất ra rất nhiều nhà khoa học. Người Ấn Độ học rất giỏi. Tại Mỹ, con số bác sĩ, kỹ sư, giáo sư đại học gốc Ấn Độ rất đông. Nhưng không hiểu VH Ấn Độ dạy làm sao mà dân trí thức xứ này cứ tìm đường xuất ngoại rồi ở luôn với ngoại quốc mà không về nước giúp dân nghèo của họ.

Nên Ấn Độ vẫn là nước nghèo và người dân chết vì đói, chết vì bệnh tật rất cao. Vào năm 2000, dân Ấn hãnh diện là đã có 8 nhà trí thức lãnh giải Nobel, từ văn chương cho đến khoa học.  Vậy mà cũng theo tài liệu của WB năm 2000, con số trẻ em chết non là 80/1000.  Một con số tử vong cao hơn cả VN, Phi Luật Tân, và Thái Lan.  Tuổi thọ người dân Ấn là 60 tuổi. Chỉ cao hơn dân Cam Bốt.  Còn lợi tức trung bình của người dân Ấn chỉ đạt được 440 Usd. Thua lợi tức trung bình của người dân Phi Luật Tân và Thái Lan vào thời điểm này. (12)

Kể từ khi cuộc CM internet bùng nổ, Ấn Độ có những bước đầu theo sát với cuộc CM này. Con số người dân Ấn Độ xử dụng internet gia tăng một cách đáng kể. Tổ Hợp Dữ Kiện Quốc Tế tiên đóan số người này sẽ gia tăng từ  20% của năm 1999 sẽ lên đến 67% năm 2003. (13)

Tại HK, tôi chứng kiến hiện tượng di dân Ấn Độ gia tăng tại vùng Silicon Valley Bắc Cali một cách khá đặc biệt.  Nếu cách đây 20 năm trước, vào khoảng đầu thập niên 1980, lúc kỹ nghệ phần cứng chip điện  bùng nổ tại vùng này đã mang nhiều người Việt và người Trung Quốc thiên di về vùng Bắc Cali. Thì hiện nay vào năm 2000, với kỹ nghệ phần mềm tin học bộc phát đã mang người Ấn Độ đến vùng này một cách dễ­ nể.  Các hãng điện tử sản xuất phần mềm đã ồ ạt bay sang Hi-Dra-Baad, miền Nam Ấn Độ thâu nhận tới tấp các kỹ sư mới ra trường và cấp chiếu khán sang Mỹ ngay tức khắc. Vì vậy mới có hiện tượng đông đảo người Ấn Độ xuất hiện tại vùng Thung Lũng Điện Tử Cali trong một thời gian ngắn.

Nếu cơ hội internet này sẽ tạo ra một thay đổi kinh tế lớn lao cho Ấn Độ thì đây đúng là một dấu vết lịch sử và VH đáng nghiên cứu về dân tộc này.

Tôi không tin tưởng tuyệt đối vào việc chỉ dùng hai yếu tố kinh tế và chính trị để  làm thước đo giá trị của một nền VH. Dùng sự thành công về kinh tế để tưởng rằng hễ­ một sự thành công về kinh tế là bảo đảm một gía trị VH qúy giá hay ho đi kèm theo, là một suy tưởng nông cạn. Những nền VH Hy Lạp, La Mã, Ai Cập đã từng đạt được sự phú thịnh về vàng bạc châu báu và những kiến trúc lộng lẫy huy hoàng trong qúa khứ. Nhưng ngày nay những nền VH này chỉ còn lại là những chiếc bóng lay lắt cạnh những nền VH Chăm, Maya, Aztec.. Dùng chính trị để đánh giá VH lại càng sai lầm hơn. Bao nhiêu đế quốc chính trị như Mông Cổ, Inca, Babylon, Assyrian, ngày nay chỉ còn là những trang sử lẫy lừng thuộc về qúa khứ.

Tuy nhiên ở đây tôi muốn nói đến sự không thành công về kinh tế của một nền VH như là một yếu tố đáng tra xét.

Nghèo, tự nó không phải là một tình trạng không thể chấp nhận được.  Một tình trạng có đủ thức ăn và chốn ở, có đủ điều kiện học tập và làm việc, nhưng không dư dả, đã có thể bị những người giàu nào đó xem đó là nghèo.

Đối với người phong lưu, sự trù phú dư thừa mới được xem là không nghèo. Nhưng nếu một trong những cứu cánh của nhân loại là đi tìm hạnh phúc. Thì một kẻ không thiếu thốn và một kẻ dư thừa đều có thể tìm thấy được hạnh phúc trong cái nghĩa tương đối của nó.

Tôi cũng sẽ không bàn luận đến sự phong phú tiền bạc như một phương tiện hữu hiệu để có thể nâng cao dân trí, đưa người dân có trình độ hiểu biết cao về thế giới chung quanh đến một nhu cầu đòi hỏi dân chủ từ phía chính quyền. Sự giàu có dư dả vật chất ở đây được xử dụng như là một thứ sức mạnh chính trị

Nhưng nghèo mà đi kèm theo những yếu kém tụt hậu và thiếu thốn về cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần, thì nó đáng là một vấn đề phải cứu xét.

Sự nghèo đói tại VN hiện nay là nguồn gốc của tất cả mọi sự chậm phát triễn. Trẻ em VN thiếu dinh dưỡng. Nhiều thiếu nhi vẫn phải đi bán hàng rong để kiếm sống. Sinh viên học sinh VN không đủ phương tiện học tập, không có những phòng thí nghiệm để phát huy khả năng. Người làm kinh doanh không có vốn để phát triển. Vào đầu thế kỷ 21 mà nhiều gia đình VN vẫn còn dùng rơm và than để nấu nướng. Đèn hiệu chỉ có mặt khá nhiều ở SG, lác đác ở HN, và lèo tèo ở các thành phố lớn, còn thì khắp nước VN hiện vẫn chưa biết đèn hiệu đỏ xanh vàng là cái gì. Hệ thống đường sá VN qúa thua sút yếu kém đến độ hiện tại những hãng xưởng ngoại quốc muốn vào đầu tư tại đều ngán ngẩm chuyện vận tải hàng hóa.  Đi khắp HK nhìn những cánh đồng nông nghiệp bát ngát như sa mạc không bao giờ còn thấy một bóng người, tất cả đã có máy móc lao động thay thế. Trong khi đó tại VN trên những cánh đồng nông nghiệp nhỏ bé so với thế giới, sinh họat vẫn còn sơ khai như thời kỳ mới lập quốc!  Người và trâu vẫn còn hì hục lao động cày bừa bằng tay chân.

Rõ ràng là muốn bảo tồn VH cũng phải có tiền. VN có Huế, có Hội An, có Hạ Long, có Mỹ Sơn bao nhiêu nghìn năm nay sao không nói chuyện bảo tồn VH. Mà phải chờ đến Unesco viện trợ tiền vào những năm 1990 để làm cái việc gọi là duy trì VH Cố Đô Huế, VH đô thị Cổ Hội An, VH Mỹ Sơn Trà Kiệu ?

Và đây là câu hỏi thu nhỏ tôi đặt ra cho nền VH VN

Một nền VH sống sót cùng thời gian hàng nghìn năm. Một nền VH mạnh về quân sự và chính trị.  Một nền VH có khả năng đồng hóa những nền VH khác. Một nền hóa có số đông dân chúng đi theo bảo vệ và truyền bá. Một nền VH của một giống dân được đánh giá là bẩm sinh thông minh. Nền VH này lại nghèo mạt rệp từ bao thế hệ này sang thế hệ khác, từ nghìn năm này sang nghìn năm khác.  Thì sự kiện này đáng là một câu hỏi.

Đấy là trường hợp của những dân tộc như VN, Ấn Độ, Trung Hoa … Khi mà sự nghèo khó của một quốc gia trở thành một sự phi lý thì sự nghèo khó này trở thành một vấn đề đáng tra hỏi

Sự phi lý nằm ở chỗ là lợi tức quốc gia VN vào năm 1998 được ước lượng là 5.6 tỷ Usd. (14)

Trong khi tài sản của một cá nhân người HK tên là Bill Gate vào năm 1998 là  51 tỷ Usd. (15)

Không lẽ trí tuệ của một tập thể gần 80 triệu dân VN lại không bằng trí tuệ của một cá nhân Bill Gate?

Chả lẽ gần 80 triệu cái đầu VN kinh doanh dở thua một cái đầu Bill Gate kinh doanh.

Tôi tin là có sự trục trặc ở những điểm khác chứ không phải trí tuệ tập thể không bằng trí tuệ của một cá nhân.

Sự trục trặc trước hết nằm ở hệ thống sinh họat VH và sinh hoạt chính trị của tập thể đó.

Lấy ví dụ nền VH  HK đặt trọng tâm vào hai điểm chủ yếu: 1) Khuyến khích sự sáng tạo và phát minh thường trực. 2) Tưởng thưởng cụ thể cho cá nhân dám mạo hiểm trong việc kinh doanh. Cả hai trọng điểm này đều khuyến khích cá nhân phát triển đến tột bực và làm giàu tột bực.   Sinh họat dân chủ ở HK cho cá nhân làm giàu tối đa. Quyền cá nhân ở HK được tôn trọng và được bảo vệ. Nên cá nhân ông Bill Gate mới có thể lao vaò kiếm tiền nhiều và được giữ nhiều tiền như thế.  Hệ thống chính trị của chế độ CS VN hiện nay không cho phép một cá nhân làm giàu tối đa. Nền kinh doanh vĩ mô hiện nay được thu tóm dành cho các cơ quan quốc doanh. Các cá nhân chỉ được kinh doanh cấp nhỏ.

Nhưng không có cơ quan quốc doanh nào của nhà nước CS VN kinh doanh giỏi và tạo ra những sản lượng lớn bằng một cá nhân giỏi kinh doanh ở HK. Tại HK, bà phóng viên tán gẫu truyền hình người da đen tên là Oprah Windfrey năm 99 kiếm được 150 triệu Usd. (16)  Không một cơ quan quốc doanh naò của nước VN làm được điều này trong cùng một thời điểm. Nếu theo tiêu chuẩn kinh doanh của HK thì hầu như gần hết các Công Ty Quốc Doanh của nhà nước VN đều đã bị tuyên bố phá sản từ lâu.

Sự phi lý của bức tranh vẽ ra trên đây, ngầm báo cho biết ngoài nền chính trị của quốc gia làm ảnh hưởng đến nền kinh tế của họ, còn một nguồn ảnh hưởng nào khác nữa chắc chắn là có tác dụng rất lớn lao đến sự trì trệ nền kinh tế của gần 80 triệu người này.

Nguồn ảnh hưởng quan trọng ấy chính là nền VH của họ.

Theo Ngân Hàng Thế Giới, tổ chức có mục tiêu là giúp đỡ các nước nghèo khắp thế giới  phát triển; thì yếu tố VH là yếu tố tối ư quan trọng, ảnh hưởng đến việc phát triễn kinh tế của một quốc gia.

“Để đạt được hiệu quả, các tiến trình phát triển để giảm bớt sự nghèo đói phải thông hiểu về VH, hoặc quan tâm đến văn hoá, vì hai lý do:

   (1) VH ảnh hưởng đến những điều gọi là có giá trị trong xã hội, đặc biệt là, VH định hình cho các “cứu cánh” của sự phát triển được xem là rất có giá trị với người nghèo, và

   (2) Văn hoá ảnh hưởng đến cách thức mà các cá nhân, các cộng đồng, các định chế chính thức hay không chính thức sẽ phản ứng như thế nào về những thay đổi phát sinh từ sự phát tri­ển, do vậy sự hiểu biết về VH là một phương tiện để làm giảm bớt sự nghèo khó một cách có hiệu qủa.”(17)

Thế giới đang bước vào một giai đoạn mà kinh tế trở thành một thứ quyền lực hàng đầu. Danh từ toàn cầu hóa được dùng để nói đến quyền lực bành trướng của những đại công ty và những quốc gia giàu mạnh về kinh tế. Toàn cầu hóa có nghĩa là các đại công ty quốc tế sẽ phát triển đến mọi ngóc ngách trên thế giới. Toàn cầu hóa có nghĩa là những nước giàu và mạnh sẽ chiếm lãnh thị trường khắp nơi trên thế giới một cách thuận tiện hơn.

Thế giới bước sang giai đoạn xâm lăng VH và chiếm lĩnh thị trường chứ không còn phải xâm lăng đất đai hay phổ biến ý thức hệ như trước.

Trong bối cảnh như thế, những quốc gia chậm phát triển lại cũng sẽ trở thành miếng mồi cho những đại bá chủ kinh tế.

Thế giới đang chuyển vào  làm kinh tế bằng trí não được gọi là nền Kinh Tế Mới (New Economy). Tài sản trí tuệ hiện đang là sức mạnh của một quốc gia. Não lực là vốn liếng hàng đầu để cho con người có thể đầu tư phát triển kinh tế. Kỹ nghệ phần mềm, kỹ nghệ thông tin, kỹ nghệ sức khỏe, kỹ nghệ sinh vật học.. là những kỹ nghệ đòi hỏi vốn đầu tư trí tuệ vào việc học hỏi.

Đặc điểm khác của nền Kinh Tế Mới là những phát triển sẽ rất nhanh. Một quốc gia biết phát triển đúng hướng có thể chỉ cần 10, 15 năm là thay đổi hẳn bộ mặt của xã hội đó, thay vì cần đến 2, 3 thế hệ hay cả nửa thế hệ như trong nền kinh tế cũ.

Đây là cơ hội để cho VN đu giây phóng một cái vọt theo đà kinh tế thế giới d­ễ dàng, nếu VN có những chính sách và có một chính quyền giỏi. Vốn trí tuệ là thứ vốn người VN có sẵn. Với truyền thống tôn qúy việc học, người Việt dễ­ phát huy kích cầu (kích thích nhu cầu)  vốn này nhất. Những vùng đất cằn sỏi đá lâu nay không đất đai cày cấy như Miền Trung nay có thế đầu tư vào những kỹ nghệ chất xám. Như vậy sẽ tạo ra công ăn việc làm mà không còn lý do để cứ mãi tiếp tục ca câu hát than thân của nhạc sĩ Phạm Đình Chương: “Quê hương em nghèo lắm ai ơi. Mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu ăn.”

Theo nhà tương lai học Alvin Toffer, người Mỹ, thì nhân loại đã đi qua những đợt sóng cùng với văn minh nông nghiệp (agriculture), văn minh kỹ nghệ (industry), và hiện nay là đang giữa đợt sóng văn minh thông tin (information). (18)  Có vẻ như VN đã bỏ lỡ những cơ hội phát triển cùng đợt văn minh kỹ nghệ của thế giới trong các thế kỷ 18, 19, 20 vừa qua.

Liệu VN có muốn xử dụng và phát triển tài nguyên trí tuệ của mình để đưa xứ sở này lên hàng cường quốc giàu mạnh của thế giới trong đợt sóng văn minh thông tin khởi đi từ cuối thế kỷ 20 này không.  Điều này tùy thuộc vào sự chọn lựa một cuộc CM từ VH nông ngư nghiệp chuyển sang VH tin nghiệp.

Nền VH kẻ biển và làm ruộng đã sản sinh ra những truyền thống VH của nó. Vì vậy muốn lao theo đà tiến bố của nền văn minh của thế giới, người Việt phải chọn lựa những thay đổi để một mặt vẫn duy trì được các truyền thống VH mà họ yêu qúy, một mặt vẫn tạo ra được những bản lĩnh VH có thể thích ứng được vào những đợt tiến hóa của nhân loại.

Người Việt cần phải có những quyết định rất CM trong tư duy và trong đời sống thì mới vận chuyển được những thay đổi có tính cách mấu chốt này.

Đây là một thách thức lớn cho một dân tộc.

Chú Thích

1.  Đào Duy Anh. VN VH Sử Cương, 1938. Sống Mới tái bản tại Arkansas. HK. Không ghi năm tái bản. Trang VIII. 

2. “Culture is properly described as the love of perfection; it is a study of perfection.  Matthew Arnold, Culture and Anarchy, I, 1869.

3- http://www.wsu.edu:8001/vcwsu/commons/topics/culture/glossary/high-culture.html . April, 15,2000. (Chú thích của tác giả: người Việt không có từ “VH qúy phái” hoặc “VH bình dân”.  Nhưng lại có từ “văn chương bác học” và “văn chương bình dân”)

4. Kim Định. Triết Lý An Vi, Văn Lang Vũ Bộ, Tuyên Ngôn của Hội An Việt.  H.T. Kelton. California. Không ghi năm xuất bản.

5. G. Coedes. The making of Southeast Asia, University of California Press. Berkeley and Los Angeles. California. 1959. Trang  12.

6.  Kim Định, Triết Lý An Vi, Văn Lang Vũ Bộ. H.T.Kelton, HK. Không ghi năm xuất bản. Trang 22.

7. Trần Đình Trị. Vietnamese American, A Quarter Of The Century and Beyond. 8.2000. (Bản thảo sẽ xuất bản. Hiện đang được dùng  giảng dạy lớp VH Việt Mỹ, Vietnamese American Culture, tại Evergreen Valley College, California HK.)
8. Ngô Đức Thịnh chủ biên, Đạo Mẫu Ở VN,  nhà xuất bản văn hoá Thông Tin,  HN 1996).  Trang 16. 

9. Từ Điển VH Cổ truyền VN. Nhiều tác giả. Hữu Ngọc chủ biên. Nhà xuất bản Thế Giới, HN 1995. Trang 319.

10. Kim Định, Triết Lý An Vi, Văn Lang Vũ Bộ. H.T. Kelton. HK. Không ghi năm xuất bản. Trang 60.

11.  Đi Tìm Cách Tiếp Cận Bản Tính Tộc Người VN.  Trích từ tham luận tại hội thảo khoa học Tâm lý người Việt nhìn từ nhiều góc độ do TT nghiên cứu tâm lý dân tộc tổ chức tại TPHCM tháng 4-2000. Báo SG Giải Phóng Thứ Bảy. Số 508. 11.11.2000.. http: //www.hcmpt.vnn.vn/htmlsggpt7/. Không ghi tác giả.  28.11.2000.

12. http://www.worldbank.org/data/countrydata/littledata/209.pdf 28.01.2000

13.  http://www.idcindia.com/Pressrel/16Mar2000.html

14. http://www.odci.gov/cia/publications/factbook/vm.html#econ6/22/2000
15.http://forbes.com/tool/toolbox/billnew/richmain98.asp?value2=8995 8/22/2000
16.http://www.forbes.com/finance/lists/setters/listHomeSetter.html?passListId=53 8/22/2000

17. “In order to be effective, development processes to reduce poverty must understand culture, or take culture into account, for two reasons:
(1) culture influences what is valued in a society; in particular, it shapes the ‘ends’ of development that are valuable to the poor; and
(2) culture influences how individuals, communities, informal and formal institutions respond to developmental changes, so knowledge of culture(s) is a means to effective poverty reduction”.
http://www.worldbank.org/poverty/culture/overview/index.htm#aspects 4/15/2000

2 – 25 Năm Lãng Phí Quốc Gia.

Theo thống kê do Ủy Ban Dân Số và Kế Hoạch đưa ra vào 26/12/1999, VN hiện có hơn 76,3 triệu dân. (19)

Theo tài liệu của một trung tâm nghiên cứu ở Newyork,  Alan Guttmacher Institute, thì VN vào năm 2000 hiện có con số phá thai cao đứng thứ nhất thế giới (20)
Và đây là vài con số thống kê về mức độ nghèo đói của 4 quốc gia Á Châu mà WB đưa ra vào 1998: (21)

VN/Thái Lan/Phi Luật Tân/Cam Bốt

Lợi tức/nguời(usd)  330$/2.200$/1,050$/280$

Mức độ nghèo:37%/13%/38%/36%

Trẻ em thiếu dinh dưỡng  35%/–/30%/38%

Trẻ em chết non 45/1000-33/1000-35/1000-100/1000

Tuổi thọ     68 tuổi/69 tuổi/ 68 tuổi / 54 tuổi

Vào 4- 2000, một tác giả HK khi viết về tình trạng của VN hiện nay, đã so sánh VN nghèo nàn như một trong những xứ nghèo khổ nhất thế giới là quốc gia Burundi ở Phi Châu (22)

25 năm. 1975 – 2000.

Năm 1975 khi tôi đến California, nhà nhà ở HK vẫn còn dùng truyền hình trắng đen  xen kẽ với truyền hình màụ Người nghe nhạc chỉ mới sỡ hữu máy cát xét có băng C 60 tức nghe được 60 phút, C 90 tức 90 phút, C120 tức 120 phút.

25 năm sống trên xứ sở HK, tôi chứng kiến những biến đổi xảy ra vù vù nhanh chóng đã quen kiểu. Từ máy cát xét, tôi nhìn thấy sự xuất hiện của băng hình video.

Vào năm 1975 chúng tôi những người sinh viên xóm trọ đêm đêm chỉ bật máy cát xét lên nằm nghe một khúc nhạc thân quen vẳng ra là thích thú lắm rồị Nhưng sang đến khoảng giữa thập niên 1980 thì khách hàng âm nhạc không những muốn nghe mà còn đòi xem hình ảnh ca sĩ hay nhạc công biểu diễ­n nữa. Tiếp theo là sự xuất hiện của máy điện toán com. Sự xuất hiện của máy com cá nhân này đã tạo cho tôi có dịp tiếp cận sự thể hiện cái tinh thần linh hoạt của quốc gia trẻ trung HK.

Là một giáo sư hướng dẫn của một đại học cộng đồng tại San Jose, tôi có dịp nhìn thấy các đại học trong vùng phải thay đổi chương trình học và thiết bị các dụng cụ này trong một nhịp độ cực kỳ nhanh để có thể cung ứng được nhân lực phục vụ thị trường đòi hỏi đến từ phát minh mới nàỵ  Người HK lúc cần phải thay đổi, họ thay đổi rất nhanh, không một chút lưu luyến chuyện cũ hoặc vật cũ.  Nhìn hàng trăm máy PC hoặc Mac chỉ mới được thiết bị cho các sinh viên chừng 4,5 năm, nay vì nhu cầu học các môn học đáp ứng cho các phát minh mới, nhà trường đào thải  tất cả đống máy móc còn rất tốt.  Nhìn vào thấy thật là phung phí.  Nhưng nhờ vào sự phú túc của đất nước này, họ có khả năng vứt bỏ các máy cũ để thay thế hàng loạt máy mới cho các môn học mớị Điều này dễ­ tạo cho môi trường học đường một  cơ hội học hỏi và sáng tạo tiến theo một tốc độ cập nhật nhanh chóng.  Và cũng chính nhờ vậy mà nền kinh tế này có cơ tạo ra sự mua bán, tạo ra sự luân lưu đồng tiền và hàng hóa nhanh.

Điểm quan trọng là các nhà lãnh đạo kinh tế HK xem việc luôn luôn cải tiến chất lượng để đứng đầu và định hướng cho toàn ngành là một lợi thế cạnh tranh ưu việt nhất, lành mạnh nhất, mang phúc lợi nhiều nhất cho con người. Vì thế, giáo dục nghành nghề bắt buộc phải đạt được mục tiêu là luôn huấn luyện, đào tạo ra các cán bộ ở trình độ cao nhất, được cập  nhật hóa nhất.

25 năm.. Ngày trước không có lò vi ba (microwave). Mỗi lần vào bếp nấu nướng rất là mất thời giờ.  Nào là nhóm bếp, nào là canh bếp, nào là tắt bếp.. Lò nấu vi ba ra đời tại HK khoảng thập niên 1980 đúng là bà thần bếp là cứu tinh cho công việc nấu nướng. Trong các phát minh khoa học liên hệ đến các việc nhà, tôi thấy có mấy thứ sau đây làm các nHN trợ rất biết ơn. Theo thứ tự, thứ nhất là máy giặt, thứ hai là lò ga hay bếp điện, thứ ba là lò vi bạ Lò vi ba có cái sướng là nấu cực nhanh. Bỏ thức ăn vào lò trong một thời gian cực ngắn. Bấm cái nút. Đi vào thay cái áọ  Đi  ra là có thức ăn đồ uống ngaỵ  Rất là đỡ vất vả cho những con người không muốn tiêu phí thời giờ qúa nhiều cho việc nấu nướng.

Nhưng có thể nói cái biến đổi lớn nhất xảy ra trong thời gian 25 năm tôi có dịp chứng kiến tại HK, là sự xuất hiện của Internet vào cuối thế kỷ hai mươi này.

Sự xuất hiện internet làm thay đổi hệ thống tập quyền của xã hội. Internet cho mọi người cơ hội bình đẳng trên màn ảnh com. Internet sẽ hứa hẹn một khúc quanh quan trọng trong các sinh hoạt dân chủ của nhân loạị

Sự thay đổi của những gì xảy ra trong xã hội HK khiến tôi kinh ngạc và thích thú quan sát.  Trong vòng 25 năm tôi chứng kiến những phát minh khoa học và kỹ thuật làm thay đổi đời sống con ngườị  25 năm tôi chứng kiến những ảnh hưởng và thành qủa mà các đại học HK như Stanford  và Berkeley đã tạo ra trên các thành phố Sunnyvale, Mountain View, Santa Clara, San Jose, Milpitas. Để biến thung lũng trồng cây ăn trái và hoa  này từ San Francisco Bay Area thành Silicon Valley.  Tạo nên bao nhiêu là công ăn việc làm cho dân chúng trong vùng.  Từ đó tạo ra công ăn việc làm cho dân chúng toàn nước  Mỹ.  Và tiếp theo là tạo ảnh hưởng lây lan trên toàn thế giớị

25 năm tôi quan sát  thấy các chính quyền Mỹ quản lý quốc gia này như thế nào để có thể xử dụng những phát minh của các nhân tài nước Mỹ.  Sự hỗ trợ của hệ thống chính trị HK đã giúp các nhân tài phát triển và đóng góp khả năng của mình cho quốc gia này.

HK bị tố cáo là bòn chất xám từ các quốc gia khác. Các sinh viên đến Mỹ du học có khuynh hướng ở lại đây sau khi tốt nghiệp. Tôi nghĩ sự thu hút của nước Mỹ đối với các nhóm di dân không chỉ nằm ở chỗ quốc gia này giàu mạnh, mà căn bản hơn, là quốc gia này đã bảo đảm cho mọi người một cơ hội bình đẳng tiến thân.  Sự tôn trọng quyền tự do cá nhân và tôn trọng quyền bình đẳng của mỗi người được bảo đảm bởi  hiến pháp HK không phải là những ngôn thuật trên văn bản. Hai nguyên t¡c này đã được chính quyền dân cử HK cố gắng thực thi trong đời thường. Và người dân sinh sống tại HK thấy quyền lợi này được tỏ lộ trong đời sống tại xứ sở nàỵ Và đây chính là điểm tinh thần rất thu hút của nước Mỹ.  Thực tế vẫn có thể xảy ra các sự kỳ thị như trong mọi xã hội con người nào khác nhưng trên nguyên tắc, HK có đầy đủ các sự bảo vệ luật pháp một khi cá nhân nào đó cảm thấy mình bị đối xử một cách khác biệt.

Rồi một ngày cuối năm 1992, tôi bắt đầu những chuyến trở lại VN. Xứ sở đã sanh đẻ ra tôi và đã nuôi nấng tôi 20 năm trước đó.

Tôi đã cực kỳ kinh ngạc khi thấy các chiếc Honda Dame từ đời 1966 – 67  vẫn chạy trên đường phố. Cùng một lúc tôi nhận ra rằng  là 25 năm qua  xứ sở VN  không phát triên được bao nhiêu nếu không muốn nói là tụt hậu so với mức độ tiến hoá của các nước khác.

25 năm. 1975 – 2000, VN không có một phát minh mới nào thì chớ, mà con người thì cũng ngắc ngoải què quặt ốm yếu không đủ ăn.

Vào 10-1999, đài vô tuyến HN hăm hở đưa tin “Nước ta hiện có 39% trẻ em thiếu dinh dưỡng“.  Trời đất!  Thế 25 năm qua hơn 70 triệu dân Việt làm cái gì mà trẻ em Việt còn thiếu ăn đến thế.  Không phải nước VN là nước hãnh diện có một hình dáng giống như  một đòn gánh cõng hai vựa lúạ  Trung Việt là cái đòn gánh, gánh hai đầu lúa Miền Bắc và Miền Nam ư ?

25 năm, khi trở về VN năm 1995, tôi cứ được nghe hoài cái điệp khúc: “Ối giời bây giờ cô về thấy thế này là khá hơn nhiều rồi đấỵ  Bây giờ Miền Nam hết còn phải ăn gạo độn bo bo rồị” “Sướng rồị Miền Bắc bây giờ tốt và sướng trở lại như thời Pháp Thuộc rồi đấỵ  Trước đây thời kỳ bao cấp còn khổ lắm cô ạ “. Thời bao cấp DCCH CS là thời thế nào? Là thế này: Miếng thịt lợn, chao ôi là vĩ đại

Miếng thịt bò lại vĩ đại bằng hai

Chanh, chuối, cam, đường, lạc, đỗ, gạo, khoai

Tất cả những gì người có thể nhai

Đảng mó tới tự nhiên thành vĩ đại

Chuyện có thực mà tưởng như thần thoại

( Nguy­ễn Chí Thiện 1974)

Trời ơi!  Tưởng sướng hơn là sướng hơn thế nàọ Ai ngờ sau mấy chục năm theo CNCS, khi Gobachev mất, đế quốc CS ở Nga và Đông Âu sụp đổ, nhà nước VN thấy không thể nương tựa vào đàn anh CS quốc tế nữa nên đành phải mở cửa chút chút để ngườI dân tự cứu mình.  Một trí thức trong nước đã nhận định: “Thôi đất nước chỉ làm được một điều duy nhất đáng kể: Đó là giải phóng sức lao động của người dân “..  Điều này cũng có nghĩa là chính quyền ngay khi đó, không làm gì được nữa, muốn giữ hộ khẩu để kiểm soát dân cũng không đủ lương thực để cung cấp, nên phải để người dân tự cứu lấy mình, tự mình sản xuất và kiếm ăn lấy, và đừng trông chờ gì được nhà nước nữạ Bấy giờ người dân mới thấy được “sướng” trở lại chút chút như thời bị Pháp đô hộ!

Thiệt là một lối so sánh cù nhầỵ Một thứ VH tâm thần chậm tiến. Những người dân này bị vắt óc và bóp bao tử đến độ họ tin như vậy là hồng ân của chính quyền này làm ra tốt lắm rội  Nên khi tôi đưa ra những con số của WB cho họ xem. Họ ngó lơ đị  Trong khi tôi nói đáng lẽ 25 năm qua VN với một tiềm lực mạnh như vậy có thể phát triển ngang bằng hoặc hơn các quốc gia trong vùng.  Họ không tin .

25 năm sau chiến tranh.  Một sáng thứ sáu 28-10-1999 ở HN, tôi đọc trên một tờ báo được xuất bản bởi Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, Ministry of Planning an Investment (MPI) toà soạn 175 Nguyễn Thái Học, báo in bằng tiếng Anh, một cái đồ biểu nằm chình ình: “Percentage of grocery sales in supermarkets: Hong Kong: 70%, Singapore: 69%,South Korea: 62%, Malaysia: 52%, Philippines: 49%, Viet Nam: 5%. (23)

Không thể tưởng tượng nổị  Sức mua bán của người VN nghèo kiết xác: chỉ  5%.  Trong lúc này, cái gì xem ra cũng trật búa, chính quyền hết sức là bất lực. Cứ nhìn vấn đề di chuyển công cộng thì thấy rõ sự bất lực của chính quyền. 25 năm hoà bình 1975-1999, ĐCS vẫn không có khả năng thiết lập một hệ thống chuyên chở công cộng cho người dân. Phương tiện di chuyển là do người dân tự lo lấỵ Cho đến 1999, phương tiện di chuyển chính của người dân là xe đạp, và xe gắn máy.  Xe bus chạy trong thành phố thì không người đi.

Mỗi ngày tôi đón xe bus từ trạm khởi hành là Bờ Hồ đi vào đại học Quốc Gia trong Thanh Xuân, Hà Nôi.  Xe bus nhỏ có khoảng 20 chỗ ngội  Xe sạch sẽ rất lý tưởng cho mọi người muốn xử dụng phương tiện di chuyển công cọng.  Chỉ có điều ngạc nhiên vĩ đại là xe hết sức trống trải.  Rất nhiều buổi sáng tôi là hành khách duy nhất khởi hành từ bờ hồ Hoàn Kiếm.  Phải đi cho đến khúc Văn Miếu, Tôn Đức Thắng, mới bắt đầu có lai rai khách đón đi Hà Đông. Cũng chỉ lác đác khách thôị Không bao giờ xe đầy khách cả.

Vé xe rất rẻ.  Chỉ bằng giá 3 củ cà rốt  hoặc bằng giá 6 trái dưa leo, hay bằng một nắm xôi gấc to to. Một cuốc từ Hồ Hoàn Kiếm đi đến Hà Đông chỉ bằng vậỵ  Gía đồng hạng.  Sự khó hiểu là đây.

Tại thủ đô HN của nước VN.  Lợi tức trung bình của người dân VN chỉ 300 usd một năm so sánh với 10.000 usd ở Đài Loan, thế mà thủ đô HN, thủ đô thương mại SG, và tất cả các tỉnh trên toàn cõi nước VN CS chưa có nơi nào có được hệ thống chuyên chở công cộng xe điện ngầm ở Đài Loan. Trong khi đó hệ thống xe bus ở HN thì lại không có hành khách. Thế người dân HN, người dân SG, người dân các tỉnh khác đi bằng gì ? Người dân cả nước không thể nhờ vào chính quyền trong việc cung cấp phương tiện công cộng, nên những ai có thể mua xe máy hoặc xe đạp thì tự túc lấy phương tiện di chuyển của mình. Còn lại số “người nghèo” đông đảo kia thì không có đủ tiền để đi một cuốc xe bus công cộng.

Ở thủ đô HN, các em sinh viên đi đến đại học không có đủ 2500 đồng để đi trả tiền xe bus.  Cũng như người dân HN, sinh viên nào có thể tự túc phương tiện đến trường thì họ xử dụng xe đạp, hay xe gắn máỵ  Tôi thường tự hỏi còn lại số đông sinh viên kia không hiểu họ đi bằng phương tiện gì ?

Tuy một cái vé xe bus chỉ bằng giá của 6 qủa dưa leo, nhưng vé xe bus tại HN  thực ra vẫn còn qúa đắt so với  lợi tức của người dân, khi so sánh với các nước trong vùng và trên thế giới.

Và vì vậy những cuốc xe bus thênh thang trong thành phố HN tha hồ cho tôi ngồi từ Bờ Hồ Hoàn Kiếm đến cổng trường đại học Tổng Hợp Quốc Gia ở ngoại ô HN.

Vấn đề phi lý ở chỗ chính quyền lại cho nhập cảng qúa nhiều xe gắn máy.  Thay vì dùng ngoại tệ để xây dựng hệ thống chuyên chở công cọng mà bất kỳ thành phố lớn nào cũng cần đến và sẽ có lợi về mặt kinh tế trong trường kỳ. Cùng lúc càng nhập cảng nhiều xe gắn máy, sẽ càng tạo ra nhiều tắc nghẽn lưu thông hơn trước.  Khói xe gắn máy tạo nên vấn đề ô nhi­ễm không khí trầm trọng tại các thành phố này chỉ làm cho hai lá phổi của những cư dân thành phố đen thui hơn mà thôi.

Kể từ khi có biến cố tị nạn 1975, người Việt sau chiến tranh ngơ ngác sang xứ Tân Thế Giới mà ông Columbus đã tìm thấy vào năm 1492 đó.  Người Việt sang HK không một đồng xu dính túi.  Đúng là một cái đám chạy tị nạn CS mất áo mất quần mất thân mất gia đình không còn gì nữa cả.

Vậy mà chỉ một thời gian saụ 10 năm sau thôi, là cũng đám người Việt đó thành công, mua nhà, mở tiệm, học hành đỗ đạt trong xã hội HK đáng nể luôn.

Chuyện học hành thành công vượt bực của học trò VN đã làm ngạc nhiên nhiều giới tại HK. Sự thành công đặc biệt của các học sinh VN đã gây sự kinh ngạc tột độ cho các nhà giáo dục HK khiến họ phải đặt câu hỏi về sự liên hệ giữa tình trạng giàu nghèo của học sinh và mức độ thành công của học sinh đó tại học đường.  Là liệu những khủng hoảng của hệ thống giáo dục HK đến từ các vấn đề xã hội hay là đến từ các vấn đề học vấn. (24)

Chuyện sở hữu nhà cửa của người VN làm cho các cư dân Mỹ Đen, Mỹ Trắng, Mỹ Mễ­, ở CaLi ghen tị và đồn là dân Việt tỵ nạn chắc được chính phủ Mỹ giúp tiền mua nhà.  Nha sĩ kỹ sư Việt ra trường như nấm dại. Cứ nhìn vào danh sách bác sĩ và nha sĩ  có họ Việt ở California, bảo đảm là danh sách này nhiều hơn danh sách của các chuyên viên y khoa hiện có tại HN và SG năm 2000.

Sự thành công của người Việt ở HK đặt ra một câu hỏi: Cũng giống dân đó, tại sao họ không thành công được ở xứ sở họ.  Tại sao họ không thể giàu có, đỗ đạt, thành công ở VN như họ có thể làm ở HK.

Cũng những con người đó mà tại sao ở VN hiện nay họ còn nghèo khổ qúa độ vậy ?  Về VN nhìn những người làm đường múc từng chiếc gàu đổ nhựa lên từng đọan đừờng rồi so sánh những chiếc xe lồ ồ làm đường ở California mà tôi xót xa cho người dân VN.

Nhìn thức ăn thừa mứa trong chiếc tủ lạnh nhà tôi ở San Jose, rồi nhìn những bữa cơm của hơn 70% dân VN hiện nay mà tôi ăn ngon ở VN không nổi.

Không phải là những người dân Việt di cư sang HK thành công nhanh chóng cũng chính là những người thông minh, siêng năng, gốc gác từ VN đó sao!

Thế tại sao xứ sở VN đã không tạo cho họ một cơ hội tiến thân như xứ sở HK đã tạodựng cho những người dân nàỵ

Có phải là vì những nhà lãnh đạo VN từ trước đến nay mải mê dẫn đưa dân tộc này vào những chuyện gì gì mà không tạo cơ hội bình yên làm ăn xây dựng cho dân ho..

Chứ nếu mà những nhà lãnh đạo VN đã  tạo điều kiện và cơ hội cho những người dân VN làm ăn và xây dựng nhà cửa công ăn việc làm thì nước VN đâu có nghèo đói và lạc hậu như hiện naỵ

Cứ so sánh 25 năm sau chiến tranh ở Nhật Bản và ở Singapore thì thấy.

1945 Nhật bị bỏ bom ở Hirosima.  Họ thua trận. Họ đầu hàng. Họ tả tơi.  Họ nghèo nàn. Chỉ cần 25 năm, nước Nhật trở thành một quốc gia hùng mạnh. 1965, nước Nhật đã có một địa vị kinh tế hạng nhất châu Á.

6/1959 Singapore mới bắt đầu thành tự lập và còn là một nơi vô danh tiểu tốt. Đến 1995 Singapore trở thành một địa điểm tên tuổi lẫy lừng trên thế giới.  Ông Lý Quang Diệu chỉ cần 25 năm để biến Singapore thành một cường quốc kinh tế:  “Lý Quang Diệu là người, 35 năm về trước, đã sáng lập quốc gia Singapore khi tách vùng đất này khỏi Liên bang Mã Lai Á, tức là Malaysia, thành quốc gia độc lập. Rồi trong có một phần ba thế kỷ, xứ này đã đạt tốc độ phát triển mà các nước tiên tiến Tây phương phải mất hai thế kỷ mới hoàn thành. Singapore hiện là quốc gia giàu có, công bằng và tiến bộ nhất Á châụ Với thành tích đó, nhân dịp kỷ niệm 35 năm tuyên bố độc lập, thủ tướng Ngô Tác Đống, người kế nhiệm ông Lý Quang Diệu, lại có bài di­ễn văn cảnh báo quốc dân về nhu cầu đổi mới tư duy hầu theo kịp đà tiến hóa của thế giớị Người ta không thể không so sánh sự kiện này với việc Đảng và Nhà nước VN đang tự đề cao thành tích nhân ngày họ gọi là CM tháng Tám, một vụ cướp chính quyền dễ­ dãi, xảy ra 55 năm về trước, để đưa VN vào 30 năm chiến tranh và 25 năm lụn bại, tới nay vẫn chưa dứt.

“Nhà cầm quyền HN thường có thói quen tìm trong các xứ khác vài điều tiêu cực để gián tiếp đề cao cái gọi là ưu điểm lãnh đạo của họ.. Nếu quả vậy thì, 24 giờ sau ngày 19-8, họ đã có thể tìm thấy nơi bài diễ­n văn của Thủ tướng Ngô Tác Đống những điều mà người Singapore không hài lòng về hiện tại và lo ngại về tương lai của họ. Trong bài diên văn mừng 35 năm độc lập, ông Ngô Tác Đống nói rằng sự đổi thay của thế giới đang tạo ra nhiều thách thức sinh tử cho Singapore. Một thách đố lớn nhất mà Thủ tướng họ Ngô, và cả Phó thủ tướng Lý Hiển Long, con trai ông Lý Quang Diệu, đều nói tới, là làm sao bảo vệ sự thuần nhất xã hội của Singapore.
“Quốc gia này hiện có hơn 3 triệu dân, với đà gia tăng dân số có 1,48% một năm, nên dân số suy giảm dần nếu không mở cửa đón nhận thêm di dân. Và sau 35 năm phát triển rất mạnh đại đa số dân chúng đều thành người có trình độ kiến thức và tay nghề cao, trong khi kinh tế vẫn cần tới giới lao động tay chân không chuyên môn. Singapore đã mở cửa đón nhận di dân, chủ yếu từ Bangla-desh, Ấn Độ và Thái Lan, và 1/4 dân số của họ giờ này là người nước ngoàị Đây là một bài toán xã hội hay sắc tộc có thể bùng nổ về dài mà giới lãnh đạo không thể không quan tâm.
“Nổi tiếng Á châu là có tầm nhìn rất xa, lãnh đạo Singa-pore đã khéo léo xây dựng một cơ chế xã hội thuần nhất, một hệ thống kinh tế tự do và chánh sách vĩ mô lành mạnh, để biến quốc gia nhỏ bé này thành một cường quốc kinh tế trong vùng. Hiện nay, tính theo tỷ giá mãi lực, tức là sức mua tương đối của đồng bạc quốc gia, thì kinh tế xứ này sản xuất một năm chừng 100 tỷ usd, và lợi tức đồng niên của một người dân là 26.300 đô lạ  Dự trữ ngoại tệ của họ hiện lên tới 76 tỷ usd, và nếu so sánh với sức sản xuất và lợi tức của 77 triệu dân Việt, Singapore quả là một thế giới khác lạ, giàu mạnh gấp trăm.”
(25)

ĐCS HN có 25 năm hoà bình: 1975-2000. Con số suy dinh dưỡng trẻ em VN theo đài vô tuyến HN phát thanh chiều ngày 21 tháng 10 năm 1999 là 39%. 25 năm qua ĐCS HN bận rộn làm những thứ gì mà không kiếm đủ cơm ăn cho một dân tộc thông minh, cần cù, và cầu tiến như dân VN.

Tôi tin là dân VN có khả năng làm cho nước VN trở thành một cường quốc của thế giới như Nhật, như Singapore, như Mỹ, như Đức. Nhưng tại sao nước VN lại không trở thành một cường quốc như các nước trên ?

Cũng chả thấy người dân VN nào phản đối !

Vậy là nước nhà yên hàn. Không ai nổi loạn. Thiệt là hay. ĐCS cai trị nhân dân thiệt là haỵ  Đói tả tơi không cơm ăn áo mặc mà dân không ai nổi loạn.

Một người đàn bà trung niên trung lưu tại HN kể với tôi rằng bà ta bị Hội Phụ Nữ Phường bắt đóng tiền hằng năm cho Hội mà chẳng bao giờ bà ta biết Hội làm được việc gì. Bà ta nói anh CA phường thường xuyên đến xin tiền và bà ta phải đóng thì công việc của bà ta mới được để yên. Vào 12-1999 một cán bộ thuế đến báo cho bà ta biết là thuế nhà buôn đang từ 13% vào đầu tháng 12, sẽ tăng thành 22% vào 1-2000. Bà ta nói với anh cán bộ thuế là tình hình kinh tế hiện nay xuống dốc, nhà nước lại tăng thuế nhà lên cao thế, tiền đâu dân chúng đóng. Và rồi bà ta bảo với tôi: Tôi bảo với anh ta, anh làm sao thì làm, để tôi khỏi bị đóng cái khoản tiền thuế tăng ấy, có gì tôi sẽ hậu tạ anh. Bà ta cười cười . Tôi muốn hiểu rõ hơn nên vặn hỏi thêm. Bà ta cho biết: Cứ đút thêm ít tiền cho anh cán bộ là xong ngaỵ Cứ để cho anh ta lo dùm là được

Sau khi nghe bà ta nói rất nhiều điều tiêu cực về chế độ CS HN nàỵ Tôi hỏi bà ta thế tại sao chính quyền này tệ lậu vậy mà dân chúng vẫn để yên .

Người đàn bà trả lời rất tỉnh táo lạnh lùng kiểu CS HN: Dân VN ngoan lắm. Chả phản đối.

Có thật là người dân Việt ngoan nên dù chính quyền này bóc lột dân chúng, dù bất lực đến đâu, người dân vẫn chấp nhận họ .

Đây là những lý do mà tôi có nghe ra:  Người dân nghèo qúa.  Khi người ta đói và sầu khổ qúa, người ta chỉ do phản ứng để chống chỏi cái nghèo và cái khổ trước đã. Phần lớn dân VN lúc này chỉ lo kiếm cơm ăn cũng đủ hết sức lực rồi.  Sức đâu mà họ phản đối điều gì khác .

Chính quyền CS HN cũng rất ma giáo vẫn rất ra vẻ qúy trọng giai cấp nghèo nàỵ  Nếu quan sát kỹ sẽ thấy các phương tiện truyền thông của nhà nước CS rất  “chăm chút”  các câu chuyện và các hình ảnh về các bà mẹ liệt sĩ, anh thương binh sản xuất giỏi, hộ nông dân vùng sâu .  Những hình ảnh và những câu chuyện về giai cấp này được nhà nước CS HN chăm lo nhắc nhủ thường xuyên trên truyền hình, phim ảnh, báo chí, công văn, các cuộc gặp gỡ của các lãnh tụ. Những hình ảnh nghèo nàn quê mùa thô thiển của những con người không trang điểm không xa hoa này đôi khi làm cho người xem, người đọc, người nghe thấy các hình ảnh này, các câu chuyện này thiếu tính giải trí.  Nhưng bù lại chúng khiến cho tâm lý đám dân nghèo này được xoa dịu chút chút là thấy nhà nước cũng có chú tâm đến mình. Dù sự chú tâm này chả tạo nên được sự thay đổi nào trong suốt hơn nửa thế kỷ mà ĐCS cầm quyền tại VN.

Trình độ dân trí người dân VN còn qúa thấp. Người dân VN tuy không mù chữ nhưng vì do sự nghèo khổ nên bao nhiêu sức lực đều đóng góp cho việc tìm miếng ăn và chỗ ở. Họ không có sức lực, trí thức, tâm tư để chiêm nghiệm và học hỏi những giá trị cao cả hơn.  Một người  đàn ông nhà thầu xây dựng HN đã vui đùa bảo với tôi: Người VN lâu nay có biết Nhân Quyền là cái gì đâu mà nói chuyện Nhân Quyền với chúng tôi.  Anh ta là một nhà thầu xây cất nên rất thực tế. Khi hỏi chuyện tôi và được biết hai cái vé máy bay cho vợ chồng anh ta đi về Cali – HN  trị giá khoảng 2000 usd, anh ta vội nói:  “Ối giời kinh thế à. Một cái vé của cô là chúng tôi có thể xây được một căn nhà cho ông cụ tôi ở Nam Định rồi đấy.”

Thái độ của những người dân bị trị. Lịch sử bị đô hộ bởi  những thế lực tồi tệ đã để lại một di sản xấu trên người dân VN: người Việt bị hãm hiếp tinh thần đã qúa lâu.  Những chính quyền trong lịch sử VN từ các chế độ Phong Kiến, Ngoại Bang, Độc Tài đã chuyên môn áp đặt những cái còng lên dân chúng VN. Sự bị trị này khiến cho người dân xứ này nhìn những người  cầm quyền như là những kẻ có quyền tuyệt đối. Trạng thái tâm lý bị trị khiến họ không còn nhìn ra quyền lợi công dân của họ.  Kẻ bị trị lâu năm là những kẻ nô lệ ngoan ngoãn nhất với kẻ cai trị mình.

Sự ù lì của giai cấp kẻ sĩ. Giai cấp trí thức thường là giai cấp trung lưu và có khả năng hướng dẫn xã hội. Giai cấp này cũng thường có khả năng nhìn ra những sai lầm của giai cấp cai trị và có thể có phản ứng cảnh cáo những sai lầm nàỵ  Lịch sử VN lại cho thấy giai cấp kẻ sĩ không phải là giai cấp đi làm CM hay đứng ra đảm nhận vai trò lãnh đạo quần chúng để thay đổi đất nước. Có những giai đọan, thành phần trí thức VN lại thoả thuận với chính quyền cai trị như trường hợp những trí thức như Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh, Đỗ Hữu Phương, Lê Thân, Hoàng Cao Khải, Trần Ích Tắc.. trong qúa khứ.

Thời Pháp đô hộ nếu có một ông Phan Văn Trị chửi Pháp tàn tệ thì có một ông Tôn Thọ Tường cộng tác với Pháp hết sức đắc lực.

Truyền thống tiêu cực của giai cấp kẻ sĩ VN thường là không hợp tác với chính quyền.  Sau năm 1975, giai cấp trí thức Miền Nam được gọi là có liêm sĩ rút lui vào đời thường không cộng tác với chế độ CS Miền Bắc. Những thành phần cộng tác với chế độ mới này như Nguyễ­n Xuân Oánh, Trịnh Công Sơn, Sơn Nam, Vũ Hạnh, bị những người Việt Hải Ngọai tức khối người Việt vẫn tiếp tục chống đối chế độ CS nhất, dè bỉu chê bai là những người vô liêm sĩ phục vụ cho chế đố phi nhân VC.  Chính cái truyền thống không đứng chung với chính quyền xấu này đã khiến cho giai cấp trí thức trung lưu VN bỏ lỡ những cơ hội để giáo hóa và cải tổ những hế thống chính quyền tồi tê.. Nếu xét trên khía cạnh bất cứ một sự chung sống của hai thế lực nào cũng có một hậu qủa ảnh hưởng hai chiều, và ảnh hưởng lẫn nhau.

Trí thức VN không tạo ra được một lọai sức mạnh của giai cấp thay đổi tình thế (movers and shakers) như giai cấp lao động VN.  Một số nhân tài trí thức lừng lẫy như Trần Hưng Đạo hay Nguy­ễn Trãi cũng chỉ đóng vai trò quân sư chứ không vào vai lãnh đạo quần chúng như các anh hùng áo vải Lê Lợi hay Nguy­ễn Huệ.

Dưới chế độ Đảng trị CS, người VN cũng nghe tới những trí thức chống đối như Phan Khôi, Phùng Quán, Văn Cao, Dương Thu Hương, Trần Độ.. Nhưng dù chống đến cỡ nào thì các thành phần trí thức VN không bao giờ tạo thành một giai cấp mạnh mẽ đủ để tạo nên một thứ cuồng phong khởi xướng những cuộc CM lớn. Họ chưa bao giờ là những nhà lãnh đạo lôi cuốn được đám đông quần chúng đi theo như những nhà CM ít học đã làm được tại VN.

Nhà thơ ngục sĩ Nguy­ễn Chí Thiện trong một bài di­ễn văn Trí Thức VN đọc trước Đại Hội Y Sĩ VN tại Paris năm 2000 cũng đã có một lối giải thích tương tự: “Tại sao ở VN, trong một bối cảnh chính trị khởi đầu cũng gần giống như ở Liên Sô, quần chúng lại phản ứng yếu ớt như vậỷ  Đại đa số nhân dân, nhất là giới trí thức văn nghệ sĩ, từ Nam chí Bắc đều chán nản, khinh bỉ chế độ toàn trị; các đảng viên cấp thấp thời hoang mang, mất lý tưởng, các đảng viên cấp cao thời phấp hỏng, lo sơ… Hệ thống XHCN tan. Đảng mất hết chỗ dựa trên quốc tế, trở thành bơ vơ côi cút. Tại sao trong tình thế chông chênh như vậy mà Đảng vẫn đứng được, mà chế độ độc tài vẫn tồn tại? Xin trả lời một cách thẳng thắn: thứ nhất, đại đa số trí thức VN, già cũng như trẻ, hèn!  Qua nhiều năm sống dưới sự khủng bố thường trực của Đảng, họ đã mất hết sĩ khí, nỗi lo sợ tâm lý an phận thủ thường đã chiếm lĩnh toàn bộ tâm hồn ho..  Lối sống đầu hàng, khuất phục, nuốt nhục, nịnh bợ, luồn lọt đã thấm vào tới tận xương tủỵ  Tiếng nói đơn lẻ của một số văn nghệ sĩ, trí thức dũng cảm chỉ được truyền bá một cách bí mật qua những bản photocopie, quần chúng được đọc qúa ít và chỉ thích thú một cách âm thầm. Nhẽ ra phải là những cuộc biểu tình, xuống đường rầm rô.., những cuộc hội thảo sôi nổi rộng khắp toàn quốc.  Trong tình trạng im lặng bất động đó, không ít bọn bồi bút đua nhau lập công, viết những bài bênh vực Đảng, Bác, bảo vệ chế đội, hù dọa các chiến sĩ dân chủ.  Đau buồn nhất là cả các “kiện tướng” trong phòng trào Nhân Văn Giai Phẩm suốt ba thập niên bị trói chặt, ngậm đắng nuốt cay trong cũi sắt, cũng ùa ra để ca ngợi Đảng, Bác, chế đô… Lê Đạt với tập “Trường Ca Bác”, Hoàng Cầm với bài thơ dài “Nhớ Về Làng Sen”, Trần Dần với tập thơ “Cổng Tỉnh”.  Tình trạng như vậy làm sao có thể hướng dẫn, thúc đẩy giới trẻ, nhất là các sinh viên học sinh? Mà trong mọi cuộc nổi dậy, không thể thiếu họ; bao giờ họ cũng là  những người xung trận đầu tiên, với tinh thần vô úy, tràn đầy máu nóng!  So với Nga, khi vài giáo sư tuyên bố phải viết lại sách giáo khoa văn học, sử học một cách trung thực, lập tức ở mọi trường học các giáo sư ngưng giảng dạy, các sinh viên học hai môn đó. Họ còn tiến xa hơn là bãi bỏ luôn cả các môn học về chính trị, về chủ nghĩa Mác Lệ Tóm lại, do bác nhược, giới trí thức VN đã không làm được như trí thức Đông Âu và Liên Sộ Đó là lý do thứ nhất.

“Lý do thứ hai: Phải công tâm thừa nhận rằng dân trí chúng ta còn thấp Báo chí ngoại quốc không được đọc. Anh văn, Pháp văn qúa ít, vả lại cũng không có mà đọc; nếu có thì giá qúa đắt, một tuần lê lương mới mua nổi một tờ.  Các đài ngoại quốc phát thanh tiếng Việt, ngay ở các thành phố lớn cũng chỉ có một số quan tâm tới thời cuộc theo rõị Nói gì đến 80% nông dân và đồng bào miền núi!  Ý thức về Tự do, Dân chủ còn mơ hồ nên chưa thấm thía sâu sắc nỗi nhục phải sống dưới ách độc tài, mất hết quyền làm người, nỗi sợ hãi vẫn còn đè nặng lên tim, óc, do đó không bậy dậy được, phản ứng qúa yếu ớt. Khi nói tới dân trí là nói bao gồm luôn cả đảng viên CS, quân đội và CA.  Họ cũng là con em của nhân dân. Vì trí tuệ thấp kém nên sự phân hóa bất phục của họ tuy có, nhưng chưa đủ cực mạnh để phá vỡ Đảng thành hai phe rõ rệt: Dân chủ và Bảo thủ giáo điều, mà chỉ làm trì trệ, rệu rã guồng máy của Đảng.  Trong Đảng, cũng như trong nhân dân, sự phản kháng mang tính chất thụ động, trong lúc tình thế đã chín mùi, đòi hỏi sự năng động, sự quyết liệt, sự bền bỉ, sự khôn khéọ   Tóm lại, chế độ toàn trị VN đã thoát hiểm vì hai yếu tố chủ chốt: sự đớn hèn của tầng lớp trí thức và tình trạng thấp kém của dân trí…”  (26)

Sự đồng loã của các tôn giáo tại VN.

Khi về thăm lại VN vào những năm của thập niên 1990, tôi thấy rõ rệt một điều là dù VN đang là nước nghèo nhất thế giới nhưng VN lại là một trong những nước có nhiều nhà thờ và và chùa đang được xây dựng và tu bổ hơn trường học!

Phật giáo và Công giáo là hai tôn giáo hiện đang có ảnh hưởng mạnh tại VN.

Dưới chế độ CS, cha và sư “quốc doanh” trở thành một sinh họat chính thức. Các cha và các sư này làm việc cho chính quyền. Tôn gíao không phải để phục vụ tín đố mà tôn gíao để duy trì sự an ninh của quốc gia. Trong nhà thờ các cha chỉ cắm cúi giảng về những đức tin mến chúa và yêu người. Tại nhà chùa các sư chỉ hay cúng kiếng đám ma và tụng niệm kinh cầu khi các phật tử đến dâng hương lễ phật.

Cha sư “quốc doanh”..  CN CS chính thức tuyên bố là vô thần và là lực lượng chính trị cầm quyền duy nhất (vô sản chuyên chính) trong xã hội Karl Marx đã từng viết một câu kinh điển cho mọi cán bộ CS: “Tôn Giáo là thuốc phiện của quần chúng.”

Nhà cầm quyền CS từ trước đến nay ở mọi nơi trên thế giới vẫn công khai chỉ trích, cản trở, làm suy yếu các tổ chức tôn giáo tại các nước mà họ cầm quyền vì họ luôn luôn nhìn các tôn giáo như là các đoàn thể sẽ tranh giành ảnh hưởng trên quần chúng với họ.

Nay, họ lại huấn luyện, đào tạo các cán bộ tôn giáo “cha quốc doanh” và “sư quốc doanh”,  để nắm giữ các chùa, nhà thờ, giáo hội, không khác gì với việc thực dân Tây ngày xưa lập ra các ty nấu thuốc phiện để bán công khai cho dân VN bị trị.

Ở miền Bắc từ 1990 khi có phong trào “Đổi Mới”, các chùa được phép mở cửa lại nên bỗng thành những nơi sinh hoạt nhộn nhịp. Trong Miền Nam thì các nhà thờ vào ngày chủ nhật có đông người đến tham dư.. Có thể nói trong một tuần l­ễ, ngoài chợ búa, nhà thờ là nơi có đông người tự động đến sinh họat nhất.

Sự toa rập của các nhà thờ và các nhà chùa trong việc làm an ổn tâm thần những người tín đồ đồng thời cũng là những công dân của một đất nước bị xiết chặt bởi một chế độ Đảng trị độc tài như ĐCS chỉ làm cho VN tồi tệ thêm. Người dân bị trị bởi Đảng, nhà chùa và nhà thờ. Hai thế lực chính trị và tôn giáo này ra sức ru ngủ an ủi người dân trong cảnh nghèo nàn lầm than rằng họ đang được hướng dẫn và chăm sóc bởi những thế lực thần quyền và thế quyền an toàn. Sự an ủi tinh thần hợp với sự khủng bố của chế độ CA trị của ĐCS VN đã khiến cho tất cả mọi thắc mắc dân chủ của người dân bị vùi dập trong tay hai thế lực này.
Sự lên tiếng đầy can đảm của một số vị tu sĩ có tiếng tăm từ xưa như thượng tọa Thích Quảng Độ, Thích Huyền Quang vẫn chưa đủ là một tiếng còi thức tỉnh tâm thức bị trị qúa lâu ngày của lớp tín đồ phổ quát. Hay có thức tỉnh đấy, nhưng còn lo sợ để bày tỏ thái độ của mình.
Sự thiếu thực tế trong cách đấu tranh của các tổ chức chống cọng từ khối  Người Việt Hải Ngoại.
Đừng nói là không có người chống đối sự độc tài kìm kẹp của chế độ CS Hà Nộị Ở hải ngoại, người Việt bền bỉ chống đối chế độ này trong suốt 25 năm 1975 – 2000. Tôi có dịp chứng kiến từ những đợt chống đối đầu tiên do các anh em sinh viên du học Người Việt Tự Do tại Nhật phát động ngay sau ngày 30-4-1975 cho đến đợt chống đối của các cựu tù nhân chính trị Miền Nam HO được phóng thích sang Mỹ vào đầu thập niên 1990.  Sự chống đối của khối Người Việt Hải Ngoại này có thể nói là rất mạnh mẽ và liên tục.
Sự chống đối  này đáng lẽ sẽ tạo nên một sức mạnh năng động lan lây về trong nước nhanh hơn nếu như các tổ chức đấu tranh ở Hải Ngọai không vấp phải một lỗi lầm của bản tính trong nhiều người VN: Sự cực đoan. Chính vì cái nhìn cực đoan chống cọng tự mình đóng kín cửa, là không nhìn mặt Cọng này,  đã khiến cho các người Việt Chống Cọng Cực Đoan tẩy chay những việc như chuyển tiền về giúp người trong nước, tẩy chay làm kinh doanh với VC, tẩy chay đi du lịch về VN, tẩy chay những cuộc tiếp xúc giữa các cán bộ CS và người Việt Hải Ngoại.
Trong thực tế, người dân trong nước đã bị chính quyền CS kèm kẹp và bưng bít tin tức.  Họ không có một nguồn sống nào nên phải vin vào sức sống mà ĐCS mang lại cho ho.. Nếu người dân trong nước được tiếp tế một sức sống nào thì chắc chắn sức sống ấy sẽ tạo lên ảnh hưởng trên họ chứ.
Chẳng hạn chuyện đi du lịch về VN là một ảnh hưởng tốt cho người dân trong nước. Chính những nguồn du lịch này sẽ mang nguồn thông tin về dân chủ, về tự do, về sự tiến bộ của đời sống bên ngoài sự kìm kẹp của ĐCS, đến cho dân trong nước. Chính sự giao tiếp này là một cách cởi  trói bớt tri thức mù mịt của người dân trong nước. Vào cuối 12/1999, nhà nước CS HN đã phải la hoảng về sự du nhập của những nguồn tin phản động do các du khách ngoại quốc mang về.  Các nguồn du nhập này chính là số báo chí tiếng ngọai mà các hành khách ngoại quốc đã để lại trên các chuyến máy bay khi họ về VN. Sau đó số báo chí tiếng ngoại này đã được mang ra bày bán trên các hè phố SG và Hà Nộị  Chính quyền HN báo động là số báo chí từ nguồn này có nhiều bài phê bình các chính sách của ĐCS và như vậy cần phải ngăn chận.
Xem ra chuyện du lịch của Người Việt Hải Ngoại về VN đáng lẽ nên được các tổ chức đấu tranh hải ngoại khai thác tối đa. Để qua đó, các nguồn VH, thông tin, có thể được chuyển về nước nhiều hơn. Nhờ đó công cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài CS HN mới mong được phổ biến và có thêm người trong nước ủng hộ hơn.

Đến hợp tác làm ăn với chính quyền CS Hà Nộị Điều này cũng bị các người Việt Chống Cọng Cực Đoan tẩy chay tối đa. Họ viện lý do là làm ăn với VC là củng cố cho chế độ độc tài nàỵ
Tuy nhiên trong khi các người Việt Hải Ngoại không kinh doanh với chế độ này thì các nhà tư bản Tàu, Nhật, Đại Hàn, Thái, Mỹ, Pháp, vẫn nhảy vào khai thác công việc làm ăn tại VN. Các nhà tư bản ngoại quốc này vào kinh doanh thì đương nhiên họ sẽ tạo ảnh hưởng.  Ảnh hưởng như thế nào thì chúng cũng đều nằm trong quyền lợi có lợi cho họ mà thôi chứ nào họ có để ý đến quyền lợi của dân ta mà tranh đấu.
Các nhà tư bản nhỏ Người Việt Hải Ngoại khi tẩy chay làm ăn buôn bán với chế độ độc tài CS đã chuyển nhượng những quyền lợi và ảnh hưởng của mình sang cho các con buôn ngoại quốc khác. Các con buôn này sẽ rất ít khi chú ý đến chính trị VN. Nhưng ai cấm những nhà tư bản Người Việt Hải Ngoại lồng quyền lợi chính trị và ảnh hưởng nâng cao dân trí người dân VN vào trong sinh hoạt kinh doanh của họ tại VN.
Mặt khác, một sự tẩy chay cực đoan của từ người Việt trong nước lẫn người Việt ngoài nước qúa lâu thì sẽ đưa đến khoảng cách lở sụt sự đóng góp của nhân tài hải ngoại cho sự phát triển VN nhiều hơn. Trong nước thì người Việt CS tẩy chay nhất định không đếm đến Việt Kiều từ Miền Nam ra đi cho dù khối Việt Kiều này thành công vượt bực tại hải ngoạị Ngoài nước thì cứ khăng khăng không nhúng tay vào thay đổi chuyện gì tại VN bao lâu chế độ CS còn tồn tại ở đâỵ  Sự tẩy chay nhau càng lâu dài thì sự chia xa nhau càng nhiều hơn. Chỉ cần bỏ mất một phần tư thế kỷ, một thế hệ khác sanh ra và trưởng thành, đến tuổi 25 không có cầu nối của cha mẹ anh em để lại, các thế hệ này sẽ không còn thấy nhu cầu giao tiếp và sinh hoạt trên căn bản cùng nòi giống như thế hệ cha mẹ VN của họ.  Điều này chỉ gây lên thiệt hại cho sự phát triển VN mà thôi.

Chú Thích

19. Viet Nam Insvestment Review. Số 419/25-31 October, 1999. Trang 2.
20. Public Heath, Trauma War. Margot Cohen, Far Eastern Economic Review, June 29, 2000. Trang 12.
21. http://www.worldbank.org/data/countrydata/countrydata.html
22. “After 25 years of communist rule, Vietnam is one of the poorest countries in the world. With a per capita annual income of slightly more than $300, Vietnam is comparable to Burundi. Me WB reports that more than one third of all Vietnamese little girls and boys, age five and under, have stunted growth because of malnutrition. This is, alas, par for the course with populations in the grip of Marxist-Leninist economics.” THE RUSHFORD REPORT A monthly newsletter based in Washington, D.C. that focuses on the politics of international trade 1718 M ST., N.W., SUITE 364 WASHINGTON, D.C. 20036, May 2000.
23. Viet Nam Insvestment Review. Số 419/25-31 October. 1999. Trang 3.
24.  Caplan, Nathan, Marcella H. Choy, and John K. Whitmore.  The Boat People and Achievement in America: A Study of Family Life, Hard Work, and Cultural Values.  Ann Arbor: University of Michigan Press. 1989. Trang 36-42.
25. “Singapore, Một Thế Hệ Sau” Nguy­ễn An Phú. http://www.rfa.org/comm_article.cgi?article_id=39188&service=Vietnamese. 21.8.2000
26.  Nguy­ễn Chí Thiện sinh ngày 27,2,1939 đã bị giam tù 27 năm trai trẻ thanh xuân vì tội chống đối ĐCS. Ở trong tù ông đã sáng tác và ghi lại trong trí nhớ những bài thơ tù rất đầy mầu sắc chính trị. Khi ra khỏi tù ông lẻn vào toà đại sứ Anh và trao cho một nhân viên toà đại sứ tập thơ chép tay của mình. Ông bị bắt giam lại Ớ HN. Sau đó nhờ sự can thiệp của các tổ chức Quốc tế nên ông được chế độ CS HN thả và trục xuất ra khỏi VN năm 1995.

3 – Nhà  Nước  Quản  Lý. Dưới chế độ CS tại VN hiện nay nhà nước là vua. Nhà nước là thượng đế. Nhà nước là thần là thánh. Nhà nước là cha là mẹ. Nhà nước là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo. Nhà nước là chủ đài truyền hình. Nhà nước chủ công ty sản xuất băng nhạc cho toàn cả nước. Nhà nước chủ Internet. Nhà nước chủ hãng xe liên doanh Toyota với Nhật Bản. Nhà nước chủ hội nhà văn nhà báo. Nhà nước tổ chức thi Hoa Hậu VN Lần Thứ Nhất. Nhà nước chủ tất cả các trường học trên cả nước. Nhà nước chủ tất cả hãng phim. Nhà nước chủ tất cả các rạp hát. Nhà nước chủ các khách sạn lớn, đẹp, sang,  và to nhất trong tất cả tỉnh trên toàn cả nước. Nhà nước mở bài học dạy cho trẻ em phải biết nhường nhịn. Hm, những trẻ em học bài học nhường nhịn này lớn lên chỉ biết nhường nhịn khi thấy ông nhà nước ăn hiếp tước đoạt tất cả mọi quyền hành của mình. Nhà nước kêu họp làng họp xóm để học tập giúp đỡ trẻ em đói khát ngheò khổ. Trời ơi, dân còn chưa đủ ăn làm sao mà còn biểu dân phụ dùm nhà nước thực thi chính sách “Xoá Đói Giảm Nghèo”. Dân VN khổ qúa. Dân VN bị bóc lột lòi xương trơ xương sườn ra. Ông nhà nước nắm hết mọi thứ nhưng ôm mọi chuyện mà làm không xong thì lại kêu dân lo cho dân dùm. Sao tội nghiệp người dân VN qúa!

Khẩu hiệu cai trị của chế độ: Đảng Lãnh Đạo, Nhân Dân Làm Chủ, Nhà Nước Quản Lý. Các nhà nghiên cứu đã “giải mã”. khẩu hiệu trên có nghĩa là, nhân dân làm chủ tập thể có nghĩa là không ai làm chủ hết, và mọi người đều trở thành công cụ sản xuất dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà Nước.

Trên tờ báo Nhân Dân, tờ nhật báo chính thức của ĐCS VN, có ghi khẩu hiệu ngay duới tên báo: “Cơ Quan TW của ĐCS VN. Tiếng Nói của Đảng, Nhà Nước và Nhân Dân VN”..  Trên thực tế làm sao một tờ báo lại có thể là tiếng nói của cả ba thực thể một lúc, khi mà người dân thường lại không có quyền ra báọ  Như thế chỉ có thể giải thích là Đảng và nhà nước nói hộ luôn cho nhân dân cho tiện. Thế nhưng Đảng đâu có được dân chúng bầu cử trực tiếp và công khai. Làm sao Đảng lại có thể đạidiện cho dân được.

Nhân dân được nói là làm chủ đất nước, nhưng đất đai lại do Nhà Nước quản lý và Đảng sở hữu.

Người dân không có quyền sở hữu đất, nếu muốn có đất cắm dùi 20 thước vuông phải làm giấy xin phép có quyền xử dụng đất, và dĩ nhiên phải đóng nhiều thứ thuế, lệ phí và tiền  “trà nước”  cho Nhà Nước, Đảng , và cán bộ, công nhân viên Nhà Nước.

Trong khi đó, các vụ tham nhũng được mang ra xử như vụ Tanimex, vụ Epco- Minh Phụng năm 1999 đều dính dáng đến các sụ chuyển nhượng cả hàng trăm mẫu đất đai, nhà cửa, ơ những nơi đất giá nhất. Chỉ cần so sánh số tiền tham nhũng liên hệ trong vụ Epco, Minh Phụng lên đến khoảng 280 triệu Usd! Trong khi một người dân thường có thể sống qua ngày với lợi tức 1 Usd/1 ngày. Số tiền này có thể nuôi được 280.000.000/365 ngày = 763,123 người dân trong một năm! Tôi không rõ ngân sách “xóa đói giảm nghèo”  của cả nước là bao nhiêu, nhưng chắc chắn số tiền tham nhũng trên cũng đủ nói lên một mức độ tham nhũng như thế nào

Cứ quan sát những bài viết trên những tờ báo, những mẫu tin trên đài truyền hình, sẽ thấy ĐCS trở thành như một thứ tôn giáo tại thế. Và mọi người trong hệ thống của xã hội này đang niệm thần chú cầu cho Đảng và Bác sống mãi mãi muôn đời.

Nghe những chương trình trên đài, đọc những bài báo của các tờ báo phát hành của xã hội VN hiện nay thì chỉ nghe những ước vọng, những niềm tin, những tường trình tốt của Đảng và nhà nước CS VN kể từ ngày họ chiếm chính quyền VN.

Trong những chương trình trên đài và trên báo này vẫn có những bài phân tích sự thất bại để khắc phục và tiến bộ lập đi lập lại gần nửa thế kỷ nay. Nhưng không có phần thảo luận và trình bày ý kiến cá nhân có tính cách đối lập. Vẫn có cảnh chiếu lại những thực tế đời thường và đặt vấn đề cần thay đổi đến từ đâu, nhưng có thể 20 năm nữa mới thi hành được.

Sự độc quyền của ĐCS nắm giữ tất cả mọi sinh hoạt của quốc gia  đã biến quốc gia này đang thờ lạy ĐCS và ông Bác HCM một cách mù quáng.  Mọi kẻ ở trong hệ thống này chỉ biết tin, lạy, mong, và hy vọng vào ĐCS lèo lái đất nước này. Sự phán đóan của lý trí phải nhường chỗ cho niềm tin. Thành qủa của sự việc phải quy phục theo tiêu chuẩn chỉ đạo của Đảng. Thành công của dự án phải duyệt qua hàng rào phục vụ Đảng. Thất bại của kế hoạch vẫn được nuôi dưỡng vì danh dự của Đảng.

Kể từ thời xa xưa, từ lúc còn các chế độ quân chủ cho đến nay, không phải chỉ riêng ở VN mà hầu như tại Á Châu, người dân đã nhường qúa nhiều quyền hành cho những kẻ nắm giữ các chức vụ chính trị.

Quan niệm chính quyền do thiên mệnh phát xuất từ Trung Quốc đã để lại trong các xã hội Á Đông một mẫu tâm lý thần phục qúa độ của người dân đối với những người làm chính trị

Các xã hội Á Đông thường dành cho người làm việc công những thế lực tuyệt đối tại thế. Các xã hội này thường chỉ phân chia ra hai giai cấp. Giai cấp có quyền và giai cấp không có quyền. Người có quyền thì thường được hưởng những ưu đãi cả vật chất lẫn tinh thần. Cán bộ hay sĩ quan thì có xe hơi có tài xế của nhà nước cấp. Chức vụ xã trưởng, quận trưởng, chủ tịch… được mọi người trọng vo.ng.  Người dân trong các xã hội Á Đông gần như phải lép vế, phải tuân theo giai cấp nắm quyền. Các cuộc bỏ phiếu thường về tay những kẻ đang nắm quyền.

Những thay đổi chính trị nếu có thì thường xảy ra rất chậm. Và đó thường là những chuyển nhượng từ thế lực này sang thế lực khác. Chứ người dân thì vẫn không tiếp thu thêm được những thay đổi lớn lao nào về những bổng lộc hay quyền lợi cho họ. Tổng thống dân cử Marcos độc tài cai trị hai thập niên tại Phi Luật Tân 1960 – 1970. Và rồi người dân Phi Luật Tân đã làm những cuộc xuống đường rầm rộ vào đầu thập niên 1980 để lật đổ chế độ độc tài  này. Thế nhưng sau khi tổng thống Marcos xuống chức, từ  đó cho đến năm 2000, đời sống của dân Phi Luật Tân cũng chẳng được thay đổi là bao. Phi Luật Tân vẫn là một trong những nước nghèo của Châu Á.

Nếu có một sự khác biệt căn bản giữa xã hội HK và một  xã hội Á Châu cổ truyền như VN, theo tôi, đó là thái độ của người dân đối với giai cấp nắm quyền.

Tại HK, thái độ của người dân đối với những người làm chính trị, là họ coi những người này theo ngành nghiệp chủ. Nghiệp chủ là một loại nghề nghiệp nằm trong sáu nhóm nghề được phân chia dựa theo lọai công việc và môi trường làm việc của công nhân. Sáu nhóm nghề này gồm có: Thực tế (Realistic), Nghiên cứu (Investigative), Mỹ thuật (Artistic), Xã hội (Social), Nghiệp chủ (Enterprising), Thường lệ (Conventional).  Theo John L. Holland một nhà giáo dục hướng nghiệp nổi tiếng tại HK thì nghiệp chủ  là một thứ nghề nghiệp thích hợp cho những ai muốn làm việc với con người (không với máy móc), thích  thuyết phục, thích ảnh hưởng người khác, thích biểu di­ễn, thích chỉ huy, thích lợi lộc.  (27) 

Thái độ xem những người làm việc cho các chính quyền địa phương hay chính quyền TW cũng chỉ là những nhân viên phục vụ cho con người, đã khiến cho người dân HK quan niệm rằng những người công chức này cũng chỉ là những người làm công việc mà họ chọn lựa như những người thuộc các ngành nghề khác. Người HK không nghĩ những người công chức này có đặc quyền gì đáng kính trọng hơn những người thuộc các ngành nghề khác.  Một thái độ như thế rất tốt để duy trì một mối tương quan bình đẳng. Người HK ý thức được có những quyền lợi mà người dân cần được hưởng để khi cần đòi hỏi thì  họ đòi hỏi như một người ngang hàng. Chứ không phải họ đi “xin”  để chính quyền cho ho..

Nhưng điểm mạnh mẽ đã khiến người dân HK có lợi thế khi họ không cần phải sợ hãi hay nhường quyền lợi của mình cho những người làm việc công, chính là sự đề cao quyền tư lợi trong xã hội HK.

Chỉ ở HK tôi mới thấy những thế lực tư lợi có khả năng mạnh ngang ngửa với những thế lực công quyền. Lấy ví dụ, các nhà tư bản nắm kỹ nghệ bảo hiểm sức khoẻ đã mạnh mẽ chống lại hệ thống y tế công. Thế là mặc dù HK là nước giàu mạnh nhất thế giới vào lúc này, nhưng HK là nơi mà dân chúng phải tự lo toan lấy bảo hiểm sức khoẻ của mình. Phần lớn dân chúng sẽ được bảo hiểm sức khỏe qua hãng xưởng nơi mà họ làm việc. Chỉ những người nghèo cùng đinh nhất xã hội hay tàn tật mới được hưởng nền y tế công cộng

Điều này thật vô lý khi mà gần như trên thế giới quốc gia nào cũng đều có chính sách y tế miên phí cho người dân. Nhưng điều này chứng tỏ những quyền lực tại HK không chỉ tập trung độc nhất vào lớp người làm chính trị, mà nó có thể được phân chia cho hơn một nhóm quyền lực.

Chính nhờ cái tư quyền của các cá nhân hay các nhóm ngoài chính quyền mạnh mẽ khủng khiếp như vậy nên tại HK, các chính phủ địa phương hay chính phủ TW mới không thể lộng hành đàn áp dân chúng. Và quan trọng hơn cả, là các chính quyền này nếu không phục vụ người dân hữu hiệu, họ sẽ rất dê bị thay thế một cách nhanh chóng và một cách không ồn ào bằng những lá phiếu mạnh mẽ của người dân HK.

Những ai xin vào quốc tịch HK trong ngày tuyên thệ trở thành công dân đều được nghe một người thẩm phán truyền đạt bài học dân chủ: chính người công dân HK làm sở hữu chủ đất nước này. Quyền của người dân bắt nguồn từ quyền của người thọ thuế. Đóng tiền thuế để nhà nước có tiền hoạt động cho những lợi ích chung của xã hộị  Tổng thống, các bộ trưởng, thống đốc, nhân viên quận hạt nhận lương từ ngân sách, tức tiền do dân chúng đóng góp. Họ được bầu cử, tuyển chọn hay thuê mướn để làm việc cho người dân chứ không phải làm “cha mẹ” người dân.  Cũng chính nhờ những tư lợi như thế nên tại HK mới xảy ra trường hợp là có những phòng trào quần chúng, những hội đoàn tư nhân, có khả năng tạo ra những áp lực mạnh trên chính quyền. Ví dụ những phong trào như Green Peace, Audubon Society, Sierra Club, Green Party (28) hiện đang hoạt động và có ảnh hưởng khá mạnh  trên các vấn đề bảo vệ môi sinh. Các phong trào này đã dùng sức mạnh tư lợi cho nhóm mình để ngăn cản các việc khai thác rừng bừa bãi, các vụ lạm dụng chất thải từ các hãng xưởng kỹ nghệ, các vụ lạm dụng công quyền của các chính quyền cấp giấy thầu xây cất.. Các phong trào bảo vệ môi trường này đã góp phần vào việc giáo dục quần chúng để giữ gìn đất đai cây cối chim chóc, biến môi trường sống thành một nơi tốt đẹp hơn để con người vẫn còn được sống trong một bầu khí hài hoà cùng thiên nhiên. Nếu không có tiếng nói mạnh mẽ của những nhóm này, thì các nhà chính trị rất dê lạm dụng quyền thế của mình để tự tung tự tác phát giấy phép cho những nhóm xây cất, nhóm kỹ nghệ, nhóm kinh doanh, xấy cất và tàn phá mặt đất, theo những bỗng lộc và sự thuận tiện mà vị thế của họ mang đến.

Ron Gonzalez là một thị trưởng người thiểu số gốc Mễ­ Tây Cơ đầu tiên tại San Jose, tiểu bang California, HK đắc cử vào 1999. Khi ông ta vừa thắng cử, nhiều người trong thành phố này ca ngợi việc một người thiểu số được bầu lên làm thị trưởng, và hứa là sẽ hợp tác với ông ta một cách tốt đẹp. Nhưng hơn một năm sau, một ký giả của tờ báo lớn địa phương, tờ San Jose Mercury News đã viết một bài phân tách về khả năng điều hành của thị trưởng Ron Gonzalez, cho rằng quyền hành của ông này đang bị chỉ trích và có thể gặp khó khăn bởi những nhận xét của các nhà hoạt động chính trị tại địa phương. Tiếng nói chỉ trích mạnh mẽ nhất có lẽ là lời lên tiến của các nhà bảo vệ môi trường tại địa phương. Ký giả Noam Levey viết rằng phong trào bảo vệ môi sinh Audubon Society tại San Jose đã lên tiếng cực lực phản đối việc thị trưởng Gonzalez đã ký giấy phép cho hãng sản xuất com Cisco Systems Inc lập thêm chi nhánh tại Nam San Jose. Khi hãng này đã không chịu điều kiện phải chừa đất lại làm nơi cư trú cho một loài chim cú sắp bị tiệt nòi tại mảnh đất mà hãng này sắp xây cơ xưởng.  (29)

Cũng tại VN, nhà nước với khẩu hiệu “Nhân dân làm chủ. Nhà nước quản lý”,  nhà nước đã làm chủ Ngân Hàng Nhà Nước. Tức kho bạc thuộc quyền sinh sát hoàn toàn trong tay chính phủ.

Còn tại HK, Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang (Federal Reserve System), tức Ngân Hàng TW, nơi giữ tiền do dân chúng luân lưu trong hệ thống kinh tế, là một cơ quan hoàn toàn độc lập. Những quyết định của cơ quan này hoàn toàn không bị chi phối bởi chính quyền HK. Mặc dầu chính quyền HK bổ nhiệm chức  vụ cao cấp của hệ thống và rồi quốc hội HK bỏ phiếu chấp thuận hay phản bác. Nhưng một khi giám đốc Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đã nhận chức, thì người này có tất cả mọi quyền lực độc lập để thi hành chính sách tiền tệ do cơ quan mình ấn định. Điều này đã làm giảm bớt sự tập quyền của chính phủ HK trong những quyết định kinh tế có tầm mức quan trọng của quốc gia.

Chú Thích

27.  http://web.missouri.edu/~cppcwww/holland.shtml,
28.  National Audubon Society của HK lấy tên từ một họa sĩ yêu thiên nhiên John James Audubon 1785-1851). Khởi xướng vào năm 1896 bởi một nhóm phụ nữ từ chối mặc áo quần mũ mão dùng lông chim, họ đặt tên nhóm là  Massachusetts Audubon Society. Hiện nay nhóm này có hơn 500 chi nhánh kh¡p nước Mỹ. Thành tích của nhóm là đã từng vận động chính trị để nhà nước Mỹ phải ban hành luật Bảo Vệ Các Chủng Loại Có Nguy Cơ Diệt Chủng Endangered Species Act (ESA)  vào năm 1973.
Sierra Club được thành lập vào thập niên 1960. Thưng tranh đấu những đề tài bảo vệ môi trường bằng cách tặng tiền cho những nhóm, những chương trình nghiên cứu và giáo dục bảo vệ hệ thống sinh thái. Nhóm này cũng chú trọng việc vận động quần chúng để ý nhiều hơn đến những vấn đề thuộc lĩnh vực gìn giữ và bảo vệ môi sinh.
Green Peace hay còn được gọi là Phong Trào Hoà Bình Xanh ra đi từ thập niên 1970. Tôn chỉ của phong trào ghi rằng họ chủ trương chạm trán một cách bất bạo động và có tính cách sáng tạo để mổ xẻ những vấn đề môi sinh khắp toàn cầu, và ép buộc đưa đến những giải pháp chính yếu cho màu xanh và một tương lai an toàn. Hiện Green Peace có mặt tại 38 quốc gia trên thế giới, phần lớn là tại các quốc gia Âu Mỹ. Những lãnh vực mà phong trào này đang để mắt tới là các vấn đề chất thải độc, khí hậu, vũ khí nguyên tử, bảo vệ đại dương, kỹ nghệ di truyền học, đổ chất phế thải xuống đại dương, phá rừng, hiện diện tại các đại hội Olympic để tranh đấu.
Green Party là một đảng chính trị tại HK. Phát xuất từ Đảng German Green Party cuả Đức, Đảng Green tại HK là một trong những Đảng chính trị có nhiều cử tri ghi danh hổ trợ. Đảng Green có 10 mục tiêu như sau: Dân Chủ Hạ Tầng, Công Bằng Xã Hội, Bất Bạo Động, tổ chức Chính Quyền Địa Phương hơn, Kinh Tế dựa vào Cộng Đồng, Nữ Quyền, Để Ý đến Đa Nguyên, Trách Nhiệm Cá Nhân Trách Nhiệm Toàn Cầu,  Khả Năng Chống Chọi, Thông Minh về các Vấn Đề Sinh Thái.
29. “Major ‘s Troubles Go Beyond  Fallout  From Affair”, Noam Levey, San Jose Mercury News, Sept, 10, 2000. 

4-  Sư Cố ( tức “Sư Sãi & Cố Đạo” )

Một ngày hè tháng bảy nóng nực, tôi tháp tùng một phái đoàn Tây Ba Lô đi Chùa Hương.

Ðến bến Yến, thấy đầu con sông dơ mà đâm ra ái ngại. Leo lên thuyền ngồi trôi ra giữa dòng sông.  Trời nóng, nước mát bốc lên, lòng lâng lâng theo làn gió, thấy cũng có lý. Ngồi bắt chuyện với chị lái đò. Chị chèo cho sáu người chúng tôi thoăn thoắt.  Chị ốm và đen như con cá bống kho tộ đã cạn hết sắc màu tươi thắm.  Tôi hỏi chuyện chị. Chị kể người làng Yến chèo đò cho khách đi Chùa Hương chỉ là kiếm tiền thêm. Còn thì phải cày cấy còng lưng mới đủ sống.

Vào đến Chùa Hương, tôi và mấy vị Tây Ba Lô leo những tam cấp chùa vèo vèo. Thoắt một cái đến đỉnh núi Chùa Hương. Ná thở!  Về lại HN kể cho người HN nghe. Người HN cười tủm tỉm: “Ối giời. Người ta đi viếng cảnh chùa. Ði một đoạn thì dừng lại. Nghỉ một chốc. Rồi lại tiếp tục leo. Rồi lại nghỉ. Lúc ngắm cảnh cây cỏ. Lúc dừng lại ăn quà. Vào những ngày Hội đầu năm người ta trẩy hội đông đúc chen lấn nên đi còn chậm nữa.  Cứ thế mà đi suốt ngày.  Ai như bác. Ði Chùa Hương mà bác leo một lèo không ngừng nghỉ thế kia thì qúa là như đi tập thể dục”!

Vì đã leo nhiều thang bậc kiểu của Chùa Hương và vì đã đi thăm nhiều chùa ở một số nước trên thế giới, nên cái vụ chùa chiền góc cây với chiều cao của núi không làm tôi ngạc nhiên. Tâm lý của kẻ đi đến chỗ lạ thì cứ thích có cái gì là lạ để xem.  Với tôi, leo núi Chùa Hương thì cũng không lấy gì làm cheo leo cho lắm.  Quang cảnh dọc đường đi thì cũng chẳng có gì ngoạn mục. Công trình chùa chiền thì cũng không có gì giá trị. Nên tuy là lần đầu leo núi Chùa Hương, mà tôi chỉ mong lên cho đến điểm cuối cùng để xem nó có cái  hay ho hấp dẫn không. Lên đến cái hang cao nhất của Chùa Hương.  Khói nhang bốc từ trong động ra nghi ngút. Tôi thở vài sào lấy sức, rồi đi vào ngay xem thử bên trong động có cái gì trong đó.

Bên trong cái động tối tăm tù mù nhang khói ấy, tôi chỉ để ý thấy sau cái bàn gỗ có ông sư trẻ trạc ngoài 30, người Nghệ Tĩnh. Ông sư thoắt người, mắt sáng quắc nhòm tôi dò xét, khi tôi mở giọng Hà Tịnh ra hỏi chuyện sư tu được bao nhiêu năm ở động này rồi hả sư.

Ðiều tôi bắt gặp tại đây cũng là điều tôi bắt gặp ở hầu như tất cả các chùa Miền Bắc CS. Là chùa nào cũng có những ông sư cứ như là ông CA giả đò đi tu.  Mấy ông sư ở trong những ngôi chùa HN mặt ông nào ông nấy nhọn lanh. Mấy ông sư mặt mày tướng tá này thì chỉ có thể làm nghề CA chứ không thể hành  nghề gì khác.

Ở HN, tôi đi lùng các chùa để xem xét. Chùa HN quanh Bờ Hồ gần khoang bàn chân. Ði bộ thăm viếng dề dàng. Nên khi có giờ rảnh tôi hay rảo bộ đến xem đi xem lại những cái mình muốn quan sát. Gạt bỏ ra những chuyện chính trị này nọ, một trong những cái thú ở HN là đi viếng những ngôi chùa trong thủ đô. Các ngôi chùa cổ đầy sự tích lịch sử kèm theo những dấu vết VH là kho tàng nghiên cứu cho những ai muốn nghiên cứu VH và lịch sử VN.

Có một buổi sáng, tôi ghé vào chùa Bà Ðá trên phố Nhà Thờ, tôi vào chùa định xin xem lại mấy cái tượng cổ trong chùa.  Bước vào sân tôi thấy một bầy các cô các cậu mặc áo nâu có người còn tóc có người đã cạo tóc. Họ ríu rít đùa giỡn vô tư như các nam nữ sinh trung học trong giờ ra chơi. Tôi đứng ngơ ngáo vừa quan sát một cách thú vị.  Ðúng là đây là một khóa dạy làm thầy chùa và ni cô ở HN.

Một ngày nọ của tháng 11, tôi được tháp tùng một phái đoàn “nhà nước” đi  dự lể Giỗ Tổ ở chùa Bồ Ðề bên Gia Lâm, HN. Chúng tôi được mời ngồi vào một bàn cao và thoáng ở khu nhà Trai đối diện với khu nhà thờ Tổ.  Trên bàn ê hề thức ăn chay có mặn có. Từ bánh đúc chấm tương, thịt heo quay chay đó đến dồi mặn. Mở đầu bàn tiệc một ông sư mặc áo nâu ra nói vài lời chào hỏi phái đoàn quan chức nhà nước. Ông sư này trông còn trẻ chỉ khoảng độ ngoài 30, răng vàng vẩu, mắt lồi, cười nói như một thằng bé vô tư. Ông ta mặc áo nâu và đội mũ.  Ông ta rối rít cám ơn phái  đoàn đã quan lâm đến chùa ngày hôm nay. Rồi bên phái đoàn nhà nước đáp trả ít câu. Xong đến phần ăn uống. Thế là có 2 sư cô nhanh nhẹn khiêng ra 2 két bia Henekein để hai bên cành hông tiếp phái đoàn. Ăn uống no nê heo quay chay cho đến dồi mặn.

Lần khác tôi đạp xe đạp lang thang trên đường Thụy Khuê. Ngang đền Voi Phục, thấy cửa trước mở, tôi dừng xe đi vào bên trong và được biết đây là đền thờ ngài Linh Lang con ông vua Lý Thái Tông. Ngay cái phản bên gian trái của đền chính, trên cái phản, tôi thấy có sáu người đàn ông mặt mày trí thức đang ngồi cười nói hỉ hả đánh bài với nhau.

Tôi không biết mai kia mốt nọ những ngôi chùa và đền Miền Bắc rồi sẽ đi về đâu. Miền Bắc rất nhiều chùa, đình, và đền. Trong mấy mươi năm chế ngự Miền Bắc, ĐCS đã làm một việc mà tôi cho là khá kỳ thú và sẽ có nhiều dư âm đặc biệt trên ảnh hưởng của các đạo cúng kiếng ở VN:  Ðó là việc họ quốc doanh hoá các đền chùa tại Miền Bắc.

Sự áp đặt của nhà nước lên các đền chùa ngoài Miền Bắc đã có nền móng và khá lộ liễu kể từ khi ĐCS nắm chính quyền Miền Bắc. Từ năm 1945, ĐCS Miền Bắc với chủ trương tam vô: vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo. Chủ trương vô tôn giáo đã khiến chính quyền này tuyên truyền trong dân chúng là tất cả mọi tôn giáo là “mê tín dị đoan”. Và Ðảng cấm mê tín dị đoan.

Phần lớn những người dân sanh ra và lớn lên trong chế độ CS Miền Bắc 1954 -1975 đều trả lời ở phần tôn giáo trên tờ căn cước của mình một chữ “Không.”  Không tôn giáo.

Vào đầu mùa xuân năm nay, tôi đã làm một chuyến vào thành phố Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình để khảo sát về ảnh hưởng của các tôn giáo tại các vùng này.

Tôi khám phá ra là tại thành phố Vinh năm 2000 không còn bóng dáng một nhà thờ hay một ngôi chùa nào!  Khi hỏi thăm tôi được cho biết thành phố Vinh là thành phố được xây dựng lại sau chiến tranh Quốc Cộng 1954-1975. Thành phố Vinh trong thời chiến tranh đã bị bom Mỹ tàn phá gần hết. Khi xây dựng lại thành phố Vinh mới này, dưới ảnh hưởng thuyết vô thần của CS, những tụ điểm tôn giáo đã vắng mặt và biến mất trong thành phố.

Tôi rảo vòng khắp thành phố Vinh và hỏi thăm về sinh hoạt tôn giáo thì nhiều gia đình chỉ lên bàn thờ ông bà hay bàn thờ họ và nói đó là sinh hoạt tôn giáo duy nhất còn sót lại của họ.

Với chủ trương vô tôn giáo, ĐCS Miền Bắc trong suốt thời gian 1954 – 1989 đã tịch thu tất cả các đình, đền, chùa Miền Bắc và trưng dụng các nơi này thành những cơ sở công cộng.  Các đền, đình, chùa dưới chế độ CS Miền Bắc trở thành những câu lạc bộ, những trung tâm sinh hoạt văn hoá, những thư viện, những nơi giữ trẻ..

Hiện nay các đền, đình, chùa HN vẫn còn là trụ sở sinh hoạt hành chính của chính quyền.  Dạo một vòng quanh Hồ Hòan Kiếm, Chùa Lý Triều Quốc Sư ở phố Lý Quốc Sư biến thành UBND quận Hoàn Kiếm. Chùa Vũ Thạch 13 đường Bà Triệu là trụ sơ  của UBND Phường Tràng Tiền.  Chùa Bà Ðá đường Nhà Thờ là trụ sơ của UBND phường Hàng Trống.  Ðền Mẫu  Y Can trên đường Thành là trụ sơ UBND Phường Hàng Bông.

Các sư quốc doanh đã trụ trì gần hết các chùa Miền Bắc. Ðiểm đáng nói là các chùa và đền ngoài Bắc vừa nhiều vưà đóng một vai trò rất quan trọng.  Các chùa ở Miền Bắc là những di tích lịch sử và VH phong phú nhất của VN.

Kể từ 1989 khi ĐCS Ðông Âu sụp đổ.  ĐCS Miền Bắc không còn nơi nương tựa viện trợ, nên phải “mở cửa” kinh tế để cứu Ðảng và Nhà nước. Sự mở cửa kinh tế này kéo theo sự mở cửa các đền, đình, chùa.

Vì theo lời người Miền Bắc nói với tôi, khi người ta làm ăn được, kinh tế phát triển thì người ta mới làm cái việc “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Người ta mới nổi lên phong trào đi đến các chùa, các đền, xin lộc thánh. Chứ cứ như trước đây còn thời “bao cấp” nghèo không có ăn thì làm gì có chuyện đi đền đi chùa này nọ .

Thế là kể từ thời “mở cửa” 1989, các đền chùa Miền Bắc trở nên các điểm thu hút du khách và thu hút tiền bạc từ các thiện nam tín nữ nhất.  Ðền Bà Chúa Kho, Bắc Ninh, nơi trước đây vắng ngắt mấy chục năm nay bỗng dưng, từ khắp mọi miền, người người kéo đến cúng tiền xin lộc.   Thế là các ông CS HN mở các điểm chùa đền ra cho những kẻ mộ đạo và những khách du lịch đóng tiền.  Bao nhiêu chùa đền ở HN trở thành những tài sản của nhà nước và được quản trị bởi nhà nước. Có những lần tôi vào chùa Lý Triều Quốc Sư ở số 50 phố Lý Quốc Sư, HN, tôi thấy mấy ông trong ban quản trị phường quận ngồi họp ở đấy và nhìn chúng tôi đi qua đi lại. Khi tôi nói  là tôi muốn kiếm vị sư rành ngôi chùa để hỏi về một bài thơ cổ trong chùa, những vị chức sắc ngồi họp đó chỉ cho tôi một cậu bé khoảng 15, 17 tuổi. Cậu bé hăng hái ra giải thích cho tôi mà tôi cứ đứng trố mắt ra mà nhìn và nghe.  Chùa Phật Giáo đóng vai trò tụ điểm chính trị dưới chế độ CS. Hiện tượng ĐCS làm chủ hầu hết các chùa chiền ở Phía Bắc và họ cho các sư quốc doanh hoặc các cái UB mà tôi đọc được bằng một thứ tiếng Anh viết bập bẹ trong một ngôi đền trên đường Bà Triệu ” The Manager Of The Pagoda”,  ngồi cai quản các đền, đình, chùa là một hiện tượng xã hội rất mạnh mẽ xảy đến cho xã hội Miền Bắc trong thời gian ĐCS cầm quyền.

Một cách bình thường, ở các nước chậm tiến như VN hiện nay, các thế lực chính trị đã có qúa nhiều quyền hành trên người dân. Rồi trong thời gian nắm chánh quyền Miền Bắc, chính quyền CS lại cầm giữ luôn thế lực tôn giáo.  ĐCS HN nắm giữ một lúc hai thứ quyền lực mạnh mẽ nhất trên người dân sống dưới chế độ do họ cai trị.

Ðạo Phật với hệ thống tổ chức lỏng lẻo đã hoàn toàn lọt vào tay nhà nước CS. Công giáo với hệ thống TW tập quyền La Mã, dưới sự cai trị của ĐCS, công giáo Miền Bắc đứng chững lại.  Tại HN, ngôi Nhà Thờ Lớn ở đường Nhà Chung sau nửa thế kỷ sống với Bác và Ðảng trông tiêu điều xơ xác như không sửa sang tu bổ kể từ ngày ĐCS vào ngự trị Miền Bắc 1945.

Tại Miền Nam VN hiện nay chùa chiền và nhà thờ của các tôn giáo nhiều gần bằng trường học. Hình như các chế độ càng hà khắc, các tôn giáo càng trở thành món hàng quốc cấm với người dân bị trị.  Ngoài ảnh hưởng của đạo thờ ông bà ra, các đạo Phật, Công Giáo, Cao Ðài, Hoà Hảo, Tin Lành, Hồi Giáo hiện đang là những tôn giáo lăm le thu hút, lôi kéo, dụ dỗ, phát triển, gìn giữ, bảo vệ,  tín đồ mình bằng đủ mọi phương thức. Chùa chiền nhà thờ nhiều thế nhưng các nhà truyền giáo và các con chiên vẫn chưa thỏa mãn. Các đạo chưa tạo được gốc rễ chưa nhiều tín đồ tại VN thì đang nổ lực lập phong trào giảng đạo chui.  Ví dụ các con chiên Tin Lành đang tìm cách học tập kinh thánh tại nhà, truyền đạo tại gia. Bên ngoài thì giả dạng đến để dạy nhau học Anh Văn nhưng thực chất là chuyền cho nhau Kinh Thánh để thu thêm tín đồ. Sư cố chỗ chính thống thờ phượng có khi bị giáo dân chê là đồ quốc doanh không giá trị. Vả lại họ phải truyền đạo chui vì CA vẫn còn xét nét điều tra các sinh hoạt tôn giáo qúa khắt khe. (30)

Thờ cúng ông bà có thể gọi là một đạo mạnh nhất ở VN. Kinh điển Khổng gíao với tam cương “quân sư phụ” đã thiết lập ảnh hưởng nhiều trên đạo thờ ông bà tại VN.

Tuy nhiên người Việt với bản chất rất nặng tình cảm gia đình đã khiến cho khuynh hướng thờ ông bà là một sinh hoạt tôn giáo êm đềm thấm sâu nhất vào sinh họat tâm linh của người VN, hơn hẳn các tôn giáo khác.

Ðạo thờ ông bà tại VN có một sự nhập nhằng với đạo Phật. Hầu như những người VN thờ Phật đều thờ luôn ông bà cha mẹ. Trên bàn thờ của mỗi gia đình VN nào theo đạo Phật gần như cũng đều có thêm bàn thờ ông bà cha mẹ đặt dưới hay sau lưng tượng Phật. Người VN có thể không thắp nhang cúng Phật, nhưng họ vẫn thắp nhang cúng ông bà cha mẹ.

Ðạo Thờ Mẹ hay còn gọi là đạo Mẫu là một đạo rất phổ thông tại Miền Bắc. Ðạo này thờ ba bà Mẹ của trời đất. Mẹ Thượng Thiên sáng tạo bầu trời và làm chủ quyền năng mây, mưa, sấm chớp. Mẹ Thượng Ngàn có nguồn gốc Sơn Thần trông coi miền rừng núi.  Mẹ Thoải (đọc trại ra từ âm Thủy) có nguồn gốc Thủy Thần trị vì miền sông nước. (31)

Dưới chế độ CS Ðạo Thờ Mẹ bị cấm cản. Nhưng khi các sinh hoạt tôn giáo được nới lỏng kể từ năm 1989, các đền thờ của Ðạo Thờ Mẹ ở Miền Bắc bung ra sinh hoạt rất tấp nập. Tôi đã từng chứng kiến sự rộn rịp này tại Ðền Phủ Giầy Nam Ðịnh, thủ phủ của Ðạo Thờ Mẹ tại Miền Bắc.  Trong đền có bốn giá Hầu Ðồng liên tiếp ngày nối ngày đêm nối đêm không ngưng nghỉ. Danh sách người thay phiên lên Hầu Ðồng trong đền 24/24. Sinh hoạt tôn giáo liên tục 24 giờ một ngày khiến khách phương xa lạc vào đây cứ như lạc vào sòng bạc ở Las Vegas không còn biết đâu là ngày đâu là đêm. Những người chủ trì Ðền Phủ Giày cho tôi biết số người ghi tên Hầu Ðồng kín mít danh sách trước cả năm trời mới tới phiên mình.

Một trong những sinh họat chính của Ðạo này là tục Hầu Ðồng. Hầu Ðồng có những người lên bàn thờ nhảy múa, nhạc dân tộc nổi lên xập xình. Sinh hoạt này biểu tượng một sự giao tiếp giữa người sống và người chết.

Tôi không hiểu sao Ðạo Thờ Mẹ với tục Hầu Ðồng này lại bị chỉ trích gay gắt nặng nề là mê tín dị đoan và bị sự miệt thị của nhiều người VN. Hầu Ðồng cũng chỉ là một sinh hoạt tôn giáo như hành lễ Misa bên Công giáo hay làm lê cầu Siêu bên Phật Giáo. Trong khi các sinh hoạt của Công Giáo hay Phật Giáo thì không bị kỳ thị, mà sinh hoạt của đạo Thờ Mẹ này lại bị cấm cản miệt thị cho là  hủ tục. Xét theo con mắt bình thường thì Ðạo Thờ Mẹ là một đạo phát xuất từ VN. Ðáng lẽ nên được tuyên dương  hơn thì lại bị vùi dập. Người VN có câu “Bụt nhà không thiêng” để ám chỉ cái tính chất thiếu tự tin này.

Thiếu tự tin kiểu này đã làm cho dân tộc này bỏ lỡ cơ hội phát triên những tinh hoa của nền VH họ. Trong con mắt của một phụ nữ tranh đấu cho nữ quyền, tôi nhận thấy đạo Thờ Mẹ mang tính đề cao phụ nữ khi để cho người nữ bước lên bàn thờ tham dự việc tế lễ. Vì gần như các tôn giáo lớn đều cấm cản đàn bà và không cho đàn bà bước lên bàn thờ hành lễ trong bất cứ một sinh hoạt tôn giáo nào. Ðiều này chứng tỏ Ðạo Thờ Mẹ là một trong ít tôn giáo hiếm hoi tôn trọng quyền sống của người phụ nữ. Ðây là một điểm son đáng khai thác để tôn vinh rằng nền VH VN là một trong số ít nền VH không kỳ thị phụ nữ trong lãnh vực tôn giáo.

Có thể nói tính chất ca múa của tục Hầu Ðồng đã là một sinh hoạt VH biểu dương điệu múa và điệu nhạc dân tộc VN. Ðó là một trong số ít cơ hội hiếm hoi mà VH Việt có cơ hội bộc phát mặt nghệ thuật ca múa. Ðiều này đáng để được khuyến khích, tôn vinh, phát triển, thay vì chê bai, dìm xuồng, bỏ lơ. Ðiều hay thì bị ngó lơ. Ðạo Thờ Mẹ là một ví dụ cho thấy ngườI VN đã không biết khai thác những điểm hay ho của chính nền văn  hóa họ. Với một nền VH lâu đời nhưng vì lơ là với  chính bản thân dân tộc họ, nên người Việt thường bỏ lơ những cái hay của mình mà không biết.

Lịch sử VN từ thời xa xưa đã có truyền thống sư sãi tham dự chuyện triều đình như các sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu, sư Ðỗ Pháp Thuận đời Tiền Lê. Sư Vạn Hạnh, sư Lý Công Uẩn triều Lý. Ðời Trần, vua Trần Thái Tông còn lập ra một phái thiền được mệnh danh là phái Trúc Lâm.

Nhà CM Nguyễn Thái Học (1901 – 1930), lãnh tụ VN Quốc Dân Ðảng có cận vệ là một ông sư nổi tiếng thường được gọi là Sư Trạch.

Các chùa ở VN thường có thành tích là nơi nương náu của các tay làm chính trị. Hoặc nổi tiếng là các những cứ điểm phát xuất  sinh hoạt đấu tranh CM.

Chùa Chân Tiên, một danh thắng tỉnh Hà Tịnh, là tiêu biểu một cửa chùa chuyên trị chuyện CM chính trị tại VN.

Chùa Chân Tiên được xây vào đời nhà Trần thế kỷ thứ 13.

Theo sách Di Tích Danh Thắng Hà Tĩnh:

Thời Trịnh Nguyên phân tranh từ năm 1655 đến năm 1666 Ninh quận công Trịnh Toàn cùng tướng sĩ đem quân vào đánh chúa Nguyễn đã lập căn cứ tại vùng đất Thịnh Lộc đến Hồng Lộc ngày nay. Ở chùa Chân Tiên có đội quân hỏa lực của chúa Trịnh. Từ năm 1885-1896 các chí sĩ của phong trào Cần Vương quê ở xã Thịnh Lộc đã tham gia nghĩa quân Phan Ðình Phùng, chọn địa điểm rừng thông ở chùa Chân Tiên làm nơi luyện tập binh pháp. Ðến phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908 , Nguyễn Hàng Chi chọn vùng này để tập trung các nho sĩ bàn mưu tính kế tổ chức đấu tranh biểu tình giảm sưu thuế. Năm 1928 tiểu tổ Tân Việt xã Thịnh Lộc gồm các ông Hoàng Khoái Lạc, Võ Quê, Nguyễn Cứ, Hồ Ngọc Tàng, Hoàng Liên, Trần Châu, Trần Xù.. tổ chức họp tại chùa. Từ ngày thành lập ĐCS VN, chùa Chân Tiên trở thành nơi hội họp của chi bộ, đảng viên đi dự họp mang theo hương đèn đến chùa như người đi dự lễ Phật để che mắt địch.  Tại đây, chi bộ Ðảng Yên Ðiền tổ chức đại hội thành lập vào ngày 25.4.1930 gồm 8 đồng chí do đồng chí Dương Nghiêm làm bí thư. .. Trong thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh, chùa là trung tâm liên lạc hội họp in ấn tài liệu của Tổng bộ và Chi bộ ĐCS. Tài liệu được bỏ vào tượng Phật và ở khe đá 12 cửa cách chùa 10 mét.. Trong ngày 28.7.1930 các đồng chí trong Tỉnh Ủy  và Huyện ủy đã tổ chức cuộc họp với chi bộ Yên Ðiền tại chùa Chân Tiên để bàn kế hoạch hưởng ứng kỷ niệm kỷ niệm ngày phản đối đế quốc chiến tranh. Sáng ngày 1.8.1930 dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy Can Lộc và chi bộ Yên Ðiền, 350 nông dân Thịnh Lộc cùng các xã lân cận tập trung biểu tình tại chợ Vùn kéo đến Truông Gió  rồi nhập vào đoàn thượng Can Lộc kéo vào huyện lỵ. Ngày 5.11.1930, Tổng bộ Phù Lưu và Huyện ủy Can Lộc đã tổ chức cuộc họp tại chùa Chân Tiên để bàn cách thiết thực ủng hộ CM Tháng Mười của Liên Sô, tiến hành cuộc đấu tranh mới.” (32)

Trong thời đại này, tôi đã chứng kiến cảnh những vụ Phật giáo Miền Trung biểu tình chống chế độ Ngô Ðình Diệm. Cao điểm nhất là vụ Hoà Thượng Thích Quảng Ðức nổi lửa tự thiêu để phản đối chế độ Ngô Ðình Diệm vào năm 1963.  Những căn cứ Chùa Từ Ðàm Huế, Chùa Ấn Quang SG, là những điểm xuất phát cực kỳ nóng trong cuộc đấu tranh giữa khối Phật Giáo và chế độ Ngô Ðình Diệm vào thập niên 1960.

Sau khi  Miền Nam sụp đổ 1975, người ta đi viếng các chùa như chùa Non Nước Ðà Nẵng, thấy những tấm bảng ghi lại thành tích nơi này đã từng giấu dú bao nhiêu là “anh hùng CM”.

Mấy ông sư Phật giáo đã lăm lăm tham gia vào chuyện cai trị nước và tranh đấu cho phật pháp gì đó thì chớ, mấy ông cha bên Công Gíáo thì lại càng dính vào chuyện chính trị từ trong căn bản khi đạo này truyền sang VN.

Công giáo là một biểu tượng của thực dân Pháp đô hộ tại VN. Công giáo đã là một thứ công cụ để người Pháp dùng làm bàn đạp đi vào lòng người dân An Nam một cách êm đềm hơn  là  kiểu vũ lực lính tráng tàu bè đổ bộ lên Ðà Nằng năm 1658..  Chính sách cai trị của Pháp là “dùng tôn giáo để khai thác thuộc địa”, “ưu đãi đạo thiên chúa giáo không phải vì mục đích tôn giáo nhưng vì mục đích chính trị.” (33)

Hơn một trăm năm sau ngày người Pháp đặt chân lên VN, đã có một tiến sĩ VN viết luận án tại đại học Pháp mô tả tường tận chính sách công giáo hóa VN của người Pháp.  Tác giả Cao Huy Thuần trong luận án Christianisme et Colonialisme au Vietnam đã nghiên cứu kỹ về chính sách công giáo hóa người VN này và đã liệt kê:

Xâm lược, thống trị, và đồng hóa, đó là ba ý tưởng chủ chốt toả lên từ nhiều văn thư, điều trần mà giám mục HN gửi cho các giới chức Pháp ở HN cũng như ở Ba Lê. (34)  Giai cấp cha xứ, thầy trợ tế dưới thời Pháp Thuộc còn được chính phủ Pháp cho tiền để phục vụ chính sách đô hộ của Pháp. (35) Người Pháp đã dùng các cha các ma sơ các trường học công giáo để “biến dân chúng VN thành con chiên và thành người Pháp”. (36) Văn thư 3005-1867 Thư khố bộ Pháp Quốc Hải Ngoại nói rõ ràng “Chúng ta cần các người truyền đạo. Ðô đốc La Grandiere viết cho viên thượng thư, và cầm đầu họ phải là một người có khả năng lãnh đạo thông minh.. chúng ta chắc có thể đạt ngay đến kết quả vốn là mục tiêu của chính sách chúng ta: đổi đạo nghĩa là đồng hóa dễ dàng dân chúng nhờ sự giúp đỡ của các sư huynh, các trường đạo và các dì phước.  (37)

Khổng giáo để lại cái gốc Tam Cương Ngũ Thường thiết lập nền móng cho đạo thờ “Ông” tại VN. Có thể nói Khổng giáo từ Trung Quốc sang đã chuyển hướng khuynh hướng từ đạo thờ “Bà” (đạo Mẫu) sang đạo thờ “Ông” (đạo Quân Sư Phụ) tại VN.

Tam Cương “Quân sư phụ” tạo ra VH tôn kính các bậc trưởng thượng, các bậc cha chú, các bậc có chức quyền. Quân sư phụ đã định ra hệ cấp quyền uy trong xã hội. Một thứ thẩm quyền chi phối tổ chức xã hội. Theo đó vua có thẩm quyền cao nhất (Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung. Vua xử bầy tôi phải chết, bầy tôi không chết là bầy tôi bất trung.) Dưới vua là giai cấp thầy. Xã hội Khổng học đề cao sự nổi bật của giai cấp nho sĩ, là những người sau khi đỗ đạt sẽ trở thành lớp quan lại ra giúp vua trị nước. (Nhất tự vi sư. Bán tự vi sư. Người dạy dù nửa chữ hay một chữ cũng đã là thầy). Sau hết mới đến người cha (Phụ mẫu chi mạng, môi chước chi ngôn, trong việc vợ chồng, phải đợi mạng lệnh của cha mẹ và phải cậy mai mối đi nói trước). (38)

Khổng giáo cũng còn để lại cái gốc Ngũ Thường “Nhân, Nghĩa, Lê, Trí, Tín“. Nhân, thương người. Nghĩa, trung thành. Lễ, lễ độ. Trí, sáng suốt. Tín, tin nhau.

Khổng gíao còn bồi thêm chủ thuyết “Tứ Ðức” trên đầu những chàng trai Việt.  Ðó là bốn đức tính mà đàn ông con trai VN dùng làm kim chỉ nam để sống và làm việc. Hiếu, hết lòng thờ cha mẹ. Ðễ: kính yêu binh vực anh em. Trung, hết lòng với vua với nước. Tín, giữ lời hứa.

Khổng giáo o ép cột dây giăng nhợ đeo gông cùm lên trên số phận những người đàn bà VN một cách dã man với lý thuyết Tam Tòng: “Phu nhân hữu tam tòng chi nghĩa. Cố vi giá tòng phụ, ký giá tòng phu, phu tử tòng tử.”  Người đàn bà trong bàn tay của ông già ác ôn Khổng Tử rất tội nghiệp. Chỉ biết sống cho cha, cho chồng, cho con trai,  mà không được sống chút xíu nào cho mình và cho con gái mình gì cả. Bởi mớ dây nhợ Khổng Gíao này mà bộ luật nổi tiếng nhất tại VN là bộ luật Quốc Triều Hình Luật dưới triều Lê đã đối xử rất tàn ác với đàn bà.

Ðiều 310 của bộ luật Hồng Ðức này nói:

Chư thê thiếp dĩ hữu nghĩa tuyệt (vị thất xuất), nhi kỳ phu ẩn nhẫn bất khứ giả, dĩ biếm luận y khinh trọng.” ( Vợ hay nàng hầu đã phạm phải điều nghĩa tuyệt ( như thất xuất) mà người chồng ẩn nhẫn không bỏ thì phải chịu tội tùy theo việc nặng hay nhẹ). (39)  Tội Xuất Thất là tội gì? : Là nếu người đàn bà phạm một trong bảy điều sau đây thì bắt buộc người đàn ông phải bỏ vợ mà đi: không có con, dâm loạn, bất kính, trộm cắp, ghen tuông, lắm lời, bị ác tật. Trong bảy tội này thì hai  tội đầu và tội cuối, không có con và ác tật, không  thể gọi là tội. Vì đó là do bẩm sinh. Là bất hạnh. Là kém may mắn. Nào có phải là do người đàn bà gây nên. Còn năm tội kia chả có gì là nghiêm trọng cả mà cũng bỏ người ta mà đi. Ðúng là thứ luật lệ càng ưu đãi bảo bọc che chở đàn ông bao nhiêu, thì lại bạc đãi, hất hủi, tàn ác với đàn bà bấy nhiêu.
Văn Miếu (thờ ông Khổng Tử của người Tàu) chiếm một vị trí bề thế đẹp đẽ nhất trong lòng thủ đô HN

Người đàn bà VN đã bị tước đoạt nhân quyền “Human Rights” một cách tồi tệ nhất trong guồng máy Tam Tòng Tứ Ðức này. Ðược lập trên thuyết học của một người đàn ông nhà Châu, nước Lỗ, tên là Khâu Trọng Ni tức là Khổng Tử.

Các yếu tố “Trung quân với minh chúa”, “Lễ độ với người lớn”, “có Nghĩa với chủ nhân”, đã ảnh hưởng trên những người đàn ông VN. Sự trung thành với minh chủ là một bậc thang giá trị trong bảng các giá trị mà người đàn ông VN thường theo đuổi khi ra làm việc công.  Ðó là khi họ đã phò ai thì chỉ biết đến lý tưởng và người mà họ đang theo phò.

Cái gốc “Trung quân”, cái rễ “Lễ độ”, cái hạt “ơn Nghĩa” này đã cấu kết với nhau tạo nên một thái độ phục tòng những kẻ có quyền một cách cứng ngắc qúa độ thường thấy nơi người VN.

Sự trung thành với các giáo điều Khổng Gíao này một cách cứng ngắc đã biến họ thành những kẻ nô lệ vào thượng cấp và nô lệ vào người cũ việc cũ.  Lấy ví dụ trong trường hợp một công ty quốc doanh có một ông cán bộ bất tài đưa công ty quốc doanh này vào con đường lỗ lã. Trước đây ông cán bộ này là một thượng tá tài giỏi trên chiến trường nhưng bây giờ làm kinh tế ông ta không đủ khả năng lãnh đạo mặt trận kinh tế.  Nếu những cộng tác viên trong guồng máy nhân sự với  ông ta cứ bo bo vì  phải trung thành với ngườI lãnh đạo cũ để chấp nhận ông ta tại vì ở cơ quan này. Thì rõ ràng đây là một ảnh hưởng tiêu cực của học thuyết Tam Cương Ngũ Thường của Khổng gíao tại VN.

Ảnh hưởng Thiên Chúa Giáo đã tiếp viện VH cứng ngắc Tam Cương Ngũ Thường này của Khổng Gíao, bằng tín điều “Ðức Vâng Lời”.

Giáo luật của Công gíao truyền vào VN là thứ giáo luật xuất phát từ La Mã và ảnh hưởng mạnh trên các quốc gia Nam Âu như Bồ Ðào Nha, Tây Ban Nha.. Giáo luật La Mã coi trọng việc vâng lời giai cấp Giáo hội mà đứng đầu là Ðức Giáo Hoàng tại Rome, rồi đến các hồng y, giám mục, linh mục ở địa phương. Sự vâng lời triệt để giai cấp cầm quyền hội thánh theo giáo luật được thế tục hóa thành luật La Mã (Roman Law),  đã biến những quốc gia nào trung thành với giáo luật La Mã trở thành những quốc gia ngoan đạo nhưng ù ì trì trệ dân chủ. Ðiển hình là các quốc gia  Mê Tây Cơ, Ba Tây, Cu Ba, Phi Luật Tân..
Người Pháp đã chọn những vị thế trung tâm, những vị trí đẹp nhất, của các thành phố lớn VN, rồi ịn lên đấy một ngôi nhà thờ Tây Phương nhất.

Người Công giáo VN có câu: “Vâng lời trọng hơn của lễ”.  Là con chiên Công Giáo, giáo dân chỉ biết vâng lời một cách vô điều kiện từ những lãnh tụ tinh thần. Không được đặt câu hỏi. Không được có ý kiến. Trên bảo sao thì dưới cứ làm như vậy.

Ðây là một điều lệ đã tạo nên một dấu ấn nô lệ vào thượng cấp của người tín đồ. Lấy ví dụ, một vị linh mục kêu gọi con chiên dồn phiếu cho một ứng cử viên chính trị tại địa phương của họ. Các con chiên ngoan ngoãn nghe lời vị linh mục giáo xứ bỏ phiếu cho ứng cử viên này dù biết ứng cử viên này tham nhũng và hối lộ có thành tích trong qúa khứ tại đấy. Thử hỏi trong trường hợp này, sự vâng lời của giáo dân có phải là làm cho nền dân chủ của xã hội mà họ đang sống bị trì trệ đi không

Với chính sách Thực Dân Bằng Tôn Giáo (colonisation par la religion) người Pháp (?) đã bày cho người Công giáo VN gọi người không theo đạo Công giáo là người “lương”,  tức là người “ngoại đạo” (40),  người “không có đạo”.  Và người theo công giáo là người “có đạo”.

Ðây là một thành kiến cứng nhắc, tạo cho người nghe phải lý thuyết này sẽ phát triển một thành kiến bảo thủ lấy đạo giáo của mình và cách chia với người khác đạo của mình.

Ðây là một thành kiến dễ đưa đến sự cuồng tín. Chỉ biết thờ phượng và bảo vệ lấy những điều mà mình đã tin tưởng. Và không thể chấp nhận những người theo đuổi con đường khác mình.

Phải quan sát trên bàn thờ của những ngôi đền chùa tại HN, người ta sẽ thấy ngay trên đấy một sự thờ phượng nhập nhằng rất bất tiện cho những tín đồ Phật giáo muốn thực thi quyền dân chủ tại dương trần.

Sự lẫn lộn thờ phượng các ông bà Phật với các ông bà chính trị gia rất dễ tạo cho những ông bà chính trị này một thứ đặc quyền tuyệt đối. Vì được tôn lên hàng thần thánh những chính trị gia này có làm sai làm bậy cũng không bị các tín đồ đặt vấn đề cần xét lại. Khi đã trở thành thần thành thánh thì sự xét lại thân thế và thành quả chính trị của các chính trị gia này sẽ không còn được khách quan. Các chính trị gia này được hưởng những ưu đãi vô lý mà một công dân trần thế bình thường khó mà có được. Vì vậy những trang lịch sử của các vị chính trị gia này không có gì bảo đảm đó là những đóng góp vào sự văn minh tiến bộ cho nhân loại ở mức độ cao. Sự thần thánh hóa các chính trị gia trên các bàn thờ của các đền chùa tại HN xem ra là những cái bệ đài rất dễ cản trở việc thực thi những nền tảng dân chủ trong đời sống của các tín đồ của quốc gia này.

Về phương diện này, người CS một mặt kêu gào làm CM toàn thế giới để giải phóng con người khỏi mọi xiềng xích, kể cả “gông cùm tinh thần của các tôn giáo”, thế nhưng sự “tôn sùng cá nhân” lãnh tụ (HCM) là điều xảy ra mạnh mẽ nhất dưới chế độ CS.

Hiện tượng này xảy ra từ việc biện hộ cho “nền chuyên chính vô sản” mà ĐCS là lực lượng lãnh đạo duy nhất trong xã hội chính trị.  Chủ nghĩa CS đương nhiên được biến thành một thứ tôn giáo mới với tính chất “bất khả nhầm lẫn” của một chân lý như bất kỳ tôn giáo nào khác. Lãnh tụ tất nhiên được biến thành giáo chủ anh minh vĩ đại muôn đời dù tư tưởng đã trở nên cũ rích từ hơn 200 năm.

Phật Giáo với gíáo lý xem đời là bể khổ và nên tìm cách xa thế sự lại chỉ làm cho người tín đồ của họ phó mặc cho những hoàn cảnh tiêu cực xảy ra chung quanh họ tung hoành dễ dàng và nhiều hơn.  Lấy ví dụ thái độ thiếu tham dự với đời vì xem đời là vùng tục lụy khiến cho các tín đồ phật gíao dễ trở thành những công dân ít tham dự sinh hoạt dân chủ.  Ðó là hiện tượng tại sao khi cầm lá phiếu trong tay, phần đông tín đồ Phật Gíao tại các quốc gia ảnh hưởng Phật Giáo không hành xử quyền dân chủ của mình. Họ lý luận rằng bỏ phiếu cho ai thì chính quyền cũng đã có người sẵn của chính quyền đấy rồi. Họ không muốn rắc rối  với người của chính quyền tại chức. Họ không muốn thắc mắc và sinh sự là tại sao người này không làm được việc mà lại cứ ra tái cử hoài. Họ không muốn nêu lên nguyện vọng của mình. Họ không tích cực tham dự sinh họat này để tạo lên những thay đổi.

Truyền thống thụ động của Phật Giáo đã thấm đẫm trong xã hội.  Triết lý tránh xa cõi đời tục lụy đã khiến cho một số đông những con ngườI thông minh VN tìm lối thóat tu hành để giải toả những bất mãn trong cuộc sống.  Những kẻ bất mãn về những bất công bất lực bất tài của thờI sự của chính quyền không có ý hướng tranh đấu để cải thiện. Mà những con người mẫn cảm này đã tìm cách trốn tránh vào triết lý Phật Gíao đó là con đường “làm phước và đi tu”.  Chính mảng lớn dân chúng dựa vào triết lý Phật Gíao này đã làm giảm bớt những sự quan tâm của người dân Việt đối với đất nước họ.

Và kết qủa là những nhà độc tài lãnh đạo ở các quốc gia có ảnh hưởng Phật Gíao dễ tồn tại trong chính quyền các nước này lâu hơn. Trường hợp ĐCS ở lì bao nhiêu năm tại VN nói cho rốt ráo là vì toàn thể người dân VN cứ để mặc họ cai trị nước VN đấy chứ.

Cuối cùng là khi ĐCS đến VN đã mang theo bản chất cực đoan của giáo điều “vô sản chuyên chính”, nghĩa là chỉ có giới vô sản mới được nắm chính quyền.

Tính chất cực đoan này rất thích hợp với tính chất “vâng lời” cực đoan do đạo làm con, đạo làm dân, của thuyết Khổng Tử, và đạo làm con chiên của giáo lý Công Giáo đã mang đến trước đó tại VN. Sự cực đoan của CS còn xem Tư Bản như là kẻ thù không đội trời chung. Chính cái cực đoan này đã dẫn đưa đến việc khi CS vừa lấy được Miền Bắc 1954, họ đã lập lên TAND. Toà án này gồm giai cấp nghèo khó trước đây nay ra giữa làng đấu tố các điền chủ, các phú hộ, trước đây.

Và vì khiếp hãi chính sách đấu tố và vì sợ hãi tính cách vô thần của chủ thuyết CS, nên một triệu dân Miền Bắc đã bỏ chạy vô Nam vào 1954. Và cũng vì nỗi sợ hãi này mà hàng trăm nghìn người Việt đã bỏ chạy ra khỏi VN kể từ 1975, khi chế độ CS hoàn tất cộng cuộc CS hóa Miền Nam. Ðây là lần đầu tiên, lịch sử VN chính thức ghi lại một cuộc trốn chạy chính quyền của người dân VN bỏ ra khỏi nước để tìm tự do khắp các quốc gia trên thế giới. Ðông nhất và đặc biệt nhất là tại HK, Canada, Bắc Âu và Úc Châu.

Tôn giáo và chính quyền VN từ trước đến nay là lực cản chính cho sự tiến bộ của quốc gia này. Hai thành phần này có qúa nhiều quyền lực,  lại cấu kết với  nhau để thống trị tuyệt đối trên xã hội VN.

Chân lý tôn giáo có tính cách vĩnh cửu, thường hằng. Chân lý của chính trị thay đổi theo thời gian. Tại VN hai chân lý này cấu kết với nhau như một cái rọ cực kỳ mạnh mẽ bọc kín hết mọi tiếng nói và sức sống của những thế lực xã hội khác. Nhất là con người cá nhân thì hoàn toàn bị trói gô o ép bởi hai lực mạnh tôn giáo và chính trị trong xã hội này.

Tôn giáo và chính quyền nhân danh sự bảo vệ đạo lý và an ninh quốc gia để đè bẹp sức sống của giai cấp không quyền. Thành phần sư cố (Công Gíao, Phật Giáo), cấu kết với giai cấp công quyền (ĐCS, Khổng Giáo), cấu kết với giai cấp cha chú (Khổng Gíao) đã tạo nên một thứ quyền lực vĩ đại nặng nề chắn ngăn tất cả mọi sức sống của thành phần con chiên, con dân, con cái. Quyền lực lo lớn của ba thành phần có quyền này đã không chừa chỗ nào cho thành phần không quyền kia có chỗ để mà phát biểu và phát triển mạch sống của họ. Hiện tượng này phản ảnh một thế sống xã hội mất thăng bằng. Một giai cấp thì được sống hả hê tự tung tự tác trên tất cả mọi quyết định của đời sống. Trong khi giai cấp kia thì không được một mảy may cơ hội nào để tham dự vào những quyết định của chính đời họ.  Sự mất thăng bằng này đã tạo ra một thế sống trì trệ khủng long cho khuôn mặt xã hội VN hiện nay.

Sự nghèo khó triền miên của VN gây nên một phần nào là do ảnh hưởng của giáo lý xem của cải tích lũy ở đời là “của phù vân” và giáo lý “diệt dục” của Phật Giáo. Giàu sang chỉ là cảnh phù du, sớm còn tối mất. Khi đã tin là mọi của cải thâu  tóm trong đời sống này chỉ là của mây trả gió nay còn mai mất, hỏi ai còn muốn dốc lực làm giàu tối  đa. Khi đã bị nhồi sọ cho rằng ước vọng có nhà cao cửa đẹp giàu sang phú qúy là dục vọng xấu xa gây ra tội lỗi của bến mê thì thử hỏi tín đồ nào mà còn muốn đi xây dựng phù đồ cho thành triệu phú siêu sao thế giới nữa.

Sự nghèo khó này của VN gây nên một phần nào cũng là do ảnh hưởng của giáo lý không khuyến khích làm giàu nơi trần thế của đạo Công Giáo gốc La Mã.  Bởi vì: “Quan hệ tôn giáo không phải chỉ là nguyên nhân gây ra điều kiện kinh tế, mà ở một mức độ nào đó, có vẻ như nó (kinh tế) chính là kết quả của chúng (tôn giáo)“.  (41)

Ðiều không may mắn đã đến với xứ sở VN là vì Công Giáo được truyền vào VN là Công Giáo của cánh La Mã Nam Âu với những tín điều không khuyến khích con người sống sướng.

Người Tin Lành thì thích ăn ngon còn người Công Giáo thì thích đừng bị đánh thức dậy“. (42)  Ðạo Tin Lành phát xuất từ những nhà canh tân của Bắc Âu gồm Martin Luther (Ðức), Zwingli Huldreich (Thụy Sĩ), John Calvin (Pháp) đã hạ thấp giá trị của giáo hội La Mã và nâng cao giá trị quyển Kinh Thánh. Lý thuyết của nhà xã hội học Ðức Max Weber vẫn cho rằng giáo lý đạo Tin Lành là tạo ra giai cấp Tư Bản của Bắc Âu.

Những người theo đạo Công Giáo được nhồi nhét bởi giáo lý khinh bỉ sự làm giàu. Những câu trích dẫn Kinh Thánh như: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có bước vào nước Trời”.  Thái độ kỳ thị và khinh bỉ người giàu có này dẫn đưa đến tình trạng không tha thiết với sự kiếm tiền để trở nên những nhà đại tư bản.

Trong khi đó , giáo lý của đạo Tin Lành coi sự làm việc kiếm tiền là tốt. Giáo lý tin lành không xem sự giàu có là một “điều xấu xa tội lỗi”. (43)  Chính vì giáo lý Tin Lành khuyến khích làm việc kiếm tiền thăng tiến nghề nghiệp mà nhà xã hội học người Ðức Max Weber đã kết luận là những người dân ở thành phố Baden, Ðức, theo đạo Tin Lành thường có khuynh hướng kiếm tiền cao hơn người Công Giáo. (44)  Ông cũng còn nhận xét là người Tin Lành Ðức thường leo lên chức chủ nhân ông, chủ hãng, quyền cao chức trọng hơn những người Công Giáo Ðức. (45)

Theo giáo sư Nguyễn Văn Trung trong Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp – VN thì chính ông quan thực dân Pháp Lanessan cũng đã phải tố cáo là mấy ông cha Thừa Sai Công gíao La Mã Nam Âu sang VN và Phi Luật Tân thì “chẳng có lợi gì về kinh tế mà còn hại về tâm lý”, các vị Thừa Sai thì theo bám vào các thành phần dân quê, bần cùng, nghèo khổ “chỉ lo dạy đạo và có một đời sống hoà đồng với lối sống đơn giản khó nghèo của dân chúng, ăn , mặc, ở như họ.”  “Trái lại đạo Tin lành nhắm vào tầng lớp thượng lưu, tập cho họ những thói quen mới theo phong tục, lối sống tây phương,.. con nhà qúy phái theo đạo Tin lành được gửi sang ăn học trong khi con cái người Công giáo thường ở thành phần nghèo. Linh mục cũng nghèo, không nghĩ đến chuyện được gửi đi du học. Cách truyền đạo (Tin lành) như vậy có lợi vì làm cho người theo đạo (Tin lành) đi vào cộng đồng VH với người bảo hộ, tạo điều kiện hiểu nhau dễ dàng hơn, đồng thời cũng làm phát triển kỹ nghệ thương mại:.. Trong khi những thuộc địa Hòa Lan, Anh (Tin lành) có những con đường đẹp, đường xe lửa và cầu cống, thì Phi Luật Tân ( Công giáo) chỉ có đường nhựa ở vùng lân cận những trung tâm lớn và tất cả ngân sách đều dùng vào việc xây nhà thờ, nhà dòng, và dinh thự công cọng.” (46)

Bộ mặt nghèo khó hiện nay của VN phần nào cũng là do ảnh hưởng xem cuộc đời trần thế là cuộc đời tạm bợ, quê trời của Ðức Chúa Cha mới thật là quê nhà hằng sống, của đạo Công Giáo bảo thủ gốc Bồ Ðào Nha do các ông cố đạo Dòng Tên mang cờ cắm lên đất VN những năm 1620. Trong khi đạo Tin lành có chút khuyến khích con chiên nên làm việc cật lực để vinh danh cuộc đời trần thế và vì vậy con chiên nước nào mà theo đạo Tin Lành Bắc Âu thì còn chăm chỉ làm giàu khi còn sống ở thế gian này chút chút. Chớ con chiên nước nào mà lỡ chịu ảnh hưởng khuynh hướng Công Giáo Nam Âu cổ lỗ sĩ cứ nhất định xem cuộc đời này là quê tạm bợ thì chỉ có nước đi ăn mày. Cứ mà hàng tháng phải đi xưng tội với linh mục rằng con đã lỡ tham lam kiếm tiền  bóc lột người khác vi phạm một trong “bảy mối tội đầu”, thì thử hỏi biết đến bao giờ VN mới có những siêu sao triệu phú phát xuất từ thành phần tín đồ ngoan đạo Công Gíao kiểu này.

Chính vì vậy mà những quốc gia thuộc Khối Bắc Âu hay Bắc Mỹ theo đạo Tin Lành thì chịu khó làm giàu hơn nên trở thành những nước giàu mạnh. Trong khi các quốc gia sùng đạo Công Giáo thuộc khối Nam Âu hay Nam Mỹ nô lệ vào giáo hội La Mã thì mãi còn là những quốc gia còn nghèo khổ.

Và chắc chắn bộ mặt nghèo khổ nhất thế giới của người VN cuối thế kỷ 20 này là ảnh hưởng của chủ nghĩa CS do HCM nhập cảng từ Âu Châu về. Giai cấp vô sản, chữ nghĩa của CS, là giai cấp được nhà nước CS VN nâng niu và đánh bóng. Anh hùng lao động, giai cấp thợ thuyền, những thành phần nghèo khổ này được trưng bảng tuyên dương làm người mẫu trên các đường phố, trong các lớp học, trong các nơi làm việc của một nước VN CS từ năm 1945 cho đến năm 2000. Nếu người dân VN cứ bắt chước gương của các anh hùng lao động này thì chắc chắn nước VN không thể nào trở thành một nước giàu nổi.
Chú Thích:

32. Trần Tấn Thành. Di Tích Danh Thắng Hà Tĩnh. Sở VH Thông Tin Hà Tĩnh, 1997. Trang 153-154. 

33. Nguyễn Văn Trung. Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp — VN. Nam Sơn xuất bản. SG 1963. Trang 105, 119. 

34. Cao Huy Thuần, Luận Án Tiến Sĩ Quốc Gia Đại Học Paris. Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại VN (Christianisme et Coolonialisme au Vietnam 1857-1914). Hương Quê, Los Angeles, 1988. Trang 396. 

35. Cao Huy Thuần, trang 171. 

36. Cao Huy Thuần, trang 183. 

37. Cao Huy Thuần, trang 186. 

38. Diên Hương. Thành Ngữ Điển Tích Từ Điển. Nhà xuất bản Tổng Hợp Đồng Tháp, 1992. Trang 296. 

39. Quốc Triều Hình Luật, Cao Nãi Quang phiên âm và dịch nghĩa, Nguyên Sĩ Giác nhuận sắc, Vũ Văn Mẫu đề tựa, Trường Luật Khoa Đại Học SG, 1956. Trang 128-129. 

40. Nguyễn Văn Trung. Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp. Trang 111- 116 

41. “Religious affiliation is not a cause of the economic conditions, but to a certain extent appears to be a result of them. Max Weber, The Protestant Ethic and The Spirit Of Capitalism. Charles Scribber’s Sons. New York. 1958. Trang 35. 

42. “The proverb says jokingly, ‘either eat well or sleep well’. In the present case the Protestant prefers to eat well, the Catholic to sleep undisturbed”. Max Weber, The Protestant Ethic and The Spirit Of Capitalism. Charles Scribber’s Sons. New York. 1958. Trang 41. 

43. “The (Protestant) ethic does not view wealth as evil in itself “. The World Book Encyclopedia. 1996 Edition. Trang 833. 

44.” .. For Instance, in 1895 in Baden there was taxable capital availabel for the tax on returns from capital: Per 1000 Protestants: 954,000 marks. Per 1000 Catholics: 589,000 marks. Max Weber, The Protestant Ethic and The Spirit Of Capitalism. Charles Scribber’s Sons. New York. 1958. Trang 188. 

45. “A Glance at the occupational statistics of any country of mixed religious composition brings to light with remarkable frequency a situation which has several times provoked discussion in the Catholic press and literature, and in Catholic congress in Germany, namely, the fact that bussiness leaders and owners of capital, as well as the higher grades of skilled labour, and even more the higher technically and commercially trained personnel of modern enterprises, are overwhelminly Protestants. Max Weber, The Protestant Ethic and The Spirit Of Capitalism. Charles Scribber’s Sons. New York. 1958. Trang 35. 

46. Nguyễn Văn Trung. Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp — VN.. Trang 111, 112, 116, 117.

5 – Bệnh Cuồng Tin.  11 giờ 30 sáng. 9-1999 của một mùa thu HN hiu hắt nắng và hanh hao gió.  Đang dọn bữa cơm trưa ra thì nghe đài truyền hình VTV1 vang rân tiếng hát của trẻ em: “Mong sao bác sống muôn đời để dìu dắt nhi đồng…”. Nhìn lên màn ảnh thấy một chương trình dạy con nít hát bài Ai Yêu Bác HCM Hơn Chúng Em Nhi Đồng. Nhạc và Lời của nhạc sĩ Phong Nhã.

Bác chúng em dáng cao cao người thanh thanh. Bác chúng em mắt như sao râu hơi dài. Bác chúng em nước da nâu vì sương gió. Bác chúng em thề cương quyết trả thù nhà. HCM kính yêu. Chúng em kính yêu bác HCM trọn một đời. HCM kính yêu bác đã bao phen bôn ba nước ngoài vì giống nòi. Bác nay tuy đã già rồi, già rồi nhưng vẫn vui tươi. Ngày ngày chúng cháu ước mong. Mong sao bác sống muôn đời để dìu dắt nhi đồng thành người và kiến thiết nước nhà bằng người. HCM kính yêu, chúng em kính yêu Bác. HCM trọn một đời. HCM kính yêu chúng em uớc sao Bác. HCM sống muôn năm.”

Báo Nhân Dân phát hành ngày 18.5.2000 cho đăng lại một bài thơ: Cháu Nhớ Bác Hồ.

Đêm nay bên bến Ô Lâu

Cháu ngồi cháu nhớ chòm râu bác Hồ

Nhớ hình bác giữa bóng cờ

Hồng hào đôi má bạc phơ mái đầu

M¡t hiền sáng rực như sao

Bác nhìn tận đến Cà Mau sáng ngời

Nhớ khi trăng sáng đầy trời

Trung thu bác gửi những lời vào thăm

Đêm nào cháu cũng bâng khuâng

Giở xem ảnh Bác cất thầm bấy lâu

Nhìn mắt sáng, nhìn chòm râu

Nhìn vầng trán rộng, nhìn đầu bạc phơ

Càng nhìn càng lại ngẩn ngơ

Ôm hôn ảnh bác mà ngờ Bác hôn

Bác ơi dù cách núi non

Mà hình ảnh Bác vẫn còn khắc sâu

Đêm qua cháu lại chiêm bao

Ngày vui thống nhất Bác vào Miền Nam

Cổng chào dựng chật đường quan

Bác đến đình làng Bác đứng trên cao

Bác cười thân mật biết bao

Bác dặn đồng bào cặn kẽ từng câu

Ung dung bác vuốt chòm râu

Bác xoa đầu cháu bác âu yếm cười”  Thanh Hải (1956)

Đọc bài thơ này tôi chỉ thấy đứa bé này được phát cho một liều thuốc bổ tâm thần rất lệch lạc.

Thứ nhất là người lớn đã xây đắp chính trị gia HCM như là một thượng đế trong tâm hồn trẻ thơ. Thượng đế HCM ẩn sâu vào trong giấc mơ của đứa bé. Làm gì mà đến độ “Ôm hôn ảnh bác mà ngờ Bác hôn” !!!. Con nít này đang bị người lớn nhồi nhét một ông lãnh tụ chính trị vào ngôi vị bí mật tuyệt vời của một thượng đế trong tâm hồn trẻ thơ. Con nít này thay vì nằm mơ thấy kẹo ngọt và chuyện cổ tích êm đềm thì lại bị dí ấn tượng một chòm râu của một chính trị gia.

Ông HCM có cái công gì đó thì ông ta cũng chỉ là người của một giai đoạn lịch sử.  Làm gì mà phải nhồi nhét vào các em nhi đồng một hình ảnh HCM hoàn hảo như thiên thần của trẻ thơ vậỵ  Trẻ em ViệtNam coi bộ bị người lớn VN ăn hiếp qúa. Có câu ca dao “Con nít ai đ..t thì dạ”.  Đúng là những ngưoi lớn này đã coi thường giá trị giáo dục tích cực rất quan trọng của  tuổi thiếu nhị  Tự nhiên bắt con nít hát bài ca ngợi ông già HCM chi vậy.

Lần đầu tiên trở về nước sống một thời gian tương đối dài, ngày ngày ở HN tôi hăm hở mở ti vi để tìm hiểu chuyện thế sự. Tôi bật té ngưả người khi nghe các ca sĩ từ ca sĩ thượng thặng cho đến các ca sĩ nhí 5-10 tuổi ai cũng vịn chéo áo và hàm râu Bác Hồ mà ngợi ca cuộc đời.

Những lời ca tiếng hát ngày ngày phát thanh phát tuyến cho đến những bài xã luận, những bài thơ, bài văn trên các báo Nhân Dân, SG Giải Phóng, Người HN, Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Văn Nghệ, Người Kinh Doanh, Tuần Báo Phụ Nữ… Và thành khẩn nhất có lẽ là bức tượng HCM nổi bật trên bệ phóng cao nhất của những buổi họp hội của các nhân viên nhà nước. Tất cả đều ca ngợi tôn vình HCM như khùng như điên. Đài đài ca. Xưởng xưởng ca. Sách sách ca. Nhạc nhạc ca. Đường đường ca. Đảng đảng ca.

Hiện tượng ra sức ca ngợi lãnh tụ của chế độ xảy ra trong các nước CS mà VN đã rập khuôn theo, càng làm gia tăng bệnh sính niềm tin của người Việt. Biến hiện tượng này thành một chứng chỉ cuồng tin của nét VH trì trê..

Trong thời gian ở HN, sáng sáng tôi hay ra mua xôi của một bà cụ ngồi trên vỉa hè góc đường Cầu Gỗ và Đinh Liệt. Xôi lạc, xôi gấc, xôi đỗ, của bà cụ rất ngon. Hạt nếp dẻo, thơm, muối vừng vừa phải. Có lần cụ chỉ tay sang bên kia đường, nơi có toà binh đinh Nhà Bách Hóa vĩ đại nhìn ra Hồ Hoàn Kiếm. Và nói với tôi: “Đấy. Cô nhìn xem. Cái toà nhà ấy ngày trước là của ông Nam Ký đấy. Nguyên hết bên kia đường Cầu Gỗ toàn là nhà của ông Nam Ký đấỵ  Ngày trước ông ta có đến 32 căn nhà ở trên đường Cầu Gỗ đấỵ  Bây giờ chỉ còn lại căn buồng để mà ở kia kìa”. Nói rồi bà cụ chỉ tay về ngôi nhà Bán Hàng Lưu Niệm bé bỏng và cho tôi biết. Cô con gái ông Nam Ký bây giờ cũng chỉ được cái buồng trên lầu để ở. Còn tất cả tài sản 32 căn nhà trên phố Cầu Gỗ này đã do nhà nước CS tịch thâu bao nhiêu đợt.  Phát qua bán lại cho cơ quan cho người này người nọ. Tất cả mọi chuyện này nhà nước ĐCS thi hành một cách thoải mái không cần biết quyền sở hữu nguyên thủy thuộc về tài sản của một gia đình từng nổi tiếng là giàu có ở HN: gia đình ông Nam Ký.

“Riêng phần tôi” bà cụ tiếp, “Chỉ được có căn buồng sau đây nàỵ” Bà cụ chỉ sâu vào con hẻm mênh mông sầu khổ  phía sau.  Tôi chỉ vào tiệm bán áo bà cụ đang ngồi bán xôi phía trước và nói: “Cụ nói ngôi nhà này ngày trước là của cụ à. Vậy bây giờ là của nhà nước hay là của tư nhân” .            -“Bây giờ là tư nhân. Trước nhà nước lấy của tôi. Rồi họ đổi cho tư nhân”.   “Thế là thế nào?”

“Chính phủ lấy của tôi tất cả là năm căn nhà trên phố Cầu Gỗ này đấy cô à. Ngày ấy nhà tôi nhà cửa tưởng là ăn bao nhiêu đời không hết. Rồi chính phủ này về họ lấy hết. Căn nhà này sau này họ đổi cho 1 nhà trên Hàng Trống. Họ lấy nhà người ta trên Hàng Trống để làm văn phòng nhà nước và họ đổi cho người ta xuống đây ấy mà.”

Một bà cụ già 81 tuổi. Chưa được yên thân mà còn phải nấu xôi để nuôi sống những con người hiện đang phải sống nhờ vào nồi xôi của bà.

Hiện bà cụ phải nuôi một người chồng già 84 tuổi và một ông con trai “dở hơi”. Ông con trai này là một trong sáu người con của bà cụ. Ông ta đã từng đi chiến trường đánh Đế Quốc Mỹ đến khi bị điên thì ông ta được thả về.  Nhà nước hiện cấp phát cho ông ta một tháng 30 nghìn đồng. Tương đương với món tiền tôi mua của cụ 13 nắm xôi.

Nếu bàcụ không nấu xôi bán thì không có tiền để mà sống. Năm người con kia của cụ đã có gia đình, nhiều người đã về hưu. Không người nào nuôi đủ gia đình họ. Làm sao có thể lo cho ba người này thêm nữa.

Những người trong phố Cầu Gỗ nói với tôi: “Không hiểu bà cụ mà chết đi thì ai nuôi nổi ông cụ và cái ông con trai “dở hơi” kia .

Một ngày ngồi trên chuyến xe bus từ trường đại học Thanh Xuân để về lại Bờ Hồ, tôi được nghe câu chuyện của hai mẹ con. Người đàn bà quàng khăn mỏ qụa. Người con trai khoảng ngoài 40 tay ôm một bó hoa gồm hoa hồng và những hoa khác. Hai mẹ con nói chuyện to quá sau lưng tôi buộc tôi phải nghe dù không muốn. Người mẹ phàn nàn về người vắng mặt nào đó và bà phán những câu như: “Thời buổi này thì cứ đi triệt sản hết. Chả nên có con. Cứ đẻ ra rồi chả nhờ cậy gì được. Cứ nhìn những …

Có lúc tôi nghe bà bình: “Ai mà chả chết. Bác Hồ còn phải chết nữa là ..”  Bác Hồ quả là một điểm tựa tinh thần của những người bị bó rọ trong chế độ CS.

Một lần kia tôi theo người quen về một làng quê ở Hải Phòng chơi, tôi để ý trên tường nhà gia chủ  ấy treo một tấm hình ông HCM trên  cao hơn cái bàn thờ gia tiên của họ. Tôi giật thót người. Trời! Họ tôn ông HCM lên hạng thần thánh thế sao!  (47)

Tôi có cảm tưởng những người bị HCM dìm cho xuống tận cùng nỗi thống khổ của chiến tranh phải ca kêu tên Bác Hồ cho đỡ thấy đau.  Hoặc người ta đang niệm thần chú HCM để quên đi những nghèo khó đang bủa vây họ.

Hoặc người ta nhìn tượng HCM để an ủi sự ngu dốt trong khi hội thảo về những chính sách không lối thoát của đất nước này.  Trong cái việc thần phục HCM một cách thô bỉ nhất, đối với tôi, là hiện tượng có những nhà trí thức VN đương đại cũng hùa theo ca hót. Tôi ở HN và được nghe người HN giải thích về cái mẹo của các nhà thơ Nguyễ­n Quang Thiều khi viết một trường thi về Người” trong Nhịp Điệu Châu Thổ Mới” , nhạc sĩ Đỗ Nhuận với ca khúc “Trồng Hoa Để Nhớ Đến “Người“, và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ca: “Đi giữa mùa thu HN .. để nhớ một Người

May mà tôi sống cùng thời với Nguyễ­n Quang Thiều, và Trịnh Công Sơn để thấy HCM chỉ là thần tượng của những người đàn ông nào đó chứ không bao giờ  là thần tượng của những người đàn bà như tôi.

Bệnh thần thánh hóa những nhà chính trị là thứ bệnh nằm trong tâm thức người Việt đã bao đời nay.

Ngày xưa Cao Bá Quát viết hai câu thơ “ca” Quang Trung lên hàng Phật:  “Đông Lý Vô Trần Đại Địa Sơn Hà Lưu Đống Vũ

Quang Trung Hóa Phật Tiểu Thiên Thế Giới Chuyển Phong Vân.

Cửa Đông không bụi trần, nền cột còn đây, giữa núi sông rộng lớn

Trong sáng hóa  thành phật, gió mây chuyển cả thế giới dưới trần.”

Hai câu thơ này hiện nay còn lưu lại ở Chùa Bộc, HN.

Đọc hai câu thơ này tôi thấy ông Cao Bá Quát chuyển một ông quân sự gia rất trần tục Quang Trung lên thành một ông phật tiên của cõi trên. Một bậc trí thức như Cao Bá Quát mà cũng còn lâm bệnh thần thánh hóa anh hùng dân tộc thì đúng là hiện tượng cuồng tin có lẽ không chừa một thành phần nào trong xã hội VN.

Thời đại tôi đang sống hiện nay, khối lượng sách vở “ca” HCM ở trong nước thì lại qúa khủng khiếp. Không ai làm một thư tịch những sách “ca” HCM được xuất bản từ năm 1945 đến năm 2000, nhưng theo sự ước đoán của tôi thì số lượng sách vở “ca” HCM, một nhà chính trị, phải cao nhất trong lịch sử. Có lẽ chưa một lãnh đạo VN nào được những người cùng thế hệ, cùng chính kiến, “ca” ông ta nhiều như thời ĐCS “ca” HCM.

Một người có tước vị “Nhà Giáo Nhân Dân”, Giáo Sư Trần Văn Giàu, đã viết nguyên một quyển sách về VH mà thật ra để chỉ lồng những lời “ca” HCM từ đầu đến cuối. Trong đó ông trí thức này còn kéo theo bao nhiêu là lời “ca” Bác của những người khác: “Đồng chí Trường Chinh viết ‘Một điều nổi bật trong đạo đức của Hồ Chủ Tịch là Lòng Thương Người”….

  “Đồng chí Lê Duẩn nói: Cuộc đời của Hồ Chủ tịch trong như Ánh sáng, đó là tấm gương tuyệt vời về chí khí CM kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng nhân đạo và yêu mến nhân dân tha thiết., đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn giản dị”. Và: “trái tim khối óc của Người dành cho dân tộc VN cũng hướng về giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức toàn thế giới” 

“Đồng chí Phạm Văn Đồng viết: “Hồ Chủ tịch rất coi trọng con người  bởi vì đó là vốn qúy nhất. Cuộc chiến đấu và chiến thắng của dân tộc VN trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chung quy là th¡ng lợi của con người; con người đó trước hết là một chiến sĩ CM kiên cường, bất khuất, triệt để, vũ trang bằng học thuyết Mác-Lênin bách chiến bách th¡ng, luôn luôn trau giồi phẩm chất và đạo đức của mình. “Nhà thơ Tố Hữu trong bài  Bác Ơi:

“Bác ơi, tim bác mênh mông thế

Ôm cả non sông, mọi kiếp người”  (48)  

Một tác phẩm lấy cái tựa là “Giá Trị Tinh Thần Truyền Thống Của Dân Tộc VN”  mà sao tự nhiên xách HCM cùng Đảng, cùng Mác-Lê Nin “ca” cho cố vào trong đó. Đến một nhà trí thức nghiên cứu VH mà cũng không thoát khỏi bệnh “cuồng tin” trong công việc nghiên cứu. Thế thì những sách nghiên cứu được viết ra bởi những người trong nước hiện nay đáng phải xét lại ở khía cạnh khách quan của nó.

Đối với người VN, vấn đề “thần tượng” không phải là vấn đề quan trọng. Trong VH VN, chẳng bao giờ có vấn đề ca ngợi người nào là mẫu mực cho ai. Cứ nhìn khi các ca sĩ Âu Mỹ nổi tiếng, các fans của họ điên cuồng ca ngợi bắt chước các ca sĩ mà họ yêu mến. Trong khi đó đối với người nghe nhạc Việt, thích giọng hát này, thích cô ca sĩ kia, không có vấn đề  lăn ra sùng bái la hét đến cho gần được người ca sĩ mà mình ái mộ.

Trong khi làm việc với các bạn ngoại quốc ở các đại học Mỹ, thỉnh thoảng tôi được các bạn hỏi ý kiến ai hiện là các “thần tượng” (role models) trong cộng đồng VN để mời đến gặp gỡ các sinh viên Việt vào những dịp chúng tôi mở những buổi di­n thuyết cho sinh viên.  Các bạn từ các cộng đồng Đen vàng hay trắng, thường nói về các role models như một điều tự nhiên cần phải lồng vào trong các sinh hoạt tổ chức phục vụ cho sinh viên.  Với họ vai trò thần tượng có một gía trị tích cực trong việc hướng dẫn những người trẻ b¡t chước theo những mẫu mực ấỵ   Và tôi mới để ý là trong sinh hoạt tinh thần của người Việt, thần tượng không phải là một thứ tiết mục tất yếu trong sinh hoạt hướng dẫn giáo dục như các cộng đồng bạn.

Người VN có khuynh hướng thích thần thánh hóa chứ không có  khuynh hướng thần tượng hoá những nhân vật nổi bật. Thần thánh hóa là dựa vào niềm tin. Thứ niềm tin mang tính chất tôn giáo là không còn cần đặt câu hỏi mà chỉ biết cắm cổ tin. Trong khi thần tượng hóa thì mong muốn trở thành như thần tượng. Và chính vì muốn trở thành như thần tượng nên kẻ ngưỡng mộ sẽ đặt nhiều câu hỏi để biết rõ hơn về thần tượng. Thần thánh hóa là đưa đẩy người khác lên cao hơn mình trong khi thần tượng hóa thì lôi kéo người khác xuống bằng với mình.

Và khi người Việt thần thánh hóa kẻ phàm phu tục tử nào rồi, thì họ đưa lên bàn thờ thờ luôn.

Kể ra thì người Việt rất d­ễ tính trong việc thờ phượng người khác.  H­ễ ai được được, nhắm thờ được là họ thờ. Và thế là họ cứ tà tà tì tì mang lên không biết bao nhiêu người lên bàn thờ để thờ.

Cái tính chất thần thánh hoá các nhà lãnh đạo trong VH Việt không phải là chuyện mới mẻ.

Đi xem bàn thờ ở một số đền chùa ở VN, tôi thấy họ không những chỉ thờ các Chúa, Phật, mà họ còn thờ cả những nhân vật lịch sử như Trần Hưng Đạo.. Chùa Bộc, một ngôi chùa rất nổi tiếng ở HN thờ ông vua Quang Trung. Mà nay gian kế bên đã thấy kê thêm bàn thờ cho ông HCM. Lăng Lê Văn Duyệt ở SG thờ ông Lê Văn Duyệt là một địa điểm thờ phượng khá sinh động tại thành phố SG. Người Việt còn thờ những người khởi động xây chùa như Chùa Bà Chúa Núi Sam ở Châu Đốc, Chùa  Bà Nành ở HN.

Các đền và chùa Miền Bắc VN có đặc điểm nổi bật khác với các chùa của các quốc gia theo đạo Phật ở Á Châu, là các đền và chùa Miền Bắc thường xen kẽ bàn thờ Phật, bàn thờ Mẫu, bàn thờ các anh hùng lịch sử, hoặc những kẻ  có công trạng gì đó trong làng.

Người VN không những thích thờ lạy mà lại còn thích thờ lạy lung tung. Họ thờ kẻ có công lớn mà nhiều khi có công nho nhỏ họ cũng mang lên bàn thờ thờ tuốt luốt.

Ở đền Quan Thánh, HN, người ta đúc tượng thờ Đức Huyền Thiên Trấn Võ. Ông Huyền Thiên Trấn Võ là ông tướng to của lịch sử VN. VN có rất nhiều anh hùng lịch sử nhưng tự nhiên sao ông Trần Hưng Đạo lại được thờ hơn các anh hùng lịch sử khác, được tôn lên làm Đức Thánh Trần,  thì không hiểu vì đâu. Nhưng ở đây điều tôi muốn nói là ông Trần Hưng Đạo có công gì gì đó với nước VN nên ông ta được lên bàn thờ thì cũng còn dễ­ hiểụ  Đằng này ở trong đền Quan Thánh, người ta thờ lung tung tượng nữa, mà trong đó có bàn thờ tượng của ông Trùm Tro.ng.  Ông Trùm Trọng được rất nhiều người đến đền Trấn Võ vái lạy như lạy Phật lạy Chúa. Theo chi tiết ghi dưới bàn thờ ông Trùm Trọng: “Ông Trùm Trọng là người có công trong việc trông coi đúc tượng đồng Trấn Võ”  À thì ra thế. Ông Trùm Trọng này là ông thần chỉ có công là người thợ cả chỉ huy việc đúc tượng Huyền Thiên. Thế thi ổng hên nhẩỵ  Mấy trăm năm sau cái năm 1677 đúc tượng ấy, ông thợ cả đúc tượng tự nhiên thở thành Thánh thành Phật leo lên bàn thờ của thành phố HN cho dân thích vái lạy tha hồ thờ cúng ổng. Việc thờ phượng của người Việt qủa là dễ­ dàng đơn sợ

Đầu năm 2000, tôi đến thăm Quốc Tử Giám và Văn Miếu, nơi thờ Khổng Tử, có bia các tiến sĩ đỗ từ nhiều đời trước. Tôi lạc trong các phái đoàn từ khắp các tỉnh đổ về thăm thú HN vào dịp tết. Trong lúc đứng quẩn quanh quan sát sự đời, tôi nghe các cô các bà chen vào bên trong cổng đền và nói với nhau: “Trước tiên vào lạy­ Phật cái đã”. Tôi chưng hửng: Phật nào trong này. Hóa ra người ta gặp tượng là cứ lạy nhưng không biết là lạy ai.

Người Việt thương ai qúy ai mến ai đúng là họ có thể đưa lên trên bàn thờ mà thờ. Chuyện thờ phượng người mà họ thương qúy thì chẳng có gì qúa đáng. Vì họ xem chuyện này cũng không xa chuyện họ thờ phượng người sanh đẻ ra họ: thờ cha me..

Đạo thờ ông bà của người Việt đã khiến cho người Việt mang các người ân nhân, các nhân vật lịch sử, các người khác người lên bàn thờ nhanh và dễ­. Cha mẹ ông bà để lên bàn thờ cúng nhang chuối cơm xôi cạnh Phật và Chúa, thì cái ông cái bà có công có tên kia đưa lên bàn thờ cũng đâu có sao.

Người Việt không những thích thần thánh hoá con người tầm thường. Mà đôi khi họ còn phong cho các người tầm thường này những thứ không có. Kiểu phong đại này ở thời đại nào thì tôi không dám quả quyết, nhưng ở thời đại tôi, có một người được CS HN mang lên bàn thờ thờ. Và rồi họ phong cho ông này những thứ không đúng với sự thật chút nào: Đó là trường hợp của ông HCM.

Ông này được nhà nước CS thần thánh hoá đến độ khó tin. Trong những năm cuối thế kỷ 20, tại HN, trên các sách báo người ta nói và viết bao nhiêu công trình lịch sử của HCM chưa đủ. Tôi thật sự kinh ngạc là tự nhiên  nhà nước VN phát huy và đề cao “Nhà Tư Tưởng HCM”.

Thưa rằng, ông HCM đi học đến lớp mấy mà ông ta thành tư tưởng gia một cái phóc vậy.

Theo sự hiểu biết của tôi, về phương diện biểu lộ phương pháp làm việc, thì một cá nhân có thể đi theo một trong hai khuynh hướng: con người suy tư hoặc là con người hành động.

Những nhà suy tư thường trở thành triết gia, viết gia, tu gia, sáng tác gia..

Những nhà hành động thường trở thành chính trị gia, doanh gia, võ sĩ gia, hoạt động gia..

Ông HCM giỏi thì có giỏị  Hơn người thì có hơn người. Thành công thì có thành công. Ông ta có thể là một nhà hoạt động chính trị giỏi dưới mắt những người đàn ông nào đó. Ông ta chắc chắn là một người hành động giỏi, một người làm giỏi.

Muốn ca ngợi ông ta là nhà hoạt động giỏi đến cỡ nào thì cũng có thể ca được. Còn đây các ông CS HN tự nhiên tôn ông ta lên là một nhà tư tưởng và gán cho cái gì gì đó là tư tưởng HCM thì quả là một sự suy tôn hoang đàng thần thánh không có thật.

Bởi vì muốn trở thành một tư tưởng gia, một điều căn bản là nhà tư tưởng đó phải tiêu thụ một mớ bằng cấp và một mớ học vấn từ gốc đến ngọn nào đó. Sau thời gian học hỏi và tiêu thụ những bồ chữ của thiên hạ rồi thì nhà tư tưởng đó mới sự sinh ra được một lý thuyết và tư tưởng của riêng mình. Tới lúc đó công trình của tư tưởng gia đó phải trình làng bằng những tác phẩm cho mọi người phê bình đánh giá. Đây chỉ là tiêu chuẩn hạng bét mà một người bình thường có thể đòi hỏi ở một tư tưởng gia hạng bét. Muốn trở thành tư tưởng gia được muôn người ngữỡng mộ, tư tưởng ấy còn phải đoạt bao nhiêu tiêu chuẩn khắc nghiệt hơn nữa.

Một sự học để tới mức chuyên nghiệp để trở thành sư phụ để trở thành tư tưởng gia thì sự học này phải đi từ cội cho đến ngọn. Ít ra sự học này phải qua hết bậc trung học và mất nhiều năm suy tư nghiên cứu trên đại học. Nếu không theo học  đại học thì cũng mất một thời gian đóng cửa suy tư và học hỏi tương đương với thời gian một sinh viên nghiên cứu trên đại học.

Sức học của một cá nhân tốt nghiệp trung học dù tài giỏi đến đâu cũng chưa đủ học hỏi vào chi tiết và nghiên cứu thâm sâu vào một vấn đề. Vì vậy một nhà tư tưởng thường là một người mất thời gian nghiên cứu dài lâu vào thời điểm sau khi tốt nghiệp đại học.

Theo nhà nghiên cứu sử Nguyên Vũ Chính Đạo,  trong tác phẩm “HCM, Con Người Huyền Thoại” thì HCM là “một thứ học trò lở dở.. không đủ chữ Hán để tham dự những buổi hội thảo về lý thuyết CS với người Trung Hoa.. . Về tiếng Pháp, Hồ thuộc loại dưới trung bình. Năm 1911, khi viết đơn xin nhập học Trường Thuộc Địa, Hồ phạm nhiều lỗi sơ đẳng từ chính tả, văn phạm tới cú pháp. 9,10 năm sau, Hồ nói tiếng Pháp lưu loát hơn, nhưng mỗi lần cần viết truyền đơn đều phải nhờ đến luật sư Phan Văn Trường và kỹ sư Nguyên Thế Truyền… Năm 1911, khi đã 19 tuổi, Thành (Hồ) chỉ tự nhận từng học Tiếng Pháp, chữ Hán, và “Quốc Ngữ”.. (49). Không một cấp bằng nào được trưng dẫn.” Nội cái chuyện này thôi, HCM không bao giờ đủ tiêu chuẩn để trở thành một tư tưởng gia.

Tôi không biết các ông Lão Tử, Khổng Tử, Thích Ca đi học tiểu học trung học đại học kiểu nào vào thời họ. Nhưng tôi có thể chắc chắn một điều là những tư tưởng của họ được sanh đẻ ra bởi một sự chiêm nghiệm suy tư lâu dài của một cái đầu hay nhiều cái đầu nào đó. Chớ còn ông HCM lo tìm đường đánh nhau suốt cuộc đời ông ta. Ông này còn thời gian nào đâu để đi học đừng nói gì đến có thời gian đóng cửa tu thân suy tư tìm hiểu những chuyện tư tưởng này nọ. Thiệt là các ông CS HN tự dưng nghĩ ra chuyện gắn Tư Tưởng HCM lên trên cái vương miện Bác Hồ Vĩ Đại  đó thôi. Các ông CS HN này thiệt là dễ­  tính. Cứ nghĩ ra cái gì hay nhất tốt nhất giỏi nhất tài nhất là bơm lên cho thần tượng HCM căng lên. Rồi sẵn đang có quyền hành cai trị một nước trong tay, họ bắt dân ngu khu đen học tập và ca hát theo cái điều họ bày ra trên bàn thờ HCM của ho.. Trong khi kẻ thân cận với ông HCM thì lại viết sách nói chính ông HCM còn thú nhận là mình không có tư tưởng gì ráo trọi. Nguyễ­n Văn Trấn, một đồng chí của HCM, kể lại là chính HCM đã tuyên bố: “Không. Tôi không có tư tưởng (gì) ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác Lênin”. (50)

Người dân trong nước cứ bị bắt hát, bắt nghe, bắt học tập, riết lâu ngày thành tin vậy là đúng luôn. Nhân vật HCM bỗng trở thành nhân vật hoang đàng thần thánh giỏi giang mà một con người bình thường không thể có được.

Trong khi ông HCM được tôn thờ như thánh sống khắp nước VN, trong khi thủ đô của VNCH trước 1975 là SG được đổi tên là thành phố HCM, trong khi HCM được ĐCS HN nặn lên thành một tư tưởng gia thông thái lỗi lạc uyên bác, trong khi sách báo do HN in ấn từ 1945 cho đến nay đều ca ngợi công đức của HCM là một anh hùng lịch sử như Trần Hưng Đạo, như Lê Lợi, như Quang Trung, trong khi HCM được ĐCS tuyên dương là có công giải phóng đất nước, dành độc lập cho VN. Lăng HCM được HN cho xây ở Ba Đình là một đền thờ một nhân vật lịch sử VN to nhất từ trước đến nay, thì đối với khối Việt Kiều hải ngoại chạy thoát ra khỏi VN, HCM là một biểu tượng tội ác của CS tàn phá đất nước VN trong thế kỷ 20.

Biểu tình chống HCM vaò 3/1999.  Những cuộc biểu tình của cả trăm nghìn người VN không cho người thanh niên Trần Trường treo hình HCM ở khu Bolsa đến độ cảnh sát địa phương Mỹ phải can thiệp vào. Biến cố hàng trăm nghìn ngườI VN biểu tình, là nhóm di dân mới mẻ của vùng Nam Cali, phản đối treo hình HCM đã làm náo động cả quận Orange của tiểu bang Cali và đã khiến tờ báo chính của quận này là tờ The Register đã bầu cho biến cố phản đối vụ treo hình HCM của người cộng đồng di dân Việt là biến cố nổi bật nhất cho tất cả mọi cộng đồng tại quận Orange, California, USA,  vào 1999.

Khi tổ chức Unesco định tổ chức vinh danh tên tuổi HCM ở Liên Hiệp Quốc , tổ chức này đã bị sự phản đối của trăm nghìn Việt Kiều Hải Ngoại gửi thư đến phản đối đến độ  tổ chức này đã phải hủy bỏ buổi lễ dự định vinh danh HCM Danh Nhân VH Thế Giới mà trước đó họ dự tính tổ chức vào 12-5-1990.Tại Paris, San Jose California có cả một tổ chức chuyên sưu tầm những tài liệu để lập thành hồ sơ “Kể Tội Ác HCM”.

Muốn hiểu rõ những tội ác của HCM một cách khoa bảng, hãy tìm đọc HCM, Sự Thật Về Thân Thế Và Sự Nghiệp do những giảng sư và giáo sư đại học Paris và đại học SG viết. Những tên tuổi nghiên cứu lịch sử uy tín như Bùi Xuân Quang, Nguyên Thế Anh, Lâm Thanh Liêm, Đinh Trọng Hiếu, Nguy­ễn Ngọc Huy đủ để bảo đảm tính chất phán xét công tội của HCM khá tin cậy. (51) 

Còn mà muốn biết tường tận con người tội lỗi của “Bác” dưới ống kính hiển vi khác, hãy tìm đọc tác phẩm Ma Đầu HCM của Hoàng Quốc Kỳ. Tác giả Hoàng Quốc Kỳ được giới thiệu là “chỉ là bút hiệu của một cán bộ từng phục vụ trong hàng ngũ CS. Xuất thân từ một gia đình vọng tộc Miền Nam, tập kết ra Bắc sau Hiệp Định Đình Chiến Geneve 1954. Ông là một trong những sinh viên tốt nghiệp Nga văn đầu tiên, xuất sắc trong khoa ngôn ngữ này, được tuyển chọn làm việc kế cận HCM và Chánh Trị Bộ ĐCS VN..(52)

Tất cả mọi chống đối HCM dựa vào những lập luận sau đây:

HCM đã du nhập chủ nghĩa CS vô thần chủ trương phát triển chủ nghĩa CS Quốc Tế với tam vô: vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc. Những người Việt chống đối CS cho rằng chủ nghĩa này không thích hợp cho VN. Như vậy HCM là người có tội chứ không phải là một người có công trong lịch sử VN. HCM với lý thuyết CS là san bằng giai cấp đã khởi xướng phong trào đấu tố tàn ác và cướp của dân chúng khởi đi từ 1945 cho đến nay. Kể từ khi ĐCS n¡m chánh quyền, tài sản của người dân có thể bị tước đoạt bất cứ lúc nào. Sống dưới chế độ CS, người dân thường xuyên bị nhà nước tước đoạt tài sản.

Sau khi chiếm được Miền Bắc, HCM và ĐCS đã không giúp phát triển cơm no áo ấm cho người dân Miền Bắc, mà lại tiếp tục tìm đường “Giải Phóng Miền Nam”.  HCM và ĐCS đã xô đẩy Miền Bắc vào con đường ngu dốt và bần cùng hoá, ép buộc dân Miền Bắc tiêu phí tất cả tài nguyên nhân lực vào chiến tranh Giải Phóng Miền Nam. Trong thời  gian chiến tranh, HCM và ĐCS đã dùng chiêu bài dối gạt dân Miền Bắc là Miền Nam nghèo đói cần được Giải Phóng. Đến năm 1975, Miền Nam thua trận, hai bên mở cửa, dân Miền Bắc lúc đó mới hỡi ơi! Miền Bắc nghèo đói thê thảm, không đủ cơm gạo để ăn, phương tiện di chuyển duy nhất là xe đạp, không biết đến máy vô tuyến truyền hình là gì. Trong khi Miền Nam thì đã có truyền hình, có xe máy Honda, Suzuki.  Câu thành ngữ vào năm 1975 khi hai miền gặp gỡ nhau là “Miền Nam nhận họ. Miền Bắc nhận hàng”. Nhiều người dân Miền Bắc choán ngợp về sự giàu sang của Miền Nam và phải thốt lên: Bao nhiêu năm nay Đảng cứ tuyên truyền là Miền Nam nghèo đói. Nhưng mà có phải như vậy đâu. Phải chi Miền Nam giải phóng Miền Bắc thì có phải đỡ hơn không.

Không giúp dân phát triển đất nước mà đẩy dân vào cuộc chiến. Tiêu phí bao nhiêu sinh mạng dân chúng vào một cuộc chiến không cần thiết. Đối với nhiều người dân VN, HCM và ĐCS VN có tội chứ không phải là có công.

Câu chuyện thống nhất đất nước, với một số người VN, không cần phải giải quyết bằng chiến tranh vũ khí. Kẻ lãnh đạo giỏi giang có thể dùng những mưu lược ít hao tổn xương máu của nhân dân mới đáng gọi là anh hùng dân tộc.

HCM đã rước ĐCS về cai trị VN hơn nữa thế kỷ mà VN vào năm 1999 vẫn còn là một nước nghèo đói nhất thế giới. Đối với người VN đây là tội chứ không thể là công.

HCM và ĐCS đã gây ra cuộc chiến ở Miền Nam, khiến cho Miền Nam phải tự vệ và gây nên bao nhiêu cảnh chết chóc tan nát cho Miền Nam. Dân Miền Nam càng thù ghét HCM và ĐCS hơn khi họ nghĩ về biến cố vượt biên vĩ đại ra biển Đông vào những năm cuối thập niên 1970, và đầu thập niên 1980 đã khiến cho bao nhiêu gia đình chết trong cuộc vượt biên tránh nạn CS xâm chiếm Miền Nam vaò năm 1975 ấy.

Dân VN từ Bắc vào Nam, từ trong nước cho đến ngoài nước, rất oán hận HCM và ĐCS VN. Với số đông dân VN, HCM và ĐCS VN là những kẻ gây nên sự chết chóc và nghèo đói, không tự do dân chủ tại VN trong hơn nửa thế kỷ qua.

Nếu chỉ dựa vào sách vở, tượng hình, dấu tích do ĐCS VN đang để lại trong nước, thì người đời sau cứ ngỡ là HCM và ĐCS VN là những vĩ nhân có công lớn lao được mọi người ghi công nhớ ơn sự nghiệp vĩ đại của họ.

Khi nhìn, nghe, và xem những tài liệu của nhà nước tôi chứng kiến tất cả những gì đẹp đẽ cao qúy hay ho nhất của ĐCS và HCM.

Nhưng khi nghe người dân VN kêu than về đời sống của họ dưới chế độ này thì hoàn toàn trái ngược với những thành tích do nhà nước trưng bày và phát biểu.

Nhưng khi nhìn những thành tích cụ thể thì chỉ thấy các chế độc CS chỉ  là những chính phủ bất lực, yếu kém, và không đạt được một thành tích nào đáng kể.

Tây Đức khi tiếp thu Đông Đức CS vào năm 1989, là tiếp nhận một nửa nước Đức tan nát nghèo nàn. Hơn mười năm sau, nước Đức phải đập phá hết những cao tầng tiền chế Plattenbau sản xuất hàng loạt vào những năm 1959. Những cao tầng này ngày nào được sản xuất theo lệnh TW Đảng, ngày nay đầy những mối mọt nguy hiểm không thể nào sinh sống trong đó được nữạ  Nước Đức thống nhất đã nhận ra rằng màu đỏ của lá cờ CS chiếm ngự Đông Đức trước đây là màu “Đỏ Phá Hoại”. (53) Trong khi đó tại VN năm 2000, khap phố phường HN, SG, màu đỏ vẫn còn giương cao lừng lững cho mọi con dân nước Việt nhìn vào mà nhớ ơn Bác HCM và ĐCS.

Tại Nga thì những Gulag giam giữ những nhà văn, nhà báo, tù nhân chính trị, “kẻ thù của nhà nước”, dưới thời CS hiện nay đang được đưa ra mổ xẻ xem thử là có nên đáng giữ lại làm bảo tàng viện hay không. Vì chứng tích này đối với những người nào đó thì nó qúa hãi hùng. Trong khi đối với những người trẻ thì những Gulag này cần được giữ lại để nh¡c nhở họ về những tội ác của ĐCS đã tạo ra trên nước Nga trong bảy thập niên mà họ cai trị nước Nga 1917 – 1990. (54)

Và rồi cuối cùng,  khi nhìn vào thành tích lịch sử thế giới thì ĐCS VN được lên bảng phong thần là một trong những chế độ giết người có thành tích quốc tế !

Theo giáo sư Bryan Caplan của đại học Georges Mason University HK, trên trang Bảo Tàng Viện CS thì năm trong mười quốc gia đã giết chết nhiều người dân nhất trong thế kỷ 20 này là: 1. Liên Sô, 2. CS Trung Hoa, 3. Nazi Đức, 4. Trung Hoa QDĐ, 5. Đế Quốc Nhật, 6. CS Cam Bốt dưới thời Khmer Đỏ, 7. Thổ Nhĩ Kỳ dước thời Lớp Trẻ Nổi Loạn (Young Turks), 8. CS VN , 9. CS Ba Lan, 10. Hồi Quốc dưới thời Yahya Khan.   (55)   

Lịch sử VN từ 1945 đến đầu thế kỷ 21 hoàn toàn bị áp đặt bởi ý muốn của một người: là ông HCM. Thật sự vào năm 1945 là người dân VN chỉ có một ước mơ là độc lập. Nhất là sau nạn đói Ất Dậu, người dân muốn tự mình phải trổi dậy để dành độc lập và để không còn phải gánh chịu một tai hoạ khủng khiếp như vậy do ngoại nhân gây ra. Nên nhớ nạn đói Ất Dậu làm chết đi 2 triệu người trên tổng số dân ngoài Bắc Việt lúc đó là 9 triệu, tức gần bằng 1/4 dân số. Do đó thế chiến thứ 2 đi vào hồi kết thúc nên tình hình thật chín mùi cho một cuộc nổi dậy. HCM biết lợi dụng khao khát độc lập  dành độc lập của người dân, nhất là người dân HN, tức là thành phần trí thức và tiểu tư sản. HCM biết che dấu bộ mặt CS lúc đó đi. Cho đến ngày 2/9 là ngày chính phủ HCM tuyên bố độc lập, hầu hết người dân Miền Bắc nói riêng và cả VN nói chung chưa hề nghe nói đến HCM là ai. Vả lại người dân cũng chưa biết gì về CS. Và cái khát vọng của người dân qúa lớn đến nổi họ sẵn sàng ủng hộ bất cứ ai hay đoàn thể nào hướng dẫn được họ dưới chiêu bài dành độc lập. Rõ ràng dân chúng VN lúc đó đã bị lừa gạt bởi ông HCM.

Sau cuộc kháng chiến Chống Pháp, thì HCM đã dùng võ lực và ĐCS để áp đặt chế độ CS độc tài lên Miền Bắc VN mà người dân không hề được tự do bày tỏ thực sự ý chí của mình. Điển hình là các vụ đàn áp nhóm Nhân Văn Giai Phẩm (1958) với thành phần trí thức ở thành phố, và vụ Cải Cách Ruộng Đất (1956) tại thôn quê hầu áp đặt chế độ độc tài CS theo ý muốn của ông ta. Rồi cũng chính HCM đã quyết định phát động chiến tranh nhằm xâm chiếm Miền Nam hầu đạt được mục đích của  mình là CS hóa toàn thể đất nước VN.

Tóm lại, lịch sử VN từ 1945 là một di sản bị áp đặt bởi ý chí của một người: là ông HCM đã muốn CS hóa toàn thể VN.  Cứ nhìn vào sự kiện hiện nay thì chúng ta có thể rút ra bài học của qúa khứ. Ngày xưa không có ai vượt biên qua ngoại quốc rồi viết sách vở đánh giá những chế độ nào cả.

Nếu không có lớp người tỵ nạn VN ra ngoại quốc và viết ra, kể lại, phê bình về ông HCM và ĐCS VN thì nào ai biết đến những ý kiến nào khác ngoài những tài liệu ca ngợi HCM và ĐCS VN như thần như thánh được sản xuất ra trong nước hiện naỵ.

Nếu dân chúng ngày xưa cũng đã từng bị bóc lột như ngày nay và không có chỗ để phát biểu tiếng nói của họ, thì nào ai biết những tội ác nào do những vua quan nào đã gây ra.

Nếu chỉ dựa vào lăng tẩm bia đá, sách vở, và tên tuổi chính thức để ghi danh anh hùng thì khi nhìn vào những gì đang xảy ra trên xứ sở VN cho nhân vật HCM, tôi phải tự cho phép mình nên xét lại những nhân vật lịch sử VN một cách kỹ càng hơn.  Nhất là ngày trước, người dân ở trong nước và chúng ta không thể tìm ra được nguồn tài liệu nào khác ngoài những nguồn tài liệu chính thức của nhà nước lưu truyền. Thật là những gian dối vĩ đại của lịch sử đang xảy ra ngay trước mắt tôi.

Tôi không biết trên quả đất có bao nhiêu quốc gia có nhiều trang sử “đẫm máu và kiêu hùng” như lịch sử VN.

Bậc hậu sinh bị bắt học là phải biết tri ơn những kẻ đã nằm xuống bảo vệ mảnh giang sơn gấm vóc. Đứng nghiêng mình kính cẩn nhớ ơn những anh hùng vị quốc vong thân, tôi cũng hơi tọc mạch, nhìn lén sang nước nhà người ta để so sánh.  Như cái nước nhà anh Thái Lan. Sao Thái Lan cũng ở sát nách nước mình mà nước người ta “lách” qua được bao nhiêu là cuộc chiến. Nước nhà người ta tránh được bao nhiêu cuộc đô hộ. Không biết người ta bảo vệ mảnh giang sơn gấm vóc của người ta kiểu gì mà người ta khỏi đánh nhau thí bao nhiêu là nhân mạng con người.

Hãy ngóng xa xa, nhìn chuyện mới xảy rạ  Ông nước Đức, cha đẻ tổ CS Karl Marx, ổng theo CS. Ổng cũng chia đôi đất nước mà ổng còn xây cái bức tường Sắt Berlin vĩ đại hơn cái cầu Bến Hải của ta nhiềụ  Nhưng đến ngày đến tháng, ổng thấy CS chơi không được. Ổng bỏ một cái rụp.  Chả tốn chiến tranh chống đế quốc nào cả. Chả tốn bao nhiêu xương máu của nhân dân. Dẹp CS, ổng tì tì xây dựng kiến thiết đất nước cho lè lẹ đặng cạnh tranh với thế giới. 1945-1989, 44 năm bảo vệ thành trì XHCN CS lãng phí thời gian.

Sao mấy ông Đức không cần đánh nhau mà nước người ta vẫn thống nhất đất nước.  Sao mấy ông Thái không cần đánh nhau mà vẫn giữ được nước khỏi bị thằng Tây thằng Mỹ đô hộ..

Làm như kiểu của người VN là phải đánh nhau để giải quyết vấn đề. Nếu mà mấy ông VN thích đánh đấm nên h­ễ gặp chuyện không được ưng ý là nổi máu đánh lộn, thì mấy vị yêng hùng lịch sử VN cần mang ra xét xử lại hết. Ông nào xứng đáng là lãnh đạo tài ba “Gặp thế, thế thời phải thế” thì ghi công. Còn ông nào mà cứ thích úynh lộn, xui quân vào bao nhiêu cuộc chiến không cần thiết. Phí phạm bao nhiều là nhân tài  vào chuyện đánh đấm thay vì dùng nhân tài đi phát minh khoa học, dùng nhân tài đi nghiên cứu xây dựng cơm no hoà bình cho nhân dân.  Mấy cái ông thiên tài chiến tranh cần xét lại này đáng nêu tội chứ không phải là nêu công đâu đấy.

Tôi cho là cái thành phần anh hùng bậy bạ loại thứ hai đáng xét lại này coi bộ hơi nhiều trong lịch sử VN.

Thế nhưng niềm cuồng tin mãnh liệt vào anh hùng chính trị của xứ sở “Ra ngõ gặp anh hùng” này đã dẫn dắt những sinh hoạt tâm trí của dân tộc. Cứ nhìn vào chương trình học của bậc tiểu học và trung học hiện nay sẽ thấy bộ môn dạy anh hùng lịch sử chiếm nhiều nhất.  Đã có rất nhiều người đã đặt câu hỏi về việc qúa vịn vào bài học lịch sử mà bỏ lơ những triển khai khả năng chất xám khác của dân tộc “Trong chương trình cũng còn nhiều điều chưa hợp lý, đó là quá chú trọng vào lịch sử chiến tranh CM, đấu tranh giai cấp mà xem nhẹ lịch sử VH, kinh tế.

Lớp 10: Tổng số bài: 23, Chính trị quân sự: 19, Kinh tế-Kỹ thuật: 2,  văn hoá: 2

Lớp 11: Tổng số bài: 23, Chính trị quân sự: 19, Kinh tế-Kỹ thuật: 1,  văn hoá: 4

Lớp 12: Tổng số bài: 20, Chính trị quân sự: 17, Kinh tế-Kỹ thuật: 3,  văn hoá: 0. (56)

Chú Thích

47. Xin xem bài viết sau đây được đăng trên báo Nhân Dân : Thờ Tượng Bác Hồ:
Hôm ấy, tôi được anh bạn cùng học ở đại học, nay sống cùng thị xã mời đến nhà ăn giỗ bố anh.  Song do bận việc cơ quan cho nên tôi đến hơi muộn.  Khi tôi đến nhà đã đông người và như có ý chờ.  Chỉ khoảng chục người , nhưng do căn nhà chật ( khoảng 18m vuông nhà tập thể) cho nên cảm thấy rất đông.  Thấy tôi đến vợ chồng anh mừng lắm.  Vợ anh giục anh khấn các cụ, hoá vàng rồi mời mọi người uống rượu.  Anh kê ghế đứng lên thắp hương khấn vái, tôi nhìn lên giá bàn thờ. Chiếc bàn thờ xinh xắn khoảng nửa mét vuông được đóng khá cầu kỳ đặt ở nơi trang trọng nhất nhà.  Trên bàn thờ, ở chính giữa là một bức tượng đặt trong lồng kính và cạnh đó là một bức ảnh người lính mặc quân phục đeo quân hàm thiếu úỵ  Không biết mặt cụ thân sinh ra anh, nhưng tôi đóan đó là bức ảnh cụ (vì bố anh là liệt sĩ), còn bức tượng đặt trong lồng kính, tôi không nhìn rõ. Khi cơm nước xong, mọi người ra về hết, chỉ còn tôi và vợ chồng anh, tôi hỏi:
– Cậu thờ những ai mà trên bàn thờ có cả tượng, cả ảnh?
– Cậu không nhìn rõ à – anh trả lời –  bức tượng ở giữa là tượng Bác Hồ, còn bức ảnh là ảnh ông cụ đẻ ra mình.
Tôi băn khoăn:
– Cậu thờ như vậy, các cụ ở quê lên có ý kiến gì không?
– Các cụ nhà mình thì không, nhưng cũng có anh em bạn bè đến chơi nhìn thấy có góp ý: “Công lao Cụ Hồ ai cũng biết, đã được Đảng, Nhà nước thờ, ở nơi công sở đều có tượng, ảnh Cụ Hồ, còn bàn thờ gia đình chỉ nên thờ ông bà tổ tiên nhà mình”.  Nhưng mình thì nghĩ : ông bà tổ tiên là người sinh thành nuôi dưỡng mình, nhưng Cụ Hồ là người có công mang lại độc lập, tự do cho cả dân tộc, có Cụ Hồ thì gia đình mình mới được như ngày nay.  Ông bà tổ tiên thì mình thờ ở quê, nơi quê cha đất tổ nhà mình, còn ở đây mình thờ cả Cụ (Bác Hồ), cũng như thờ ông thân sinh ra mình.  Mình nghĩ vậy có được không?
Tôi không tranh luận gì với anh nhưng từ đó tôi nghĩ về anh nhiều: Bố anh hy sinh khi tôi và anh còn chưa đi học, gia đình anh gặp bao khó khăn nhưng cũng đã vượt qua. Anh cũng đã tốt nghiệp đại học.  Nay anh cũng chỉ là một cán bộ “quèn” ( theo như anh nói) của môt cơ quan cấp tỉnh.  Đời sống gia đình anh còn khó khăn, gia đình và bản thân anh chưa được sự ưu đãi đặt biệt nào, những y nghĩ anh thật sâu sắc.  Đấy là tấm lòng của dân với Bác Hồ, cũng là với Đảng vậỵ  Nguyên Quang (Thị Xã Hà Đông)
Trích Mục “Dân Với Đảng”, báo Nhân Dân, “Tiếng Nói Của ĐCS, Nhà Nước Và Nhân Dân VN”, năm thứ 50, số 16291, trang 3, ngày 16/2/2000.
48. Giáo Sư Trần Văn Giàu.  Đất Nước 4000 Năm – Giá Trị Tinh Thần Truyền Thông Của Dân Tộc VN. Nhà xuất bản Thành Phố HCM, 1993. Trang 290-291
49. Chính Đạo Nguyên Vũ.  HCM Con Người Và Huyền Thoại 1892-1924, VH, Houston, HK, 1997.  Trang 55.
50. Nguyên Văn Trấn, Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội.  Văn Nghệ, California,HK, 1995.  Trang 151.
51. Bùi Xuân Quang, Nguyên Thế Anh, Tôn Thất Thiện, Ralp B. Smith, Oliver Todd, Lâm Thanh Liêm. Đinh Trọng Hiếu, Nguyên Ngọc Huy.  HCM Sự Thật Về Thân Thế Và Sự Nghiệp, Jean-Francois Revel. Tủ Sách Nam Á, Paris 1990
52. Hoàng Quốc Kỳ. Ma Đầu HCM, Mặt Trận Quốc Dân ấn hành, Úc Đại Lợi, 1995 trang Lời Khai Đoan
53.
“Red Ruins”. Carol Williams. Los Angeles Times. Reprined by San Jose Mercury News, September 3, 2000.
54. “Phantom of Soviet Power Preserved as Stark Lesson”, Colin McMahon, Chicago Tribune, , San Jose Mercurry News, September 3, 2000
55. http://www.gmu.edu/departments/economics/bcaplan/museum/musframe.htm
56.  “Dạy Sử- Nỗi Bất Lực và Niềm Đam Mê”, Lê Quang Dũng, Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số 48-99, Ngày 5-12-1999. Trang 9.

6 – VH Xin, VH Lạy, Văn Hoá Bác.

“Cháu Xin Bác.”

Có một thói quen ở Miền Bắc cùng trong một nhóm VH hay xử dụng chữ “bác”, là VH nói chữ “xin” thay cho lời cám ơn. Và VH “lạy” để chỉ sự phục tòng quyền thế của kẻ đối diện.

Chỉ ở Miền Bắc khi một người trao cho ai cái gì, người nhận cái ấy hay trả lời “Cháu xin ạ. Em xin ạ ” thay vì nói “Cháu cám ơn. Em cám ơn”

Người VN dùng chữ “xin” để chỉ những kết qủa cụ thể đạt được từ sự giao tế với những kẻ phân phát kết quả ấy. Đến trường lo thủ tục nhập học thì gọi là đi “xin” học.  Đến công tư sở để kiếm làm thì gọi là đi “xin” việc.  Đến văn phòng nào lấy mẫu đơn thì gọi là đi “xin” đơn. Khi trình bày lý do muốn nghỉ ở nhà không sinh hoạt như thường lệ thì gọi hành động này là  “xin” nghỉ. Con trai đến nhà con gái nói chuyện hôn nhân thì kêu là “xin” cưới. Làm cái việc ngưả tay kêu người ta giúp tiền hay giúp thực phẩm để sống thì gọi là  “xin” ăn.. ..

Tại sao lại nói những sự kiện này là “xin” ?

Kèm theo vănhoá nói chữ “xin” là VH vái 2 tay lại “lạy”

Có những lần vào chùa Quan Thánh, chùa Trấn Quốc, Phủ Tây Hồ, tôi có dịp đứng cạnh các bà mang hoa quả đi xin “lộc” với các “thánh” các “phật”. Thế là tôi hân hạnh được đứng tại trận lắng nghe các bà chắp tay thành kính đọc rổn rang những lời “lạy” rất bài bản hay ho. Bên tai tôi cứ như là một bài học thuộc lòng mạch lạc văn vẻ. Nghe cũng đã điếu lắm.  Các bà “xin” làm nên ăn ra, xin gia đạo yên bình, xin sức khoẻ dồi dào, xin cho con thi đậụ  Đủ thứ “xin”.  Tôi để ý trong lối dùng chữ của các bà Miền Bắc, họ dùng chữ “lạy” và chữ “xin” hơi nhiều.

Con lạy Ngọc Hoàng Thượng Đế

    Con lạy Ngũ Vị Tôn Ông

    Con lạy Tứ Vị Chầu Bà

    Con lạy Năm Dinh Quan Lớn

    Con lạy Thập Nhị Tiên Cô

    Con lạy Trần Triều Hiển Thánh

    …..

    Chắp tay con vái

    Trước cửa Tam Toà

    Lòng con tha thiết

    Cầu xin thánh mẫu

    Cùng cô cùng cậu

    Rủ lòng sót thương

    …

    Xin mẫu đại xá

VH “xin” VH “lạy” là một thứ VH của những kẻ cùng đinh ngửa tay ăn mày. Người VN sẵn sàng “ăn mày” bằng lời cầu xin với các bậc khuất lấp này. Và rồi không biết từ vì đâu, người VN đã di chuyển VH “lạy” VH “xin” với thần thánh này xuống mặt đất trần thế, và rồi họ vái lạy và xin luôn giữa người và người với nhau.

VH “lạy” vẫn còn khá phổ biến trong các tác phẩm văn hoá ở VN thời buổi nàỵ  Trong nhiều vở kịch tôi xem thấy trên đài vô tuyến HN, các nhà soạn kịch, các nhà viết kịch vẫn đưa lên những nhân vật thấp kém của xã hội đối chọi với  những nhân vật quyền thế của xã hộị  Một trong những chi tiết mà các nhà người sáng tác thường mang vào các cảnh người thấp hèn đối diện với kẻ quyền thế là cứ cho các nhân vật yếu thế chắp hai tay lại, quỳ sụp xuống dưới sàn nhà và vái hay  lạy lia liạ. ” Lạy ông lớn. Xin ông Lớn tha cho con ạ”.  Tôi lạy bà. Bà tha cho tôi” “Con lạy mẹ. Mẹ tha cho con”.

Trong khi chọn lựa các cử chỉ đại diện cho những nhân vật của mình, những người sáng tác chắc hẳn cũng biết sắp đặt và chọn lựa những cử chỉ, điệu bộ, lời nói tiêu biểu cho nhân vật. Và những hành động và lời nói này  dĩ nhiên thường là phản ảnh nền VH đời thường đời thật của các nhân vật.

Cử chỉ “lạy”, và lời nói “xin” của những con người thật ở ngoài đời, của các  nhân vật giả yếu, thấp, nghèo, hèn, trong các sân khấu VN có chút gì làm cho tôi bùi ngùi như muốn quay mặt.

Sự phân chia quyền thế qúa tuyệt đối trên các nhân vật của người VN trong những hoàn cảnh sống này có cái gì đó hơi qúa độ. Cùng là người với nhau, mà người có quyền có thể tác dụng lên trên kẻ không có quyền một sự tùng phục như thượng đế. Có người lạy mình như lạy thượng đế.

Các xã hội Á Châu hay có cái màn chắp tay cúi đầu lạy giữa người và người với nhau. Từ hành động vái chào nhau của người Thái Lan, hay vái cám ơn của người Nhật.  Hành động này dẫn đưa đến sự thờ lạy lẫn nhau  giữa người và người với nhau

Người Việt khi làm đám cưới cô dâu chú rể cũng lạy cha lạy mẹ. Dù trong đời sống bình thường họ không xử dụng một hình thức chắp tay lạy nhau để chào hỏi như người Thái Lan.  Người Việt cũng không chắp tạy lạy nhau để cám ơn như người Nhật. Người Việt chỉ ch¡p tay lạy người khác để “xin” tha tội, xin tha nợ, chẳng hạn.

VH vái lạy của người VN là nhịp nối để người VN có thể chấp nhận việc thần thánh hóa những cá nhân làm những việc mà họ ngưỡng mộ. Có rất nhiều đền ở VN thờ những người lúc sống làm được những việc khác thường và được có người ngường mộ. Rất nhiều đền thờ ở VN thờ những người mà người VN gọi là những người lúc sống làm những việc ích quốc lợi dân. Trong toà thánh Cao Đài ở Tây Ninh, một tôn giáo mới mẻ ở VN người ta thấy thờ cả ông V.Hugo!

Ngoài chữ “Xin” , chữ “Bác” cũng là một thứ VH của người Miền Bắc mà tôi không thấy ở trong Nam. – Miền Bắc, cỡ nào cũng “Bác”. Ai họ cũng có thể “thưa Bác”. Thành ra ông HCM của mấy ông CS HN trở thành “đệ nhất Bác” của mọi người.

Cho nên việc người CS VN thần thánh hoá ông HCM cũng không có gì xa lạ.

VH “xin”, VH “lạy”, VH “bác” này phát xuất từ VH “lê”, một trong năm nguyên tắc “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín” phát xuất từ VH Khổng Giáo của Trung Quốc.  Đây cũng còn phản ảnh ảnh hưởng VH khiêm nhường rất phổ thông tại các quốc gia Á Đông.

Sự bất tiện của một thái độ cung kính qúa độ với những kẻ có uy quyền là chính thái độ này gây ra trở ngại cốt lõi cho vấn đề trì trệ dân chủ ở đất nước này.

Thái độ kính trọng người chức quyền hoặc người lớn tuổi hay người cao cấp đã tạo ra một sự ù lì dân chủ khi xã hội này muốn làm một thay đổi một thói quen  cũ đã thấy không thể dùng được nữa.

Ngô Nhân Dụng,  một bình bút kinh tế cho tờ nhật báo hải ngoại Người Việt tại Nam Cali có một nhận xét rất sắc sảo về nền kinh tế “Bao Cấp” của VC. Đó là thói quen phát xuất từ một nền chính trị “xin và cho” đã quen nên ngay cả khi làm kinh tế họ cũng cứ áp dụng chính sách “xin và cho” này. Kết quả đã dẫn đưa đến một hiện tượng tồi tệ tưởng chừng như không thế hiện hữu trong bất cứ một mô thức kinh doanh sơ đẳng nào nhất, thế mà chúng lại tà tà nằm ì khắp mọi nơi trên đất nước VN hiện nay.

Theo Thời báo Kinh tế SG thì Công ty May Da ở thành phố còn đọng rất nhiều hàng làm bằng da, trị giá trên giấy tờ là 111 triệu đồng, tồn kho để đó từ thời còn .. Liên bang Xô viết, nghĩa là hơn 10 năm naỵ  Hàng da để trong kho cả chục năm bán không được mục hết cả còn gì nữả  Nhưng công ty trên không dám làm gì hết, phải ” đề nghị Sở Công Nghiệp kiến nghị lên Tp  (2 tầng xin và cho) cho đem lô hàng đi .. đổ rác.” Nhưng họ vẫn chờ.  Tại sao không ai làm gì cả ??  Vì công ty không dám tự ý đổ rác, nếu đổ rác hay bán đại hạ giá cho hết kho hàng thì phải khai lỗ mất 111 triệu hoặc ít hơn.  Khai như vậy, có thể trên sổ sách đang có lời hóa ra lỗ! (57)

Trong gia đình VN, khi thấy cha mẹ làm sai con cái không dám có ý kiến vì kính trọng đó là cha mẹ mình.

Trong công sở, ông công chức trọng tuổi dù làm sai, cũng ít người dám nói vì kính trọng “bác ấy lớn tuổi”

Trong chính quyền, những ông lớn tuổi dù tham quyền cố vị, ở hoài trên ghế quyền hành của mình, cũng không ai dám thay đổi họ mà chỉ chờ cho đến ngày những người này về hưụ

Thái độ kính trọng qúa đáng với kẻ lớn tuổi này đã giải thích tại sao những người trong chính trị bộ của ĐCS toàn là những ông già bà lão không đủ kiến thức để giải quyết những đề tài kinh tế của VN khi muốn gia nhập thế giới để trở thành một con rồng Á Châu vào những năm 1990. Nhưng họ vẫn ở lỳ trong những ghế quyền hành quyết định các vấn đề kinh tế toàn cầu mà họ không được trang bị đủ kiến thức. Và cả đất nước VN gần 80 triệu không ai dám có ý kiến đề nghị họ nên về hưu hay trao công việc quan trọng này lại cho những kẻ có đủ tài trí đủ trẻ để lèo lái quốc gia này vào vị thế mong muốn của nó.

VH VN xem sự già cả là một đặc ân của trời. Một lộc trời phải là kẻ may m¡n mới có được.  Và từ đó trong dân gian mới phát xuất ra niềm tin rằng càng lớn tuổi thì càng khôn ngoan: “70 còn học 71.”

Thiên tước là tước trời ban cho. Theo tục lệ hương thôn, các cụ già trong làng xã cũng được tôn trọng như quan viên chức sắc. Khi có việc làng việc xã, lê hội, yến ẩm, các cụ già tùy theo tuổi tác được ngồi  theo thứ tự ngang hàng với quan viên chức sắc nên mới có câu “Lục thập dữ tú tài đồng, thất thập dữ cử nhân đồng, bất thập dữ tiến sĩ đồng”, có nghĩa là “60 tuổi ngang với tú tài, 70 tuổi ngang với cử nhân, 80 tuổi ngang với tiến sĩ.” (58)

Điều này khiến tôi liên tưởng đến một thói quen tương tự tại HK. Các đại học Mỹ cũng có truyền thống phong hàm tiến sĩ danh dự cho những người lớn tuổi  không học hành đỗ đạt bằng cấp gì cả. Chỉ khác với phong tục VN, là các đại học HK chỉ ban tặng các danh hàm này cho những người lớn tuổi nào mà suốt cuộc đời họ đã cặm cụi làm việc và đã để lại những thành tích xã hội hay thành qủa sáng tạo vĩ đại giúp ích cho nhiều người.

VH cung kính người cao tuổi còn tạo ra một thứ VH cứng ngắc như chiếc áo giáp mặc lên lớp người gọi là “cha chú” hay  “trưởng thượng” ở VN. Đó là sĩ diện.

Bậc cao tuổi VN thường nghĩ rằng càng cao tuổi thì càng khôn ngoan hơn nên họ có khuynh hướng không nhìn nhận là mình thiếu khôn ngoan. Vì sĩ diện là bậc cha chú trưởng thượng, nên họ không nhìn nhận mình có khuyết điểm để cải thiện. Sĩ diện đã kìm hãm những người lớn tuổi không chấp nhận ý kiến người trẻ, không rộng rãi với những ý kiến khác biệt. Sĩ diện đã khiến họ không thể nhận lỗi khi họ làm sai.

Lớp vỏ sĩ diện kiểu này chính là đống sắt vụn đá tảng ngăn cản tiến trình bình đẳng dân chủ của xã hội VN.

Sinh hoạt vái lạy với những người cấp cao này đã tạo ra một truyền thống giai cấp trong xã hội VN. Giai cấp có quyền và giai cấp không quyền.

Hai giai cấp này đã sinh hoạt rất chặt chẽ trong xã hội VN. Tuy từ trước đến nay không có nhà nghiên cứu VN nào đặt tên gọi cho nó. Nhưng sự hiện diện của hai giai cấp này chính là một thứ nền móng sinh hoạt xã hội VN khá căn bản.  Và nó là một trong những thành tố chủ chốt tạo nên bộ mặt của xã hội VN.

Giai cấp có quyền là những kẻ nắm được một thứ quyền hành do xã hội thiết bị. Là những bậc cha, mẹ, anh chị, chồng, thầy dạy, sư cố, địa chủ, chính quyền, thần thánh.

Giai cấp không quyền là những kẻ không có được một thứ quyền do xã hội đặt để. Là những kẻ cấp thấp như con, em, vợ, học trò, con chiên hay đệ tử, người nghèo, người dân, tín đồ.

Ở đây tôi chỉ nói sinh hoạt, vái, lạy, xin, của giai cấp không quyền đã phản ảnh vị trí ưu thế gần như tuyệt đối của giai cấp có quyền tại VN.

Ưu thế tuyệt đối này đã tạo ra sự thần thánh hoá các chính trị gia, các giáo sư, các bậc cha mẹ, các người nhà giàu có tính tốt làm việc bố thí. Từ những vị trí người trần tục, các vị này nhảy phóc lên bàn thờ ngang ngửa với các thượng đế của các tôn giáo. Và khi đã nhảy lên ch­ễm chệ trên bàn thờ thì ngay cả những gian trá nhất của các vị này cũng sẽ được tha thứ hay sẽ được thờ phượng.

Tuy chỉ ở những vị thế rất thông thường như cha me, giáo sư, chính trị gia nhưng trong xã hội VN, các vị thế này lại được hưởng những đặc quyền đặc lợi tuyệt đối kỳ lạ. Lấy ví dụ trong sinh hoạt chính trị VN, vai trò các chính trị gia  được hưởng lợi lộc của hai chữ “chức quyền” tối đa. Trong khi gần như người dân với lá phiếu không bao giờ đặt câu hỏi về vai trò “chức trách” của các chính trị gia này khi họ đã vào vị thế có quyền. Trước đây mấy nghìn năm thì người dân Việt có bao giờ được bỏ phiếu bầu cử đại diện của mình. Năm mươi năm cuối thế kỷ 20, lá phiếu bầu cử của người dân VN đúng là một màn kịch hết sức rẻ tiền.

Đó là một thái độ tôn kính qúa độ. Một sự thần phục sát nút. Thái độ ưu đãi và thần phục này phát xuất từ giai cấp không quyền. Thái độ thần phục này được giai cấp không quyền nuôi dưỡng.

Nếu như trong thực tế lịch sử VN có rất nhiều cuộc CM phá bỏ chính quyền xuất phát từ giai cấp lao động, thì về phương diện lý thuyết chưa có một biến cố nào truất quyền giai cấp có quyền này phát xuất từ giai cấp không quyền.

Một sinh hoạt có tính cách liên tục lịch sử là sự truất quyền các chính trị gia và các phú hộ. Nhưng các biến cố truất quyền này thường là những diễ­n biến có tính cách tranh giành quyền bính giữa các kẻ có quyền thì đúng hơn.

Lấy ngay như biến cố CM 1945. HCM mang ĐCS vào VN và xưng hô là diệt Phong Kiến và Thực Dân. Nhưng khi nắm được chính quyền rồi thì không quản lý được quốc gia này trong hơn nửa thế kỷ. Để cho VN đang từ một vị thế có hạng tại Á Châu vào những năm 1950 thì vào năm 1999 trở thành một trong những nước nghèo đói nhất thế giới. Như vậy biến cố 1945 chỉ là một sự tranh giành quyền giữa ĐCS và chế độ phong kiến triều Nguy­ễn. Chứ không có “dân làm chủ” nào như trong khẩu hiệu “dân làm chủ, nhà nước quản lý” do ĐCS VN vẫn dùng làm khẩu hiệu.

Sự kính trọng qúa độ với giai cấp có quyền này đã tạo ra một thái độ sống thiếu tính dân chủ. Sự kính trọng qúa độ với giai cấp có quyền này sẽ làm trì trệ sự áp dụng dân chủ. Một bậc cha uống rượu be bét đánh vợ con, nhưng vợ và các con không dám nhờ pháp luật can thiệp cứ tiếp tục sống trong hoàn cảnh tra tấn như vậy. Chỉ vì nể vị quyền năng của ông bố.

Sự kính trọng qúa độ qúa độ mang cái tính chất thần quyền chính là một bức thành rắn chắc khổng lồ che chắn sinh hoạt dân chủ của xã hội này. Chính tính chất thần quyền này đã làm cho sinh hoạt tôn trọng các kẻ cầm quyền có dáng vẻ là  một sinh hoạt tự nguyện đến từ giai cấp thấp này.

Cái tính chất có vẻ tha thiết tự nguyện này đã khiến các kẻ lưu manh khoác cho sinh hoạt này cái tên “nền văn hoá dân tộc”.  Và vì thế các nhà nhân quyền khi tranh đấu cho những nhân quyền căn bản tiến bộ của con người bất kể con người đó sống nơi nào trên trái đất, đã bị các chính quyền độc tài bào chữa là tại sao quý vị lại đi xăm xoi vào các  sinh hoạt mang tính chất VH của xứ sở chúng tôị

Chú Thích

57. “Bao Cấp Nghĩa Là Gì”, Ngô Nhân Dụng, Người Việt, California, HK. 9/12/1999

58.  Tân Việt. Một Trăm Điều Nên Biết Về Phong Tục VN. Nhà Xuất Bản VH Dân Tộc. HN. 1997.  Trang 6

7- VH Nghiện Cái Nghèo 

VH VN từ ngày lập quốc cho đến nay là một VH rất thân thương cái nghèo.

Từ thời huyền sử VN đã ca ngợi những thần tượng nghèo khó. Bắt đầu với truyện có anh kẻ biển tên là Chữ Đồng Tử nghèo đến độ không có cái quần mà mặc nên phải chôn mình xuống đất để khỏi mặc quần. Nghèo chi mà nghèo dữ! Vậy mà sau này lại được một nàng công chúa tên là Tiên Dung muốn lấy. Câu chuyện cổ tích thần thoại này giới thiệu vào tâm hồn người VN mối lãng mạn về cái nghèo từ nhỏ. Đến anh chàng Trần Minh Khố Chuối học giỏi nhưng nhà nghèo không có áo quần mà mặc, phải lấy lá chuối đóng khố làm quần. Nghèo chi mà nghèo quá thể. Ban đêm không có dầu mỡ thắp đèn học nên phải bắt đom đóm hay nhờ ánh trăng mà học bài.

Lãng mạn và tình tứ với cái nghèo đến thế này thì thôi:

Chồng em áo rách em thương.
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.”

Triết gia Kim Định, một học giả cuối thế kỷ 20 đi tiên phong trong việc nghiên cứu triết lý An Vi đã cổ võ tinh thần “nghèo mà vui” của người Việt một cách rất tận tình: ” .. nhờ việc nhấn mạnh đến đức độ mà những xã hội Việt Nho đã giữ được phần nào hoàng kim thời đại mặc dầu điều kiện vật chất rất eo hẹp. Ai đã có dịp sống ở miền đồng ruộng nhất là trong Nam cũng cảm thấy những nét hoàng kim: ít có tranh giành, trộm đạo. Trái lại hiếu khách, làm ít, chơi nhiều. Tôi quen một gia đình có 6 xào dừa, mỗi ngày làm việc vài ba tiếng còn toàn nhậu, chơi cờ, với ba câu vọng cổ hoặc nằm đưa võng đọc truyện hoặc đi đền chùa… Tôi thấy đời như vậy cũng đáng sống rồi”. (59)

Trong sinh hoạt nghệ thuật VN, những nhân vật nghèo khổ thường là những nhân vật được ca ngợi và được nâng niu trìu mến trong lòng quần chúng. Một anh ca sĩ Trương Chi nghèo nhưng được người con gái quyền thế dấu yêu để ý. Thạch Sanh Chém Chằng là anh nhà nghèo. Cô Tấm hoa khôi là cô gái nghèo. Nhà mẹ Lê của Nhất Linh con cái nheo nhóc nghèo đáng nhớ. Chí Phèo Anh Hùng Lao Động CS nghèo tận mạng. Dưới chế độ CS giai cấp bần cố nông là giai cấp được nhà nước đề cao như là những “Anh Hùng CM” đi tiên phong phá bỏ giai cấp phong kiến và tư sản là những mảng văn học phong phú nhất.

Hãy nghe nhà văn Thạch Lam tả về một cơn đói. Đã đói rồi mà nghe ông này tả thì thấy cơn đói này sao đẹp quá.

Mùi xào nấu đồ ăn ở dưới sân nhà đưa lên làm cho chàng khó chịu vô cùng. Sinh cúi đầu trên bao lơn nhìn xuống xem họ làm bữa cơm chiều. Các thức ăn tuy tầm thường nhưng Sinh lấy làm lạ rằng chàng chưa bao giờ thèm muốn những cái đó như chàng thèm muốn bây giờ. Mấy miếng đậu vàng trong chảo mỡ phồng dần trên ngọn lửa, mấy con cá rán bắt đầu cong lại, làm cho chàng ao ước đến rung động cả người.

“Không bao giờ chàng thèm muốn như bây giờ cái miếng ăn kia. ..

“Một cơn gió hắt hiu thổi đến làm cho chàng rùng mình. Bỗng nhiên tất cả người chàng chuyển động: chàng vừa thoáng ngửi thấy cái mùi thơm và béo của những miếng thịt ướp mà mỡ còn dính ở tay.

“Cơn đói lại sôi nổi dậy như cào ruột xé gan, mãnh liệt, át hẳn cả nỗi buồn.

“Chàng muốn chống cự lại, muốn quên đi, nhưng không được, cái cảm giác đói đã lẫn khắp người như nước triều tràn lên bãi cát. Mỗi lần cơn gió, mỗi lần chàng ngửi thấy mùi ngậy béo của miếng thịt ướp, mùi thơm của chiếc bánh vàng, mũi Sinh tự nhiên nở ra, hít mạnh vào, cái mùi thơm thấu tận ruột gan, như thấm nhuần vào tận xương tủy.

“Sinh cúi xuống, nhìn gói đồ ăn tung tóe dưới bàn; chàng lấm lét đưa mắt nhìn quanh, không thấy Mai đứng dậy nữa.. Khẽ đưa tay như ngập ngừng, sợ hãi, sinh vơ lấy miếng thịt hồng hào..” (60)

Về tôn giáo, các nhà sư Phật giáo phái Tiểu Thừa ở VN đi ăn mày để sống qua ngày.  Điều này càng tăng thêm vẻ huyền bí cao siêu của sự nghèo khó.

Nghe kể là ở vùng Thanh Hóa có nguyên một ngôi làng sống bằng nghề ăn mày (61a). Họ ăn mày rất chuyên nghiệp. Họ còn thờ cả vị Tổ ăn mày nơi xứ này. Đến ngày giỗ tổ là mọi người trong làng đều phải đi ăn mày để nhớ ơn Tổ.

Cái xứ sở gì mà nghèo khó đến độ tạo ra một “nghề nghèo” chuyên nghiệp thì quả đây là một hiện tượng xã hội khá đặc biệt. Cũng như bên Ấn Độ, ăn mày được xem là một nghề chuyên nghiệp cùng với nghề cổ truyền: nghề làm đĩ.

Nếu quan sát kỹ hành vi ứng xử trong đời thường của người VN, bạn sẽ thấy khi họ gặp một người nghèo, họ rất dễ mủi lòng.  Họ sẵn sàng đứng về phía người nghèo đó để giúp đỡ và bênh vực.

Còn khi gặp một người giàu, người Việt tỏ vẻ thờ ơ, không tỏ vẻ gì ngưỡng mộ sự giàu sang phú quý này. Nếu không muốn nói là hơi dè chừng nghi kỵ. “Phong lưu là cạm (bẫy) trên đời”. Ngán ngẩm thì có nhưng kính trọng thì không. Câu tục ngữ “Giàu điếc, sang đui” (người giàu thường vì sợ người ta vay mượn nên giả điếc. Người sang cả ra đường hay giả đui, không muốn chào người nghèo vì sợ mất sĩ diện), hàm chứa thái độ miệt thị giai cấp này.

Khi di chuyển trên đường sá tại VN, có một luật lệ bất thành văn mà ai cũng mặc nhiên chấp nhận. Là khi có một sự cố xảy ra do sự va chạm giữa hai người đi đường, thì người giàu hơn bắt buộc phải bồi thường cho người nghèo gặp nạn. Bất kể là lỗi đến từ phía nào. Ví dụ trong một cuộc đụng xe giữa xe ô tô và xe gắn máy, chủ nhân xe ô tô vì giàu hơn nên luôn luôn phải là người bồi thường cho chủ nhân xe gắn máy. Cũng thế, trong một tai nạn xảy ra giữa xe máy và người đi bộ, người đi bộ vì nghèo hơn nên luôn luôn phải là người được bồi thường cho dù kẻ bộ hành này đã băng qua đường ẩu tả. Xã hội này luôn luôn ưu ái với cái nghèo.

Nào dép lê quèn quẹt, đi đến đâu tung bụi đến đó, cũng cứ nghênh ngang giữa lòng đường, có chàng chịu chơi còn ôm ngang vai nhau, dàn hàng ngang mà đi sau khi ở quán bia chả chó ra, dăm chàng như thế, sặc mùi rượu đế. Có anh tài xế nào mà dám đụng vào họ đấy. Có mà…

“Ở đây chỉ xin nói, có những phố vắng, còn vỉa hè, người ta vẫn không thích đi trên vỉa hè mới lạ. Cứ giữa lòng đường mà diễn. Thì ra vẫn còn có nhiều người muốn vô bệnh viện, vẫn coi thường sinh mệnh của mình, vẫn muốn CA lập biên bản… Một vụ tai nạn xe cộ, người đi bộ trái lè phè vẫn cứ được bênh vực mới lạ. Lòng đường đã thành thiên đường bất khả xâm phạm đối với những cái chân vô kỷ luật mới lạ.” (61b)

Tôi có một kinh nghiệm về cách ứng xử của người Việt với những người vô gia cư tại San Jose, California, HK .

Trong khi quan sát, tôi thấy trước các tiệm ăn VN thường có các anh vô gia cư Mỹ bắc ghế ưu ái ngồi xin tiền. Ở những khu VN sinh hoạt đông, như khu Lion Plaza hay khu downtown San Jose,  những anh cựu nghiện ngập Mỹ thường xuyên tập trung ở đấy để xin tiền nhiều hơn các khu vực Mỹ Trắng.

Có những lần tôi thử đề nghị với một hai người rằng: người Việt không nên cho tiền mấy anh vô gia cư Mỹ kiểu này. Vì càng cho thì họ càng bám lấy các khu các tiệm VN khiến cho các khu sinh sống của người Việt bị hạ giá. Chúng ta có thể biểu hiện lòng giúp đỡ những người này bằng cách lập ra những nơi từ thiện rồi cho tiền vào đấy. Để các hội từ thiện chăm sóc những người này.

Thế là tôi bị mắng ngay vào mặt rằng: “đồ cái thứ tàn nhẫn, thấy người nghèo khổ mà không biết thương hại, vài đồng bạc thì nghĩa lý gì mà cũng tính toán”.

Tôi tin rằng những người Việt tử tế này cũng thấy lời đề nghị của tôi có sự hợp lý. Nhưng nếu bảo họ quay lưng đi với những anh vô gia cư Mỹ ngửa tay xin tiền thì họ sẽ không nỡ lòng nào.

Một hôm khác, sẵn trên đường trở lại viếng Chùa Bà Đá ở Phố Nhà Thờ và Chùa Lý Triều Quốc Sư, thấy Nhà Thờ Lớn ở đường Nhà Chung đang mở cửa làm lễ cho con chiên mộ đạo, tôi cũng ghé vào tham dự thánh lễ.

Gặp lúc ông cha đang giảng phúc âm, tôi được nghe ông cha tả tình rất hay về nghệ thuật bác ái hiện thực kiểu VH nghèo của VN. Đó là VH mà chúng tôi thường đùa gọi là: “Lá nghèo đùm lá rách. Lá rách đùm lá tả tơi”.

Nguyên thủy câu nói của người Việt là “Lá lành đùm lá rách” Câu này dạy người VN nên biết giúp người nghèo khổ hơn mình.

Câu nói “Lá rách đùm lá tả tơi” là câu nói tôi chỉ nghe sau này. Nghèo là đã cùng tận trong xã hội. Thế mà ở VN không chỉ dừng ở mức rách rưới nghèo khổ. Ở VN còn “chi tiết hóa” tới mức rách mà rách tả tơi nữa cơ.

Trở lại chuyện ông cha giảng cho con chiên ổng nghe mà tôi phải phục ổng về cái bài học ông ca biểu người công giáo VN phải biết yêu thương và giúp người nghèo đói VN như thế nào.

Người nghèo VN cần nghe giảng về việc phải biết giúp người nghèo nữa sao? Tôi nhìn suốt cả ngôi giáo đường hình như chỉ có trên dưới mươi chiếc áo dài. Còn lại là những con chiên mặc áo cánh quần đen đơn giản.

Tôi nhớ trước 1975, ở các họ đạo công giáo Miền Nam, nghèo cỡ nào thì nghèo, đi nhà thờ cũng phải có cái áo dài màu đẹp để mặc. 25 năm sau, đứng ngày giữa lòng thủ đô HN, người dân thủ đô không có cái áo dài mà mặc. Thiệt thảm quá sức. Vậy thì sá gì lời vị chủ chiên tiếp tục nhắc đi nhắc lại cái điệp khúc “các con phải biết yêu thương người nghèo khó” của ông Giêsu.

Ông cha nói thao thao bất tuyệt về cái điều gì đó gọi là nghèo khổ. Tôi nghe mà bỗng dưng nhớ đến bài Phố Buồn nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Duy mà ca sĩ Hùng Cường ca rất hay: “Nhìn vào khe song trong anh ốm yếu ho hen...”

Trong khi đi tìm các trang nhà VN trên com, tôi thấy trong trang nhà FPT của VN dưới phân đề “Cuộc Sống” có một mục gọi là “Đời thường”. Mở mục “Đời thường” này ra xem, tôi nhận ra “Đời thường” này toàn kể về đời của những kẻ nghèo khó hay đời của những kẻ bất hạnh.

Trong mục “Đời thường” của tháng 2 năm 2000, tôi đếm tất cả gồm 44 bài được lưu trữ. Thì có đến 31 bài mô tả cảnh nghèo khó và cảnh bất hạnh của người dân VN khắp nước. Những bài này được thu nhặt từ các báo trong tháng rồi được lưu giữ lại đây. (62)

Sao lạ vậy? “đời thường” ở VN sao chỉ toàn chuyện kể nghèo khổ và bất hạnh. Gọi là “đời thường” thì đáng lẽ nên có đủ vinh quang, phú quý, nghèo khổ, tội lỗi, hạnh phúc, hưởng thụ, đau khổ, cho đủ mùi đủ vị chớ. Không lẽ “đời thường” của người VN toàn là đời nghèo toàn là đời bất hạnh, nên người làm ra phân mục này tự động lưu trữ toàn chuyện nghèo khổ vào đây.

Nước VN vào cuối thế kỷ 20, ông nhà nước suốt ngày cứ lặp đi lặp lại điệp khúc xin dân chúng cứu bồ giùm. Ông nhà nước ban hành chính sách “Xóa Đói Giảm Nghèo” mấy năm nay kêu gọi nhân dân phụ một tay giúp đỡ nhà nước khắc phục bệnh nghèo đói. Vậy mà đói nghèo như cơn bệnh trầm kha bất kham bám cứng lấy xứ sở này. Không biết đến bao giờ mới khắc phục xong.

Ta đã đặt chân lên ngưỡng cửa năm 2000. Chính phủ dốc sức vào hai chương trình: xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế các xã đặc biệt khó khăn ở miền núi và vùng sâu, xa. Cả nước nỗ lực đến năm 2000, cơ bản không còn hộ đói. Mỗi năm giảm 300.000 hộ đói để đến năm 2000, hộ đói nghèo chỉ còn 10%. Trong dòng máu tôi và anh có bao nhiêu triệu hồng cầu “nhà quê” ? Trông thấy nông dân nước họ đi làm đóng giầy Tây, complet, cà vạt mà thèm. Đến bao giờ nông dân mình được thẳng lưng. Còng lưng nhổ mạ, nhổ cỏ, cấy lúa. Lúa chín lại còng lưng gặt hái. Có nhà điêu khắc nào động lòng tạc tượng người mẹ quê, rét căm căm “chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non”? Đá hoa cương hay cẩm thạch có tạc được bắp chân trần thôn nữ thâm tái bùn, ống quần túm lạt, gập lưng cấy lúa lúc tóc còn xanh, tới khi bạc đầu.

..

Đói nghèo đeo bám tới bao giờ? Dai dẳng bên tai tôi lời của bà cô tôi: “Mặt mũi làng xóm đã sáng sủa chút ít nhưng mà các anh chị vẫn ngại về. Làm gì có tủ lạnh, máy lạnh. Vẫn củi rơm nhem nhuốc. Đường thì chỗ đá, chỗ đất. Nước máy còn hiếm huống hồ nước nóng. Chân đất mắt toét còn đầy.” (63)

Trong khi theo dõi khóa họp của chính phủ vào mùa thu năm 1999, tôi ngạc nhiên nghe một ông Bộ trưởng ra trước Quốc Hội HN đọc lời hiệu triệu rằng thì là một trong những cách hay nhất để “Xóa Đói Giảm Nghèo” là nên khuyến khích người dân hãy yêu chuyện làm giàu!

Không lẽ lâu nay người dân VN không thích làm giàu??

Sau khi ông Bộ trưởng ra Quốc hội đề xướng “cuộc CM” nên thay đổi tư duy này, báo chí trong nước có lời phụ chú ngay.

Báo Thanh Niên ở SG chạy ngay một tít lớn trên trang nhất: “Các Thành Viên Chính Phủ Trả Lời Chất Vấn Trước Quốc Hội: Mỗi Làng, Xã Phải Có Nhiều Người Giàu Thì Đất Nước Mới Giàu Được”. Theo bài tường thuật này thì “Bộ trưởng bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Lê Huy Ngọ đề nghị với quốc hội “nên tạo một tâm lý xã hội hoan nghênh và ủng hộ người làm giàu chính đáng…” (64)

Báo Người Lao Động ở HN có bài bình luận rằng:

Những tưởng ông Bộ Trưởng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn chỉ chăm chăm nói về xóa đói giảm nghèo, nào ngờ chính ông lại đề nghị Quốc Hội cần tạo ra tâm lý xã hội hoan nghênh, ủng hộ nông dân làm giàu chính đáng để làng xã có nhiều người giàu, từ đó đất nước có thêm nhiều người giàu …. Như thế là vui chứ, nói rất nhiều về khó khăn, vướng mắc mà vẫn vui vẻ vì là nói về những lo toan cho sự làm giàu. Thì chính ông Bộ Trưởng Lê Huy Ngọ đã chính thức đề nghị Quốc Hội cần tạo ra tâm lý xã hội cho những con gà được hoàn toàn thanh thản đẻ ra càng ngày càng nhiều quả trứng vàng. Nhớ lại, đã có thời kỳ ý nghĩ của không ít người cho rằng “Nghèo Là Tốt” được coi là triết lý sống thì mới thấy Quốc Hội họp kỳ này có nhiều cái mới lắm!”. (65)

Những người trước đây đi cổ võ cho ý nghĩ “Nghèo Là Tốt” mà tác giả Chu Thượng trích dẫn trên đây chính là giai cấp ĐCS đã và hiện đang nắm quyền cai trị tại VN.

Nhưng không phải chỉ có giai cấp “dẫn đường” âu yếm với triết lý “Nghèo Là Tốt”. Chính thật ra giai cấp “theo đường”, dân VN, còn ghiền còn say đắm với tình nghèo càng thắm thiết hơn ông nhà nước nữa.

Nếu nói về điều kiện vật chất, VN không phải là một nước nghèo từ trong căn bản. Cứ nhìn món ăn cổ truyền VN bày ra trên mâm cơm mâm cỗ thì thấy: Bánh nếp nhân thịt có từ đời Hùng Vương dựng nước. “Con gà tục tác lá chanh“, “Mẹ em tham thúng xôi vò, “Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi”, “Chán như cơm nếp nát” .. Những cách nói này phản ảnh thực đơn VN đã rất trù phú từ nghìn xưa. Thức ăn đủ chất đạm, chất sắt, chất xơ lành mạnh phong phú đã nằm trong mâm cơm của người Việt bốn nghìn năm văn hiến từ thuở não thuở nao. Trong khi nếu nhìn sang món ăn cổ truyền của người Nhật chẳng hạn là nắm cơm vừng chay hoặc bát udon không thịt. Những món dưa muối Kim Chi phong phú tuyệt vời của người Đại Hàn phát sinh từ hoàn cảnh địa lý khắc nghiệt mùa đông giá lạnh. Người Đại Hàn chẳng thể nào câu được con cá gì ngoài sông rạch ở cái xứ “lạnh lớn” ấy .

Sách Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An được viết vào đời Mạc Phúc Nguyên 1553 đã mô tả về sự phú túc của lâm sản và hải sản miền Trung, Quảng Bình cho đến Quảng Nam như sau:  “Lâm Sản Tổng Luận

“Vải hoa làm màn cửa với ngà voi sản ở các trại thuộc hai châu Thuận Bình và Sa Bồn.

“Nhựa thông và mắt thông sản ở các xứ Tư Vinh và Tân Chu. Các núi Châu Bố Chính, Kim Trà thì sản quả tần bà, chỉ ăn có hạt, hạt càng nhỏ càng ngon; các rừng Bố Chính, Khang Lộc thì sản mật ong, chỉ lấy có bọng, bọng càng nhiều càng tốt.

“Củ mài Minh Linh có tiếng, Ô dược Bố Chính là hơn.

“Quả trám thì các vùng Khang Lộc, Bố Chính rất nhiều, dân nhờ sản vật, dầu vong thì các miền Đan Điền, Lai Vu sẵn mối lợi không vừa.

“Muối thiên nhiên thì hang núi Khang Lộc, An Đại sản thứ muối phân ve sầu. Hai xã Trung Kiên, Hoàng Đàm đã có lò nấu sắt, mỏ thì các núi Tú Vinh.

“Bố Chính sản nhiều quặng sắt, các xã Phú Tôn, Cao Lao đã có lò rèn.

“Đuôi trĩ thì khu rừng An Đại, Khang Lộc rất nhiều; cua đá thì chân núi Khang Lộc rất sẵn. Dầu mộc tê thì rừng Kim Trà có nhiều, vải bông trắng thì hai châu Thuận-Sa rất đẹp.

“Lâm Sản phong phú như thế song chưa bằng mây có cây dụng rất tiện lợi ……

“Sản Vật Bể

“Cá và muối thì xã Diêm Tràng huyện Tú Vinh ngon nhất, thứ nhì đến cửa Di Luân; cá phong thì các đập An Lưu, Thanh Lam có nhiều, thứ hai đến đập Tam Chế. Còn hào sản ở cửa Hải Vân với cửa Tú Khách, mà xứ Vĩnh Tuy huyện Khánh Lộc cũng nhiều; con dưu thì ở các bến cát bờ bể, mà hạt Tân Châu, huyện Tú Vinh cũng sẵn. Loài ngao loài cua thì từ cửa Di Luân đến cửa Tú Khách, chỗ nào cũng có.

“Đỉnh núi Lỗi Lôi, châu Bố Chính thì sản tổ yến; cửa bể Di Luân thì sẵn tôm hùm. Đồi mồi, cá lợn thì ở cửa Tú Vinh với chằm cỏ Minh Linh; ốc cưu khổng thì sẵn ở cù lào Thủy Cần, huyện Lệ Thủy, cá sấu thì sản ở các vụng Hưng Bình, Hòa Lâm, huyện Tú Vinh.

“Hải vật nhiều thế nhưng chưa bằng cá có vị ngon hơn cả..” (66).

500 năm về trước xứ sở này đã có sơn hào hải vị phì nhiêu như thế. Mà 500 năm sau thì nhạc sĩ Phạm Đình Chương khi ca hát về miền Trung VN đã phải thốt lên: “Quê hương em nghèo lắm ai ơi. Mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn..”

Tại sao trong những điều kiện vật chất phì nhiêu lúa gạo, thịt cá đầy biển, mỏ vàng mỏ than mỏ sắt các nơi, đã hiện diện từ bao trăm nghìn năm nay mà bây giờ nước VN vẫn còn nghèo. Tại sao trong những điều kiện trí tuệ thông minh đánh giặc đâu là thắng trận đó, người VN lại không nhìn ra cái lẽ là thay vì dùng trí lực vào việc mưu mô “đánh giặc”, họ có thể dùng trí tuệ vào việc “kinh doanh” và sáng chế đồ dùng cho dân xài và nước giàu. Tại sao cách đây mấy nghìn năm, thay vì chỉ đủ ăn, người Việt đã không nghĩ ra việc xuất cảng lúa gạo để kiếm tiền nhiều hơn. Đã không rèn luyện chế biến lâm hải sản thành kỹ nghệ đồ khô đồ hộp bán cho Trung Hoa, Lào, Miến Điện. Đã không biết dùng các mỏ quặng để chế tạo ra tàu thủy tàu lửa xe hơi để đi lại cho nhanh chóng hơn. Tại sao các làng nghề như gốm (Bát Tràng), chạm khắc gỗ (La Xuyên, Nam Định), đúc đồng (Đại Bái, Bắc Ninh), chế biến vàng bạc (Kiêu Kỵ) dệt lụa (Hà Đông, Vạn Phúc) (67), đều khoe là đã vào nghề từ hàng trăm cho đến hàng nghìn năm mà vẫn không phất lên nổi? Có ngành nghề cả nghìn năm sao không phát triển tối đa để mang lại lợi nhuận tích trữ cho giàu sang phú quý lên mà giờ này làng nào làng nấy cũng vẫn còn nghèo xơ nghèo xác. Trong khi nước Mỹ vào năm 1776 là con số không, chả có ngành nghề nào ráo. 200 năm sau, 1976, nước Mỹ phát triển cách gì hay quá mà họ trở thành cường quốc hùng mạnh nhất thế giới!

Có phải người VN, từ trong căn bản, đã lãng mạn yêu thương sự nghèo khổ? Họ mới không phản đối chiến tranh. Nên hễ ai kêu gọi tòng chinh diệt giặc là sẵn sàng tham chiến. Mà hễ có chiến tranh, thì nghèo đói sẽ xảy ra.

Biết trước có chiến tranh là sẽ có nghèo đói. Vậy mà VN vẫn thích lao vào chiến tranh này đến chiến tranh khác. Tôi tự hỏi sao mấy ông bà tổ tiên VN không bàn được mưu tính được kế nào hay ho, để một mặt vẫn giữ được xã hội thái bình, một mặt vẫn không để cho người ngoại quốc xâm lăng như mấy ông bà tổ tiên nước Thái Lan. Mấy ông bà tổ tiên nước VN chắc là thích đánh nhau hơn mấy ông bà tổ tiên nước Thái Lan! Mấy ông bà tổ tiên VN chắc là thích nghèo hơn giàu, nên đến giờ này nước VN vẫn còn trong cơn say nghiện cơn nghèo.

Cùng với hoàn cảnh chiến tranh liên miên, xã hội VN mất tính vững chắc. Vì vậy nghèo đói là một hiện trạng thường trực nằm ung dung phơi bày vui vẻ ra trong xã hội VN từ thời thượng cổ đến nay.

Những câu nói rất quen thuộc như “Giàu giờ ngọ, khó giờ mùi“, “Giàu chiều hôm, khó ban mai“, “Không ai giàu ba họ không ai khó ba đời” chỉ sự bình đẳng về thời gian của sự giàu có và sự nghèo khổ. Nhắc nhủ những kẻ nuôi dưỡng những nền VH này rằng thì là: Không ai giàu mãi đâu. Và cũng không ai nghèo mãi đâu. VH này rõ ràng là thích bênh vực giai cấp nghèo khó. VH này rõ ràng là thờ phượng và âu yếm cái nghèo. Vì một cách thông thường, một khi giàu có người ta có điều kiện để duy trì sự giàu sang của mình hơn. Ở Ấn Độ chẳng hạn, giai cấp Tăng Lữ (Brahmins) là giai cấp được bảo vệ từ đời này qua đời nọ. Ở Tây Phương, giai cấp Quý Tộc (Aristocracy) là giai cấp tồn tại mãi trong sinh hoạt nghệ thuật và nắm giữ chính quyền một cách tự nhiên từ đời này sang đời nọ Trong khi đó ở VN, với tinh thần “không ai giàu ba họ. Không ai khó ba đời”, người VN chấp nhận sự nghèo đói một cách ba đời tái ngộ cái nghèo một lần!(?)

Cũng trong cái tinh thần ưu đãi sự nghèo khó này mà lịch sử VN đầy dẫy những trang sử oai hùng chuyên nghề phá vỡ giai cấp giàu có.

Có phải người VN, từ trong căn bản, đã không ham muốn sự giàu sang phú quý? Nên dù xây dựng được cơ đồ giàu sang trong xã hội, khi thấy cần phải phá hủy sự bền vững đó, họ cũng sẵn sàng “giã biệt” sự giàu sang này. Họ thấy phá vỡ sự an bình và sự phú quý của xã hội là chuyện chấp nhận được. Hơn là chuyện duy trì sự an toàn và xây dựng của xã hội cho bền vững lâu dài?

Không cần phải trích dẫn xa xôi, ngay trong thời đại của tôi, hai cuộc đánh phá làm cho sụp đổ giai cấp giàu có xảy ra trong nửa thế kỷ cuối của thế kỷ 20. Năm 1954 bao nhiêu gia đình giàu có ở HN mất trắng tay khi rời Miền Bắc để trốn chạy chế độ của ông HCM. Họ để lại của cải nhà cửa hoành tráng của gia đình dòng họ mình cho chế độ CS vào thu chiếm. Chỉ 20 năm sau, 1975, tại Miền Nam lại xảy ra một cảnh tan nát mất mát của giai cấp giàu sang của Miền Nam. Những người giàu có ở SG bỏ của chạy lấy người để chạy sang Mỹ. Bao nhiêu gia tài của cải họ để lại cho chính quyền CS vào tiếp thu khi Miền Nam rơi vào chế độ của ông HCM một lần nữa.

Trong những cuộc đánh phá “tư sản” của chế độ “vô sản” HCM. Người dân VN rất quen thuộc với hình thức “biếu” tài sản của mình cho “nhà nước”. Nghĩa là khi người “vô sản” CS bước những bàn chân chiến thắng đến đâu thì người “tư sản” giàu có của cải ở đây lo mà cống hiến tài sản nhà cửa, đất đai, xe cộ của mình cho “nhà nước”. Đừng có ở đó mà đợi “nhà nước” đến tịch thu vì tội “giàu sang” của người “tư sản”.

Cứ một thế kỷ có vài ba cuộc “sàn” tài sản kiểu này thì ai mà giàu “ba đời” cho nổi. Và nếu điều này lập đời lập lại trong nhiều thế kỷ thì rõ là dân tộc này phải có cái máu tôn vinh màu nghèo khổ hơn là màu sang trọng.

Tâm lý dẻo dai chịu đựng vẫn thường được các nhà lãnh đạo chính trị mang ra như viên kẹo ngọt dụ dỗ dân VN hãy “rán” chịu đựng chiến tranh để đánh cho đến đích. Nhưng loại tâm lý “ráng chịu đựng” này khi mang áp dụng vào hoàn cảnh cơ hàn cực khổ, thì nó đã khiến cho dân VN trở thành con bệnh tâm lý nuôi dưỡng cái nghèo.

Có người đã nhận xét: Người Pháp cho sống là hưởng lạc, người Đức cho sống là làm việc, người Việt cho sống là chịu đựng.” (68)

Ca dao tục ngữ có một câu thần chú mà tôi bảo đảm là bất kỳ trẻ em VN nào cũng từng đã phải ít ra một lần bình luận nó trong giờ tập làm văn bậc tiu học. Đấy là câu “Đói cho sạch. Rách cho thơm.”

Tất cả mọi người VN đều in trong đầu câu tục ngữ này. Câu tục ngữ này mở đầu hai chữ “đói, rách” nhưng lại chấm dứt câu văn bằng hai chữ “sạch, thơm”. Có một mối tương quan âu yếm và kính trọng hiện tượng “Đói Rách” trong câu này biết là bao. Đói và Rách được tôn thờ trong câu tục ngữ này biết bao.

Tâm lý rán chịu đựng sự nghèo khổ đã được khích lệ bằng những câu ca dao tục ngữ kiểu này.

Rán chịu đựng, một loại tâm lý không khuyến khích con người vượt thoát, khắc phục để thay đổi và tiến bộ. Rán chịu đựng, một dạng tâm lý khuyến khích con người ta sống với sự thua thiệt nghèo nàn. Và tác giả Lê Văn Siêu, một người viết khá nhiều sách về VH VN, lại cho tâm lý “rán chịu đựng” này là một thứ “truyền thống” của người VN: “Suốt một cuộc đời của người VN vậy đã chỉ toàn chịu đựng.

“Chịu đựng mọi gay gắt của hoàn cảnh thiên nhiên” nắng cháy da mồm chảy nước, (tại sao không tìm cách chế ra máy điều hòa không khí, máy quạt, quạt cho mát mẻ, mà lại chịu đựng cái nóng? lth), lạnh buốt xương (tại sao không tìm cách chế ra lò sưởi, sưởi cho ấm mà phải chịu đựng cái lạnh? lth), người ta vẫn chịu đựng để bám lấy đất mà sống. Và làm ăn chật vật vất vả, hai sương một nắng, lam lũ quanh năm chân lấm tay bùn, người ta cũng không nề hà để chịu đựng cho đến choắt người đời. Cả sự ăn uống kham khổ quanh năm không được một bữa no, chỉ vài bữa được hưởng mùi thịt, người ta vẫn chịu đựng.” (69)

Như thế này mà đi lên nhà thờ gặp mấy ông cha Công Giáo còn vỗ về là thôi con hãy rán chịu đựng như thế: “Đấy là thánh giá của Chúa gửi trao.”(!) Thì bao nhiêu sức lực lại chỉ tập trung vào việc âu yếm với cây thánh giá Chúa gửi trao. “Ách của ta thì êm ái. Gánh của ta thì nhẹ nhàng.” Chứ còn sức đâu mà can đảm quẳng cây thánh giá qua một bên để tập trung tinh thần vào việc thay đổi tình trạng nghèo khổ của mình.

Tâm lý “rán chịu đựng” nghèo khổ đã khiến cho dân VN chịu đựng những 25 năm nghèo đói dưới chế độ CS 1975-2000 mà không ùn đũi lên nổi một thứ tâm lý nào khác hơn là tâm lý rán chịu đựng này.

Đáng lẽ ra thay vì dùng sức lực vào sự rán chịu đựng nghèo khổ, người dân VN nên dùng sức lực vào sự khắc phục những lực đã tạo ra sự nghèo khổ.

Vào cuối 1999, hầu hết các báo tại VN đều loan tin tình trạng kinh tế trong nước hiện đang dư thừa gạo, ca phê, thép, hạt điều, xi măng, hoa, nhưng không xuất khẩu được.

Tôi đọc báo thấy nhiều gia đình trồng hoa tại Đà Lạt khóc than vì nguyên vườn hoa tưởng bán được vào dịp tết năm 2000 nào ngờ đâu bị lỗ lã vì không ai chỉ đường. Năm ngoái thấy bán loại hoa hồng này được nên hùa nhau trồng. Năm nay vì nhiều người cùng trồng hoa hồng quá nên hoa hồng thặng dư. Đây là do sự dốt nát vì không ai giúp họ nghiên cứu thị trường trước khi làm vườn. Công việc nghiên cứu cao cấp này thường là do bộ nông nghiệp hay các nhà chuyên môn nghiên cứu thị trường của nhà nước hay các tư nhân nghiên cứu.

Ở VN chế độ bao cấp TW tập quyền ĐCS trị đã không làm chuyện nghiên cứu giúp nông dân này thì chớ, lại cấm tư nhân làm. Kết qủa là dân sản xuất nhà vườn mù mờ trồng hoa quả mà phó vào cho vận may rủi của phiên chợ tới.

Trong thời gian ở HN, tôi biết một thương gia Việt Kiều rất muốn mua cà phê VN để bán ra ngoại quốc. Tôi đã theo dõi và chứng kiến cảnh người trong nước rất muốn bán, nhưng cơ quan nhà nước vì một lý do gì đó muốn thương gia Việt Kiều này lấy hàng của đại diện hãng cà phê này ở HN, thay vì lấy hàng ở SG như thương gia này tỏ ý ban đầu. Vì công ty cà phê này là công ty cà phê quốc doanh. Cho nên khi thương gia này từ chối lấy hàng từ HN thì người trong nước im re luôn.

Tuy không phải là dân buôn bán làm ăn nhưng tôi rất kinh ngạc khi thấy những người trong nước chấp nhận một lời nói “không” quá dễ dàng. “Người trong nước” đây, theo chỗ tôi biết là những người không phải là giàu có gì. Nếu họ “làm” được trung gian qua vụ này, chắc chắn là họ kiếm được một món tiền khá lớn. Sẽ thay đổi cuộc đời họ từ cảnh nghèo sang đến cảnh trung lưu. Tôi nói với những người này rằng tôi đã từng biết những người buôn bán ở các nước khác. Tôi quan sát và thấy những doanh nhân HK khi gặp một cơ hội có thể kiếm ra tiền được như thế này, họ sẽ bám theo kỳ kèo cho đến khi nào được thì thôi. Họ không bỏ lỡ cơ hội dễ như vậy đâu. Còn quý vị sao quý vị mới nghe nhà nước nói “Không” là đầu hàng ngay vậy. Rán lên thử xem. Những “người trong nước” đã rất vui vẻ cười đùa hoan hỉ và trả lời tôi là “Khó lắm. Ở VN làm ăn khó thế đấy chị ạ”. Một câu trả lời thật là không thỏa mãn cái đầu óc hay tò mò của tôi tí nào.

Sau đó tôi bâng khuâng tự nghĩ tại sao những “cô Be Rét Giao Chỉ đương đại đi buôn sữa” này chưa bưng bình sữa lên mà đã ngại đường xa rồi. Có phải là những cô Be Rét Giao Chỉ này thấy thôi thì sống nghèo nghèo không có lò sưởi trong mùa đông không có máy lạnh trong mùa hè thì cũng .. rán mà chịu vậy.

Chính cái tâm lý rán chịu đựng này là thủ phạm kéo dài triền miên sự nghèo khổ trên một đất nước của những con người thông minh, cần cù, nhẫn nại này đấy. Còn phải nói gì hơn nữa.

Chú Thích:

59. Kim Định, Triết Lý An Vi, Văn Lang Vũ Bộ. H.T. Kelton. HK. Không ghi năm xuất bản. trang 88.     

60. Gió Đầu Mùa. Thạch Lam. Ngày Nay, SG 1965..

61a. Đi Tìm Huyền Thoại Làng Ăn Mày. Thế Lê Vinh. VietNamNet. 31/05/2003. . http://www.vnn.vn/451/2003/5/13651/

61b. Băng Sơn. Những Nẻo Đường HN. Xuân Thu. California, HK. 1999. Trang 22-24

62.    http://www.fpt.vn/InfoStore/760100DC/2000/02/38AB73B3.htm “Bình Dị Những Tấm Lòng Vàng. Huỳnh Hoà Bình. Báo Tuổi Trẻ số 15/2000. 10.2.2000

Người Mẹ Thứ Hai. Phong Thu, An Ninh Thủ Đô số 407. 11.2.2000

Phong Trào Đóng Góp Hiện Vật Giúp Đồng Bào Nghèo Thành Phố HCM. Nguyễn Bình. Báo Người Lao Động. 11.02.2000

Cần Lắm Những Tấm Lòng Nhân Hậu. Lê Đảnh. Tiền Phong số 20. 14.02.2000

Căn Nhà Không Có Tết. Báo Phụ Nữ Thành Phố HCM. số 10. 16.02.2000.

Quán. Điền Nam. Lao Động. 16.02.2000.

Nỗi Buồn Của Những Người Trồng Đào Quất. Xuân Phương. Báo Đầu Tư. Số 14. 16.02.2000.

Những Mảnh Đời Bất Hạnh. Báo CA TPHCM. số 816. 18.02.2000

Cái Quê Khuất Xa. “Cái Gốc Của Dân Tộc” Bao Giờ Mới Hết Nghèo. Nguyễn Chí Thành. Thỡi Báo Kinh Tế VN. 18/12/2000. 18.02.2000

Một Gia Đình Cần Sự Giúp Đỡ. Báo CA Nhân Dân, số 847. 18.02.2000.

Mong Có Chút Vốn Để Lo Cho Cháu. Ánh Hồng, báo Phụ Nữ số 11. 19.02.2000.

Lặn Lội Thân Cò. Mai Lan, Báo Phụ Nữ, số 11. 19.02.2000.

Bữa Cơm Gia Đình và Tình Thương Của Bố Mẹ. Phạm Thị Xuân Nương. SG Tiếp Thị số 7. 19.02.2000.

Người Đàn Bà Vất Vả. Bích Thủy. SG Tiếp Thị số 7. 21.02.2000

Cô Học Trò Vượt Lên Mặc Cảm Bệnh Hoạn. Duy Hải. Báo Thanh Niên, số 29. 21.02.2000.

Nỗi Bất Hạnh Của Em Nữ Sinh 13 Tuổi. Minh Thọ. Báo CA TPHCM, số 817. 22.02.2000.

Theo Những Chuyến Tàu. Đăng Trung. Báo Giáo Dục và Thời Đại số 23(1736). 23.02.2000.

Gia Đình Không Còn Khả Năng Tiếp Tục Điều Trị. Đình Thắng Phụ Nữ Thứ Tư, số 12. 23.02.2000.

“Thằng Thúng” Của Ngày Hôm Qua. Vũ Đoan Tiến. Báo Tuổi Trẻ, số 21. 24.02.2000.

Chị Em Mỳ Gõ. Thái Thanh Thương. Phụ Nữ số 12, 24.02.2000.

Xin Cứu Giúp Cháu Bé Mồ Côi. Thanh Thủy. Báo Phụ Nữ Thủ Đô, số 8. 24.02.2000.

Cháu Còn Hy Vọng. Minh Thọ. Báo CA, số 818. 25.02.2000.

Ngộ Nhỡ Biết Đâu. Lâm Tuy. Báo Lao Động. 25.02.2000.

Lời Thỉnh Cầu Của Một Đứa Trẻ Lang Thang. Sĩ Phúc. CAND, số 852. 26.02.2000.

Cậu Học Trò Nhỏ Trong Rừng Cao Su. Minh Thùy, Tuổi Trẻ Thứ Bảy 26.02.2000.

Người Phụ Nữ Hai Lần Bất Hạnh. Kim Sơn. Báo Phụ Nữ số 13. 26.2000.

Hai Bé Gái Mắc Bệnh Hiểm Nghèo Bị Bỏ Rơi Được Bệnh Viện Nhi Thụy Sĩ Nuôi Dưỡng. Thu Hoà. CANN số 853. 28.2000.

Hai Cô Bé Bất Hạnh, Huệ Trinh, CA TPHCM số 819. 29.02.2000.

63. “Nhà Quê Khuất Xa. Cái Gốc Của Dân Tộc Bao Giờ Mới Hết Nghèo?” Nguyễn Chí Thành Thời Báo Kinh Tế VN. 18.02.2000.

64. Yên Ba-Tr.B-KO. Báo Thanh Niên. Thứ sáu, 03.12.1999.

65. Hoan Nghênh Làm Giàu, Chu Thượng, Lao Động, năm thứ 70 số 193/99 (5037) thứ sáu 3/12/1999.

66. Ô Châu Cận Lục, Vô Danh Thị, Dương Văn An nhuận sắc, Bùi Lương phiên dịch, VH Á Châu xuất bản, SG 1961. Trang 25-26.

 67. “Vạn Phúc là nơi tập trung nhiều nghề thủ công nghệ lâu đời. Với vị trí thuận lợi giao lưu với thành thị, các vùng chung quanh và tới nhiều miền đất nước nên ở Vạn Phúc đã sớm thành hình ngành ươm tơ, dệt lụa và nổi tiếng trong cả nước về đôi bàn tay khéo léo của người dân nơi đây. Người Vạn Phúc đã sản xuất ra nhiều loại vải dệt qúy như: sa, gấm, nhiễu, đũi, băng, quế, lụa Hàng Vân, lụa Kỳ Cầu.. Xa xa, lụa Vạn Phúc đã hấp dẫn mọi tầng lớp nhất là giới sành mặc ở thành thị và giới thượng lưu giàu có. Từ thời vua Khải Định, vua Bảo Đại, các vua tôi triều Nguyên đều sai sứ thần về tận Vạn Phúc mua các hàng dệt như sa, gấm, về triều đình để vua quan dùng. Dưới thời kỳ Pháp thuộc, từ những năm 1930 nghề dệt lụa ở Vạn Phúc đã có bước phát triển mới. .. Năm 1937 lụa làng Vạn Phúc đã có mặt tại Hội Chợ Triển Lãm Kinh Tế Các Nước Thuộc Địa Pháp tại Paris. Nhiều công ty tư bản Á Âu thi đó đã thi nhau mua hàng dệt của làng Vạn Phúc… TôTuấn. http://www.fpt.vn/InfoStore/4D03002F/1999/12/3845A58C. htm. 12.1999

68. Lê Văn Siêu. Truyền Thống Dân Tộc. Sống Mới tái bản tại HK. Không ghi năm tái bản. Trang 59.

69. Lê Văn Siêu. Truyền Thống Dân Tộc. Trang 55.

8- Ếch Ngồi Đáy Giếng. 

Nguồn gốc người Việt có huyền thoại là họ cùng chung một bọc đồng bào gồm 100 trứng nở thành 100 con của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Hai ông bà ở với nhau không được nên chia tay nhau chúng ta đi. 50 con theo cha lên núi làm nghề nông. 50 con theo mẹ xuống vùng thấp làm nghề biển.

Là một xứ sở được nuôi dưỡng bởi tôm cá của biển cả và lúa gạo của ruộng đồng, dân tộc VN chịu ảnh hưởng của VH biển và VH đất.

Suốt một giải thon thon hình chữ S của VN nằm cạnh biển Thái Bình Dương.

VH biển biểu lộ bằng những tính phiêu lưu, cứng đầu, may rủi, rộng rãi, thiếu chính xác, không ổn định. Những kẻ sống trên ghe thuyền thường thừa hưởng những bản tính trên đây do hoàn cảnh thiên nhiên mạnh mẽ lấn áp của biển cả áp đặt lên. Có những làng chài cạnh biển cứ bị sóng gió bão lũ táp vào bờ, cuốn mất nhà cửa đất đai mùa này qua mùa nọ. Sau một thời gian dài những làng chài này biến mất vĩnh viễn vào hư không.

Tính chất hư vô của những làng chài VN phản ánh sự từ chối một điều kiện thường trực, thường trú vào đất. Khi những người “lênh đênh trên sông nước” mà phải định cư vào đất liền, họ gọi hiện tượng này là “những con thuồng luồng ở cạn“. (70)

Có lẽ vì tính chất không ổn định và mất mát vào lòng biển cả của những làng chài này, mà ngày nay VH biển với những đặc tính của làng chài, không để lại những dấu ấn nhiều trong VH và văn minh VN như VH đất với những đặc tính của làng nông chăng?

Ngày nay khi nói VH VN người ta vẫn nói đó là một nền VH ảnh hưởng “nông nghiệp” mà hầu như không ai nói đó là một nền VH ảnh hưởng “ngư nghiệp”. “Dân VN có tới 80% sống ở làng xã và làm nghề nông”. (71)

Đây là một định kiến thiếu sót khi nói về những ảnh hưởng VH đất mà không nói về những ảnh hưởng của VH biển, trên nền VH VN.

VH đất, hay còn gọi là VH “lúa nước” của người Việt thường biểu lộ tính chống chọi, be bờ, bám trụ, bảo vệ, khép kín. Những người nông dân VN có khuynh hướng giữ gìn đất đai và để tồn tại với không gian. Tính chất cố thủ, bảo vệ, trung thành, là những nét mà người nông dân thừa hưởng lại từ nền VH ruộng đất này. Chính nhờ một tinh thần kiên trì bảo vệ ấy, mà ngày nay VH làng nông là một nét VH rõ nét và còn tồn tại mạnh mẽ trong xã hội VN.

Ảnh hưởng VH nông nghiệp này đã hình thành một biểu tượng quan trọng trong đời sống tập thể của người VN, đó là biểu tượng làng.

Theo Từ Điển VH Cổ Truyền VN: “(Làng là) đơn vị cư trú căn bản của nông thôn người Việt … Dựa vào các cứ liệu khảo cổ học có thể hình dung: từ thiên kỷ II và I trước Công Nguyên: tổ tiên người Việt đã rời bỏ hang động tỏ xuống vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ ngày nay. Từng nhóm cư nông đã quần tụ thành từng cư điểm ngoài trời. những cư điểm này thường được thiết lập trên những gò, đồi thấp, chân núi, doi đất giữa vùng đất trũng, bên những dòng sông và đầm hồ .. Các cứ điểm thường rào giậu rất chắc chắn để chống thú dữ và giặc giã.. Trong các “làng” này, ngoài nhà ở còn có nhà công cộng, nơi để dân làng hội họp, vui chơi, tổ chức lễ hội.. cũng tương tự như chức năng như các nhà Rông của Tây Nguyên và Đình Làng hiện nay. Bên cạnh còn có các công trình phụ thuộc như: kho thóc, chuồng gia súc.. bên ngoài làng có nghĩa địa chung của cả cộng đồng làng, bãi cỏ chăn nuôi và trồng trọt.. Còn giờ đây khắp mọi miền đất nước, đâu đâu cũng có xóm làng. Tùy từng vùng, ngoài những nét chung, làng xóm người Việt còn có những đặc điểm riêng biểu hiện thế đất,  ở nghề nghiệp, ở diện mạo của làng, ở mật độ dân cư và ở cách bố trí nhà cửa vườn tược trong khuôn viên.. Nếu dựa về thế đất để phân loại thì có nhiều dạng làng đất trũng, làng ven biển, làng trên đảo. Đó là mốt làng ở ngoài Bắc, còn trong Nam lại có các dạng làng khác: Làng vùng đất cao miền đông Cửu Long, làng trên giồng duyên hải, làng trên vùng phù sa nước ngọt sông Tiền và sông Hậu, làng trên vùng thấp ngập nước..Nếu dựa vào nghề nghiệp để phân loại thì có: làng thuần nông, làng thủ công.., làng bán nông bán công, làng bán nông bán thương, làng vạn chài.. (72)

Về cơ bản, làng Việt được tổ chức theo mấy mô thức sau đây:

Tổ chức theo địa vực. Các nhà bám theo chân đê, dọc bờ sông, dọc đường cái. Những khối chặt kiểu ô bàn cờ xen kẽ với ruộng đồng. Mỗi làng, xóm, ngõ có cuộc sống tương đối riêng.”

“Tổ chức theo huyết thống (gia đình dòng họ). Có làng nhiều dòng họ, có làng chỉ một dòng họ. Danh xưng và địa vị rất rạch ròi chi li: cố-cụ-ông-cha-bản thân-con-cháu-chắt-chút..”

“Tổ chức làng theo nghề nghiệp, theo sở thích, và lòng tự nguyện: Phe, hội, phường nghề. Phe tư văn. Hội hiếu, hỷ, mua bán, luyện võ, tập chèo, đấu vật. Phường nghề mộc, sơn, nề, thêu, chèo, rối..”

“Tổ chức làng theo lớp tuổi: tổ chức “giáp” theo nam giới (đã mờ nhạt). Đây là môi trường tiến thân theo tuổi tác dành riêng cho nam giới, phụ nữ không được vào. Bé trai mới lọt lòng được vào giáp ngay, được lên “đinh”, ngồi chiếu giữa làng. Được nâng dần, được nâng lên địa vị “lão”.

“Tổ chức theo cơ cấu hành chính. Làng có khi gọi là xã (có xã gồm nhiều làng), có khi gọi là thôn, khi nhất xã nhất thôn. Tiêu chuẩn để phân định là chính cư và ngụ cư (nội tịch, ngoại tịch). Thông thường người ngụ cư phải sống ở một làng đến ba đời thì có thể trở thành dân chính cư. Dân cư trong làng được phân chia thành hạng: chức sắc (đỗ đạt hoặc có phẩm hàm của vua ban), chức dịch (có chức vụ trong bộ máy hành chính), lão, đinh, ty, ấu, người già, trai đinh, trẻ con (trong các giáp).” (73)

Bởi vì làng là một định chế cộng đồng chặt chẽ cho nên định chế này đã ảnh hưởng lớn lao lên trên sự thành lập con người xã hội của người VN.

Những ảnh hưởng tiêu cực của định chế làng vì thế cũng rất ư là thâm sâu trong VH VN.

Một câu nói nổi tiếng phản ảnh VH làng rất mạnh trong con người VN là câu “Phép vua thua lệ làng”. Câu này ý nói bản hương ước của mỗi làng phải được coi trọng hơn chiếu vua truyền xuống.

Chính vì tinh thần cực đoan kiểu này đã đưa đến một số hiện tượng trì trệ tâm thần trong VH VN.

Kiểu phân chia dân nội tịch và dân ngoại tịch biểu lộ tính chất kỳ thị kẻ trong làng và kẻ ngoài làng.

Tinh thần “Con vua thì lại làm vua. Còn sãi chùa thì quét lá đa” biểu lộ VH làng theo huyết thống. Tinh thần làng huyết thống này tạo ra thói quen bảo vệ quyền lợi của người thân thuộc bà con họ hàng trước. Vì thế trong xã hội VN ngày nay vẫn còn hiện diện thói quen “gia đình trị”, “kéo người thân vào”, “kéo bà con họ hàng” vào trong các nơi làm việc. Chứ không dựa trên hệ thống chấm định khả năng (merit) một cách khách quan. Tinh thần bảo vệ họ hàng bà con (nepotism) là một thứ ngáng cửa ngăn chận sự phát triển dân chủ. Nếu không muốn nói là làm trì trệ tiến trình dân chủ một cách thầm lặng.

Không phải chỉ riêng tại VN, mà những nước Á Châu nào bị khống chế bởi những giá trị tiêu cực này cũng đều bị phê phán. Tại Singapore, họ đã phê phán những “giá trị Á Châu đi sai đường” như thế này: “Sự gắn chặt với gia đình trở thành một thứ kéo họ kéo hàng vào (nơi làm việc). Sự quan trọng của liên hệ cá nhân thay cho luật pháp trở thành một thứ chủ thuyết “nhất thân nhì thế”. Sự toa rập trở thành sự tham nhũng chính trị. Bảo thủ và kính trọng bậc quyền thế trở thành cứng ngắc và làm kiệt lực khả năng sáng chế. Những khoe khoang thành tích học vấn trở thành một thứ học như vẹt và (phản ảnh) một sự sợ hãi không dám đặt câu hỏi với những người thày.” (74)

VH kính trọng người già một cách cứng ngắc là kết qủa của sự phân chia con người theo giai cấp của Làng Giáp và Làng Huyết Thống. Những câu tục ngữ như: “Sống lâu lên lão làng” và “kính lão đắc thọ” là kết qủa của VH làng này.

Trong việc bảo vệ làng một cách mù quáng có câu tục ngữ VN rất phổ thông, để nói lên một nét VH phản ánh tinh thần bảo vệ làng, chỉ biết quanh quẩn trong làng, không bao giờ muốn đi ra khỏi làng. Đó là “Ếch ngồi đáy giếng”.

Người Việt thường dùng câu “Ếch ngồi đáy giếng” để chỉ đầu óc của những người ít hiểu rộng không biết nhiều. Có khuynh hướng ngồi ỳ một chỗ. Chỉ yêu làng nước của mình. Và bằng lòng với thái độ bế môn tỏa cảng. Rồi tưởng cuộc đời chỉ nhỏ bằng làng và bé bằng cái vung nồi cơm nhà mình. Câu này có ý nghĩa tương tự như thành ngữ “tunnel vision” của tiếng Anh, mà theo tự điển điện tử Anh Việt của công ty Lạc Việt ở VN 1996 có nghĩa là: “phiến diện, (sự không có khả năng nắm bắt được những hàm ý rộng lớn hơn của hoàn cảnh, lý lẽ..) (75)

Sự sai lầm của những đầu óc lãnh tụ “bế môn tỏa cảng” không trao đổi với thế giới bên ngoài đã tạo ra tiếng kêu của một bầy ếch. Cái âm vang của từng đàn ếch ngồi đáy giếng phản ảnh trong nhiều cung điệu một xã hội tự mình khép kín nên không biết gì về thế giới bên ngoài.

Vào thế kỷ 19, một ví dụ về tinh thần “Ếch Ngồi Đáy Giếng” là việc nhiều quan lại cao cấp dưới triều vua Tự Đức đã không biết lắng nghe các bản điều trần của các nhân vật có cơ hội xuất ngoại, tiếp xúc với thế giới bên ngoài, học hỏi được điều hay, rồi trở về VN trình bày lên. Đó là các bản điều trần của các ông Phạm Phú Thứ (1864), Nguyễn Trường Tộ (1866), Đinh Văn Điển (1868)..

Nguyễn Trường Tộ là một trí thức được ra khỏi nước, đi học hỏi một vòng Âu Mỹ vào khoảng đầu thập niên 1860. Khi trở về ông đã gởi lên triều đình nhà Nguyễn nhiều bài điều trần giá trị, đề nghị chánh quyền cải cách chính trị, kinh tế, VH, khoa học, giáo dục.. Theo các tác giả ” Tự Điển Nhân Vật Lịch Sử VN” thì “Các điều trần của ông nếu áp dụng là một sách lược lớn biến VN thành một nước hùng cường tạo nên chuyển biến quan trọng trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta..” (76)

Về mặt kinh tế , Nguyễn Trường Tộ vạch ra đường lối làm cho “nước giàu mà dân cũng giàu” Ông khuyên triều đình ra sức mở mang nghề nghiệp, học cách làm ăn của các nước văn minh Tây Âu, tránh bế quan tỏa cảng, mời các công ty kinh doanh nước ngoài đến giúp VN khai thác tài lợi để có thêm của cải và học cho được kỹ thuật cũng như cách làm ăn tiên tiến của họ. Có như vậy mới giữ được độc lập trong tư thế chủ đón khách.. (xem Dụ tài tế cấp bẩm từ).

“Về mặt văn hoá xã hội, Nguyễn Trường Tộ khuyên triều đình tìm mọi cách nâng cao VH đất nước theo hướng coi trọng khoa học kỹ thuật, để sớm nâng cao đời sống của nhân dân. Ông phê phán tình trạng dinh đô Huế luộm thuộm, mất vệ sinh, công thự dốt nát, lương bổng quan lại quá ít ỏi v.v.. Ông nêu hàng loạt vấn đề quan trọng như: nên sáp nhập các tỉnh để giảm bớt quan lại và có điều kiện tăng lương cho quan lại nhằm giảm tệ tham nhũng, khuyến khích tính liêm khiết, đề nghị sử đổi chính sách thuế, đánh thuế nhà giàu nặng hơn nhà nghèo, đánh mạnh vào xa xỉ phẩm, mặt khác không nên cấm dân dùng đồ đẹp đồ sang khiến cho văn vật ngày càng kém, áo xiêm ngày càng tồi, đề nghị sửa đổi chế độ thi cử, chú trọng bồi dưỡng nhân tài về nhiều mặt, thành lập các môn học thực dụng, dùng quốc âm trong công văn thay cho chữ Hán, lập địa đồ quốc gia và các tỉnh, kiểm kê dân số, lập trại tế bần, viện dục anh, v.v.. (xem Điều trần về cải cách phong tục, Học tập bồi dưỡng nhân tài, Tế cấp bát điều ..)

“Về mặt ngoại giao, Nguyễn Trường Tộ phân tích cho triều đình thấy rõ cục diện chính trị trên toàn thế giới, để biết ứng xử một cách linh hoạt (xem Thiên hạ đại thế luận). Ông chỉ ra những mâu thuẫn giữa Pháp với Anh và Tây Ban Nha và khuyên triều Nguyễn nên chủ động mở rộng bang giao với nhiều nước, nhất là với nước Anh, để chế ngự bớt tham vọng và khả năng xâm lược của Pháp. Khi nước Pháp có sự biến năm 1870-1871, vua Napoleon III mất ngôi, chế độ Cộng hòa Pháp phục hồi, Nguyễn Trường Tộ nêu một loạt kiến nghị, hướng dẫn triều đình Huế xúc tiến ngoại giao trực tiếp với chính phủ Pháp, khéo léo đối phó, ngăn chận bọn chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Soái phủ SG, nhằm tìm cách thu hồi lại sáu tỉnh đã bị chiếm .. (Xem Lục lợi từ và các tờ bẩm cuối năm 1866 đến tháng 2-1871)

“Về mặt quân sự, Nguyễn Trường Tộ tuy là một người “chủ hòa” nhưng không có tư tưởng “chủ hàng” hoặc hòa bình vô nguyên tắc. Năm 1867, ông khuyên triều đình “ra sức cải tu võ bị”, đề phòng quân Pháp từ Nam Kỳ đánh lan ra cả nước. Ông là người đầu tiên nêu lên một chính sách quân sự có hệ thống như trọng võ ngang trọng văn, quý trọng người lính, ưu đãi sĩ quan, biên soạn lý luận binh pháp, đào tạo cán bộ chỉ huy, tạo dựng một quốc thể về mặt binh bị, chuẩn bị điều kiện tác chiến trong thành phố, tìm cách dùng người trong vùng địch chiếm.v.v..

“Trí tuệ lỗi lạc của Nguyễn Trường Tộ đã vượt hẳn lên trên tầm thời đại giữa thế kỷ 19 ở VN..”   (77)

Bế Quan Tỏa Cảng là chính sách mà các vua triều Nguyễn thời bấy giờ đã áp dụng tại VN. Chính sách này phát xuất từ tinh thần be bờ muốn giữ gìn làng xã. Nên khi thấy người ngoại quốc đặt chân đến nước ta thì nhất định không chấp nhận, không nói chuyện, không trao đổi. Chính sách cực đoan này đã dẫn đưa đến sự tấn công và chiếm cứ của Thực Dân Pháp lúc bấy giờ.

Các dân tộc nào có cơ hội ra khỏi quốc gia họ nhiều thì dân tộc ấy sớm tiến bộ, khôn ngoan, và thành công hơn trong việc phát triển quốc gia mình. Người Âu Châu với tinh thần phiêu lưu dẫn đưa họ đi thám hiểm khắp nơi trên thế giới xông xáo hơn các người Á Châu hay người Phi Châu. Kết quả là họ thu lượm được nhiều lợi lộc từ các cuộc viễn chinh ra khỏi xứ sở họ. Những cơ hội ra khỏi xứ sở và tiếp xúc với các phần đất khác trên địa cầu đã sớm giúp họ bành trướng ảnh hưởng quốc gia mình. Những ảnh hưởng của nước Anh trên Singapore, Úc, Mỹ; ảnh hưởng của nước Pháp trên VN, Algeria; ảnh hưởng của nước Tây Ban Nha trên Mễ Tây Cơ, Cu Ba.. chứng tỏ điều này. Kinh nghiệm ra đi tiếp xúc với thế giới sớm sủa hơn các dân tộc Á Châu khác đã giúp người Trung Hoa có thái độ mềm dẻo trong lúc kinh doanh. Các Hoa Kiều ở ngoại quốc rất thành công trong thương trường tại các nước khắp nơi trên thế giới. Các Phố Tàu hiện diện từ San Francisco qua đến Luân Đôn, từ Vancouver cho đến Bangkok.. là một biểu thị.

Hơn một trăm năm sau khi Nguyễn Trường Tộ qua đời, người Việt vẫn còn áp dụng tinh thần “Ếch Ngồi Đáy Giếng” khi thiết lập lên Bức Tường Lửa (firewall) trong hệ thống internet vào những năm đầu thế kỷ 21.

Cuộc bùng nổ tin học vào cuối thập niên 1990 đã dẫn đưa thế giới vào một khúc ngoặt của văn minh. Internet phát xuất từ HK nhưng nhờ vào điều kiện điện thoại và du lịch máy bay đương đại, kỹ nghệ com mau chóng lan tràn khắp thế giới. Internet được gọi là nối mạng thế giới, xa lộ thông tin, thư viện khổng lồ, thế giới trong bàn tay..

Chú Thích

70. “Vạn Đò Còn Đó Nỗi Đau.” Báo Lao Động. 03.12.1999.

http://www.fpt.vn/InfoStore/7F180055/1999/12/38477B14.htm

71. “Làng, Nguồn Cội Của Chúng Ta”, Nguyên Thị Tần. VOV. News.30.7.1999)http://www.fpt.vn/InfoStore/4D03002F/1999/07/37A22979.htm.

72. Hữu Ngọc chủ biên. Từ Điển VH Cổ Truyền VN.. Nhà Xuất Bản Thế Giới. HN 1995. Trang 368-369.

73. “Làng Việt Là Gì? Đặc Biệt Của Làng Việt Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ?” Theo VOV. News, không có tên tác giả. By enews. ttvn.@ sg.fpt.vn.30.10.1999

74. “The attachment to family becomes nepotism. The importance of personal relationships rather than formal legality becomes cronyism. Consensus becomes wheel-greasing and corrupt politics. Conservatism and respect for authority become rigidity and an inability to innovate. Much-vaunted educational achievements become rote-learning and a refusal to question those in authority.” Asian Values Revisited. What Would Confucius Says Nows? Singapore, The Economist 7.25.1998. Http:// http://www.economist.com/ editorial/ /freeforall/19980725/as5207.html

75. Tự Điển VN, Tự Điển điện tử, Lạc Việt, 1996

76. Nguyên Quyết Thắng, Nguyên Bá Th. Tự Điển Nhân Vật Lịch Sử VN. Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội. SG. 1992. Trang 676.

77. “Nguyên Trường Tộ, Người Đi Trước Thời Đại.” 

http://www.nhandan.org.vn/vietnamese/danhnhan/dn039.html.

9-  VH Vọng Ngoại 

Buổi chiều thu quyến rũ HN. Trời mát dìu dịu. Người HN tại chỗ vừa ăn cơm vừa bật đài truyền coi như người Cali. Trời đất! Cả ba đài vô tuyến của thủ đô đang phát ba chương trình phục vụ VH Anh. Hai đài truyền hình quốc gia là VTV1 và VTV2 đang phát hình chương trình chiếu phim dạy trẻ nít học tiếng Anh: Phim được chiếu là phim rất nổi tiếng của các nhi đồng Mỹ: Alice in Wonderful Land. Phim chiếu nguyên con tiếng Anh. Một cô giáo xinh xắn đọc lại từng câu tiếng Anh rồi dịch từng câu ấy sang tiếng Việt . Trong khi màn ảnh thì cứ phát đi phát lại giải thích cho các em nhỏ VN cùng học tiếng Mỹ.

Đài truyền hình quốc gia VTV3 thì đang chiếu bộ phim dài 39 tập của Canada: Emily. Với cái tựa dịch ra tiếng Việt rất bóng bẩy: Emily và Trang Trại Trăng Non (Emily of New Moon, tiểu thuyết L.M. Montgomery, đạo diễn Geogre Bloomfield).

Đài Truyền hình thứ tư, gọi là Đài HN: Hát và đọc thơ Tiếng Anh. Đài này còn kỹ hơn là in ra từng chữ từng câu từng giòng nhạc. Giải thích từng từ khó của tiếng Anh sang tiếng Việt. Có mấy cô gái VN mặc đầm tử tế đứng nhún qua nhún lại vu vơ. Hát đi hát lại từng câu. Và cũng như đài VTV2, mặt hình phát đi phát lại từng giòng nhạc, từng giòng lời tiếng Anh. Rồi mời gọi khán giả hát cùng hát theo.

Tôi mở tờ báo Tuổi Trẻ ra xem thử đài truyền hình thứ năm tức đài truyền hình SG đang chiếu gì: thưa là đang chiếu phim hoạt hoạ Sherlock Homes’s Adventures, Cuộc phiêu lưu của Sherlock Homes (tập 25).

Tôi không thể hiểu nổi! Chính chế độ này đang cấm cản internet triệt để. Lúc tôi đang viết những giòng chữ này thì một bản tin trên báo Người Việt mà tôi đọc được tại http://nguoi-viet.com là chính quyền HN đang tính lập ra hệ thống Intranet để chọi lại hệ thống Internet. Vào internet thì mới đi ngao du ta bà thế giới trong bàn tay. Vào internet thì chỉ để thông tin với nhóm, với đồng nghiệp, với những người trong cơ quan.

Nếu chính quyền CS tha thiết với chuyện học tiếng Anh như vậy thì cứ mở toang internet dân VN tha hồ vào internet học tiếng Anh. Vì vào thời điểm tôi đang viết đây thì internet là đất sinh sổi nẩy nở của tiếng Anh. Muốn học cỡ nào cũng có. Muốn viết, có vô số trang nhà của các trường, các nhóm, các cá nhân dạy viết. Muốn nghe, có vô số trang quảng cáo bán băng Anh Văn nghe. Còn có những nhóm hội thoại hằng ngày thì chỉ bảo nhau từng câu cho đến kê tủ đứng nhau về tiếng Anh/Anh, tiếng Anh/Mỹ, tiếng Anh/Úc, tiếng Anh/Singapore. Cứ mở cửa internet là chuyện này dân có thể tự lo tự liệu được.

Gì chứ ba cái chuyện học, tức là đằng vào, tức input, dân VN cừ và bảnh lắm. Không thấy di tích VH cổ VN có đến bao nhiêu tỉnh lập đền thờ các danh nhân khoa bảng đấy sao. Có nước nào có nhiều Văn Miếu thờ mấy ông tiến sĩ học giỏi như VN không nhẩy. Nào là Văn Miếu HN ghi tên 82 ông tiến sĩ xưa, Văn Miếu Xích Đằng Hưng Yên, Văn Miếu Bắc Ninh.. Mỗi đền như vậy là thờ mấy chục ông VN đậu bằng này bằng nọ giỏi nhất thiên hạ. Đền thờ những ông thần “đầu vào” (học) thì nhiều mà không thấy làng nào lập bảng phong thần thờ những ông thần “đầu ra” (hành). Không thấy làng nào lập đền khoe làng ta có bao nhiêu khoa học gia, bao nhiêu sáng chế gia, bao nhiêu sáng tác gia lừng lẫy thay đổi văn minh VH nhân dân ta hay nhân lọai ta.

Dân VN ham học và ham bằng cấp đến độ trong các món đồ chơi cổ truyền cho con nít vào dịp tết Nhi Đồng Trung Thu, có các thứ như đồ chơi đất, tò he, đèn kéo quân, phỗng, người ta thấy có món đồ chơi bằng giấy rất đẹp gọi là tiến sĩ giấy. Nghĩa là tinh thần sính học, sính bằng cấp đã được tơ tưởng ngay từ tấm bé cơ.

Vì vậy nhà nước mà lo cho dân Việt chỉ cần bắc những cây cầu cho tốt, cho chắc, cho hiệu quả, thì dân Việt có thể tự tầm sư học hành ngay.

Còn ba đài truyền hình châu báu vàng ngọc cục cưng quốc gia thiếu gì chuyện đại sự để làm. Bộ hết chuyện làm rồi sao tất cả mọi đài truyền hình quốc gia lựa giờ cao điểm nhất để dạy dân “nhà nhà cùng học Tiếng Anh”

Cũng chính chính quyền CS này, mấy chục năm trước, luôn tuyên truyền dụ dân Miền Bắc đi vào Nam chiến đấu với khẩu hiệu: “Đánh Cho Mỹ Cút Ngụy Nhào.” 30 năm cũng chính mấy chính quyền này đồng loạt bắt dân xem và học những bài học tiếng Anh bằng những phim ảnh do Holly-wood đạo diễn.

Tiếng Anh của phim Emily và Trang Trại Trăng Non là thứ tiếng Anh gì đi nữa, khả năng của quốc gia ” đâu mà không thể nghĩ ra được một chương trình nào phục vụ một đất nước đang có con số 30% – 40% cần “xóa đói giảm nghèo”, “trẻ em suy dinh dưỡng”, “đói gay gắt”.. Mà lại dùng khối óc, sáng kiến, thời giờ, tài lực, chính sách, của cả một quốc gia vào việc sao chép lại những cuốn phim cũ mèm do lái buôn phim giải trí hạng bét của ngoại quốc sản xuất, chiếu lên cho cả nước xem.

Việc học Tiếng Anh hay tiếng ngoại quốc nào khác, tự nó không bao giờ là một việc nhảm nhí cả. Nếu không muốn nói đó là một việc tự nhiên của thời đại đang có nhiều người của nhiều quốc gia trên thế giới hiện ráo riết theo học nó.

Tuy nhiên cái bối cảnh vọng ngoại của tất cả những đài vô tuyến của chính phủ HN đang làm là một điều lố bịch khôi hài đến tội nghiệp.

Một nước còn nghèo đói lạc hậu như VN hiện nay, có biết bao nhiều điều để nhà nước có thể dùng giờ hiếm qúy của đài vô tuyến quốc gia để phục vụ dân hơn là dạy ngoại ngữ. Chính quyền này vẫn còn đang inh ỏi trên các chương trình khác là nước ta có đến 80% dân số vẫn còn sống bằng nghề nông. Báo chí thì đang sốt vó vì nền kinh tế “giảm phát” hay còn gọi là “thiểu phát”. Nghĩa là giá tiêu dùng giảm vì người dân không kiếm ra tiền để tiêu. Bên cạnh một tin là năm nay VN thâu được mùa lúa. Gạo sản xuất dư không biết đem đi đâu bán nên nông dân la làng là không đủ tiền đóng tiền học cho con em. Rồi kế là tin các ngân hàng dư tiền, muốn cho dân vay làm ăn mà dân không ai dám vay. Thật là những tin to tin lớn đáng cho cả nước xúm lại với nhau để tháo gỡ những bế tắc kinh khủng này.

Thay vì ngồi đó mà xem phim Doremon (tập 6), Nữ Bá Tước ĐMôngxôrô (tập 13+14), phim Nhật Agri (tập 8), phim Il Ji Mae (tập 5), phim Trung Quốc Tiểu Long Nhân (tập 34, 35, 36), phim Trung Quốc Võ Tắc Thiên (tập 1, 2, 3), phim Trung Quốc Tam Quốc Diễn Nghĩa (tập 23), phim Trung Quốc Tiểu Thần Tiên, Tiểu Tiên Nữ (tập 13) phim Pháp Navarro, phim Hàn Quốc Thành Thật Với Tình Yêu (tập 37, 38), phim Trung Quốc Đi Sang Âu Châu (tập 21, 22), phim Mỹ Giải Thưởng Âm Nhạc Video MTV Hollywood 1999

Nếu như ở San Jose, California, chỗ tôi thường trú mấy chục năm nay, có mười đài truyền hình chọn giờ cao điểm để dạy dân Cali học tiếng Trung Hoa và nếu như có mười cái đài vô tuyến khác ở San Jose có phát hình mấy chục 113 cuốn phim Trung Quốc, 69 phim Hàn Quốc, 30 phim Mexicô thì kệ tiá người ta. Chuyện ở Mỹ tư nhân kinh doanh ai muốn làm gì thì làm. Vả lại nếu có mười đài tha thiết với chuyện phổ biến VH nước ngoài cho người tiêu thụ thì cũng tốt thôi. Vì cũng còn vài chục đài khác làm chuyện khác để phục vụ quần chúng. Nói tóm lại ở San Jose con số đài truyền hình đủ màu đủ kiểu và do tư nhân quản lý. Do tư nhân tự do phát. Do tư nhân tự do cạnh tranh. Ai muốn làm gì thì làm.

Năm 2000 ở VN vô tuyến truyền hình là tài sản quốc gia hiếm hoi qúy báu hơn vàng bạc kim cương. Vô tuyến truyền hình là phương tiện truyền thông đại chúng độc quyền của nhà nước. Vô tuyến truyền hình là trí tuệ sáng tạo của cả quốc gia. Vô tuyền truyền hình là chọn lựa tinh hoa của đất nước.

Nên nhớ là không có một đài vô tuyến truyền hình nào do tư nhân quản lý ở VN vào lúc này. Tất cả các đài vô tuyến đều nằm dưới quyền chỉ huy và lãnh đạo của bộ Văn Hoá và ĐCS .

Thủ đô HN chỉ có bốn đài. VTV1, VTV2, VTV3 là 3 đài quốc gia. Ngoài ra còn có một đài gọi là đài Vô Tuyến HN. Chỉ có VTV1 là phát hình 24/24. Còn ba đài kia chỉ phát thanh vào những giờ cao điểm, sáng, trưa, chiều và tối.

Nhiều tỉnh lớn trong nước chỉ phát hình được một hai đài mà không phải 24/24. Các tỉnh nhỏ thường không có truyền hình 24/24 mà chỉ phát hình vài giờ trong một ngày vào các giờ cao điểm, 6-7 giờ sáng, 11-2 giờ trưa, và 6-11 giờ đêm.

Sau đây là chương trình truyền hình được dịch ra bằng Tiếng Anh trên một tờ báo Tiếng Anh gọi là VN News. The National English Language Daily:

VTV1

  06:30: Film: The Maiden Wave (part 1)

  17:20: Film: The romance of the Three Kingdoms (China Part 22)

  18:20 English Bulletin (tin tức phục vụ khối khán giả nói tiếng Anh)

  21:15 Film: Agri (Japan-part 12)

  22:25 Music

  23:30 French News (tin tức phục vụ khán giả khối nói Tiếng Pháp)

  VTV2

  10:25 Japanese Lesson

  12:30 Wildlife World

  14:00 Scientific Film

  22:15 Wildlife World

Những chương trình trên đài truyền hình VN thời 5% này (khả năng mua bán của người dân), phần lớn là các chương trình “ăn cắp” của ngoại quốc. Ngoài những chương trình phim bộ mấy chục tập do các hãng phim ngoại quốc xuất bản, những chương trình chiếu thường trực trên đài còn là những cuốn phim bóng đá từ các chương trình CNN của Mỹ. Những chương trình khoa học của PPS Mỹ, những chương trình du lịch vòng quanh thế giới của các hãng truyền hình Mỹ, Pháp.

Ngồi theo dõi những chương trình chiếu trên đài vô tuyến, tôi đếm thấy 2/3 các chương trình chiếu cho dân Việt xem là do các hãng truyền hình hay các hãng phim ngoại quốc thực hiện. Dù có được phép chiếu hay không được phép chiếu thì cả mấy đài vô tuyến Quốc Gia HN đã chứng tỏ sự đi “vay mượn sáng tạo” của các chương trình truyền hình do các tư nhân ngoại quốc, nói theo ngôn ngữ lịch sự.

Còn nói theo ngôn ngữ không lịch sự, thì đúng là “ăn cắp sáng tạo”.  “Ăn cắp” chính thức hay không chính thức thì cũng là “ăn cắp”. Làm thì không làm. Sáng tạo thì không sáng tạo. Chờ ai làm sẵn rồi mượn xài đỡ.

Hiện tượng chỉ chiếu rặt những tin tức và chương trình do các hãng thông tấn ngoại quốc làm sẵn. Cũng như hiện tượng phát những bản tin bằng tiếng ngoại quốc để phục vụ một nhóm người ngoại quốc nhỏ đang đến sinh sống trên đất nước VN. Là những hiện tượng chứng tỏ những người quản lý cơ quan thông tin VH VN đã phải nhờ vả vào những thế lực bên ngoài để nuôi nấng món ăn tinh thần cho những khán giả vô tuyến VN.

Sự vọng ngoại qúa độ này của các chương trình ti vi hiện nay đã làm cho nhiều người la hoảng: “Vải vóc Trung Quốc, đường Thái Lan, thịt bò, trứng gà Trung Quốc vào VN qua con đường nhập lậu thì bị la lối, đòi có biện pháp ngăn chận để bảo vệ hàng nội địa; vậy sao phim ngoại như một dòng thác lũ .. mỗi ngày một công nhiên tràn lan màn ảnh ti vi xứ mình thì lại được cho qua“. (83)

Cả nước với hơn 70 triệu dân. Đài truyền hình quốc gia có thể phục vụ biết bao nhiêu chương trình cho dân. Hà cớ gì lại dùng đài quốc gia đi phục vụ những ngoại kiều nói tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tàu. Những ngoại kiều này muốn biết tin tức thì học tiếng Việt để xem tin tức. Vì họ đến xứ VN mà.

Nói vậy chứ các người ngoại quốc này không thiếu tin đâu. Họ có tiền mua báo, thuê Cable TV, vào Internet, mua radio,… Họ không cần đến dịch vụ này của nhà nước VN.

Nhưng chắc chắn là mấy chục triệu dân VN “xoá đói giảm nghèo” rất cần đến nguồn thông tin mở mang dân trí, các buổi hội luận xây dựng cộng đồng, giải toả áp lực cá nhân, các bài học giáo dục phổ thông giá trị, các bài bản giải trí gần gũi xoáy vào đời sống chung quanh họ.

Trong Tuần Báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật, tác giả Mạnh Kim có một bài viết phê bình về Internet dù báo Tuổi Trẻ, tờ báo có số lượng tiêu thụ khá lớn hiện nay, vẫn chưa được nhà nước cho phát hành trên internet.

Tác giả Mạnh Kim đã nhìn vào những gì internet “đã” đạt được để phê bình rằng: “Internet đã đem lại ý tưởng rằng thế giới không biên giới đang hình thành và xoá mờ hàng rào cách biệt giữa các thành phần xã hội. Trong thực tế, khoảng cách định dạng bởi sự toàn cầu hoá bằng công cụ Internet đang ngày càng dãn rộng ra…

“Khái niệm về “nền dân chủ trực tuyến” do phó tổng thống Mỹ Al Gore đưa ra chỉ tồn tại trong.. khái niệm. Hiện tại có hơn 80% dân số thế giới chưa từng biết tiếng reo điện thoại nghe như thế nào, chứ đừng nói “lướt trên web“…

Rồi tác giả “nước nghèo” này dạy dỗ cho “nước giàu” rằng:

Muốn thay đổi điều này, một trong những giải pháp hữu hiệu – từng được nói tới nói lui trong vài năm qua – là nước giàu nên san sẻ cho nước nghèo bằng những hành động cụ thể, từ việc tuyên truyền về tiện ích của công cụ truyền thông cho đến hổ trợ phương tiện kỹ thuật cũng như tài chính…” (84)

Trong con mắt quan sát của tôi, khi tác giả “nước nghèo” Mạnh Kim bàn “giải pháp hữu hiệu cụ thể” trong việc “tuyên truyền về tiện ích của công cụ truyền thông” có nghĩa là “cho chúng tôi ít tiền” chúng tôi sẽ quảng cáo dùm tiện ích của internet cho.

Tôi kết luận như vậy là vì trong những chuyến viễn du từ Lạng Sơn về đến Tây Ninh, tôi thấy khắp mọi ngả đường đất nước VN nở rộ hai loại bảng quảng cáo: Quảng Cáo phòng ngừa bệnh liệt kháng HIV và quảng cáo Đảng của ông HCM.

Các bảng quảng cáo “Đảng” và “Bác” thì còn hiểu được là cần phải to và đẹp, nhưng lần đầu tiên nhìn thấy các bảng chống bệnh HIV vĩ đại khắp các quốc lộ, vào tận nông thôn làng xã VN thì tôi cứ thắc mắc: Quái. VN thiếu gì bệnh tật khác còn nặng hơn, như bị ngộ độc, suy dinh dưỡng, sốt xuất huyết, bệnh tâm thần, bệnh viêm gan, bệnh ghẻ da, sao không được tấm bảng nào. Mà sao đi đâu cũng thấy bảng cảnh cáo HIV là bệnh của dân ăn chơi, bệnh của dân chích choác, bệnh của dân đồng tính..

Sau này tôi mới biết: À thì ra nhờ tiền của các tổ chức nhân đạo quốc tế như tổ chức CARE giúp phòng ngừa chống bệnh Aid phân phát cho chút ít tiền giáo dục nên các ông CS mang ra làm các tấm quảng cáo mầu sắc tô điểm thêm cho đẹp các ngả đường đất nước ấy mà.

Sau này tôi để ý, hễ có cơ quan quốc tế nào tặng cho VN chút tiền để giáo dục dân chúng về chiến dịch nào, thì lập tức một thời gian sau trên các ngả đường đất nước hay trong các chương trình vô tuyến có những tấm bảng quảng cáo to và đẹp nhất. Được đặt vào những vị thế chễm chệ nhất.

Sống ở Mỹ mấy chục năm tôi rất ít khi nghe các đài các báo Mỹ nhắc đến các cơ quan của Liên Hiệp Quốc. Ấy vậy mà về VN, báo chí, truyền hình VN thành khẩn loan tin hội Liên Hiệp Quốc nào vừa đến và vừa họp trong ngày qua tại HN và SG. Nghe và đọc nhiều lần qúa làm tôi phải chú ý. Dân VN không giỏi tiếng Anh nhưng hằng ngày nghe những cái tên tắt như: UNESCO (Tổ Chức Khoa Học, Giáo Dục, Và VH), WWFN (World Wide Fund for Nature), FAO (Tổ Chức Lương Nông), UNDP (United Nations Development Program), IMF (International Monetary Fund), WB (WB) WTO (World Trade Organization), WHO (Tổ Chức Ý Tế Thế Giới), WWF (World Wide Fund For Nature), ILO (International Labour Orgarniation) UEFA (Liên đoàn bóng đá quốc tế), IISS (The International Institute for Strategic Studies), UNICEF (Quỹ Cựu Trợ Trẻ Em Quốc Tế, Children Fund).

Cứ nghe ra rả các cơ quan ngoại quốc trên đây qua truyền hình, truyền thanh, và báo chí VN riết rồi quen thuộc cũng như nghe đến các tên tắt của ĐCS VN đã bám trụ mấy chục năm nay vào hệ tai và mắt dân VN: UBND (UBND), HĐND (Hội Đồng Nhân Dân), MTTQ (Mặt Trận Tổ Quốc), CA (CA), LĐLĐ (Liên Đoàn Lao Động)…

Ví dụ nhờ vào quỹ SIDA của (chính phủ) Thụy Điển, Quỹ FAO, Quỹ UNFPA (UN Population Fund) của Liên Hiệp Quốc cấp cho được ít tiền, (85) thì là nhà nước mới có tiền cấp cho các đài truyền hình địa phương mở ra những chương trình thi đua trả lời các buổi học tập do Ủy Ban Dân Số và Kế Hoạch Hóa Gia Đình . Các chương trình như Sức Khoẻ và Sinh Sản mới được đài truyền hình VTV1, VTV2, VTV3 lập ra.

Ví dụ nhờ có tài trợ của hai tổ chức quốc tế CARE (Cooperative for Assistance and Relief Everywhere) và NOVIB (Netherlands Organisation for International Development Co-operation) mà Trung Tâm Tư Vấn mới phối hợp với Đài truyền hình TP. HCM thực hiện chương trình truyền hình “Chống Bạo Hành Với Phụ Nữ” trên HTV9. (86) Vậy là từ trước tới nay phụ nữ VN bị đánh đập, bị ăn hiếp, bị hãm hiếp tại gia coi như chưa bao giờ được ai tại VN chăm sóc. Nay nhờ các cơ quan quốc tế dư tiền phát cho chút “phân” (fund) nên những vấn đề của phụ nữ VN mới được mang ra ánh sáng truyền hình.

Nhờ có tiền của UNFPA cho, dân VN mới được xem những bài học về ngừa thai. Nhờ tiền của các chương trình giáo dục về hiểm hoạ HIV do quỹ Quốc Tế CARE cấp, dân VN mới biết về bao bọc cao su ngừa thai và phòng chống HIV.

Thử hỏi còn những hiểm họa như nạn bạo hành trong gia đình, hiện tượng nghiện bia rượu nhậu nhẹt bỏ bê gia đình, đi đôi với nạn ghiền đĩ điếm bia ôm của cánh đàn ông VN hiện nay;  thì vì không có cơ quan quốc tế nào cho tiền,  nên nhà nước VN không có chương trình nào hướng dẫn đàn ông VN trên đài truyền hình cả sao.

Có những điều không ổn trong hành trình tư duy của tác giả Mạnh Kim ” trong đoạn trên. Cái nhìn của tác giả Mạnh Kim là cái nhìn của một đầu óc chỉ biết “nhìn lui” mà không biết “nhìn tới.”

Internet mới xảy ra ” “nước giàu”. Ông phó tổng thống Mỹ Al Gore của “nước giàu” đã xài qua rồi mà còn biết nói là nó sẽ lan truyền “dân chủ trực tuyến” tùm lum cho mà xem. Ít ra ông phó tổng thống nước đế quốc này xài rồi và còn dự kiến chuyện tương lai của internet. Còn không biết tác giả Mạnh Kim của “nước nghèo” này xài internet được bao nhiêu mà lại kết luận chắc nịch là internet không phát triễn đâu.

Cái tư duy không ổn thứ hai của tác giả “nước nghèo” Mạnh Kim là yêu cầu các “nước giàu” phải giúp các “nước nghèo” phát triển chuyện phát triển internet này.

Không biết tác giả Mạnh Kim suy tư trên căn bản nào để tuyên bố là các “nước giàu” phải giúp “nước nghèo” vậy?

Có lẽ tác giả Mạnh Kim không sống  ở “nước giàu” nên không biết chăng. Chứ người nước nào thì cũng vậy thôi. người nước nào thì cũng là con người cũng tính toán kỹ và làm việc hết sức mình mới kiếm ra tiền của. Tôi giàu tôi có tiền có bạc thì cũng do công sức lao động làm ăn của tôi chứ đâu phải của tự nhiên trên trờii rơi xuống. Nước tôi giàu nước tôi mạnh thì do dân tôi làm việc cực nhọc mới ra ngày nay. Sao các ông không chịu khó làm ăn tích lũy tài sản cho giàu có lên. Sao chính quyền các ông không quản lý nước cho giỏi để cho dân các ông giàu lên. Biết bao nhiêu kẻ “nhà nghèo”, nhờ làm ăn chăm chỉ, nên thành “nhà giàu”. Biết bao nhiêu quốc gia đã từng là “nước nghèo”. Rồi nhờ lãnh tụ giỏi giang làm việc có hiệu quả, nhờ dân chúng sáng suốt chịu làm ăn và chịu tích lũy. Sau họ thành “nước giàu”.

Có cái trách nhiệm gì mà biểu tụi “nước giàu” móc đồng tiền làm bằng mồ hôi nước mắt, bằng thuế của chúng nó đóng, ra nuôi lại các ông vì các ông là “nước nghèo”. Nước ông nghèo là chuyện của các ông. Trách nhiệm nào lạ lùng vậy. Bổn phận này ” đâu ra thế nhỉ. Tại sao lại cái quy luật là một “người giàu” làm ăn cật lực lao động tối đa kiếm tiền chết bỏ, nên đi giúp một “người nghèo” không làm ăn, không chính sách, không lao động, không sáng chế, chỉ ngồi không, mong người khác giúp đỡ!

Từ 1975 cho đến nay, chính quyền VN không đẻ ra được một chính sách nào đỡ giúp dân VN thăng tiến nhanh lẹ cùng thế giới. 25 năm không phải là một thời gian ngắn. Nếu có một chính sách hữu hiệu, chắc chắn hiệu quả sẽ đạt được năng suất cao. Tiếc thay những người đàn ông lãnh đạo VN đã tỏ ra bất tài trong việc lãnh đạo quốc gia này.

1989, khi đế quốc CS Âu Châu sụp đổ, nhà nước CS VN đã cho áp dụng chính sách Một Cửa. Nghĩa là họ cho dân chúng buôn bán cởi mở hơn. Chỉ một thoáng 10 năm sau ngày một cửa, kết qủa là thành phố HN vào 1985 xe gắn máy chỉ đếm trên đầu ngón tay, mà 1999 thì đường phố HN chật ních xe gắn máy.

Có thẻ nói sự phát đạt này không phải do chính quyền mang đến cho người dân. Mà do dân VN tự cứu lấy dân VN.

Cứ nhìn vào mười năm sau ngày đổi mới, 1989-1999, thì sẽ thấy những thành qủa về kinh tế tại VN là do mỗI gia đình dân Việt xoay xở và tự tạo ra. Họ tự xây sửa nhà cửa của họ cho làng xóm phố xá VN trông tiến bộ hơn. Họ tự kiếm tiền mua gạo thịt cho bữa cơm gia đình VN no đủ hơn. Họ tự mua sắm áo quần ăn mặc cho xinh đẹp gọn gàng hơn để sánh vai cùng thế giới

Trong khi đó cứ nhìn vào những trang tố tham nhũng, hối lộ, và sập tiệm của các công ty quốc doanh của nhà nước CS Hà Nôi năm 1999 mà xem. Ở HN vào tháng 12, 1999, mỗi ngày tôi mua trên mười tờ báo, thì ít nhất là có chín tờ kể tội một cơ quan chính quyền này hay một công ty quốc doanh nọ đang làm ăn thua lỗ, hoặc đang bị truy tố về tội cướp lận của công làm của riêng.

Gần hai năm nay toà án ” SG đang truy tố một vụ án gọi là vụ Minh Phụng. Vụ này xử hai công ty quốc doanh Minh Phụng và Epco đã cấu kết vớI hệ thống CA SG và HN lấy mất bao nhiêu là tiền của nhà nước. Điểm đáng chú ý của vụ này là món tiền những đảng viên CS lạm dụng quyền thế để vơ vét cho mình đến hơn 280 triệu usd. Đây là một món tiền qúa khổng lồ trong một xã hội mà người dân hiện có lợi tức trung bình hàng năm chỉ gần 400 usd.

Sự lạm dụng quyền thế và sự bất tài của chính quyền CS mới đưa đến thảm cảnh là trong suốt thời gian nước nhà nghèo đói mà họ không làm gì cả. Họ chỉ biết một cửa để cho người dân VN tự cứu lấy đất nước VN trong suốt thi gian qua.

Cho nên khi các cơ quan tài chánh quốc tế cúp tài trợ vào 1997, nền kinh tế VN đã bị chững lại. Bởi vì khi các cơ quan tài chánh quốc tế này làm một màn kiểm điểm lại các thành quả mà các cơ quan chính phủ VN đã thu hoạch được trong suốt 10 năm 1989-1999 thì họ đã thấy sự thất bại to lớn. Các cơ quan như Ngân Hàng Thế Giới (WB) Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) đã đình chỉ mọi chương trình viện trợ lý do VN không làm đúng như lời cam kết là sẽ đẩy mạnh các chương trình tư nhân hóa, cắt giảm các xí nghiệp quốc doanh thua lỗ, sử đổi cơ cấu tài chánh và ngân hàng để tạo điều kiện phát triển kinh tế. Nếu không mọi ngân khoản viện trợ đều trở thành vô nghĩa vì chỉ được dùng vào việc trợ cấp kéo dài đời sống thừa thãi, vô ích của các xí nghiệp quốc doanh. Các món tiền được các cơ quan quốc tế viện trợ cho VN trong suốt mười năm qua đã bay vèo đi cả, mà thành quả kinh tế thì không có những báo cáo thăng tiến. Và vì vậy các chương trình tài trợ của các cơ quan quốc tế cho VN đã bị đình hoãn.

Người dân VN bấy lâu nay sống nhờ chính vào nguồn tài trợ của các thân nhân ” hải ngoại”.

Tôi ra HN thì nghe khoe là nhà đó sống sướng vì có bà con thân nhân ” bên Tiệp bên Ba Lan gửi tiền về giúp. Về SG thì nghe là ” SG cứ ba gia đình thì có một gia đình “Mỹ”. Nên ở SG ai cũng mua được một chiếc xe gắn máy trị giá khỏang 2000 cho đến 5000 usd hiện nay.

Chứ như lương của một giáo sư đại học vào 1999 chỉ tương đương khỏang 80 usd một tháng. Lương nhân công tiệm giày Nike tại SG chỉ khỏang 50 usd một tháng. Với mức lương thu nhập hàng tháng thế này tiền đâu mà người dân HN và người dân SG để dành nổi mà sắm xe gắn máy.

Đã có rất nhiều người Việt Hải Ngoại than phiền là họ phải giúp gia đình họ hàng bà con còn ” VN không biết bao nhiêu cho đủ. Thấy người trong nước đói khổ không giúp thì không đành lòng. Mà giúp hoài thì cũng mệt mỏi. người trong nước không được ra khỏi nước nên cứ tưởng hễ ai đi Mỹ là có tiền nhiều nên cứ gửi thư xin tiền. Xin tiền cho con học may. Xin tiền để sửa nhà dột. Xin tiền mua thuốc. Xin tiền xây mộ cha mẹ. Toàn là những thứ xin xỏ mà người nghe có chút lòng trắc ẩn hoặc cảm thấy có bổn phận không thể quay lơ đi được. Sự trông chờ bà con thân nhân ” ngoại quốc gửi tiền về giúp đã xảy ra 25 năm nay, kể từ ngày ĐCS thu tóm đất nước.

Một sự nhờ vả “hướng ngoại” kiểu này phản ảnh tinh thần mong chờ ” những luồng ngoại thay đổi xảy đến cho đời sống của mình. Còn chính cả nước VN từ chính phủ cho đến nhân dân thì không đặt câu hỏi là tại sao tự mình không giải quyết nổi những vấn đề của mình trong một phần tư thế kỷ đã trôi qua.

ISO 9001. Cái mác dán lên sau gáy hàng hóa trở thành như một lá bùa mà Hệ Thống Quản Trị Chất Lượng Quốc Tế ban cho. Về VN tôi dở tờ báo hàng ngày ra và kinh ngạc thấy nguyên trang báo chia vui rực rỡ cho những công ty nào vừa đạt được cái nhãn ISO 9001. Sự vọng ngoại thiệt là tội nghiệp. Hàng được ngoại quốc phát cho một sự chấp thuận thì bèn ăn mừng. Chớ tại sao không tự mình sản xuất hàng thật, hàng tốt, đạt tiêu chuẩn từ bắt đầu đi.  Ở Mỹ tôi thấy tất cả mọi hàng sản xuất tại đây đều tự động có cái tít điện tử ISO 9001 này bao lâu nay. Và chả bao giờ tôi thấy ai ăn mừng vì được cái nhãn này cả.

Một thí dụ VH hướng ngoại khác, phản ánh trong vấn đề tìm địa chỉ nhà của người VN.

Người VN hình như không bao giờ dùng bản đồ để tìm địa chỉ khi đi đến một thành phố lạ. Người SG ra HN, người HN vào SG, chỉ nghĩ đến chuyện hỏi thăm người khác để người ta chỉ đường cho.

Một nền VH hướng nội sẽ tìm cách tự mình đi tìm lấy, tìm cách in bản đồ chỉ đường để tự khách du lịch tìm lấy. Một nền VH hướng ngoại sẽ giải quyết bằng cách: đến dó hỏi thăm người địa phương, không in bản đồ và để du khách nương nhờ vào lòng tử tế của kẻ lạ.

Cái tư duy “vọng ra ngoài”, là luôn luôn tìm cách kêu cứu từ bên ngoài. Mà không nhìn lại chính mình, hoặc thay đổi từ chính mình. Có phải là một nét VH VN chăng?

Trong những sinh hoạt VH của xã hội này có nhiều dấu vết ngưỡng mộ ngoại nhân lên trên trang thờ. “Văn Miếu Quốc Tử Giám Nơi Lưu Giữ Sức Sống VH Ngàn Năm Sau” thờ mấy ông Trung Quốc như các ông Chu Công, ông Khổng Tử, ông Nhan Tử, ông Tăng Tử, ông Tử Tư, ông Mạnh Tử, và 72 học trò của ông Khổng Tử.” (87)

Trung tâm thủ đô HN thờ ông thần Lenin ” ngay công viên.

Đạo phật thì thờ ông Thích Ca người -Ấn Độ.

Đạo công giáo thì thờ ông Jesus người Do Thái.

VH vọng ngoại ảnh hưởng trên việc uốn nắn những đứa trẻ.

Nó khởi đi từ một nền VH đào tạo những đứa bé VN rất tùy thuộc vào những điều kiện và những cá nhân bên ngoài.

Môi trường học đường ” VN cũng rất có tính cách áp chế. Môi trường học đường ” VN bắt đứa bé “trả bài” nhiều hơn là khuyến khích sáng tạo và thực hành. Môi trường học đường ” VN có những môn đức dục công dân, uốn nắn đứa trẻ “nghe theo” lời ai dạy, hơn là tạo môi trường cho đứa bé rèn luyện sự phát triển độc lập tư duy và độc lập hành xử trong đời sống. Lấy ví dụ trong chương trình học ” VN, không bao giờ có môn suy luận và phán đoán (critical thinking) để giúp trẻ em trau dồi khả năng ứng xử một mình trước những hoàn cảnh nan giải.

Nền giáo dục VN đã tạo ra những học sinh, những cá nhân quen nhận lệnh và luật từ tha nhân bên ngoài. Sự thiếu khuyến khích phát triển con người cá nhân đã khiến xã hội này tạo ra những con người chỉ quen chờ đợi những áp đảo từ xã hội và tha nhân xảy đến cho mình. Thay vì tự khích động mình tìm kiếm một thái độ ứng xử và giải quyết những hoàn cảnh đang xảy đến.

Sau đây là chương trình học về Đạo Đức của các em học sinh lớp năm được giảng dạy dưới chế độ CS trong suốt một niên học. (88) :

  Bài 1: Thật thà trong học tập và lao động

  Bài 2: Giúp đỡ nhau trong học tập và lao động

  Baì 3: Kính mến và biết ơn thầy giáo, cô gíao cũ

  Bài 4: Biết chia xẻ buồn vui cùng bạn

  Bài 5: Làm vui lòng ông bà, cha mẹ

  Bài 6: Kính trọng người già cả

  Bài 7: Yêu thương nâng đỡ em nhỏ

  Bài 8: An ủi, giúp đỡ những người không may

   Bài 9: Giúp đỡ các chú CA làm nhiệm vụ  

   Bài 10: Đoàn kết với các dân tộc anh em

  Bài 11: Đoàn kết với các thiếu nhi quốc tế

   Bài 12: Lịch sự với khách nước ngoài

  Bài 13: Biết ơn các thương binh liệt sĩ

   Bài 14: Kính trọng các danh nhân

   Bài 15: Nhớ ơn bác Hồ

Cứ nhìn 15 đức tính được dùng làm tiêu chuẩn rèn luyện một đứa bé VN trên đây thì đã thấy tất cả mọi đức tính được dạy cho các em đều là những đức tính phục vụ tha nhân. Không có một đức tính nào gọi là đức tính phục vụ bản thân của chính các em.

Bản chất của những đức tính trên đều tốt. Điều tôi muốn nêu lên đây là chỉ trong một mục lục nhỏ của một môn giáo dục, nền VH này đã phản ảnh sự chú trọng đến việc phục vụ tha nhân trước khi phục vụ bản thân. Sự hướng ngoại này đã dẫn đưa đến tư duy hướng ngoại của các cá nhân này khi họ trưởng thành.

Bàn về việc giáo dục trẻ em VN, một cốt lõi khác của việc răn dạy của cha mẹ lên con cái đã tiềm tàng trong câu nói: “Không thầy đố mầy làm nên”. Một sự “dựa lưng” ép buộc kiểu này sẽ là thứ xương sống tạo nên tâm lý, học cái gì thì học, làm cái gì thì làm, phải có thầy, phải nhờ người khác, mới mong đạt được hiệu quả tối đa. Sự nhờ vả vào “thế lực bên ngoài” đã được cấy vào trong đầu các cá nhân từ thuở nhỏ.

Dĩ nhiên là “có thầy” là chuyện đương nhiên. Ở đời phần lớn ai cũng cần tầm sư học nghề hay học đạo. Nhưng ép o là phải có thầy thì mới làm nên việc thì có phần dìm chìm sự tự quyết, khả năng, và ý chí của cá nhân qúa. Có thầy mới làm được là chuyện thường tình. Nhưng không thầy mà làm được thì mới là tài năng vượt đời thường. Đáng lẽ phải khuyến khích ngợi ca mô thức khai phá này. Hoặc phải để cạnh mô thức “có thầy” kia. Đằng này đã không khuyến khích cá nhân tìm tòi, khám phá, tự bươn chải, tự làm lấy; mà nền VH này lại còn đánh phủ đầu bằng một ý tưởng hằn học, thiếu khích lệ “đố mầy làm nên“.

Tất cả những “thế lực bên ngoài”, gia đình, xã hội, quốc gia, mà nền VH VN dạy dỗ trẻ con phục vụ đều là tốt. Chỉ có một điều là nền VH này đã không để ý gì đến chính cá nhân đó.

VH VN có khuynh hướng bỏ lơ sự chăm sóc của chính mỗi cá nhân. Một đứa trẻ VN lớn lên trong nền VH này được học hỏi những điều răn làm sao để sống với người khác, để phục vụ người khác. Trong khi chính chúng thì không học hỏi được những lời dạy bảo về những kỷ năng để giúp cho mỗi cá nhân có được một số vốn giải quyết và hướng dẫn cho con người của chính mình.

Trong nền VH này những giá trị về làm vừa lòng tha nhân như thương người, giúp đỡ người khác, hiếu thảo với cha mẹ, trung thành với tổ quốc, tình nghĩa với vợ chồng,… được đánh giá cao. Nhưng những giá trị phát triển cá nhân như tự tin, tự quyết, tự trọng, tự kỷ luật, tự phục vụ, tự bảo vệ mình… thì gần như không được nhắc đến.

Hậu quả của một nền giáo dục như vậy thì sẽ tạo ra những con người luôn luôn ngưỡng vọng ra một thế giới xã hội bên ngoài để tìm kiếm một sự chỉ đạo. Tâm tư hướng ngoại đã bị điêu khắc từ thuở bé sẽ trở thành một giá trị hướng đạo thiết yếu trên đời sống tâm lý của các cá nhân này khi họ trưởng thành.

Trong gia đình, đứa trẻ VN không bao giờ được một phòng riêng. Những đứa trẻ này lớn lên trong một hoàn cảnh phải tuỳ thuộc vào khoảng không gian co giãn của người lớn.

Đứa bé không có một phòng riêng, sẽ mất đi nhiều cơ hội để rèn luyện sự đối phó và tổ chức đời sống của nó một cách độc lập.

Thiếu một phòng riêng trong gia đình để trẻ có thể học tập sự tổ chức một mình. Cọng với sự không tạo cơ hội thể dục khả năng ứng xử một mình trong suốt 20 năm đầu của đứa trẻ VN đã khiến cho các trẻ em VN không học hỏi được năng khiếu tự lập, tự quyết. Điều này khiến cho những đứa trẻ này lớn lên thành những công dân vẫn hay trông chờ những sự bảo bọc, che chở, giải quyết, từ những lực bên ngoài như một thói quen đã học tập từ môi trường gia đình VN.

Gia đình VN rất ít khuyến khích con cái phát triển cá tính độc lập. Con cái thường sống hoàn toàn tuỳ thuộc vào bố mẹ. Cha mẹ VN chăm lo cho các con rất tận tụy. Chính vì sự hy sinh lớn lao của những cha mẹ VN mà những người con VN trở thành một thứ “con người xã hội” khập khiễng.

Gia đình đóng vai trò quan trọng nhất trong tiến trình trưởng thành hóa đứa bé VN. Thứ nhất, gia đình vốn dĩ là một trung tâm quan trọng uốn nắn những cá nhân thành người ” bất cứ trong nền VH nào trên thế giới. Thứ hai, gia đình là một trung tâm giáo dục mạnh nhất ” VN. Tại VN, vai trò làm con là vai trò quan trọng nhất của một cá nhân và nó bám lấy các cá nhân trong xã hội này cho đến suốt đi.

Người VN sống với cha mẹ nhiều và lâu nhất. Con cái sống với cha mẹ cho đến khi tốt nghiệp đại học là chuyện thường. Khi lập gia đình rồi con cái vẫn còn sống chung với gia đình. Cả đến lúc họ có con cái, họ vẫn sống chung với gia đình. Ba thế hệ sống chung trong một nhà là chuyện thông thường xảy ra tại VN.

Điều này nói lên vai trò cha mẹ rất ảnh hưởng trên con cái VN.

Cha mẹ VN áp đảo con cái qúa độ. Lúc con cái nhỏ, cha mẹ VN dùng quyền cha mẹ để bắt đứa bé phải vâng lời tối đa. Đứa con VN không bao giờ được đặt câu hỏi mà được dạy cho rằng hễ người lớn nói gì thì phải “thưa vâng, gọi dạ”. Lối giáo dục này không tạo cho đứa bé một tinh thần suy nghĩ độc lập. Điều này có thể gây nguy hại cho đứa bé lúc trưởng thành cũng sẽ không tự mình phát triển được một thói quen suy nghĩ và hành xử một cách độc lập.

Khi những đứa nhỏ VN lớn lên thì lại bị một cái vòng nguyệt quế “chữ hiếu” đánh phủ đầu. Vì chữ hiếu nên các bậc con cái tuy đã trưởng thành nhưng lại cũng phải theo hầu hạ những yêu cầu hay nhu cầu của cha mẹ. Gặp phải cha mẹ hiểu biết thì không đến nỗi nào, gặp phải cha mẹ không hiểu biết, cứ dùng cái uy quyền cha mẹ mà tước đoạt hoặc xâm lấn vào các mối giao tiếp xã hội như lập gia đình, công việc làm ăn, của con cái. Thì có phải là có thể tạo nên một xã hội VN gồm nhiều “thằng nhỏ VN” hơn là những người lớn VN không?

Hiện tượng “thằng nhỏ VN” chính là hiện tượng những người lớn VN thiếu tự tin, hướng ngoại, dễ thù giận yêu ghét như một đứa con nít. Đây là một thứ gia tài VH phát sinh ra bởi những người cha mẹ áp đảo đứa bé qúa mức như xã hội VN. Cái gia tài này đào tạo lên những người đàn ông VN dù đã trưởng thành những vẫn tìm kiếm những nguồn năng lực từ bên ngoài để hướng vào đấy như những nguồn sống hướng dẫn tất cả mọi chuyện xảy ra trong đi họ.

Tiểu thuyết gia James Webb là một người lính Mỹ đã từng tham chiến tại VN, sau này làm lên đến chức Bộ Trưởng Hải Quân Mỹ, nhân ngày kỷ niệm 25 năm CS chiếm Miền Nam VN, đã có một nhận xét sau đây về con người VN hướng ngoại. Sự hướng ngoại thể hiện ngay cả trong việc đổ lỗi lên những yếu tố bên ngoài trong bất kỳ một sự việc nào :

VN sẽ không bao giờ trưởng thành như một quốc gia nếu nhà cầm quyền cứ dấn mình vào các cuộc đổ tội. Một phần tư thế kỷ qua, chính phủ CS VN tiếp tục đổ tội thiếu tiến bộ kinh tế, (đổ tội) bọn phá hoại hải ngoại, và (đổ tội) hậu qủa chiến tranh. …. Chính phủ CS VN có thể lý luận rằng họ hồi phục chậm là vì Mỹ cấm vận, nhưng vật cản trở lớn nhất rõ ràng là từ bên trong. Sau khi cấm vận nhấc lên 6 năm trước, nhiều hãng quốc tế đổ xô vào VN. Hầu hết chẳng bao lâu phải bỏ chạy, kinh hoảng vì tham nhũng, hành chính thư lại, và các luật hợp đồng không áp dụng..

Nhà cầm quyền VN là ai. Là những người đàn ông VN “còi” không bao giờ có thể trưởng thành. Họ là những “thằng nhỏ VN” đã bị các ông bố các bà mẹ VN tước đọat những quyền lợi của trẻ thơ và áp đặt qúa nhiều quyền cha mẹ lên trên con cái từ lúc còn tấm bé. Nên khi lớn lên, họ sinh họat theo thói quen là nhìn vào những “lực sống” từ bên ngoài để nương tựa và nhận mệnh lệnh . Ngay cả việc đổ tội, họ cũng hướng ngoại để đổ tội. Họ không biết phải phân tích cái tôi tội lỗi từ bên trong mình như thế nào. Họ không biết phải bắt đầu từ phần lý do nội tại đâu và phải thay đổi cái lỗi nội tại bằng cách nào. Vì họ đã chẳng bao giờ được cha mẹ và nền giáo dục xứ sở họ chuẩn bị cho họ một nền móng vững chắc về con người nội tại của họ.

Những “thằng nhỏ VN” không trưởng thành này là một trong những lý do làm cho đất nước này trì trệ mãi từ trăm nghìn năm nay chăng ? Vì chính những “thằng nhỏ VN” là những người đàn ông độc quyền giai cấp cai trị VN từ sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng từ đó đến nay .

Nhìn vào những sự kiện trên đây chúng ta thấy sự “dựa lưng” của con người VN vào những “thế lực ngoại” khá rõ.

Những sự kiện trên cho chúng ta thấy cách giải quyết vấn đề của người VN là “dùng” và “nhờ” những “lực ngoại”. Mà không tỏ ra có những giải pháp “nội lực” nào đưa đến những hiệu qủa đáng khích lệ.

Đây chính là điểm mấu chốt mà “nước nghèo” VN phải tìm ra những cách tháo gỡ.

Mọi giải quyết phải là tự giải quyết lấy những vấn đề nội tại. Nước nghèo thì tại sao nghèo. Giải quyết như thế nào từ trong ngôi nhà của mình. Giải quyết như thế nào từ ngay trong vị thế của mình. Giải quyết bằng một sự nhìn vào chính mình và can đảm nhìn nhận những khuyết điểm và yếu kém của mình để tự sửa chửa lấy.

Một sự tự cứu nguy bằng những kiểm điểm và thay đổi những yếu tố nội tại sẽ thiết lập được một sự cường thịnh tự lực bền vững hơn là mong chờ những thế lực bên ngoài thay đổi giùm mình.

Chú Thích:

83. “Cơn Lũ Phim Ngoại Trên Màn Ảnh Nhỏ”, Tô Hoàng, Văn Nghệ Quân Đội, Số 46, ra ngày 5.11.1999

84. Tuổi Trẻ Chủ Nhật, Cơ Quan của Đoàn Thanh Niên Cộïng Sản HCM, Thành Phố HCM. Số 43-99 (829) Năm thứ 17. Từ ngày 31-10 đến 6-11-1999.

 85. “Qũy Tình Thương Cho Phụ Nữ Nghèo”, Vũ Châu Giang, HN Mới, số 11077, năm 42, 7-12-1999, trang 3.

86. Báo Tuổi Trẻ, số 144/99, 9-12-1999, trang 5.

87. Anh Chi, Báo HN Ngày Nay, số 66, tháng 10, 1999. Trang 8.

88. Đỗ Quang Lưu , Nguyên Ngọc Nhị. Bài Tập Đạo Đức, Lớp Năm, Bộ Gíao Dục Và Đào Tạo, Nhà Xuất Bản Giáo Dục, tái bản lần thứ chín, 1998. Trang 28.

10-  Niềm Tin Là Những Đống Rác

Tôi vẫn nghĩ trong số các nền VH trở thành lãnh đạo thế giới, nhất định những nền VH này phải mang theo được hai tính: tính sạch sẽ vật chất và tính tổ chức quy mô về tinh thần.

Sạch sẽ vật chất và tổ chức quy mô về tinh thần là những tính có sức lôi cuốn, dễ thuyết phục, và dễ gây cho người khác ý muốn bắt chước theo.

Bất cứ một hệ thống tinh thần nào có tổ chức quy củ mạch lạc cũng đều dễ truyền bá. Ở đây tôi chỉ nói đến tính chất dễ bắt chước. Không nói về giá trị tốt đẹp đúng sai hay dở của những hệ thống ấy.

Sạch sẽ vật chất luôn luôn là một yếu tố lôi cuốn mà con người ít đặt để cho nó một giá trị xứng đáng.

Muốn biết mối quan hệ giữa một chính quyền với dân chúng của họ tốt đẹp hay xấu dở như thế nào, hãy quan sát những nơi chứa rác công cộng.

Một mối quan hệ vừa lòng giữa người dân với chính quyền địa phương, những thùng rác công cộng thường sạch sẽ gọn gàng.

Một mối quan hệ thù nghịch giữa chính quyền và người dân địa phương, những con đường sẽ biến thành những thùng rác thô bỉ.

Trường hợp thứ hai trên đây chính là trường hợp đang xảy ra tại VN thời CS.

Người VN có thể rất sạch sẽ trong nhà. Phần lớn người VN đều để guốc dép ngoài cửa trước khi họ bước vào nhà. Sàn nhà của họ thường được lau chùi hằng ngày để bụi bẩn không đọng lại. Nhiều sàn nhà lát gạch men hay lát xi măng còn được dùng làm giường ngủ ban đêm vào mùa nóng, vì khí hậu VN rất oi bức vào mùa này. Nói chung, người VN dù nghèo khổ hay giàu sang, họ cũng đều giữ gìn ngôi nhà của họ rất sạch sẽ. Thành ngữ VN còn có câu “Đói cho sạch. Rách cho thơm.”

Trong khi đó đường sá và các nơi công cộng tại VN hiện nay đúng là những đống rác khổng lồ.

Người dân VN có khuynh hướng quét rác, hất rác, đổ rác ra ngoài đường.

Các chỗ công cộng này ít khi được người dân VN tự ý gìn giữ sạch sẽ.

Mặc cho bao nhiêu chiến dịch. Mặc cho bao nhiêu bảng hiệu “Cấm đổ rác” được treo lên ở những nơi công cộng này. Mặc cho bao nhiêu thùng rác đặt sẵn. Những ngả đường VN đúng là một trong những ngả đường dơ bẩn nhất thế giới.

Tại sao người Việt giữ nhà sạch mà lại không giữ đường sạch.

Là vì nhà nước không làm tròn trách nhiệm. Không đủ nhân lực, không đủ ngân sách để giữ gìn đường sá sạch sẽ cho người dân.

Cũng có thể là một sự “trả thù” của dân chúng. Vì không được chăm lo đầy đủ nên người dân trút hờn oán bực tức bằng cách đổ rác ra đường. Là vì sự không yêu trọng gì ông nhà nước cho lắm nên người dân mới đổ tống đổ tháo rác ra đường như để trả thù.

Nhà nước VN đã có bao nhiêu chiến dịch kêu gọi dạy dỗ người dân VN hãy làm đẹp làm sạch thành phố. Nhưng có vẻ như nhà nước VN chưa bao giờ thành công.

Sự sạch sẽ công cộng tuy là điều tầm thường nhưng nó tùy thuộc rất cao vào sự hợp tác của người dân.

Các chính phủ dù chi ra bao nhiêu tiền để nhặt rác, hay phạt bao nhiêu tiền khi thấy dân xả rác; vẫn không thể giữ nơi công cộng sạch sẽ được nếu không có sự tình nguyện giữ gìn công cộng sạch sẽ từ phía người dân.

Thành phố San Jose, Cali, HK vào 1993 bắt đầu thi hành chính sách yêu cầu người dân tự động phân rác rồi mang ra để trước nhà vào những ngày thành phố đi thu gom rác. Mỗi gia đình có bốn thùng rác. Một thùng cho giấy báo. Một thùng cho đủ loại giấy. Một thùng cho đồ thủy tinh hoặc đồ nhựa. Và một thùng lớn nhất cho tất cả mọi loại phế thải khác.

Kế hoạch này của thành phố nhằm mục tiêu tái chế đồ phế dụng.

Lúc mới bắt đầu thi hành, đã có nhiều người nghi ngờ là kế hoạch này rất khó thi hành vì người dân phải tham dự nhiều quá. Có người cho rằng dân chúng vốn không đủ tinh thần công cộng đến độ khi cầm một mảnh rác thì phải phân chúng ra đến từng thùng rác khác nhau. Tâm lý người dân thường lười biếng. Rác thì vất vào một chỗ được rồi. Việc gì mà phải phân chia đến chỗ này chỗ nọ về một bao rác.

Thế nhưng thành phố San Jose đã thành công. Cư dân San Jose hoan hỉ cộng tác. Những ngày giao rác ra trước nhà cho sở rác đi thu gom, người ta thấy người dân San Jose khiêng hai ba thùng rác khác nhau để ra trước nhà. Rác giấy báo nằm riêng một thùng. Rác bao bì nhựa nằm riêng một thùng. Và mọi thứ rác còn lại đi vào một thùng khác.

Sự thành công của chính quyền thành phố San Jose đối với vấn đề rác ở đây đáng là một bài học cho nhiều chính quyền học hỏi. Nhưng căn bản là có một mối tin tưởng tốt giữa chính quyền thành phố San Jose và những cư dân của thành phố này.

Khi thiết lập sự thu hồi rác này, ắt hẳn chính quyền thành phố phải tin rằng dân chúng sẽ thi hành chính sách này. Lúc khởi đầu, thành phố San Jose biếu miễn phí cho mỗi nhà ba thùng rác vừa đẹp vừa mới. Nếu dân chúng không chịu phân chia rác vào các thùng có dán nhãn hiệu này thì cũng đủ là một sự nhức nhối cho chính quyền vào những ngày đi thu rác.

Về phía người dân, nếu họ không muốn phân rác đến từng thùng khác nhau thì cũng chả sao. Người dân San Jose chắc chắn phải tin tưởng rằng đây là một chính sách tốt đẹp do nhà nước đề xướng ra vì lợi ích của nhân dân thật, nên họ mới chịu khó thay đổi cái thói quen vất tất cả mọi thứ rác vào một thùng. Mà mỗi khi cầm một tờ báo hoặc một bao nhựa, họ phải đi đến các thùng rác khác nhau để bỏ chúng vào.

Sự tin tưởng lẫn nhau giữa chính quyền và dân cư phải cao lắm, thành phố San Jose mới thành công được việc áp dụng chế độ tái biến rác cho hơn một triệu dân tạp chủng đa VH đa nguồn gốc này.

Trong khi ở VN có mỗi chuyện rác mà nhà nước cũng không giải quyết nổi. Đi trên những ngả đường thủ đô HN, và những đại lộ SG, rác rến dơ bẩn đầy đường phố.

Nước VN hiện nay là một đống rác khổng lồ. Nếu chỉ nhìn vào bản mặt những nơi công cộng ở VN, người ta có cảm tưởng người dân VN là một trong những giống dân ở dơ nhất thế giới. Đi đâu cũng thấy rác:  “Đường phố của ta vốn không đảm bảo vệ sinh. Nào phân bò, chuột chết, trẻ em đi “cầu” và nghìn thứ rác, cứ đổ xuống đường. Mưa thì nhão nhoét. Nắng, mọi thứ ấy khô đi, bốc thành bụi. Bụi theo những bước chân quét dép ấy mà tung lên. Ấy vậy mà lắm hàng quà, miếng chín, vẫn cứ chềnh ềnh ngay trong thứ bụi kinh người ấy, lại được hỗ trợ của bàn chân đi bộ, vào hùa..làm gì mà chẳng lắm người sưng phổi.” (90)

Ở HN có hai tiệm ăn khá nổi tiếng của thủ đô CHXHCN, đó là tiệm Phở trên đường Lý Quốc Sư và tiệm bún mọc ở ngõ Bảo Khánh. Cả hai tiệm bàn ghế dơ bẩn, rác ngập bàn chân. Thiên hạ vắt chanh vào bát phở của mình xong vứt xoẹt vỏ chanh xuống đất. Cô cậu tình nhân mặc áo quần mô đen nhất lấy giấy lau đũa cho nhau xong, vứt tất cả giấy ăn xuống sàn nhà. Quán bún mọc ở ngõ Bảo khánh khách đông có hôm phải tất tả chờ mới kiếm được bàn. Khách đông nên sàn tiệm là một đống giấy rác trắng bẩn không thể tưởng tượng nổi.

Vấn đề vứt rác nơi công cộng không những chỉ là một biểu lộ sự bất tín nhiệm giữa người dân và chính quyền. Mà nó còn phản ảnh một thái độ của cá nhân với tha nhân ở cộng đồng mà cá nhân đó sinh sống.

Người dân VN không kính trọng nhau hoặc oán hận lẫn nhau nên không giữ những nơi công cộng sạch sẽ. Nếu họ yêu thương hoặc tôn trọng lẫn nhau, chắc hẳn họ cũng muốn giữ những nơi công cộng sạch sẽ như họ vẫn giữ gìn trong mái ấm gia đình mình.

Một trong những gia sản tồi tệ của những nền chính trị yếu kém là sự thiếu tin tưởng, thiếu hợp tác giữa chính quyền và dân chúng.

Tiền Phong, một tờ báo xuất bản từ HN của Cơ Quan TW của Đoàn TNCS đã phải nói huỵch toẹc ra là ĐCS đang cần sự hợp tác của dân.

Trên trang nhất của một bài xã luận nhân Kỳ Họp Thứ 6 QH Khóa 10 của tác giả Quốc Dũng phân tích hiện tượng nghiện hút của thành phần “con ông cháu cha ” khu dân cư có 50% là đại biểu QH, có một ông phó thủ tướng cư ngụ. Theo lời tác giả Quốc Dũng thì ở khu “đại biểu ” này chỉ còn vài gia đình là không có người nghiện hút. Rồi ông ta kêu lên:  “Lực lượng CA ở địa phương, CA khu vực, có lẽ chưa bao giờ hùng hậu như bây giờ. Nhưng dù tăng đi nữa cũng khó mà xử lý được tệ nạn này nếu dân không tham gia. Tôi xin nói thật như vậy. Có cách gì đấy để phát động toàn dân ngăn chặn chứ còn để các cháu hư hỏng rồi mới sửa thì gần như chẳng làm gì được… Chưa biết là cách sao nhưng dứt khoát phải mời dân tham dự”. (91)

Mối quan hệ giữa chính quyền và người dân VN rất thấp.

Vào cuối 1999, để chữa bệnh hàng lậu đầy chợ đầy phố, nhà nước ra chính sách dán tem lên các mặt hàng. Được ít lâu sau, nhà nước than: Các mặt hàng vẫn bị “xoay tem”, bày hàng tem nhưng bán hàng không dán tem:  “Hàng nghìn tiệm băng, đĩa tại TP HCM đều thực hiện hình thức: trên giá tủ bày băng đĩa gốc, góc nhà trong các thùng các-tông chất đầy đĩa sao chép. Tình hình này không có gì mới hơn so với trước kia, chỉ có điều kỹ thuật và quy mô sao chép đã được nâng lên một mức. Thay vì chép nguyên đĩa gốc, hình thức chọn bài tuyển trở nên cực kỳ phổ biến. Hiện đã có nhiều chương trình tự biên tập theo kết quả công bố Làn sóng xanh hằng tháng, thậm chí hằng tuần để phục vụ người nghe với giá trên 20.000 đồng. Huỳnh Tiết (hãng Bến Thành) vừa trở về sau chuyến khảo sát thị trường phía bắc, phải kêu lên: Chợ Tri phố Yên Bái (HN) không có lấy một cái đĩa thật nào. Hiện nay bìa đĩa lậu không còn in kéo lụa như trước mà đã được in offset với số lượng lớn. Chúng tôi không tài nào cạnh tranh nổi với đĩa lậu!

 “Con tem đã không có tác dụng kiểm soát, nhiều nhà sản xuất thất vọng cho rằng các cơ quan quản lý VH đã bất lực và đành buông xuôi trước tình trạng này. Thực ra, đợt tổng thanh tra truy quét của Sở VH – Thông tin TP HCM cuối năm 1999 đã bắt giữ hàng trăm nghìn tang vật, đợt thanh tra đang tiến hành tuy mục tiêu chính nhằm lập lại trật tự trên lĩnh vực dịch vụ VH song cũng bắt giữ không ít băng, đĩa lậu. Tuy nhiên, hình thức thanh tra và xử lý theo kiểu “bắt cóc bỏ đĩa” vẫn duy trì lâu nay, không tỏ ra có hiệu quả so với tốc độ và trình độ phát triển của hàng lậu. Tiện nay, trong thành phố xuất hiện khá nhiều máy gia công đĩa CD tại gia (tốc độ khoảng 20 đĩa/giờ), thậm chí một vài đơn vị sản xuất băng, đĩa cũng nhập loại máy gia công này, càng làm tăng thêm sự phức tạp nguồn hàng lậu. Nếu không có sự thay đổi trong hình thức kim soát thị trường (ví như phạt thật nặng người bán hàng lậu và nguồn cung cấp, hiện nay chúng ta mới nghiêng về bắt giữ tang vật), nạn băng, đĩa lậu chắc chắn sẽ còn là câu chuyện dài lâu của các nhà sản xuất và các nhà quản lý.” (92)

Ông nhà nước CS này thật ngớ ngẩn. Làm sao mà mà đặt niềm tin vào vào con buôn. Con buôn nào mà chẳng tìm cách kiếm lời. Chỉ có người tiêu dùng mới giúp ông được. Chỉ có người dân họ đi mua và tìm những hàng có dán tem mới mua thì may ra giải pháp dán tem mới đạt được hiệu quả.

Rất tiếc là người tiêu dùng VN chả bao giờ được bảo vệ. Tiếng nói của họ không có nơi để phô diễn. Họ cũng chả bao giờ tin nổi những thông tin trên các báo nhà nước chính xác phải quấy ra sao. Cái lỗ hổng niềm tin giữa dân và nhà nước VN to quá.

Sự thiết lập một niềm tôn kính lẫn nhau mới thực sự là nền móng để cho xã hội có thể theo đuổi những chính sách cộng đồng. Một chính sách do chính quyền đề xướng hoặc do dân chúng khởi động, nếu muốn thành công, phải được chính dân chúng bảo với nhau và cùng thực hành với nhau một cách tương kính và khích lệ lẫn nhau. Sự hòa hợp và tương kính lẫn nhau trong một cộng đồng là dưỡng chất cần thiết để xã hội đó tạo lập được trật tự.

Thiết lập được niềm tin giữa nhân dân và những đơn vị công quyền là điều tối ư quan trọng để vận chuyển nền kinh tế vĩ mô.

Khủng hoảng niềm tin đối với chính quyền và đối với tha nhân, là một gia sản tinh thần mà người VN chuốc lấy do kết quả của một xứ sở trầm mình trong chiến tranh quá lâu. Một điều thể hiện sự khủng hoảng này là những con dấu của các cơ quan công cộng ở VN thường thiếu mức độ khả tín.

Một mặt người dân VN làm gì cũng cần một sự chứng nhận của một con dấu từ một cơ quan công cộng. Mặt khác, những con dấu hay những giấy chứng nhận ấy không phản ánh đúng giá trị của nó. Khi phải xin giấy tờ hoặc khi phải sử dụng con dấu vừa mới được xin xong, người ta phải hối lộ thêm hay phải quen biết để đạt được mục tiêu của mình chứ không thể dùng giấy chứng nhận có con dấu như là một bảo đảm. Những người ngoại quốc đến VN nhận xét rằng không có xứ sở nào mà lại “đóng dấu cho có lệ” như ở VN.

Tác giả Howard Fineman trong một bài viết trên tạp chí Newsweek vào tháng 4 năm 2000 đưa ra nhận xét cái di sản VH đóng dấu cho có lệ này là vì “Họ (người Việt) có ít nhất là ba di sản: Khổng Tử bên Tàu, Người Pháp thời thực dân, và người Nga trong thời kỳ “Chiến Tranh Chống Mỹ”. Tôi đã từng ở nhiều nơi trên thế giới qua nhiều nước có chế độ đảng trị, từ nước Nga Sô cũ và các nước Đông Âu cho đến Trung Quốc, và tôi có thể nói rằng người Việt dẫn đầu thế giới về việc đóng dấu cao su cho đúng hình thức.” (93)

Niềm tin của người dân VN bị khủng hoảng trầm trọng đến độ hàng hóa sản xuất tại VN mà các nhà kinh doanh cứ phải dán cái nhãn hiệu Made in China, Made in USA để bán cho dân VN.

Hiện nay trên báo chí và các nhà kinh doanh tại VN nhắc đến nền kinh tế toàn cầu hóa và nhìn vào các doanh vụ trên internet như là một cái đích để mơ rằng VN có thể bắt kịp với đà tiến hóa của nhân loại. Sau 25 năm hòa bình trì trệ đã bỏ lỡ nhiều thời cơ.

Thế nhưng người VN hình như không biết hay không để ý đến một đơn vị căn bản nhất của nền kinh tế internet hay toàn cầu hóa mà cả thế giới đang nói đến: đó là thẻ tín dụng.

Tôi thấy hiện nay người VN trong nước không ai có quyển sổ chi phiếu cá nhân. Và thẻ tín dụng để mua bán lại càng là một thứ hoang đồ không tưởng.

Như vậy thì làm sao mà bàn đến kinh doanh qua net.

HK là quốc gia phát triển kinh tế dựa vào niềm tin. Nền kinh tế HK dựa chính yếu vào niềm tin giữa người và người, giữa các văn phòng với các văn phòng, giữa các văn bản với các văn bản. Thẻ tín dụng, chi phiếu là đơn vị chính của nền kinh tế HK chứ không phải là những đồng usd tiền mặt. Sống ở Mỹ tôi thường chỉ cần giữ trong nhà ít usd lẻ để cần chi lặt vặt. Còn thì tất cả mọi sinh hoạt từ đổ xăng, đến đi chợ, đi ăn, đi chơi, tôi đều dùng thẻ tín dụng hoặc chi phiếu. Tôi không cần biết người tôi đang mua bán có tin được hay không mà chỉ cần biết họ có dùng cùng loại thẻ tín dụng như tôi hay không. Tôi không có tiền nhiều trong nhà băng, nhưng vì lâu nay tôi thanh toán nợ tốt. Thế là tôi có thể mượn được nhiều thẻ tín dụng để xài trước rồi trả tiền sau. Uy tín của tôi gia tăng vì người ta tin tôi là người trả nợ tốt.

Sự thành công của nền kinh tế HK đang lan rộng khắp nơi trên thế giới qua hệ thống bán hàng bằng thẻ tín dụng trên net.

Thẻ tín dụng là một miếng nhựa có những con số mà người ta có thể dùng nó để đi mua hàng khắp nơi trên thế giới. Thẻ được một cơ quan tài chánh bảo đảm. Người sở hữu thẻ tín dụng chỉ việc cầm thẻ đi mua và sau đó về trả tiền cho nơi cấp phát thẻ cho mình.

Giống như cái tên “tín dụng” của nó, thẻ dựa hoàn toàn vào sự tin tưởng giữa người sử dụng, cơ quan cấp phát, và cơ sở thương mại chấp nhận thẻ.

Sở dĩ tại VN dân chúng không ai biết thẻ tín dụng và check book là gì vì giữa dân và các cơ quan không có một sự tin tưởng lẫn nhau.

Tại VN người ta đã không tin vào các cơ quan công cộng nên người dân đã phải tổ chức ra những nhóm chơi hụi để giúp nhau mượn tiền, thay vì mượn tiền của nhà nước. Nhưng hụi hè không được bảo đảm bởi những văn bản pháp luật, cho nên các màn giật hụi rất phổ thông. Niềm tin vào những món hụi là niềm tin mơ hồ, phó thác vào một sự không tiên liệu được của lòng người.

Một gia sản chiến tranh lâu đời đã khiến cho người VN mất tất cả mọi niềm tin. Con người không thể tin nhau, vì ngày nay sống ngày mai chết, thế hệ này giàu thế hệ kế tiếp nghèo, ban ngày là bạn Quốc Gia ban đêm có thể là thù CS..

Niềm tin là phó sản của một sự vững chắc. Xã hội VN với nét VH phá hoại của chiến tranh nên niềm tin trong tâm hồn và trong xã hội VN nó ở cuối đáy của cái bồ giá trị.

Cho nên để bắt kịp với đà tiến hóa kinh tế của nhân loại, người Việt trước hết có lẽ cần phải bắt kịp một hệ thống niềm tin trong xã hội của mình. Cần thiết lập được một niềm tin trong xã hội của chính họ. Cần lập lại một sự tin cậy lẫn nhau trước. Sau đó mới đi rao bán món hàng niềm tin này được với người ngoài. Niềm tin có vững thì hương hoa kinh tế của nó mới đơm bông kết trái.

Làm sao để xóa bỏ thành kiến “Người Việt ít xem trọng chữ tín” (94) là một thách thức của người Việt trong sinh hoạt kinh tế toàn cầu hóa, nơi mà chữ tín được xem như là một nền móng vững chắc cần thiết để phát triển lâu đài kinh tế của mọi đơn vị xã hội.

Chú Thích:

90. Băng Sơn. Những Nẻo Đường HN. Xuân Thu. California, HK. 1999. Trang 23.

91. Quốc Dũng, Thấy Gì Trong Các Báo Cáo Về Công Tác Xét Xử, Tiền Phong Chủ Nhật, số 23 (49) 1999, ra ngày 5, 12, 1999

92. “Mưa lũ” trên thị trường băng, đĩa nhạc. Nỗi lo có thật.. Phương Nam, Báo Lao Động. http://www.hcm.fpt.vn/infostore/Am-nhac/2000/10/39F6364A.htm

93. “They have a triple inheritance: Confucian, from China; French, during the colonial period: Russian from the days of what the locals call “The American War”. I’ve been in my share of state-run countries, from the old Soviet Union and the old Eastern bloc to China, and I can tell you: Vietnamese lead the world in rubber stamping. Vietnam’s Economy Is Misleading. Howard Fineman. Newsweek . http://www.msnbc.com/news/401564.asp 30.4.2000

94. Nhược Điểm Của Dân Ta Là Gì.

“Trung tâm Nghiên cứu tâm lý dân tộc tại TPHCM đã tổ chức buổi tọa đàm về “Tâm lý người VN nhìn từ nhiều góc độ”. Tại buổi tọa đàm này, bên cạnh việc tiếp tục khẳng định những ưu điểm, bản sắc tốt đẹp của dân tộc như dũng cảm, bất khuất, thông minh, cần cù, hiếu học, hiếu khách, trọng “nhân – nghĩa – lễ- trí – tín”.., những người tham dự cũng đã chỉ ra những cái dở của người Việt chúng ta như “tâm địa nông nổi, hay liều”, “tâm lý tiểu nông”; (thể hiện ở sự tính toán chật hẹp, thói ganh ghét, đố ky…); tính ưa nói khoác, ít xem trọng chữ tín, thích khoe khoang, hay “sĩ diện”, coi “miếng giữa làng hơn sàng xó bếp”; ý thức trách nhiệm không cao, nhất là tư tưởng cục bộ, địa phương chủ nghĩa v.v.. Tất cả những nhược điểm nói trên là “rào cản” đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà chúng ta đang tiến hành.

Dân tộc ta vốn có nhiều ưu điểm; nhờ những ưu điểm ấy, chúng ta mới tồn tại được đến nay. Nhưng những nhược điểm của dân ta cũng là điều có thật, mà nếu không thẳng thắn chỉ ra và tìm cách khắc phục, chúng ta khó lòng tiến nhanh, tiến mạnh, rút ngắn khoảng cách giữa nước ta với các nước tiên tiến trên thế giới.

Về ý thức cộng đồng, tôi nghĩ chúng ta còn kém người Hoa. Những cộng đồng người Hoa ở nước ngoài thường có tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau làm ăn sinh sống, không tranh mua, tranh bán, giành giật, chèn áp nhau như một số cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Về tính tổ chức kỷ luật, ý thức chấp hành luật pháp và những quy ước của xã hội, chúng ta còn kém người Nhật, người Hàn Quốc, người Singapore.

Nhưng điều kìm hãm sự phát triển của đất nước chính là thói ganh ghét, đố kỵ, chỉ sợ người khác hơn mình. Tôi từng nghe có người phát biểu, đại ý: nếu đem so một người Việt với một người Nhật thì người Việt thường giỏi hơn, thông minh hơn. Hai người Việt so với hai người Nhật thì được việc ngang nhau. Nhưng ba người Việt thì không bằng ba người Nhật, lý do: người Nhật hợp tác với nhau tốt hơn chúng ta. Lịch sử dân tộc ta cũng nhiều lần thể hiện điều này: Khi đất nước gặp hiểm họa ngoại xâm thì mọi người chung lưng đấu cật để chống kẻ thù chung; nhưng khi giặc bị đánh đuổi rồi thì nội bộ lại tranh nhau quyền lợi, địa vị, dẫn đến bè phái, mất đoàn kết, khiến thế nước bị suy yếu, không th vươn lên thành “rồng”.

Có thể thấy bài học này trong lịch sử về khởi nghĩa Tây Sơn: năm 1786, Nguyễn Huệ tán thành kế hoạch của Nguyễn Hữu Chỉnh, tự ý đem quân ra Bắc Hà “phù Lê diệt Trịnh” khi chưa được lệnh của ông anh Nguyễn Nhạc. Nguyễn Nhạc bèn tức tốc dẫn một toán quân ra Thăng Long triệu hồi Nguyễn Huệ về, vì sợ người em anh hùng của mình có ý đồ gì không tốt chăng? Năm sau (1787), Nguyễn Huệ. lại đem quân từ Phú Xuân (Huế) vào Quy Nhơn vây đánh Nguyễn Nhạc, đến nỗi Nguyễn Nhạc phải lên thành kêu khóc, Nguyễn Huệ mới rút quân về. Đến năm 1793 (sau khi Quang Trung mất), quân Nguyễn Ánh tấn công Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc phải cầu cứu con Quang Trung là Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản). Lợi dụng thời cơ, sau khi giúp đánh đuổi quân Nguyễn ánh, các tướng lĩnh Phú Xuân (Phạm Công Hưng, Nguyễn Văn Huấn, Lê Trung..) đã hiếp chế Nguyễn Nhạc, vét sạch của cải, kho tàng ở thành Quy Nhơn, khiến Nguyễn Nhạc uất lên mà chết. Vua Cảnh Thịnh bèn phong cho con của Nguyễn Nhạc là Nguyễn Bảo tước Hiếu Công, cho ăn lộc một huyện gọi là “Tiểu triều”, rồi cử Lê Trung và Nguyễn Văn Huấn ở lại giữ thành Quy Nhơn. Nguyễn Bảo ngầm bất mãn, sau đó (năm 1798) định theo hàng Nguyễn Ánh, nhưng bị Cảnh Thịnh cho người bắt giết đi. Các tướng lĩnh Tây Sơn cũng kết thành phe đảng, giết hại lẫn nhau, khiến thế lực Tây Sơn từ đó ngày càng suy yếu, cuối cùng mất vào tay Nguyễn Ánh.

Nhưng đó là chuyện xưa. Còn hiện nay có tình trạng – cũng khá phổ biến – là kèn cựa, tranh giành địa vi. ở không ít cơ quan, ban ngành. Cứ nhìn vào một số đơn vị có đông “thủ phóh, rất dễ nhận thấy: nếu thủ trưởng còn yên ổn tại vị, tình hình chưa đến nỗi phức tạp lắm. Nhưng khi thủ trưởng chuẩn bị nghỉ hưu chẳng hạn, sẽ diễn ra một “chiến dịch” cạnh tranh ráo riết giữa mấy ông phó, không loại trừ các thủ đoạn tung tin nói xấu, loại nhau để ngoi lên. Thà rằng cấp trên cử người khác đến làm trưởng, chứ các ông phó tại chỗ ít ông nào chịu ông nào.. Cách đây không lâu, tôi nghe râm ran truyền miệng câu: “Thấy giàu thì ghét, đói rét thì khinh, thông minh thì không sử dụng”, phải chăng cũng là một nhận xét thâm thúy và chua chát về tính cách của người Việt mình?

Tôi hoàn toàn không có ý phóng đại những nhược điểm của người VN – vì tôi cũng là một thành viên trong cộng đồng, mà qua bài viết này, tôi chỉ muốn nói lên một điều: Muốn làm nên sự nghiệp lớn, trước hết chúng ta phải tự hiểu mình, hiểu những ưu điểm và cả những nhược điểm của dân tộc mình để phát huy hoặc khắc phục. Không có một đất nước, một dân tộc nào chỉ có toàn ưu điểm và thuận lợi, do đó, nếu chỉ đề cao một chiều dân tộc mình là tự ru ngủ, tự lừa dối, từ đó khó có thể tránh khỏi sai lầm, vấp váp, cản trở bước đường đi lên. Từ ngàn xưa, Tôn Vũ – một nhà quân sự đại tài – đã nói: “Biết người, biết ta: trăm trận trăm thắng!” Câu nói ấy, theo tôi, là chân lý muôn thuở”. Phan Trọng Hiền, SGGP Thứ Bảy. Số 502, 30.9.2000.

11- Mù Lòa Sáng Tạo, Thui Chột Tự Tin. 

Xứ sở có CA đi vào sinh hoạt sáng tạo.

Đúng là một hiện tượng độc đáo dưới chế độ CS VN của thế kỷ 20.

Nói đến CA Cảnh Sát là mọi người dân VN ai cũng sợ và ớn. Với bộ đồ xanh lá cây hay vàng võ đồng phục, màu tượng trưng cho những người đàn ông khống chế tất cả mọi quyền hành trên người dân VN.

Quyền hành của giới CA trong xã hội hiện nay thể hiện một cách tuyệt đối đến độ các tờ báo được Cơ Quan CA phát hành là những tờ báo bán chạy nhất.

Tờ An Ninh Thủ Đô: Cơ Quan Của CA Thành Phố HN.

Tờ An Ninh Thế Giới: Tổng Cục XDLL. CA Nhân Dân.

Tờ VH-Văn Nghệ CA. Diễn Đàn Văn Nghệ Của Lực Lượng CA Nhân Dân.

Mở tờ VH – Văn nghệ CA Số 10-1999, Nội dung báo gồm những bài như sau: Cây bút vàng 99; Hy vọng và chờ đợi của Nhật Anh. Hình Ảnh Cao Đẹp Của Người Chiến Sĩ CA Phải Thực Sự Sống Động Trên Từng Trang Viết của nhà văn Hữu Ước. HN Năm Cửa Ô Xòe Mở Bình Yên. Tùy bút của Lê Huy Quang. 50 Năm Tiến Về HN của Nguyễn Thắng. Giấc Mơ Nào Không Ngắn, Truyện ngắn dự thi của Đinh Quang Ngọc. Trầm Mặc Hội An ghi chép của Nguyễn Thế Tường. Nhà Văn Tô Hoài và Bè Bạn, Đào Vũ. Yến Lan – Một Đời Thơ của Từ Quốc Hoài. Nhà văn Nguyễn Khải và “Cuộc Tìm Kiếm Mãi Mãi” của Trần Bảo Hưng. Phải Chăng VH Là Ngọn Nguồn Dân Tộc của Nguyễn Mạnh Hảo. Bàn Tròn Tháng Mười: Nhà Văn Thời Công Nghiệp: Bảo Quyên lược ghi về cuộc gặp gỡ của các tác giả nổi tiếng đương đại tại tạp chí VH- Văn Nghệ CA tại thành phố HCM.  Cuộc hẹn tháng mười này có nhà văn Nguyên Quang Sáng, Trần Hữu Lục, Nguyên Quốc Trung, Trương Nam Hương, Lê Thị Kim, Trầm Hương.. .. (95)

Trong cuộc bàn cãi những đề tài văn chương, các tác giả tranh cãi về đề tài sống và viết rất thẳng thắn và sát nút. “Phải lăn xả vào đời sống thời công nghiệp“. (96) Họ bàn luận rất thoải mái. Không tỏ vẻ gì là bị nhà nước kiểm soát sáng tác tại đây.

Sự khác thường là ở đấy.

Ở bất cứ xứ sở nào, tôi cũng thường nghe người dân nhìn vào lực lượng cảnh sát và CA với một con mắt ít thiện cảm. Đa số dân chúng ở bất cứ xứ sở nào cũng đều nhìn vào thành phần CA cảnh sát như những thành phần cứng ngắc, luật lệ, xa cách, khuôn mặt vô cảm, chỉ biết phục vụ chính quyền, thiếu thông cảm cho người dân.. Ở một phương diện nào đó, lúc người dân nói “bộ muốn làm cảnh sát CA ở đây hả” thì có một hàm ý là không ai thích sự mất tự do trong bầu khí đó. Mạnh dạn hơn nữa, khi người dân nói “cái xứ VN vẫn còn là xứ CA trị” thì có nghĩa là xứ VN đang không có tự do.

Do vậy điều gì gắn liền với CA và cảnh sát thì thường không thể nào mang tính trung thực, sáng tạo, tự do.

Nhà văn nhà thơ gần như là kẻ kỵ nhất với CA cảnh sát.

Lý do là nghe đến CA cảnh sát là đã mất hứng để sáng tác.

Nghe đến CA là thấy hết nghệ thuật.

Nghe đến CA là hết thấy cảm tình hồn nhiên.

Nghe đến CA là thấy mất tự do.

Thế nhưng ở đây tôi đang nhìn thấy một hiện tượng bất thường của xã hội VN dưới chế độ CS. Đó là hiện tượng CA cảnh sát ra báo. Và báo của họ lại bán rất chạy.

Báo chí ở các nước tự do dân chủ thường được gọi là “Đệ Tứ Quyền” (The Fourth Estate) trong tổ chức xã hội. Thực ra đây là tên gán cho sinh hoạt báo chí chứ không phải là một định chế hay chức năng chính thức về mặt pháp lý. Nó hiện diện trong tổ chức sinh hoạt xã hội cùng với ba loại quyền luật định khác là Quyền Lập Pháp (Quốc Hội), Hành Pháp (Chính Phủ) và Tư Pháp (Quan Tòa).

Nói báo chí là Đệ Tứ Quyền, là vì tuy không chính thức, nhưng báo chí nên phản ảnh dư luận từ phía người dân một cách trung thực nhất. Khi đã phản ảnh đúng đắn dư luận từ phía quần chúng, báo chí lại có ảnh hưởng bao trùm lên ba quyền kia.

Vì thế báo chí thường đứng về phía người dân, bảo vệ quyền lợi của người dân, và đóng vai trò cái thắng để kiềm chế và giám sát các sự lạm quyền của ba thế lực kia. Báo chí ở các nước tự do dân chủ do đó thường là nơi tụ họp và phản ảnh các luồng tư tưởng phóng khoáng nhất, cởi mở nhất, có tính chất bảo vệ quyền lợi của người dân nhất và thường ở vào vị thế đối lập với nhà nước. Hay ít ra sẵn sàng làm việc phản ảnh các quan điểm khác biệt của người dân đối lập với các quan điểm chính thức của nhà cầm quyền.

Báo chí thường có nghĩa là phải độc lập với chính quyền. Báo chí trong các xứ tự do có khi là một loại thế lực của người dân. Người dân dùng nó để đối thoại với chính quyền.

Còn trong chế độ CS, trong dòng lý luận của Duy Vật Biện Chứng, chủ thuyết Hiện Thực XHCN được xem là tư tưởng chủ đạo hướng dẫn mọi sinh hoạt sáng tác trong tất cả mọi ngành văn học, nghệ thuật, thông tin. Vì thế, nghệ thuật được định nghĩa chính thức là tuyên truyền.

Và vì vậy mà trong xã hội VN hiện nay, CA làm thơ, CA trình diễn kịch, CA làm ca sĩ, CA đi thi hoa hậu, CA sáng tạo. Điều này chứng tỏ cơ quan CA trở thành nơi chốn cung ứng cho con người trong xã hội này một cơ hội sáng tạo nghệ thuật. Một lĩnh vực thường đối nghịch với tất cả mọi thứ uy quyền và ràng buộc. Mà các sinh hoạt chính trị, chính quyền, công quyền này, thường là những biểu tượng ràng buộc có quyền năng giết chết sáng tạo nghệ thuật nhất.

Điều gì đã khiến cơ quan CA của nhà nước VN lại rơi vào vị thế tạo môi trường cho các nhà sáng tác nghệ thuật VN nhảy vào?

Thứ nhất, trong một xã hội mà tất cả mọi quyền lợi đều nằm trong tay chính quyền. Người dân hoàn toàn bị tước đoạt mọi quyền sống thì tổ chức nào nhiều quyền nhất chính là tổ chức được quyền tự do phát biểu nhất. Khi CA ra báo thì còn ai có thể hạch sách họ được. Họ là cơ quan có nhiều quyền nhất trong những cơ quan của chính quyền. Các nhà văn, các nhà làm kịch, khi nằm trong một tờ báo của CA có phê bình một đề tài hay một tác phẩm nào thì đã có cái mũ CA che đậy. Vì vậy đó là một nơi an toàn bảo đảm nhất để phát biểu tự do (!)

Về mặt khai thác đề tài, trong khi các báo khác không được phê bình chính sách của ĐCS, hay các cá nhân trong chính quyền làm những điều sai trái. Thì báo CA tha hồ khai thác những chuyện tội phạm trong xã hội mà câu chuyện đến từ chính những hồ sơ CA của họ. Tính chất bi kịch của các tội phạm trong xã hội được phơi bày ra đủ làm món ăn tinh thần đáp ứng được nhu cầu đọc truyện kích động của độc giả. Ở một xã hội mà các món ăn tinh thần bị o ép và kiểm duyệt tối đa như xã hội VN hiện nay, thì các chuyện giật gân bất thường từ các hồ sơ cảnh sát của cơ quan CA đủ để lấp đầy nhu cầu đọc và xem chuyện giật gân, mà trong các xã hội xã hội khác có thể phải dùng cốt truyện tưởng tượng để tạo nên phim ảnh trên màn ti vi hay xi nê.

Trong vụ phê bình VH vọng ngoại, tôi không phải là người lẻ loi. Đã có rất nhiều nhà văn nhà báo đã lên tiếng về hiện tượng sính đồ ngoại này. Tôi vẫn thường xuyên theo dõi thông tin sách vở báo chí VN và biết đã có sự phản ánh này. Có thể nói đội ngũ những nhà văn nhà báo VN tương đối giữ được đôi mắt sáng suốt và sự biểu lộ chân thật nhất về những cảnh đời của xã hội VN: “Thái độ tiêu dùng không sành điệu hiện nay, còn có thể nói là tâm lý sính hàng ngoại. Hàng ngoại bao giờ cũng đắt, điều hấp dẫn duy nhất ở hàng ngoại là mẫu mã đẹp, bắt mắt người tiêu dùng… Hiện nay những loại bột ngọt giả nhãn hiệu thường có bao bì in hoàn toàn bằng tiếng nước ngoài,… có những người mua một món hàng sản xuất trong nước, nhưng cứ đinh ninh rằng đây là hàng ngoại.. Hàng VN đã được xuất sang các nước, thế mà người ta lại cứ phải chọn những món hàng mang nhãn hiệu nước ngoài… (97)

Cả một dân tộc sính hàng ngoại thì đúng là niềm tự hào dân tộc đi xuống điểm thấp nhất. Tôi không hiểu với hàng nghìn chương sử oanh liệt tại sao dân tộc này không thể sản xuất được một cái bao bì đủ để làm đẹp mắt người tiêu dùng?

Một chế độ độc tài bao cấp đã giết mòn óc sáng tạo.

Một chế độ thiếu tự do đã bọc kín cọc sắt lên những chồi mầm sáng tạo. Đó là lý do tại sao những nhà nghệ thuật VN không sản xuất được những chiếc bao bì đẹp bắt mắt khách hàng như các bao bì dán nhãn hiệu của Nhật Bản hay Trung Hoa.

Trong bài báo nói về cơn lũ của phim ngoại thao túng màn ảnh ti vi VN, tác giả Tô Hoàng viết:

Có người cho rằng việc gì phải ngăn chận cơn lũ ấy! Cứ để thế làm gương nhỡn tiền, làm ví dụ cho những người đang làm phim truyền hình xứ mình. Cùng chất Á Đông, cùng mẫu người Á Đông, thậm chí nhiều khi cùng vấn đề xã hội nhức nhối giống nhau (…) sao họ làm sâu sắc, cảm động, rất đời, rất thực đến thế..

“Ý kiến khác cho rằng truyền hình xứ mình đang quảng cáo không công cho các hãng phim truyền hình Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Trung Quốc, đang vô tình cổ xúy cho hàng ngoại, lối sống ngoại.

“Có một thực tế này cũng không nên bỏ qua: Nếu bây giờ bỗng nhiên các đài thu hẹp thời gian phát sóng phim truyện nước ngoài xuống 1/3 hay một nửa, thử hỏi lấy gì để lấp nổi chương trình truyền hình kéo dài cả chục tiếng đồng hồ mỗi ngày đây? Thành thử sự chí lý là ở chỗ ngay từ dạo quyết định mở thêm kênh, tăng thêm thời lượng phát sóng, người ta đã không lường hết tình trạng trớ trêu (…) này như một cơ hội “sống chết mặc bay“. (98)

Khi đời sống nội trống vắng thì người ta phải vay mượn lối sống ngoại. Một xã hội bị cấm sống nên người ta phải mượn đời sống khác sống đỡ.

Những kẻ làm nghệ thuật dưới chế độ CS đã bị những mục tiêu phục vụ của Đảng dìm chặn sức sáng tạo. Cho nên họ không thể sáng tác ra những tác phẩm nghệ thuật hay ho. Kết quả là những bộ môn nghệ thuật dưới chế độ bao cấp nghèo nàn. Và vì vậy mới đưa tới tình trạng trớ trêu là đài truyền hình nội không sản xuất đủ phim hay để chiếu, mà phải đi vay mượn phim ngoại chiếu.

Khi tôi viết những dòng chữ này vào cuối năm 1999 thì cơn sốt phim tình cảm Hàn Quốc đang chế ngự trên mọi lĩnh vực truyền thông VN.

Bộ phim “Thành Thật Với Tình Yêu” gồm 35 tập của một hãng phim Nam Hàn đang làm say sưa bao nhiêu nữ khán giả VN. Một tuần 3 đêm, thứ hai, tư, năm, các nữ khán giả chờ đợi say mê chờ đón VTV3 vào lúc 7:45 – 8:45 tối để xem chuyện tình một anh con trai yêu hai chị con gái rồi với những câu chuyện tù tội, mưu mô, gay cấn của sự quân bằng công việc và tình cảm. Một chuyện tình cảm sướt mướt hạng bét được lồng trong các công thức phim trường éo le có bài bản của Hồng Kông hay Hollywood như buôn lậu, tù tội..

Sự say mê theo dõi các cuốn phim Hàn Quốc này đã làm cho các tờ báo báo động và gọi là “Cơn Sốt Phim Hàn Quốc” đang lũng đoạn truyền hình VN. Các báo phụ nữ lên hình bìa tài tử Hàn Quốc. Các tiệm bán quần áo đăng quảng cáo mốt mới Hàn Quốc. Các chương trình ca nhạc mời tài tử Hàn Quốc từ Hàn Quốc sang ra mắt cùng các ca sĩ “siêu sao” VN.

Khi được hỏi tại sao lại thích xem phim “Hàn Quốc” hơn phim “VN”, một nữ khán giả trả lời với tôi rằng: “Phim VN cứ chiếu ba cái cảnh nhà nghèo coi chán lắm. Coi phim Hàn Quốc còn thấy người ta ăn mặc sang trọng đẹp đẽ. Coi phim VN cứ làm ruộng với đi bộ đội về. Coi hoài chán lắm”.

Vấn đề không đơn sơ như lời người nữ khán giả phát biểu. Nhưng vấn đề nó nằm trong cốt lõi của lời phát biểu.

Không có nội dung nào dở. Chỉ có người thể hiện dở. Những người làm nghệ thuật dưới chế độ bao cấp CS bị vướng mắc vào đồng tiền của bao cấp. Cho nên họ phải phục vụ cái chủ đề “anh hùng lao động” có hậu của chế độ CS. Bao lâu những người làm nghệ thuật còn bị đóng đinh trên cái khung nghệ thuật bao cấp này thì bấy lâu nền nghệ thuật này chỉ phục vụ chủ nhân bao cấp: Những nhà chính trị CS. Dân chúng không thấy đồng ý với mô thức này nên họ không xem. Giản dị thôi.

Hơn bộ môn nào khác, phim ảnh tận dụng tính giải trí và ảo vọng nhiều. Đôi khi người ta xem phim là để tìm đến một thế giới xa vời. Những cảnh sang trọng áo quần là lượt, đấm đá, sống như “xi nêh được dân chúng chấp nhận và mong đợi xảy ra trong phim. Vì trong đời thường, họ không sở hữu được thế giới ấy. Chỉ trong phim ảnh, họ mới chia sẻ được. Họ thích nhìn tài tử sống vung sống bạo, sống sang, sống đẹp trên màn ảnh.

Phim bao cấp phục vụ ĐCS VN lại chỉ thích nhắc nhủ và lập lại những anh bộ đội nghèo khổ bệnh tật có tính cần kiệm. Lại chỉ thích ca ngợi chị nông dân hiếu thảo lo chăm sóc mẹ già và anh chồng bất lực. Toàn là những cảnh mà hiện tại khán giả Việt thấy chúng xẩy đến trong đời sống thường ngày nhiều quá rồi, với kết quả không đáp ứng được sự kỳ vọng của họ. Khán giả không muốn nhìn thấy cảnh này trên phim ảnh nữa. Hoặc giả dụ nếu có thấy thì cũng phải thấy trong một sự dàn dựng “cao sang” nào đó. Ví dụ nghệ thuật quay phải cao. Cảnh trí phải đẹp. Áo quần tài tử phải đáng ngắm nhìn. Điều này các nhà nghệ thuật bao cấp không sản sinh ra nổi. Kết quả là khán giả đã quay lưng bỏ đi với những bộ phim VN bao cấp

Hơn bất cứ lĩnh vực nào khác, sáng tạo nghệ thuật là một lĩnh vực chỉ có thể sinh sôi thúc đẩy trong một bầu khí tự do tối đa. Kẻ sáng tạo cần một khí quyển tự do tuyệt đối. Nghệ thuật từ đó mới ra đời những vở kịch hay, những biểu diễn lạ, những thí nghiệm sáng tạo mới.

Không cho người ta sáng tác thì làm sao người ta có thể sáng tác ra những tác phẩm hay. Sáng tác là một sự trau dồi thường xuyên.

Nên nhớ dưới chế độ CS, nếu bạn không được “bao cấp”, không có tên trong Hội Nhà Văn thì sáng tác của bạn sẽ không được xuất bản.

Nền quản lý “bao cấp” của chế độ CS không thể nuôi dưỡng một môi trường sáng tạo dồi dào, năng động, và đạt được kết quả cao về phẩm chất.

Số lượng các tác phẩm sáng tác dưới chế độ “bao cấp” rất cao. Nhưng các tác phẩm này bị sự quản lý “bao cấp” siết cổ. Thiếu máu, thiếu tự do, thiếu sảng khoái, thiếu thách đố, những tác phẩm sáng tạo của chế độ “bao cấp” không đáp ứng đúng nhu cầu và ước vọng của dân chúng đương thời. Vì vậy khi dân chúng gặp gỡ bất cứ một nguồn sáng tạo nào cung ứng được cho họ chút tâm tư gần gũi, họ sẽ để mắt đến phía ấy ngay. Đó là lý do tại sao phim “bao cấp” của “Hội Văn Nghệ Sĩ Thành Phố” được ra lò hàng năm, chiếu ở rạp nhất nhì thành phố nhưng không có quần chúng đến xem. Đó là lý do tại sao các đài truyền hình lúc này chỉ thích chiếu phim bộ đến từ Hàn Quốc và đến từ Hollywood.

Và cứ tìm đến các chương trình phim ảnh hiện đại thì chỉ thấy kín mít phim Trung Quốc, phim Hàn Quốc, phim Âu Mỹ chật kín các rạp hát, các màn ảnh truyền hình.

Nền quản lý sáng tạo “bao cấp” đã đẻ sanh và nuôi dưỡng một trường phái “bắt chước” trong xã hội. Đi giữa thủ đô HN thấy những tiệm “nhái tranh” mà lợm người. Tưởng gì hay ho, té ra nguyên cả tiệm toàn là tranh vẽ nhái lại tranh những Van Gogh, Gauguin, Picasso. Thiệt là uổng phí bao nhiêu công sức vẽ vi của ai đó. SG có báo Tuổi Trẻ bán chạy, HN liền có ngay tờ Tuổi Trẻ với chữ “Thủ Đô” nho nhỏ len lén trên góc. SG có tờ Phụ Nữ khá ăn khách, thời gian sau HN cũng bắt chước ra ngay tờ Phụ Nữ, với len len khép chữ “Thủ Đô” như anh hàng xóm Tuổi Trẻ. Sinh Cà Phê hốt khách du lịch Tây Ba Lô ở SG quá xá. Bao Cấp HN liền rinh nguyên con ra bày bảng Sinh Cà Phê ở phố Hàng Bạc không cần ý kiến không cần sửa tí ti nào cho gọi là nể mặt nhau hay cho có cái gọi là văn minh phải xin “bản quyền” này nọ. Trời ạ! Cả tinh thần học hỏi cũng chỉ muốn len lén ké cái cỗ sẵn người ta đã bày. Lười biếng sáng tạo đến thế là cùng. Không còn muốn suy tư tìm tòi, phiêu lưu, và mở đường nữa. Vì VH “bao cấp” đã hủy diệt hết những mầm mống này. Có tìm tòi phiêu lưu mở đường mà ông nhà nước nói không thì cũng dẹp tiệm. Thôi thì cứ ai đã được Ok rồi thì ta cứ theo đó mà bắt chước cho dễ dàng thân nô lệ hơn.

Văn chương “bao cấp” dưới thời chiến tranh thì bị những người làm chính trị đe và dụ vào làm dụng cụ Chống Mỹ Cứu Nước. 25 năm sau cũng chính những người làm chính trị này lại dụ Hội Nhà Văn vào làm công cụ “Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Trong Tinh Thần XHCN”. Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Hội trong nhiệm kỳ này là tổ chức nhiều chuyến đi thực tế cho các nhà văn. Hiện nay sách báo trên thị trường rất nhiều nhưng chúng ta quá thiếu những tác phẩm hay có sức lay động lòng người về cuộc sống đương đại, vì vốn sống, vốn hiểu biết của các nhà văn về công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước chưa nhiều… Sâu xa hơn “cái mới” đó nằm trong những mâu thuẫn tâm lý trong thế giới nội tâm con người khi phải đối mặt với cơ chế thị trường, khi đứng trước những thách thức của cơ chế toàn cầu hóa… (99)

Một lực lượng các nhà trí thức của cả nước trong Hội Nhà Văn chăm chỉ phục vụ chỉ tiêu do những chính trị gia đề ra như thế này thì đúng là một thứ quái trạng của văn học lẫn văn chương.

Quái thai khổng lồ này ngự trị VN từ ngày HCM mang CS Quốc Tế về HN. Sự sắt máu của những kẻ làm chính trị đã bó tay những người cầm bút uốn theo một đường: đường phục vụ chính trị.

Mai này khi xét lại những tác phẩm xuất bản dưới thời điểm này, hậu sinh cần lưu ý cho một điểm là tính chất phục vụ chính trị của những tác phẩm đã làm cho cái nhìn của những người cầm bút sống dưới chế độ CS lệch lạc. Chúng bị con vi trùng chính trị sai biểu và hướng dẫn. Những tác phẩm này qua bàn tay kiểm duyệt của chính quyền đã trở thành những dụng cụ.

Con vi trùng chính trị này đã lộng hành thành căn bệnh dịch tả suốt bộ phận thân thể VH, văn chương, văn học VN, từ năm 1945 cho đến nay.

Những ngày vào cuối tháng ba năm 2000, tôi đến xem một Hội Sách Thành Phố HCM (SG) diễn ra tại Hội Trường Thành Phố.

Tôi bị choáng ngợp bởi lượng sách và các nhà xuất bản có mặt. Hội sách có 103 gian hàng gồm 72 nhà xuất bản trong và ngoài nước. Những nhà xuất bản trong nước gồm từ Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn Quảng Nam cho đến Nhà Xuất Bản Văn Học HN. Những nhà xuất bản ngoại quốc cũng chiếm một số gian hàng khá thu hút khách hàng như các nhà xuất bản Oxford, Random House, Singapore, Unesco của Liên Hiệp Quốc.. Số lượng sách thì có phóng viên tường trình lên đến “35.000 tên sách Quốc văn (1 triệu bản) 11.500 tên sách ngoại văn (50.000 bản) bày bán”. (100)

Trong rừng sách vĩ đại của 3 ngày hội sách này, tôi đi lùng khắp nhưng tôi không hề thấy bất cứ một tựa sách báo được xuất bản từ khối người gọi là 2 triệu Việt Kiều tại hải ngoại.

Không hề có một dấu vết. Không hề có một chỗ đứng. Chính quyền này cương quyết không thèm ngó mặt văn chương văn học của 2 triệu Người Việt Hải Ngoại hiện đang có mặt khắp nơi trên thế giới.

Trong khi họ sẵn sàng cho sách của người ngoại quốc viết được ung dung luân chuyển để người VN trong nước tha hồ tiêu thụ, thì sách báo của người VN ngoài nước lại bị chính quyền này cấm luân lưu.

Tôi phải gọi những người CS là Những Kẻ Chiến Thắng Hèn Ha.

Những người Việt như chúng tôi đang sống lưu vong tại HK, tại Úc, tại Nhật, tại Hòa Lan hiện nay là dấu tích của đoàn quân bại trận từ Miền Nam VN 1955-1975. Nhà nước CS là những kẻ chiến thắng cơ mà. Kẻ chiến thắng thì có lắm sức mạnh và uy quyền. Há sợ gì những kẻ thua cuộc bại trận chiến vừa qua. Nguyên một bộ máy cầm quyền của một quốc gia mà không kiếm ra được một biện pháp nào cho xứng đáng “anh hùng” cao đẹp hơn là trả thù kiểu “không thèm nhìn mặt” này sao.

Thái độ hèn hạ này xuất phát từ VH “thù vặt”. Tìm cách trả thù đối tượng dù đó là một trường hợp không đáng để trả thù. Một nét VH làm cho con người mất đi tính chất cao thượng của lòng nhân bản biết tha thứ. Nó cũng còn phản ảnh khả năng yếu kém trong việc giải tỏa những tranh chấp của hai cựu thù địch.

Chú Thích

95. VH – Văn nghệ CA. Diễn Đàn Văn Học Nghệ Thuật Của Lực Lượng CA Nhân Dân. Số 10-1999

96. “Cuộc hẹn tháng mười.” VH – Văn nghệ CA. Diễn Đàn Văn Học Nghệ Thuật Của Lực Lượng CA Nhân Dân. Số 10-1999

97. “Thái Độ Tiêu Dùng – Sành Điệu Có Nghĩa Là Không Lãng Phí”, Đào Thị Thanh Tuyền, Phụ Nữ Chủ Nhật, số 43, ngày 7.11.1999. Cơ Quan Ngôn Luận Của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Thành Phố HCM.

98. “Cơn Lũ Phim Ngoại Trên Màn Ảnh Nhỏ”, Tô Hoàng,  Văn Nghệ Quân Đội, Số 46, ra ngày 5.11.1999)

99. “Không ai có thể làm thay công việc của nhà văn, Nhà Thơ Hữu Thỉnh Tân Tổng Thư Ký Hội Nhà Văn VN” VASC. http://www.vnn.vn/tintuc/vhoa_gduc/vh4.html. Ngày 26.4.2000.

100. Theo VOV, VASC, http:// www. vnn.vn /vnn3/ tintuc/i index.html. 25.3.2000.

12-  VH Thủ, VH Phá, VH Chửi.

VH thiếu sáng tạo tính trên này tạo nên một nét VH mà tôi gọi là VH thủ.

Tựa như trong một trận banh phải có hai thế trận. Thế tấn công và thế phòng thủ. Kẻ mang tư thế tấn công sẽ hành sử theo kiểu tấn công. Kẻ mang tâm lý chống đỡ sẽ hành sử theo tư cách thủ thế.

Đặc sản thủ thế của người VN là một thứ VH phát xuất từ vai trò phải chống đỡ qua bao nhiêu cuộc chiến tranh do ngoại bang xâm lăng.

VH thủ thế này mạnh về những nét có tính cách bảo vệ mình triệt để. Trong khi đó thì lại ngần ngại phiêu lưu khi lâm vào vai trò chủ động tình thế.

VH thủ thế này thường mạnh ở đầu vô mà yếu ở đầu ra. Ví dụ người Việt khi học điều gì, họ học rất giỏi rất nhanh. Chẳng hạn học sinh VN học giỏi đỗ đạt bằng cấp dễ dàng. Nhưng ở đầu ra, tức là mặt thực hành hay sau khi học xong, người Việt lại không sáng tạo ra được những công trình hoặc thiết lập được những gia sản nào xứng đáng với tài năng của họ.

Bởi vì học hành đỗ đạt bằng cấp là một thứ VH thủ. Thủ cho mình một cái bằng để tiến thân là chắc ăn nhất. Nhưng sau khi học xong bằng cấp ra đi làm thì người học sinh đổi từ thế thủ sang thế công. Đây là lúc con người dùng sự học hỏi của mình để sáng tạo, để thực hành, để mở hãng mới, để thay đổi cái cũ, để trở thành những nhà lãnh đạo trong ngành nghề đã học. Nói tóm lại con người nghiêm nhặt ở giai đoạn thủ khác với con người năng nổ trong giai đoạn công. Hai lối phản ứng sản xuất ra hai loại kết quả khác nhau. Đứng về phương diện này, thì trí thông minh của người VN đã được phát triển ở thế thủ rất cao siêu khi mà nền VH này sản xuất ra nhiều bia đá tiến sĩ đỗ đạt bằng cấp đầy dẫy trong lịch sử. Nhưng trí thông minh của dân tộc này đã không được dùng để phát triển thế công. Nên vì vậy mà nền VH này rất ít sản xuất ra những thiên tài khai phá sáng tạo để lại cho hậu thế các công trình sáng giá.

VH thủ này biến người Việt sống và hành sử trong đời thường như những nhân viên xuất sắc nhưng không phải là những chủ nhân giỏi.

Tôi quan sát, so sánh, và thấy nền VH Mỹ tạo cho người Mỹ cái cách hành sử như một người chủ trong tất cả mọi hoàn cảnh.

Người HK dù nghèo tới đâu, khi vào một cửa hiệu họ đòi hỏi yêu sách như một kẻ có tiền và như một ông chủ. Họ xem cơ sở kinh doanh là một chỗ phục dịch cho nhu cầu mua sắm của họ. Họ xem các cơ quan công quyền là nơi đã lãnh lương từ thuế do họ đóng góp để phục vụ họ. Khi đi đến trường học hay đến văn phòng công cộng nào, cung cách ứng xử của một người HK dù đang lãnh trợ cấp xã hội, cũng “đòi hỏi” một sự phục dịch “tử tế và bình đẳng” từ các nhân viên và các người phụ trách ở đó. Họ nói năng và hỏi những câu hỏi như một người trả thuế đã bỏ tiền ra trả lương cho các công chức này. Khi những yêu sách của họ không được giải quyết thỏa đáng ở cấp dưới, họ sẽ yêu cầu gặp người có thẩm quyền cao hơn, và cao hơn nữa, cho đến khi nào yêu sách của họ có câu trả lời. Tâm lý ngang tàng chủ nhân ông này tôi thấy gần như hiện diện trong mọi người HK sinh ra và lớn lên ở Mỹ lâu đời. Bất luận da đen hay da trắng. Bản chất VH này tôi gọi là VH tấn công. Đây là bản chất của những kẻ muốn chủ định lấy đời mình và xông xáo tìm cho được phương thức phục vụ và thay đổi sự kiện và đời sống theo ý muốn của mình. Họ không chấp nhận câu nói “không” như là một câu trả lời duy nhất.

Khác với nét VH thủ thế của kẻ chống đỡ. Nét VH thủ luôn luôn thừa nhận đối tượng trước mặt là người có vị thế ưu việt hơn mình. Ví dụ khi đến các văn phòng dịch vụ của tư nhân hoặc của chính quyền, người Việt nhìn các nhân viên này như là những”quan thầy uy quyền” sẽ quyết định số phận điều họ đang tìm đến. Khác với người HK nhìn các nhân viên này như là “nhân viên phục dịch” sẽ phục vụ theo điều mà họ yêu cầu. Người chủ nhà trọ chỗ tôi ở HN thỉnh thoảng phải có việc ra phường ký giấy tờ, mỗi lần trở về nhà, bà ta nói với tôi: “Gớm mỗi lần mấy ông Phường nhướn mày lên hỏi là tôi giật bắn cả người. Sợ mấy ông ấy làm khó dễ. Cái tên của cô để là Hue Le mà mấy ông hỏi giật lại tại sao chỗ là Lê Thị Huệ chỗ này lại Hue Le. Tôi nào có biết trả lời làm sao. May mà nhờ có cái cậu ấy cậu trả lời hộ là ở bên Mỹ người ta viết cái kiểu như thế đấy.”

Ví dụ khác như khi người Việt đến các cửa hiệu tạp hóa mua hàng mà có bị các nhân viên bán hàng đối xử lạnh lùng khinh khỉnh thiếu nụ cười niềm nở, họ cũng chấp nhận. Họ không khúc mắc về điều gọi là tại sao mình là kẻ bỏ tiền ra mà lại không được hưởng một thái độ tiếp đón phục vụ xứng đáng.

VH thủ trong xã hội cổ truyền VN được biểu lộ ở cái ngáng cửa.

Trong những dịp đi quan sát và nghiên cứu các chùa chiền và đình cổ ở VN, tôi đã mấy lần bị vấp suýt té vì mấy cái “ngáng cửa” ở các lối vào công cộng này. Cái ngáng cửa thường là một miếng gỗ chắn ngay phía dưới những cửa chính và cửa hông của mọi nơi ra vào. Miếng gỗ xà ngang này cao khoảng một hay hai tấc. Sự chắn lối của ngáng cửa này là làm cho ai đi ra đi vào phải cất chân cao lên mới bước vào bên trong được. Các ngáng cửa này tạo khó khăn khi người ta bước ra và bước vào các đình chùa. Chúng làm chậm bước chân của người đi. Khi phải di chuyển đồ vật thì thật là tốn nhiều công sức hơn. Và rõ ràng cái ngáng cửa này là một đồ vật kỳ thị những người tàn tật. Kẻ tàn tật kiểu xe lăn như ở Mỹ thì làm sao mà đẩy qua những cái ngáng cửa này. Nếu vậy thì những người tàn tật không được một cơ hội để đến các nơi này chiêm bái thần linh rồi!

Rõ ràng cái ngáng cửa này là một sự làm khó của chủ nhân đối với người ngoài. Sự làm khó của những chủ nhân muốn bảo vệ cái chỗ ở của mình với khách đến thăm. Cách hành sử của một người thủ thế hơn chủ thế.

VH thủ thế này tạo ra một mặc cảm tự ti. Tôi chú ý trong khi phỏng vấn người ngoại quốc liên quan đến hai chữ VN, các phóng viên VN gần như luôn luôn hỏi người ngoại quốc một câu: Ông/bà nghĩ gì về VN, nghĩ sao về món ăn VN, nghĩ sao về đàn bà VN, nghĩ sao về du lịch VN…. Tôi không hiểu tại sao lại luôn luôn phải đặt hỏi câu này. Cứ luôn luôn là hỏi người ngoại quốc ý kiến nghĩ sao về mình. Khi hỏi người khác nghĩ sao về mình là tự động tăng cường cho người đối diện một thứ uy quyền lên trên mình. Vai thế chủ động không còn mà tự tạo ra một khung cảnh thụ động. Mặc cảm tự ti đã phản ảnh trong việc muốn biết người khác nghĩ hoặc chấp thuận mình như thế nào. Thay vì mình hay dở thế nào thì có thể tự mình tìm hiểu và khắc phục lấy. Nếu mình không có một sự tự tin đủ để định lượng về mình mà trao niềm tin ấy vào cho tha nhân, thì rồi số phận của mình sẽ bị tha nhân điều động dễ dàng hơn.

Một gia sản chiến tranh mấy nghìn năm cũng đã để lại trên người Việt một nét VH sắc bén tàn nhẫn. Người Việt khi cần phải phá cái gì, họ phá rất giỏi.

Chiến tranh Quốc Cộng Nam Bắc 1954-1975, CS Miền Bắc với sự hỗ trợ quân sự của Nga và Tàu đã dùng thế thủ với lối chiến tranh du kích và họ đã thắng trận. Họ đã thắng phe Quốc Gia với sự trợ giúp ào ạt quân sự và nhân lực của Mỹ. Người Mỹ khi nhúng tay vào chiến tranh VN, họ biểu lộ cái bản sắc VH tấn công của họ. Chính quyền Mỹ bày binh bố trận quy mô theo chiến lược tấn công, oanh tạc Miền Bắc, lập những khu quân sự lộ liễu, đánh thẳng vào những mật khu hay những làng có nhiều Việt Cộng. Trong khi đó Miền Bắc dùng chiến thuật du kích. Họ ẩn trốn ban ngày và ban đêm pháo kích vào những cơ sở quân sự lộ liễu của Mỹ. Họ chờ khi phe Quốc Gia và Mỹ nghỉ ăn tết, họ lén tấn công Tết Mậu Thân.. Và cuối cùng Miền Bắc VN với bàn trận thủ đã thắng cuộc chiến kể trên.

VH phá sập, phá binh, phá đường, phá nhà, phá địch, của thời chiến đã để lại nét VH phá này trên người VN trong thời bình. Nó tiềm tàng trong những sinh hoạt đời thường của người VN.

Một trong những điển hình của VH phá, là người Việt đã không biết quý trọng gìn giữ những di tích lịch sử. Chế độ sau lên là phá nát những di tích kiến trúc của chế độ trước.

Tại Miền Bắc, khi vua Lê lên thì ra lệnh đốt phá hết các phủ của chúa Trịnh chung quanh Hồ Gươm HN.

Khu cung điện rộng lớn nguy nga đó đã bị đốt phá năm Bính Ngọ 1786, khi Lê Chiêu Thống .. sai quân sĩ thiêu hủy Phủ Chúa, có ý muốn xóa bỏ cái nơi tượng trưng cho uy quyền họ Trịnh đã bao đi áp bức họ Lê. Một khu vực có trên năm mươi nóc lâu đài đình tạ vườn hoa hồ dạo mát ấy đã biến thành đống tro tàn, gạch vụn, lửa cháy ngùn ngụt hàng mấy ngày và còn âm ỉ mãi đến một tháng chưa tắt hẳn, ai thấy cũng phải ngậm ngùi. Những biệt điện ly cung của họ Trịnh ở Hồ Tây, Trúc Bạch, Hồ Gươm, Khâm Thiên, Hoàng Mai, cũng cùng chung số phận như thế. Đến nay chưa đầy200 năm mà đã mảy may không còn dấu vết gì sót lại, đến ngay cả nền cũ những công trình xây dựng đánh dấu vị trí cũng không còn..” (101)

Kế tiếp vua Nguyễn lên thì lại ra lệnh diệt Tây Sơn và cho gỡ bỏ thành quách cung điện của nhà Lê ở Hà Thành. Cứ mỗi lần đổi triều vua là một lần ra lệnh đập phá hết di sản lịch sử của triều trước để lại. Thành ra ngày nay đền đài cung điện các vua chúa Trịnh, Lê, Nguyễn, Lý, Trần gì cũng đều biến mất ráo tại HN. Trong khi ví dụ như tại thủ đô Hàn Quốc, du khách ngày nay vẫn còn nhìn thấy các cung điện của các vua chúa thời xa xưa. Tất cả những công trình lịch sử của họ hầu như vẫn còn được duy trì nguyên vẹn.

Vua phá thì dân cũng phá theo.

Tại Miền Nam, thời Ngô Đình Diệm có người tạc tượng Hai Bà Trưng tại công trường Mê Linh, SG. Khi tổng thống Ngô Đình Diệm vừa bị truất phế, dân chúng nhảy ra đập phá bức tượng này tức khắc. Đến thời CS khi các anh bộ đội về chiếm thủ đô Miền Nam năm 1975, họ đập phá ngay tượng Thương Tiếc ở Nghĩa Trang Quân Đội và tượng người lính Thủy Quân Lục Chiến ở trung tâm SG. Cứ mà liên tay đập phá như vậy thảo nào nền điêu khắc kiến trúc VN chả có cơ hội để trưng bày và phát triển nét VH tạo hình này. Dù người Việt luôn luôn tự hào là họ có đã có hơn bốn nghìn năm văn hiến nhưng gia tài kiến trúc tạo hình của họ thì thiệt là nghèo nàn hạn chế.

Tinh thần phá phách này tỏ lộ trong sinh hoạt đời thường của người Việt. Ví dụ những người VN được gửi sang tu nghiệp tại Nam Hàn vào năm 1999 có thói quen phá hợp đồng khiến cho một người Hàn Quốc đã phải nhận xét như sau:

Tu Nghiệp Sinh VN ở Hàn Quốc có cái đầu tuyệt vời hơn cả. Nhiều công việc chỉ có chuyên gia hoặc giám đốc kỹ thuật mới làm được, nhưng chỉ hướng dẫn một vài lần Tu Nghiệp Sinh VN đã làm được ngay. Đáng tiếc là họ lại rất hay phá vỡ hợp đồng…” Ông Bong Kil Choi-Tổng Giám Đốc Công ty ủy thác quản lý Tu Nghiệp Sinh xót xa nói.” (102)

VH phá cộng với VH thiếu niềm tin dẫn đưa đến một tình trạng tệ hại là chấp nhận VH giả. Vì đời sống của họ bị phá vỡ bởi chiến tranh nhiều rồi, nên người Việt phát triển tâm lý chấp nhận cái dễ vỡ, cái tức thời, cái không bền lâu. Phẩm chất tốt, bền, chắc, chỉ có thể phát triển và nuôi dưỡng trong những môi trường và điều kiện cố định lâu dài. Lịch sử của người Việt không có được một thời gian hòa bình vững chắc trường thiên, nên họ không cần đầu tư niềm tin vào những sản phẩm VH chắc chắn. Họ phát triển thứ tâm lý sống với cái tạm bợ để có thể thích ứng với đời sống dễ bị phá nhanh bởi chiến tranh thưng trực xảy ra trong lịch sử đất nước họ.

Lấy ví dụ, người Việt xài hàng giả và bằng giả.

Năm 1997-1998 nổi lên vụ việc hơn 100 sinh viên cao đẳng của Học Viện Ngân Hàng khi kiểm tra hồ sơ đã không đủ thủ tục nhập học, nhiều người chưa tốt nghiệp phổ thông.. Tại Nam Định đã kiểm tra 364 văn bằng phát hiện thấy 26 trường hợp không có tên trong danh sách tốt nghiệp.. Tại Thái Nguyên đã kiểm tra và thấy .. lớp Quản Trị Kinh Doanh của Đại Học Mở HN tổ chức đã có tới 35,5% số bằng được kiểm tra không hợp pháp…. Tại Hải Phòng đã kiểm tra 14 lớp Đại Học Tại Chức thì có đến 13 lớp sai phạm… Tại Thanh Hóa chỉ riêng lớp Đại Học Tại Chức Luật có 194 bằng thì có 20 bằng không hợp pháp… Điều đáng buồn là các cơ quan chịu trách nhiệm về số bằng không hợp pháp này lại là Đại Học Luật HN và Trường Chính Trị của (các) Tỉnh, là những cơ quan hiểu LUẬT, thông suốt đường lối ghi trong nghị quyết TW.” (103).

Người VN chấp nhận hàng giả dễ dãi quá. Nên hàng hóa sản xuất tại VN bị chê là giả dối, kém chất lượng, không đủ tiêu chuẩn quốc tế. Vào năm 2000 mà “Cả Nước Mới Có 200 Doanh Nghiệp Đạt Tiêu Chuẩn ISO 9000. Theo Tổng cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng, đến nay, toàn thế giới đã có hơn 200.000 công ty được chứng nhận đạt tiêu chuẩn (quốc tế) ISO 9000, trong đó có 200 công ty của VN. Đa số các doanh nghiệp VN gặp nhiều khó khăn khi áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng vì nhận thức của các nhà quản lý doanh nghiệp chưa đúng, hoặc chưa muốn làm, hoặc chưa biết cách triển khai, trong khi trình độ công nghệ quản lý, mặt bằng nhà xưởng, kho hàng.. còn hạn chế nhiều so với các doanh nghiệp trong khu vực.” (104)

Với triết lý sống sẵn sàng chấp nhận sự giả dối, sự không thật, của cuộc đời; nên người Việt đã sản sinh ra “Chủ Nghĩa Đại Khái”. “Đại Khái Chủ Nghĩa” là vừa lòng với thành quả hoàn tất dưới mức tuyệt đối. Ví dụ khi may một cái áo, người thợ may chỉ cần đạt chỉ tiêu chừng 70% “là được rồi”. Người Việt không cảm thấy bị thúc hối phải đạt cho được mức tuyệt hảo 100%. Ca dao VN có câu: “Ai nhất thì tôi thứ nhì. Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba.”

VH phá có thể giải thích hiện tượng tại sao hiện nay VN lại có tỷ lệ phá thai hạng nhất thế giới chăng? Phá thai chính thức được nhà nước VN ủng hộ. Nhưng có một hiện tượng đáng chú ý, là con đường phá thai chính thức này chỉ mới được du nhập vào VN trong thời gian khoảng gần 20 năm trở lại đây thôi. So với các nước Âu Mỹ họ là những quốc gia tiền phong đi vào con đường này hơn nửa thế kỷ rồi. Nhưng vào năm 2000, các quốc gia tiền phong này không chiếm địa vị phá thai hạng nhất thế giới, mà VN, một trong những quốc gia kém mở mang nhất thế giới lại đạt được thành tích này. (105)

VN còn có một thứ VH phá bằng miệng. Đó là VH chửi.

Không biết VH chửi này từ ở đâu ra. Nhưng trong các ngành nghề cổ truyền ở Miền Bắc, ngoài nghề khóc thuê đám ma còn có nghề chửi mướn đòi nợ.

Mở những tờ báo VN, tờ nào cũng phải có những bài phiếm chửi đời với những cái tên cũng phải giật gân: Lý Sinh Sự, Lão Móc, Tú Gàn, Tú Lắc ..

Văn chương chửi thì lại càng được độc giả VN thích thú hơn. Có những sáng tác văn học “chửi” được độc giả VN say sưa đọc và hết lời ngợi khen. Trong nền văn chương cận và hiện đại, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài là những nhà văn đặc sản Bắc Kỳ chửi có hạng. Nguyễn Huy Thiệp với sáng tác Tướng Về Hưu chửi thâm sâu những tay lãnh tụ ác độc. Phạm Thị Hoài với tác phẩm Mary Sến chửi có bài có bản mấy tay cán bộ ngu dốt, Dương Thu Hương trong Những Thiên Đàng Mù chửi dẻo quẹo cả đám dân quân Miền Bắc đã chui vào cái thiên đường CS. Xưa chút xíu, Vũ Trọng Phụng cũng là một nhà văn đặc sản Bắc Kỳ chửi tuyệt vời cái giai cấp theo Tây trong tác phẩm Số Đỏ. Tại Miền Nam, nhà văn Võ Phiến trong một tùy bút “Chửi” đã kết luận về cái truyền thống này bằng một mệnh đề rất chắc nịch: “Dân tộc ta chửi hay.” (106)

Lạm dụng ngôn ngữ trở thành một nề nếp mà người VN sống với và chấp nhận chúng. Nếu trong ngôn ngữ viết, chửi bằng văn, chửi bằng thơ, tạo thành truyền thống khoái trá ở người thưởng ngoạn VN, thì trong ngôn ngữ nói, khoác lác, ba xạo, hay nói phét, là một sinh hoạt ăn dầm ở dề trong tâm khảm người Việt đã lâu. Ngoài Miền Bắc có những làng giật giải là cả làng nổi tiếng nói phét. “Trúc tổ nói phét.”Văn Lang cả làng nói phét.” “Làng Đông An trước là ấp Đông Khang) thuộc Từ Sơn (Hà Bắc) nổi tiếng về tài nói phét. Đã có câu thành ngữ “Về Đông Khang chỉ tài nói phét”. Sách Kinh Bắc Phong Thổ Kí có câu: “Đông An chi lập đại ngôn trường” là làng Đông An có tục mở hội thời nói khoác. Kết thúc hội, người giật giải được gọi là ông phó phét.” (107).

Trong sinh hoạt buôn bán tại chợ búa VN, nói thách lên gấp ba gấp năm là nghệ thuật kinh doanh của người kẻ chợ. Nền kinh doanh khoác lác này sẽ không giúp người Việt gia nhập nền kinh tế tín dụng của khuynh hướng kinh tế toàn cầu hiện nay. Vì bản chất của nền kinh tế tín dụng là dựa vào những lời khai thật của khách hàng, và sản phẩm thì được bảo đảm chất lượng tốt trên giấy tờ của những công ty có danh tiếng. Láo phét hay khoác lác trao đổi giữa người bán và người mua không có chỗ đứng trong thị trường này.

Sự tiếp nhận trạng thái lạm dụng ngôn ngữ nói, khoác lác, ba xạo, nói phét, lại thêm một lần nữa, là yếu tố cộng đẩy tâm tư người Việt đến trạng thái chấp nhận cái không thật cái giả dối và sống với chúng lâu ngày thành quen. Và rồi họ không còn nhu cầu phải tìm kiếm cái thật, cái chân lý, của đời sống nữa.

Nét VH sống quen với sự không thật, sự giả dối của người VN được bồi thêm bởi cái triết lý xem cuộc đời là phù vân của đạo Phật, xem trần thế là quê nhà tạm của đạo Thiên Chúa.

Xã hội VN được nuôi dưỡng bởi quá nhiều nguồn sữa tinh thần rằng sự lờ mờ, sự không thật, sự không chính xác, là một thực tế mà ta cứ chấp nhận và sống với nó đi. Sự ám ngự này đã là lý do giải thích tại sao những sinh hoạt trí thức sáng tác của người Việt không khởi đi từ nỗ lực tìm cái thật và cái chân lý của đời sống.

Điều này cũng đã giải thích tại sao ngôn ngữ VN xuất hiện lâu lắm rồi nhưng mãi đến năm 1893 quyển tự điển VN đầu tiên Đại Nam Quốc Âm Tự Vị do Paulus Huỳnh Tịnh Của mới xuất hiện. Lịch sử thì dày đặc những biến cố nhưng mãi cho đến đời nhà Lê thế kỷ 15 mới có quyển sử Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên. Sự lờ mờ của lịch sử không rõ đến độ nhà Viết sử Ngô Thời Sĩ phải viết quyển Việt Sử Tiêu Án để bàn đến các vần đề không minh bạch của lịch sử VN.

Trong quá khứ trí thức VN đổ xô đầu tư vào việc giành giật cho được mảnh bằng và đua sức sáng tác thơ văn. Rất ít người đi vào con đường tìm tòi sáng chế khoa học. Vì thơ văn chuyên trị những vấn đề lờ mờ của tâm hồn con người, còn khoa học thì ứng xử với thực tế của vũ trụ. Thế giới hiện đang được dẫn đường bằng những nguồn sáng tạo của khoa học. Sự thật và chân lý của khoa học đang chế ngự mọi sinh hoạt toàn cầu. Sự thành công của khoa học đang là nguồn sáng rọi soi mọi ngả đường mặt đất. Đến độ giới trí thức Âu Mỹ còn muốn dùng luôn những nguyên lý khoa học để khoa học hóa cả những ngành nghiên cứu tâm hồn con người như ngành tâm lý chẳng hạn.

VN sẽ thích ứng như thế nào với nền VH phục vụ hàng thật, sản phẩm chắc, tín dụng tốt, của khuynh hướng kinh tế toàn cầu hiện nay? Đây là một thách thức mà người Việt sẽ phải đối diện khi muốn làm khách chơi của ngôi làng toàn cầu hóa thế giới hiện nay.

Chú Thích:

101. Nguyễn Văn Uẩn. HN Nửa Đầu Thế Kỷ 20. Tập II. Nhà xuất bản HN. 1995. Trang 531-532.

102. “Tu Nghiệp Sinh VN Tại Hàn Quốc – Đèn Đỏ Treo Trước Cửa”, phóng sự của Hoàng Anh Minh, Lao Động, 20.4.2000

103. “Tác Hại Của Những Tấm Bằng Giả”, Vũ Mai Hoa Sơn, báo Văn Nghệ, số 17, năm 2000

104. Báo Thanh Niên .22/11/2000./infostore/ thanh-nien/2000/11/3A1A0AAD.html25/11/2000.

105. “Indeed, Vietnam has the highest abortion rate in the world, according to findings published last year by the Alan Guttmacher Institute, a respected, non-profit New York-based research centre. Its report was based on data from governments, the World Health Organization and local experts.” Trauma Ward Although Vietnam’s birth-control campaign is a big success, limited access to contraceptives has resulted in one of the world’s highest abortion rates”. Margot Cohen, Far Eastern Economic Review, June 29, 2000.

106.   Võ Phiến. Tùy Bút 1. Văn Nghệ, California. 1986. Trang 99.

107. Vũ Ngọc Khánh. Hành Trình Vào Xứ Sở Cười. Nhà xuất bản Giáo Dục. Hải Hưng. 1996. Trang 163-164. 

 

13. Những Tiếng Kèn Làm Chậm Đời Nhau.

Xem:



14 – “Nguyễn Thị” Năm 2000

Những ống chân ươn những cột thu lôi
Chổng mông bám trụ triền đất Việt Bắc
Cấy bốn nghìn năm văn hiến lúa
Những ống chân dài đĩa Trường Sơn se gió
Hút hết những màu xanh non của mạ
Những ống chân trơ khấc dáng đứng Tô Thị
Chờ nghìn năm đá bạc tình lơ ngơ
Những ống chân run rẩy cánh cò la
Bay mãi miết qua những cánh đồng bói cá tạnh
Những ống chân ngạnh ngấn ấn Mẹ Chăm
Biến mất vào những thảo nguyên não nùng của hư vô tịch mịch

Trong gần mười năm, sau nhiều chuyến đi khảo sát từ Bắc vào Nam tôi nhận thấy có một số chỗ công cộng tại VN mà người đàn bà luôn luôn hiện diện một cách đông đảo, át hẳn cánh đàn ông VN.

Đó là chợ búa. Đi vào những ngôi chợ lớn chợ nhỏ từ Bắc vô Nam, đều chỉ thấy đàn bà buôn bán với nhau. Thi thoảng lắm mới thấy những vị đàn ông ghé ngang trao hàng, hay tham quan cưỡi ngựa xem hoa. Điều này không lấy gì làm ngạc nhiên, vì từ ngàn xưa cho đến ngàn nay “Chợ VN vốn là giang sơn của người đàn bà VN. “Không mợ, thì chợ vẫn đông”, “Gái thương chồng đang đông buổi chợ” là những câu ca dao đã gắn bó người đàn bà VN với cái chợ. Một trong những nơi chốn thể hiện khả năng kiếm tiền và khả năng quản trị tài chính của người đàn bà VN là cái chợ. (133)

Một nơi khác mà tôi thấy đàn bà VN hiện diện nhiều hơn đàn ông một cách kỳ lạ, đặc biệt ở ngoài Miền Bắc, là trên những cánh đồng luá.

Đi dọc những chuyến từ Lạng Sơn vào đến Hà Tiên, tôi kinh ngạc nhận ra rằng trên các cánh đồng luôn luôn có sự hiện diện của đàn bà nhiều hơn đàn ông. Những người đàn ông làm gì và ở đâu mà sao chỉ thấy toàn là đàn bà chân lấm tay bùn chổng mông khắp trên những cánh đồng VN thế này. Tôi không cầm được tò mò và đã ráo riết phỏng vấn những nơi mà tôi có thể hỏi được. Câu trả lời thường là “Anh ấy đi làm ăn xa “, “Chồng tôi bỏ mẹ con tôi đi rồi”, “Ông ấy ở nhà” “Đàn ông ra đồng vào những lúc khác”

Về vị trí và vai trò của giới “Nguyễ­n Thị” thì xã hội VN chưa có những cuộc khảo sát kỹ lưỡng để xác định đúng đắn vị thế và sự đóng góp của phụ nữ VN trong nền VH này.

Ví như khi phải nói về người phụ nữ VN, hiện tại người ta vẫn nói như một thói quen, là người phụ nữ VN ngày xưa thường sống theo mẫu mực Khổng Gíao “công, dung, ngôn, hạnh”.  Nhưng trong sách vở nếu có chỗ ghi đấy là tứ đức mà người con gái VN nên noi theo, thì chỗ khác lại lưu giữ rất nhiều câu ca dao tục ngữ  phản ánh những thế sống có khi rất ngược lại:

Phận gái tứ đức vẹn tuyền

Công dung ngôn hạnh là quyền các cô.”

Hay:

Chè la chè lẩy, con gái bảy nghề:

Ngồi lê là một, dựa cột là hai.

Ăn khoai là ba, ăn quà là bốn.

Trốn việc là năm, hay nằm là sáu.

Láu táu là bảy.”

Hoặc:

Gái gì có gái lạ kỳ.

      Có ăn nhiều gì cũng chẳng thấy no.

      Đêm nằm thời gáy pho pho.

      Chưa đi tới chợ đã lo ăn quà.

      Hàng bún hàng bánh bày ra.

      Cặp mắt dáo dác liếc qua món hàng.

      Bún riêu, bánh đúc, lúa rang.

      Ốc gạo ốc hút lẫn hàng cháo kê.

      Ăn rồi xách nón ra về.

      Thấy hàng chả chó lại lê chân vào.

      Chả này bà bán làm sao.

      Ba đồng một g¡p lẽ nào chẳng không.

      Dối rằng lại nghĩ đến chồng.

Gần đến cánh đồng ngã nón ra ăn.

      Về nhà đau quặn, đau quăn.

      Đem tiền đi bói, tại ăn qúa nhiều.

      Chả cầy với lại bún riêu.

      Miệng còn bai bãi, ăn nhiều khi nao..

Những dấu ấn như “tam tòng” của Khổng Tử có được truyền tụng:

Đã sinh ra kiếp ở đời.

Trai thời Trung, Hiếu đôi vai cho tròn.

Gái thời Trinh, Tĩnh lòng son.

Sớm hôm gìn giữ kẻo còn chút sai.

Trai lành, gái tốt ra người.

Khuyên con trong bấy nhiêu lời cho chuyên.”

Nhưng thực sự người đàn bà VN có sống theo mẫu mực này chăng? Hay trong đời thường, người đàn bà VN cũng qúa quắt lắm, như trong nhiều câu ca dao tục ngữ sau đây:

Chữ Trinh đáng giá nghìn vàng.

Từ anh chồng cũ đến chàng là năm.

Còn như yêu vụng nhớ thầm.

Lóng tay tính thử hơn trăm anh chàng.”

“Lẳng lơ chết cũng ra ma.

Chính chuyên chết cũng chôn ra ngoài đồng.”

“Lẳng lơ đeo nhẫn không chừa.

Nhẫn thì rơi mất, lẳng lơ vẫn còn.”

“Chính chuyên lấy được chín chồng.

Vê viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi. 

Không ngờ quang đứt lọ rơi.

Bò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng.”

“Chính chuyên lấy được chín chồng.

Ba chồng thành Thành Lạng, ba chồng Thành Cao.

Ba chồng để ngọn sông Đào.

Trở về đóng cửa làm cao chưa chồng.”

Nếu đem đạo “tam tòng” thờ cha thờ chồng thờ con của Khổng Tử ra xét, thì thấy hình như người đàn bà VN đảo lộn vị trí: thờ con thứ nhất, thờ chồng thứ nhì, rồi thờ cha sau hết. Người đàn bà VN tạo lập thành tích thương con hết mình, sống vì con hết đời. Mẫu mực người đàn bà VN được ca ngợi nhất là những bà mẹ. Những “mẹ già như chuối chín cây, như xôi nếp một như đường mía lau” là những vị thánh trong tâm hồn người VN. Đó là những vai trò phải hy sinh cho con nhiều qúa mà không còn sống được đời sống của mình.  Vai trò người mẹ VN tuyệt đối đến độ gầy dựng được hình ảnh Mẹ là tôn giáo. Đạo thờ Mẫu là đạo ca ngợi công ơn của các mẹ.

Kế đến thờ chồng.  Người đàn bà VN tuy “lên xe cưới về quê chồng” nhưng người đàn bà VN hơn người đàn bà Trung Hoa và hơn người đàn bà Mỹ ở chỗ người đàn bà VN vẫn còn giữ họ của mình. Chứ không mất hẳn tên họ như các chị em phụ nữ này khi đi lấy chồng.

Sau đây là một số ít câu ca dao tục ngữ, tìm thấy trong quyển Tục Ngữ Phong Dao của Ôn Như Nguyên Văn Ngọc, có danh từ “chồng” ở trong: (134)

“Chồng thấp mà lấy vợ cao.

Nồi tròn vung méo úp sao cho vừa.”

“Chồng hen lại lấy vợ hen.

Đêm nằm cò cử như kèn thổi đôi.”

“Chồng khôn thì nổi cơ đồ.

Chồng dại, luống tổn công phu nhọc mình.”

“Chồng khôn vợ được đi hài

Vợ khôn chồng được nhiều bài cậy trông.”

“Chồng chài vợ lưới con câu.

Sông Ngô, bể Sở biết đâu là nhà.”

“Chồng ăn chả, vợ ăn nem.”

Đứa ở có thèm, mua thịt mà ăn.”

“Chồng đánh bạc, vợ đánh bài.

Chồng hai ba vợ, vợ hai ba chồng.”

“Chồng giận thì vợ bớt lời.

Cơm sôi, nhỏ lửa một đời không khệ”

“Chồng giận thì vợ bớt lời.

Chồng giận vợ giận thì giùi nó quăng.”

“Chồng dữ, thì em mới sầu.

Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừng.”

“Chồng già vợ trẻ là tiên.

“Vợ già chồng trẻ là duyên nợ nần.”

“Chồng lớn vợ bé là xinh.

Vợ bé chồng lớn ra tình chị em.”

“Chồng chèo thì vợ cũng chèo

Hai đàng đã nghèo lại đụng lấy nhau.”

“Chồng người chẳng mượn được lâu.

Mượn được hôm trước, hôm sau người đòi.”

“Chồng người đi ngược về xuôi.

Chồng tôi nằm bếp thò đuôi ra ngoài.”

“Chồng con là cái nợ nần.

Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm.”

“Chồng chết còn chửa hết tang.

L.. đã ngấp nghé như mang cá mè.”

“Chồng yêu cái tóc nên dài.

Cái duyên nên đẹp cái tài nên khôn.”

“Chồng cô với lại chồng gì.

Tiếng kêu bằng dượng, tình thì lãng lênh.”

 “Chồng gì anh, vợ gì tôi.

Chẳng qua là cái nợ đời chi đây.”

“Thương chồng nên phải gắng công.

Nào ai xương sắt, da đồng chi đây.”

Sách vở thì cứ trích lời ông Khổng Tử dạy “Phu tử tòng tử.”  Nhưng trong thực tế, ca dao tục ngữ VN có ghi lại nhiều câu thế này:

“Tưởng rằng khăn trắng có tang.

Ai ngờ khăn trắng ra đàng ghẹo trai.”

“Mả chồng còn đó trơ trơ.

Đã cùng người khác đợi chờ năm canh.”

“Giàu thời thịt cá cơm canh.

Nghèo, tương rau muối cúng anh em đi lấy chồng.

Hỡi anh chồng cũ của em ơi.

Khôn thiêng ngồi dậy, ăn em bữa cơm hèn.

Suối vàng anh cũng đừng ghen.

Để em nắm lấy cái bằng thê nhi.

Tay, thằng bé tí tì ti.

Tay gạt nước mắt rồi thì thắp nhang.

Anh thác, em xót muôn vàn.

Ăn rồi nằm xuống, bình an muôn phần.

Còn một vai trò mạnh mẽ khác của người đàn bà trong xã hội cổ truyền VN mà chưa có những công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh nào, đấy là người đàn bà chính là những kinh tế gia lỗi lạc trong gia đình. “..Quyền lực của người đàn ông trong gia đình VN nhiều khi là quyền lực gia trưởng nhưng chỉ thuần túy về mặt đạo đức mà thôi. Thế cũng có nghĩa là vai trò chủ chốt về kinh tế trong gia đình nhiều khi lại do người vợ nắm giữ.” (135).

Tiếng Việt có một từ để ám chỉ công việc tại gia của người đàn bà VN, đó là từ “nội tướng”. Nghĩa là gia đình mới chính là nơi người đàn bà VN nắm quyền. Người đàn bà VN nổi tiếng là người n¡m giữ tiền bạc,  lo cho con cái, nuôi chồng ăn học:

      “Bước vào phòng học gọi chồng.

Trở ra sắp gánh sắp gồng ra đi.

Không đi thì chợ không đông.

Đi ra một bước thương chồng nhớ con.”          

Hoặc:

“Đôi bên bác mẹ cùng già.

Lấy anh hay chữ để mà cậy trông.

Mùa hè cho chí mùa đông.

Mùa nào thức ấy cho chồng ra đi.

Hết gạo thiếp lại gánh đi.

Hỏi thăm chàng học ở thì nơi nao.

Hỏi thăm đến ngõ thì vào.

Tay đặt gánh xuống miệng chào: khoan khoan.”

Và chăm sóc cha mẹ hai bên:

“Làm gái giữ đạo tam cang.

Có chồng phải gánh giang san nhà chồng.”

Stephen Young, một học giả HK nghiên cứu về xã hội VN, đã nhận xét:  “Trong đời sống gia đình thường nhật, người mẹ là người nắm quyền hành. Người cha có thể trị vì nhưng quyền hành của ông ta thì suông hão. Người mẹ là “nội tướng” hoặc có nghĩa là “chủ trong gia đình.” (136)

Sự thừa hưởng quyền hành to lớn này trên gia đình, vừa là người dạy dỗ chăm sóc gia đình vừa là người cai quản kinh tế cho gia đình, người đàn bà VN được hưởng những uy quyền rất to lớn mạnh mẽ trên con cái. Những đứa con này tương lai là những người tạo dựng nên xứ sở này. Nói tóm lại đất nước VN có bộ mặt như ngày nay là do những bà mẹ VN uốn nắn con cái của họ mà ra cả.

Ghép hai hình ảnh một cuộc đời lại với nhau:  Hình ảnh người đàn bà đầu tắt mặt tối lao động ngoài xã hội, với hình ảnh người đàn bà thống soái chỉ huy một đơn vị nhỏ nhưng lại là một đơn vị mạnh mẽ cốt lõi của xã hội VN nhất, người đàn bà VN này qủa là một người đàn bà phi thường của nhân loại thế giới.

Trên tuần báo Người HN của Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật HN,  số 44 ra ngày 30 tháng 10 năm 1999, tác giả nhạc sĩ Nguy­ễn Đình San khen ngợi bài thơ “Chân Quê của Nguyễ­n

Bính là ” Một Bài Thơ Hay”.  Trong phần cuối, ông đã viết: “Nếu các cô gái nông thôn có ăn mặc như thành thị (thậm chí cần thiết như vậy) mà vẫn giữ những phẩm cách truyền thống của phụ nữ VN: dịu dàng, nhân hậu, đảm đang tháo vác việc nước, việc nhà thì là điều đáng phát huy..”  (137)

“Dịu dàng, nhân hậu, đảm đang tháo vác việc nước việc nhà..” đọc thì nghe trơn lỗ tai nhưng nghĩ kỹ thì thấy không phải chỉ mua vui thính giác thôi mà được.  Người đàn bà mà dịu dàng nhân hậu nói năng nhỏ nhẻ với chồng thì chắc chồng yêu. Nhưng người đàn bà này nếu muốn kiêm luôn mệnh đề sau là “đảm đang tháo vác việc nước việc nhà” thì cần phải thay đổi 180 độ ngay.  Muốn mà đảm đang việc nước thì chắc là phải trở thành những sư tử cái trong những sinh họat tập thể, trong khi thực tập những quyết định của công việc làng xã, thì mới có thể thành công trong thế giới ngoài đường luôn luôn đầy cạnh tranh tính. Còn mà muốn kiêm luôn sự đảm đang việc nhà thì phải nhai ngấu nghiến vội vàng nửa ký thịt lợn mỗi ngày may ra mới có đủ thời giờ và có những cơ bắp rắn rỏi để giặt giũ, nấu nướng, bế con, hầu má chồng,  hầu bố mình, từ lúc mở mắt ra cho đến khi leo lên giường!

Qua cái mục “đảm đang tháo vác việc nước, việc nhà” như tác giả Nguy­ễn Đình San Người HN  phán thì quả ông này đeo thêm cho phụ nữ VN cái hội chứng “Siêu Đàn Bà”, “Super Woman”, mà ở Mỹ trong thời gian qua, các chị em của phong trào giải phóng phụ nữ NOW (National Organization for Women) vẫn đang tranh cãi nhau.

Theo các chị em này thì người đàn bà đi làm (a career woman) là một thứ đàn bà siêu đẳng.  Vì nếu các  bà đi làm lao động ngoài đường rồi lại về quần quật làm việc nhà nữa thì đúng là có một sức khoẻ phi thường. Làm việc 8 tiếng một ngày. Về nhà 8 tiếng một ngày nữa. Trung bình các chị em này làm việc 16 tiếng một ngày thì qủa là “siêu đàn bà.”

Ít ra ở đây là lần đầu tiên tôi thấy ông Nguyễ­n Đình San chính thức viết trên tờ Người HN là người phụ nữ VN ngoài trách nhiệm lo việc nhà nặng như trái núi Thái Sơn, lại phải lo việc nước nặng như biển Thái Bình Dương.

Tôi tưởng lâu nay cứ theo sử sách ghi thì việc nước đã có cánh đàn ông VN lo rồi.  Đàn ông VN có mỗi chuyện lo việc nước chứ đâu có phải làm việc nội trợ đâu.  Thế mà tại sao nay lại nẩy ra sự cố kêu gọi đàn bà lo việc nước nữa.

Nếu ông Nguyễ­n Đình San này nói là đàn bà VN đảm đang “việc nhà và việc kiếm ăn” thì đúng là đàn bà VN bị quàng cho nhiều thứ trách nhiệm phải gánh vác lắm rồi.  Đằng này ở đây tác giả Nguy­ễn Đình San cột thêm cái việc to lắm: “việc nước”.  Tôi tưởng “việc nước” đã được đại diện dân lo rồi.  Các ông mà trên giấy tờ gọi là “nhà nước” đấy. Việc nước là đáng lẽ là việc của các ông này làm mà.

Phụ nữ Mỹ tự mình giải phóng ra khỏi cái “Hội Chứng Công Chúa”  (Cinderella Syndrome).  Đòi đi làm cho đã rồi bây giờ lo lắng đến cái hội chứng “Siêu Phụ Nữ” (Super Woman Syndrome).  Đấy là họ mới chỉ băn khoăn về hai thứ “đảm việc nhà đảm việc sở” thôi đấy.

Còn các nàng Nguyễ­n Thị VN dưới thời ĐCS cai trị, thì phải gánh bao nhiêu thứ giang san. Thời xưa người đàn bà VN gánh giang san con, giang san nhà, giang san nhà chồng, giang san công việc đồng áng, giang san buôn bán ngoài chợ.  Cũng đã là siêu phụ nữ lắm rồi đấy.

Nhưng còn cái vụ “đảm việc nước” được đeo huy chương cho các nàng Nguy­ễn Thị tân thời thì tôi chỉ mới thấy dưới cái chế độ CS Đảng trị này

Không biết đây có phải là những tiên chỉ về một dấu hiệu là các ông VN trị nước không nổi nên muốn mời đàn bà VN ra gánh dùm giang sơn lớn này nữa chăng.

Tuy đàn bà VN đang được tặng thêm việc, đeo thêm huân chương “đảm việc nước”,  nhưng đàn ông VN thì không có dấu hiệu nào là san sẻ bớt việc nhà để gọi là “đảm việc nhà” giúp cánh phụ nữ VN cả.

Báo Tuổi Trẻ, số ra ngày 28 tháng 10 1999 trong một phóng sự SG Say Sưa Ăn Nhậu do các tác giả Lê Anh Đủ-Huy Giang viết:

Đi đường muốn tìm một bưu điện, một trường học hay bệnh viện thì khó nhưng tìm một qúan nhậu thì dễ vô cùng, nhắm mắt mở mắt là gặp: hiếm có một con đường nào ở TP. HCM mà không có quán nhậu.  Có nơi qúan nhậu tập trung thành từng khu, từng phố; người đến  đây nhậu vui như lễ hội .  Nếu nói rằng TP. HCM là một quán nhậu khổng lồ thì không hoàn toàn sai…Phổ biến nhất là hình thành từng “đặc khu” náo nhiệt. Mỗi khu như vậy có chừng 10-13 quán …Ngang qua phố Lê Văn Sĩ để thị sát, nghe một câu mời trước Tri Kỷ Qúan,… tôi gửi xe bước vào.  Cô nhân viên  mang đến thực đơn với tổng cộng 268 món nhậu của 42 chủng loại như bê, rắn, căngguru, chuột…. Một nhân viên phục vụ cho chúng tôi biết mỗi tối lượng khách có đến hơn 300 người…  (138)

Bên cạnh loạt bài phóng sự này, một cột báo của tờ Tuổi Trẻ kèm theo lời phát biểu của một thạc sĩ phát triển cộng đồng, bà Nguyễ­n Thị Oanh: “Vấn đề nhậu nhẹt đã trở thành chuyện “Quốc Gia Đại Sự” bởi tính nghiêm trọng của nó và cần có một cuộc điều tra phân tích tâm lý-xã hội trên diện rộng để mọi người cùng hiểu ra vấn đề. Tại sao cứ phải ra bàn nhậu mới làm được việc, hoặc phải đi nhà hàng thì hợp đồng mới được ký kết?  Tại sao phải uống rượu, bia mới trở thành đàn ông, ai không uống rượu thì bị chê là “Nguy­ễn Thị”, hoặc đi bia ôm mới chứng tỏ là không sợ vợ..? … Ở ta không cấm mà vì lợi nhuận mà mỗi tỉnh, mỗi thành phố, (nhà nước) đều có (quản lý) một nhà máy bia…  (139)

Với hiện tượng đàn ông VN tan sở ra thay vì đi về nhà, lại túa xua vào các quán nhậu, đến thế này thì bảo đảm không có ông VN nào về nhà chia sẻ “mái ấm gia đình” với vợ con cả.  Các bà Nguy­ễn Thị thời CS là những người đàn bà vừa phải lao động ngoài chợ, ngoài sở, ngoài đường, đến chiều tối về nhà lại phải gánh vác hết việc của một “nội tướng”.

Những hiện tượng siêu gánh vác trên đây chứng tỏ người đàn bà VN tham dự vào việc cai quản xã hội VN từ trong nhà ra đến ngoài đường, từ thời xa xưa đến nay rất sâu đậm. Thế nhưng hình như những gánh vác này không được kể công, không được chính thức nghiên cứu trong bao lâu nay tại VN.

Trong cái mớ bùi nhùi vô phương hướng đó, người đàn bà VN là nạn nhân của một nền văn hoá thiếu sự hổ trợ vai trò của người đàn bà VN trong xã hội của họ.

Trong khi người đàn ông sống trong xã hội có phương hướng rạch ròi để mà vin vào. Những đạo lý như “Quân Sư Phụ”, “Quốc Gia Hưng Vong, Thất Phu Hữu Trách”, đã được người đàn ông VN dùng nó như những mẫu mực để bắt chước sống theo.

Sách vở VN không ghi lại nhiều tài liệu lưu trữ những phương hướng nào rõ rệt cho đàn bà VN. Và trong nhiều trường hợp, hình ảnh “lầm lẫn lộn xộn” về những nàng Nguyễ­n Thị  lại hay xảy ra trong sử sách VN.

Thị Kính bị hiểu lầm chửa hoang. Thị Lộ bị hiểu lầm giết vua. Thiếu phụ Nam Xương  bị hiểu lầm theo trai trong khi ở nhà nuôi con. Thiếu phụ họ Lưu trong truyện Trầu Cau bị hiểu lầm là lấy em chồng.  Thơ Đoàn Thị Điểm vẫn còn lẫn lộn với thơ Phan Huy Ích. Nhân vật Hồ Xuân Hương còn lờ mờ gái hay trai không ai rõ.

Hình ảnh người đàn bà đảm đang “nội tướng” trong nhà và “ngoại tướng” ngoài chợ búa, ngoài cánh đồng ở đâu? Không thấy công trình nghiên cứu nào, không thấy một sự lưu truyền nào đậm nét.

Vì không có những công trình nghiên cứu đầy đủ nên chúng ta không thể đoan chắc người đàn bà VN đã sống theo mẫu mực nào. Mẫu mực Tam tòng lép vế của Khổng Tử ? Hay mẫu mực nội tướng lộng quyền trong nhà và ngoại tướng lẳng lơ ngoài đồng và ăn hàng ở chợ ?

Sự không ghi nhận lại những sinh họat này của người đàn bà VN đã tạo ra một lỗ hổng.  Vì không có một nền nếp chính thức để nương theo, người đàn bà VN đã hành động tự tung tự tác trong vai trò của mình. Họ có hành động đúng cũng không ai ghi lại để người sau còn học hỏi. Họ có làm sai cũng không ai đặt câu hỏi là họ đã làm sai hoặc làm đúng như thế nào. Lấy ví dụ như tại sao người đàn bà VN làm kinh tế ở chợ từ nghìn xưa cho đến nghìn nay mà sao nền kinh tế chợ không bao giờ phát triển trù phú vĩ đại để mang lại lợi nhuận giàu có cho xã hội VN cả. Mô thức buôn bán chợ chắc chắn là một mô thức kinh tế không thành công vĩ đại. Nhưng những người đàn bà VN vẫn lì lợm bám giữ lấy chúng. Và chả có nhà kinh tế nào của xứ sở này nghĩ ra một mô thức kinh tế nào hay hơn có thể thay thế mô thức chợ. Hầu dẫn đưa nền kinh tế của quốc gia ra khỏi cảnh bán lẻ nghèo nàn này.

Những người đàn bà VN quen cai quản chuyện tiền bạc trong nhà nếu họ lấy một người chồng nắm giữ những chức vụ quản trị tiền công qũy, họ xen lấn vào chuyện quản trị tiền bạc của người chồng, người đàn bà này đáng ca ngợi hay đáng chê trách. Lịch sử VN có một sự im lặng vĩ đại đối với những trường hợp những người đàn bà lấn quyền chồng.

Nếu người đàn bà VN hiện nay phải ra đồng trồng lúa, phải ra chợ buôn bán, và khi về nhà lại phải vùi đầu vào công việc nấu nướng giặt giũ nữa, như thế họ kiếm đâu ra thời giờ để giáo dục con cái.

Sự chênh lệch trong hình thái phân công này không thể nào tạo ra một sinh họat lành mạnh cho đời sống gia đình và đời sống xã hội. Các cá nhân trong xã hội đều bị ảnh hưởng lây lan. Nếu những người đàn bà này kiệt sức, xã hội này cũng sẽ kiệt sức theo. Khi những người đàn bà kiệt sức, họ sẽ không thể nuôi dưỡng con cái đầy đủ. Những đứa con lớn lên trong một xã hội như thế này không thể là những đứa con lành mạnh nhất từ thân xác cho đến tâm hồn.

Xã hội này một mặt đòi hỏi ở người đàn bà qúa nhiều đóng góp, một mặt lại không hổ trợ những phương hướng và phương tiện để phát tri­ễn và nâng cao mức sống của người phụ nữ.  Đĩ điếm, nghèo khổ, bị lạm dụng ức hiếp, không nghề nghiệp, không trung tâm giữ trẻ, ngưà thai.. vẫn còn là những vấn đề bám lấy làm xói mòn hết sức sống của người đàn bà VN hiện nay.

Một biến cố đáng ghi nhận của người phụ nữ VN vào năm 2000: Trần Hiếu Ngân, một thiếu nữ VN đã là người đầu tiên trong lịch sử VN, đạt huy chương võ sĩ Thế Vận Hội của thế giới tổ chức tại Úc năm 2000. Trong qúa khứ, hai phụ nữ tên Trưng Tr¡c Trưng Nhị là hai người VN đầu tiên làm chuyện bảo vệ đất nước, chuyện quốc nội, thành tích tập thể. Nay một người VN đầu tiên đạt thành tích thi đua cùng thế giới, chuyện quốc ngoại, thành tích cá nhân, cũng là do một phụ nữ phất cờ khởi xướng.  Xem ra phụ nữ VN có những thành tích cũng khá lý thú đối với xứ sở này.

Chú Thích

133. Lê Thị Huệ. Khởi Đi Từ Ngây Thơ Để Đến Gần Sự Thật. Lũy Tre Xanh. California. 1995. Trang 38.
134. Ôn Như Nguyên Văn Ngọc. Tục Ngữ Phong Dao, tập 1. Sống Mới. Arkansas. HK. 1979. Trang 101.
135. Phạm Minh Thảo.  Nghệ Thuật Ứng Xử Của Người Việt.
Nhà Xuất Bản VH  Thông Tin, HN, 1996.  Trang 70.
136.  “Yet in the average Vietnamese family it is the mother who rules. The father may reign but his authority is hollow. The mother is the “nội tướng” or the “boss of the within” A Case For Intervention, Stephen Young. The Washington Monthly. November 1977.
137. “Chân Quê”, Nguy­ễn Đình San, trang 8. Người HN. Số 44, 30.10.1999.
138.  “SG say sưa ăn nhậu”, Lê Anh Đủ – Huy Giang, Báo Tuổi Trẻ  Cơ Quan của Đoàn Thanh Niên CS HCM, Thành Phố HCM, thứ năm 28-10-1999 số 126/99(3027) năm thứ 25.
139.  Báo Tuổi Trẻ, Cơ Quan của Đoàn Thanh Niên CS HCM, Thành Phố HCM, thứ bảy 30-10-1999 số 127/99(3028) năm thứ 25. H.G ghi, trang 5.

15 – HN Cây Xanh Buồn Chim Hót Ở Nơi Đâu.

Mùa thu HN. Mùa thu mà khi ở xa ngái thành phố này tôi đã đọc, nghe và mường tượng ra cũng khá thơ mộng. Cứ là cốm xanh, lá vàng. Trời ong ỏng điệu đóm hương gió tháng mười. Mùa thu HN mỗi sáng mai dậy sớm, pha tách cà phê xong, tôi thường nhét cái máy nghe nhạc bằng bàn tay vào túi áo hay túi quần. Bắt hai cái loa tí xíu vào tai. Mở những đoạn nhạc nào đó. Và rồi tôi đi vòng quanh Hồ Gươm cho đến khi nào nhạc rã rời, chân chồn, lòng không còn bay lượn nữa. Tôi mới trở về lại nhà trọ.

Cái máy nghe nhạc nhỏ bé tặng vật hai mươi năm sau gặp lại nhau ở Đà Lạt. Những bài hát của những người bạn phổ vài bài thơ của tôi. Giọng hát của Ngọc Phụng, bạn thân tôi hát hay nhất về những điều chúng tôi cùng chia cho nhau bao nhiêu năm của tình bạn thiết.

Nghe một bản nhạc hay, thật thích. Được nghe một bản nhạc của bạn sáng tác hoặc được nghe bạn hát một bài hát tủ của giọng hát hắn, thật hạnh phúc. Còn tôi thì đang được nghe bạn thân hát một bản nhạc phổ từ một bài thơ của tôi. Còn gì tuyệt vời. Mấy cái chữ “hạnh phúc”mí lỵ “tuyệt vời”không xa xôi tìm tòi khó khăn lắm đâu. Nó nằm trong những cảnh huống giản đơn thôi. Chỉ có cái kẻ nắm bắt cảnh huống biết “ăn roi”(enjoy) đi đến đâu thì quyền biến của hạnh phúc sẽ đậu bãi bờ đến phần trũng phút giây ấy. Tôi đã lang thang rất nhiều lần quanh Hồ Gươm HN. Sáng trưa chiều tối đủ mùi vị. Và chợt nhận ra một điều là không bao giờ tôi được nghe thấy một tiếng chim hót hay nhìn thấy một cánh chim nào đậu xuống quanh những ghế đá trên những vỉa hè rộng rãi quanh Bờ Hồ để mổ tìm thức ăn vụn vặt. Thật là một điều buồn bã.

Khi chợt nhận ra điều này, tôi cố ý tìm tiếng chim trên những ngả đường có nhiều bóng cây xanh của HN.

HN có được một điều mà rất ít thủ đô trên thế giới có được, là HN vẫn còn rất nhiều bóng cây xanh. Những tàn cây hoa sữa, sấu, phượng, bàng, bằng lăng, lộc vừng, sao, cơm nguội, đã trốn mình trong vòng tay lịch sử HN suốt mấy chục năm. Đùng một cái. HN thời mở cửa. Du khách vào và ngạc nhiên khám phá ra HN quê mùa giấu dú được một thành phố xanh đẹp tuyệt vời.

Nhưng HN xanh cây trên cao tiếc thay không phải là miền đất lành chim đậu. Cây xanh của HN cũng biết nở hoa đấy chứ. Mùa hè hoa phượng nở đỏ rực lối đi vào thủ đô. Mùa thu hoa sữa thơm loang xoa xát một không gian HN quen cho người người tìm đến đấy tỏ lòng trìu mến. Cây xanh HN biết mồi chài người HN để được ở yên nên không hoặc chưa bị đốn ngã cho những chương trình thiết kế đô thị của các thành phố lớn.

Nhưng cây xanh HN buồn làm sao ấy. Cây xanh HN biền biệt tiếng chim. Nhìn lên những bầu trời lá trên cao ở HN, có điều gì đau đớn như một vết xé xoạc lên nền trời: rừng lá thiếu tiếng chim hót. Hà cớ gì cây xanh HN không giữ được tổ ấm những bầy chim.

Có. Quanh HN có những nơi có tiếng chim kêu. Những chú chim áo cánh đẹp tuyệt đứng trố mắt ca hát rộn ràng làm mọi người phải lắng nghe. Đó là những con chim kiểng trong lồng ở quán nước Thủy Tạ ngay bờ hồ Hoàn Kiếm. Có. Tôi có nghe bầy chim hót rộn rã líu lo như đang hòa xướng bản hợp ca mạnh mẽ nhất của tiếng chim kêu. Đó là những con chim đang bị giam ở phố bán chim cuối đường Hoàng Hoa Thám dốc chợ Bưởi, hay ở ngã tư Hàng Bài Lý thường Kiệt.

Có. Người ta có hớn hở nói về thú chơi chim và chọi chim của người HN. Nói về những con chim bị nhốt trong lồng và nói về cái thú mang chim ra đá nhau làm trò tiêu khiển cho những người đàn ông thích nhìn loài thú oánh nhau.

HN chỉ lãng mạn tình xanh với cây cao bóng níu phố cổ. Nhưng HN lại ăn ở không tử tế với loài vật bé nhỏ hiền lành là chim. Nên chim đã bỏ phố mà đi biệt tích.

Đâu phải chỉ một mình HN là thành phố lớn xe cộ ồn ào nên chim sợ tiếng động ở thành phố mà bỏ đi. Bạn ạ, ở New York hay London bạn vẫn thường nhìn thấy hình ảnh nơi công viên có những con chim bồ câu lẫm chẫm chạy theo chân bạn khi bạn mở túi bánh mì vụn rải rủ rê chúng về phải không. Và ai đã từng thức dậy trong những cao ốc ở các thành phố lớn như New York, Paris, San Francisco, London, chắc đã từng chứng kiến cảnh chim hót líu lo dưới những cái mái hay cái cầu bên hiên phòng mình. Ở những thành phố lớn nhất thế giới này, dù khối lượng xe cộ lưu hành khổng lồ đến đâu, chim vẫn còn tìm ra được những mái nhà thân, những đường giây điện ấm, những vòm cây quen để đậu lại. Cho nên dù người dân các thành phố này có cơ khí hoá thành phố dưới đất mình đến đâu, thì trên cao, chim vẫn tìm được một nơi trong các thành phố ấy để dừng chân đứng ca hát líu lo. Tôi đã đi du lịch ở nhiều thành phố trên thế giới. Tôi rất ngạc nhiên về một nơi như HN, cây xanh xinh đẹp còn rất nhiều trong thành phố. Thế mà những con chim hiền lành đã không dám về làm tổ trên những cành cây xanh mát kia. Ôi những bầy chim áo đẹp vành khuyên, sáo, ri, oanh, yến, hoạ mi, bồ các, bị nhốt trong lồng làm kiểng cho nhà nhà HN. Lẽ ra chim phải được thong thả ca hót trên những cành sấu, cành sữa, cành phượng vĩ, mà người HN vẫn tự hào đã dưỡng nuôi màu xanh quyến rũ ấy.

Qua Đèo Ngang Ớ Đang Nghèo – Lê Thị Huệ

Trước ngày thống nhất 1975, tôi lớn dậy ở Miền Nam Cọng Hòa. Tuy trong thời chiến tranh và tuy là con gái nhưng tôi may mắn, là trong hai mươi năm 1955-1975 ấy, được đi khá nhiều các tỉnh châu thổ Miền Nam. Từ Cửa Việt Quảng Trị địa đầu vĩ tuyến chia đôi hai miền đất nước, lên Cao Nguyên bụi đỏ Phú Bổn Pleiku.  Ghé ngang miền trầm quế Châu Ổ Quảng Ngãi,  về đùa với cát biển Ninh Chữ Phan Rang.  Vùng đồng bằng Nam Bộ tôi đã la cà từ Toà Thánh Tây Ninh  qua đến Bến Ninh Kiều Cần Thơ.  Đất nước chiến tranh lửa đạn tơi bời hoa lá mà tôi như bông huệ nhỏ vô tư lạo xạo đi khắp bốn vùng chiến thuật thiệt là đã.
Khi từ Mỹ về thăm Miền Bắc năm 1992, với mười chuyến về VN từ đó, và một năm 1999-2000 sống và nghiên cứu ở HN, tôi đã lục soạn khắp mọi ngóc ngách ngoài Bắc. Đi tàu lửa lên Cao Bằng Lạng Sơn.  Đi xe Tây Ba Lô qua Sa Pa Lai Châu Điện Biên Phủ. Từ Bắc Ninh Bắc Giang tôi thích thú khám phá ra Phú Thọ Sơn Tây. Xuống Thái Bình ghé Nam Định Phát Diệm. Rồi ra Hải Phòng ngỡ ngàng với phố ghềnh Hòn Gai eo biển đa tình tuyệt vời .
Trong suốt thời gian gần muời năm thập thò Bắc Nam này, có một cung đường tôi đã lầm lũi đi qua nhiều lần nhưng nào dám đi thọc mạnh thọc sâu vào. Đó là đoạn Huế – Nghệ An. Đoạn đường có rẻo quê hương xứ sở của cái tiếng nói  rất riêng tư hồi môn cha mẹ để lại cho tôi: Tiếng Hà Tịnh. Tôi đã làm vài chuyến đi ra HN rồi đi vô SG, mỗi lần đi ngang Hà Tịnh tôi nhìn ra cửa xe và thấy cái xứ gì mà nghèo tả tơi, nghèo xơ xác, nghèo kiết lỵ, nghèo VH, nghèo không còn chỗ nào để mà nghèo hơn, tôi bỗng đâm sợ qúa co rúm người lại.  Cúi đầu mở quyển sách địa phương chí ra đọc thấy tả cảnh nghèo đã sợ xanh con mắt. Đi ngang đó ngẩng mặt nhòm ra cửa sổ xe thấy người cày thay máy nghèo thắt vàng ruột non nghèo tím luộc ruột già. Nên tôi sợ. Lòng còn run lập cập chưa bình tĩnh đủ để trở về thăm quê hương tiền nhân. Tôi trì hoãn. Tôi cò cưa. Tôi bảo tôi: Khi nào về Hà Tĩnh thì phải chuẩn bị một lớp biểu bì nội soi gồ ghề ghê lắm chớ không là dám chết đứng như Từ Hải của Nguyễn Du.
Cuối tiết Xuân Phân năm 2000, tôi rời HN để vào SG làm tiếp công việc nghiên cứu, tôi quyết định đi chầm chậm từ HN vô SG. Tôi muốn có thể dừng lại bất cứ nơi nào và ở vài ngày tùy thích. Tôi biết là tôi chỉ muốn dừng lại nhiều hơn ở cái khúc đường từ HN vô Huế. Chớ đoạn đường từ Huế vào SG thì tôi như loài ong cái đã tỏ đường đi lối về .
Rời HN một sáng mưa phùn gió bấc. Tôi đã sống trọn vẹn một mùa thu và mùa đông ở HN. Hoàn tất niềm mong ước. Tôi từ giã HN khi trời đất sắp sửa bước vào tiết Thanh Minh.  Lúc mưa xuân còn lất phất trên những cánh đồng ngoại ô miền quê Thanh Trì, tôi kéo kín cửa xe lên để khỏi lạnh hai con đang ngái ngủ cạnh mẹ. Trầm tư nhớ lại những ngày ở HN đạp xe đạp từ Hồ Hoàn Kiếm lên tít tận chợ Hà Đông. Đôi giò 25 năm được nuôi bằng sữa lotion, vớ ni lông đen, và thực phẩm chọn lọc của Mỹ Quốc thật là ngoan. Tôi đạp xe đạp khoẻ ru vèo vèo qua khắp mọi ngả đường Hà Thành.  Từ Hồ Gươm tôi đạp xe lên đê Yên Phụ dừng lại bên ghế đá  đường Thanh Niên ngó Hồ Tây chiều xuống. Từ Ngọc Sơn đạp cho được đoạn đường ngang cổng trường nổi tiếng Chu Văn An vòng qua chợ Bưởi về  Hoàng Hoa Thám ghé vào Vườn Bách Thảo.
Tôi bỗng rùng mình.   Tôi đã sống trọn vẹn nhiều điều qua với đời sống này. Bây giờ ngoái cổ lại nhìn, tôi đã gần hoàn tất được khá nhiều ước vọng, nhưng tôi chưa bao giờ trải qua cảm giác rùng mình. Rùng mình tức là quay đầu nhìn lại mà thấy ớn óc. Khi nhìn lại nhiều điều mình đã thâu tóm trong đời sống này, tôi thường kiêu hãnh mãn nguyện vừa phải. Còn buổi sớm mai này khi bỏ xa kinh thành ánh sáng của người Tràng An, tôi bỗng rùng mình.
Từ nhỏ đến lớn tôi khoẻ mạnh như văm. Cả đời tôi chỉ biết dùng hai thứ thuốc trị nhức đầu là Aspirine và trị cảm cúm là Dimetapp.  Vậy mà ở HN một thời gian tôi đã phải vào phòng cấp cứu địa chỉ 31 Hai Bà Trưng. Ngày 23 tháng chạp năm 1999, tôi bay từ HN về San Francisco, T. đón tôi từ phi trường chở thẳng tôi đến nhà thương. Tôi nằm ở nhà thương suốt những đêm Noel cuối thế kỷ. Tôi rời bệnh viện và khi tôi nói phải đi lại HN gấp, hai ông bạn là ông bác sĩ đào hoa Chu Anh Quế và ông bác sĩ chính trị gia Nguyen Xuân Ngãi nói: Đừng có đi nữa. Không hợp. Bệnh rán chịu. Nhưng tôi vẫn quyết chí ra đi.  Phần xác thì như thế. Còn phần hồn thì tê buốt giá lạnh kiệt lực trống vắng hoang tàn đổ nát sau một mùa đông dài ở HN. Tôi rùng mình khi liên tưởng đến những người lính HO gặp ở HK. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao dù đeo cả đống bệnh tật trên người và biết dù sống chẳng còn bao nhiêu nữa mà những người cựu tù nhân  HO này vẫn cương quyết rời bỏ quê hương gông cùm CA trị để đi tìm chút bình an cho tâm hồn vào những ngày cuối của đời người.
Tự do! Ôi tự do đã là huyết mạch kinh kỳ trong mọi ngả đường trí óc tim ruột của chúng tôi và của những ai đã biết giá trị của nó.
Bây giờ Phượng Thành phút tiễn biệt, HN không còn là miền xa lạ trong tôi. Những con vi rút bốc lên từ cái ống cống ngõ Bảo Khánh hình như đang lúc nhúc trong bao tử tôi. Những cơn gió ô uế đầy khói xăng chì ở Ngã Tư Sở đang nhào lộn trong hai lá phổi ốm o của tôi. Tòa soạn báo Nhân Dân ở 71 Phố Hàng Trống mỗi ngày tôi đi ngang một bận, như cái nhà tù trí thức khổng lồ làm cho tôi kinh hãi. Những món ăn mặn kiêu ngạo và những thùng bia ngoại trong những mâm cỗ ở ngôi chùa Bồ Đề bên Gia Lâm làm cho tôi phát lợm.  Khi lòng lãng mạn đã căng đầy và rơi rụng bởi nỗi sầu héo của một sự từ chối khốc liệt của thân xác, khi linh hồn đã thấm đẫm đau thương tuyệt vọng về một câu hỏi không bao giờ có câu trả lời, là lúc con người ta bỗng rùng mình.  Đấy chính là cái trạng thái tôi có với HN về những tháng ngày chung sống và sau đó đã khám phá ra.
À có.  Tôi có nhớ tiếng chào hỏi mời mọc của các chị bán buôn ở chợ Hàng Bè, rộn rã trong từng ngón tay nhặt những hạt đậu hòa lan cho vào túi ni lông hay thái từng miếng thịt bê non ướp gừng sả gia vị các thứ cho tôi. Những tiếng nói ủ đầy lòng phố HN tỏa ra một sức lôi cuốn như tiếng nói của bất cứ lòng chợ nào ở VN. Về VN tôi chỉ ghiền ra chợ và lắng nghe những âm thanh. Đứng giữa lòng chợ VN nghe ra nhiều điều của thế giới ta bà, là thế giới nơi tôi sanh ra và thế giới đàn bà VN. Tôi cũng nhớ những sớm mai và hoàng hôn thu HN đi dạo quanh Hồ Gươm và đạp xe từ phố Hàng Trống qua phố Nguyễn Du để ngửi mùi hoa sữa thơm thơm rất HN. Khi nhớ về HN có lẽ tôi nhớ nhiều đến mùi rêu phong cổ tích của nó. Cái mùi mà tôi có thể giao tiếp giữa người HN sống và người HN chết . Và tôi muốn vẩy sạch xoá đi cái bóng người HN CS không đáng yêu chút nào ở chính giữa.
Giã từ HN!  Dẹp luôn giấc mơ dự định mua một mảnh đất hay một căn phố để dành cho hươu sao.
Chiếc xe thường chuyên chở hai mươi mấy người nay chất đầy thức ăn, nước uống, bốn chúng tôi, và người tài xế.
Người tài xế gốc HN bằng tuổi tôi mở đầu câu chuyện từ HN đến Ninh Bình với thời chiến tranh anh phải đi học và đi lính như thế nào.  Tôi lãng đãng cho đến khi anh tả lại cảm giác anh đã xúc động và khóc lúc nghe tin  ông HCM chết.
Tôi chặn ngang câu chuyện và hỏi, bộ hồi đó anh khóc thiệt hả. Trong câu chuyện tôi tố cáo sự tà ma ngạ qủy của những người CS đã tôn thờ ông HCM lên như thế nào. Tôi muốn tìm hiểu xem bao nhiêu phần trăm chân thật trong điều anh nói. Và tôi tin là anh nói thật. Anh bảo lúc đó cả nhà anh cùng khóc. Còn anh, cậu bé tiểu học mỗi khi nghe câu thơ Bầm Ơi của Tố Hữu là thấy dậy lên trong lòng những tình yêu quê hương ngút ngàn.  Anh đã tin không có ông HCM thì làm sao giải phóng Miền Nam. Anh nói thuở nhỏ anh được nuôi dạy trong một không khí rằng lòng yêu nước là yêu HCM. Lúc đó anh  chỉ muốn lớn nhanh như thổi để đi lính cụ Hồ vào Nam giải phóng đất nước!
Tôi rùng mình. Nhớ lại những sớm mai đi xe bus vào đại học HN lắng nghe những bài giảng về XHCN. Là một nhà nghiên cứu, tôi soạn ra chương trình học của mình và yêu cầu được nghe giảng về sự nghiệp của Đảng VC, về những đề tài VH và xã hội VN dưới chế độ CS.
Về hai chuyên mục Văn Học VN mà tôi yêu cầu. Họ thu xếp cho tôi học với hai cây bút có tiếng trong giới phê bình Văn Học Miền Bắc. Một cây bút nữ giảng cho tôi nghe về Văn Học Phụ Nữ VN Hiện Đại . Một nhà nghiên cứu nam khá sắc sảo giảng cho tôi nghe về các khuynh hướng Văn Học VN từ 1945 cho đến nay. Họ tặng tôi những quyển sách họ đã xuất bản và say sưa phân tích cho tôi nghe VH VN. Họ nghĩ tôi  là Việt Kiều trí thức xa quê đã lâu, nay muốn về tìm hiểu đất nước thời đương đại.  Điều khá bất ngờ là tôi được nghe và nhận được nhiều giúp đỡ từ những vị giáo sư ngoài ngành văn chương hơn. Chẳng hạn như khi ghi học môn ĐCS VN, tôi lại nhận được những bài học thẳng thắn rất hào hứng của một vị giáo sư bên chuyên ban soạn thảo Tư Tưởng Đảng.  Có người biết chuyện, nói với tôi là họ biết cả đấy, đừng có mà tưởng bở. Tôi vui nói who cares! Bao lâu tôi làm được điều tôi muốn làm và họ làm theo lời tôi yêu cầu, thì ai biết ai ra sao cũng chả có nghĩa lý gì.
Nhà nghiên cứu nam đã bị tôi vặn hỏi tỉnh bơ rằng sao anh không nói gì về văn học Miền Nam từ 1955-1975 vậy. Anh viện lý do là thiếu tài liệu.  Tôi đề nghị tặng vị giáo sư này bộ biên khảo 25 Năm Văn Học Miền Nam của nhà văn Võ Phiến. Nhưng anh đã tìm cách tránh né lời đề nghị của tôi vào cuối những ngày bế giảng. Về đề tài Thơ Văn Các Cây Bút Nữ tôi hỏi ngay người viết phê bình văn học là tại sao chị nói về các cây bút nữ từ 1975 đến nay mà tôi chỉ nghe về các cây bút Miền Bắc. Không thấy chị nhắc gì đến các cây bút nữ Miền Nam hết dzậy. Tôi đề nghị hợp tác để viết về một số đề tài của văn chương phụ nữ VN. Chờ cho đến những ngày cuối cùng của khóa học, chị gọi điện thoại và từ chối nói là không thuận tiện. Các giảng sư đại học đều là những người tử tế. Họ nói là vì những lý do “tế nhị” của chính trị nên họ không thể nói về chúng. Và họ cũng nhận đó cũng là một thiếu sót của nền văn học mà họ đang phải sống và phục vụ.
Bỏ lại HN không luyến lưu, tôi cố nuốt những cục nghẹn con mắt khi đi qua những cánh đồng lạnh chì chiết lốm đốm những người đàn bà xắn quần chân trần còng lưng cúi xuống trên những thửa ruộng.  Rất nhiều những cánh đồng như thế này ở VN. Ai mỏng tim, đi VN một chuyến kiểu này thì rất dễ bị tăng áp huyết.
Đi ngang Ninh Bình dấu vết thực dân Pháp để lại trên vô số nhà thờ công giáo. Những ngôi nhà thờ kiến trúc rất ư Tây Thuộc Địa với những lô gô La Tinh còn khoe lưỡi gươm đế quốc của chúa blời. Ngôi nhà thờ Phát Diệm gác mái nửa đường cong Renaissance trộn với nửa lá Mít ốm o. Các tín đồ gà trống gà mái cục cục tác đẻ ra kiến trúc kiểu văn hiến nào đây. Tôi vào trong nhà thờ và được nghe một ông trùm họ đạo nói là kiến trúc nhà thờ Phát Diệm chỉ  đứng sau  lăng Ta kiểu Tào ở Huế. Vậy mà lúc ngồi uống cà phê ở Queen Cafe phố Hàng Bạc, tôi nghe mấy anh chị Ta ở cái cái tua chở khách Tây, kêu đi thăm nhà thờ Phát Diệm để coi kiến trúc lẫy lừng,  là Tây nhất định không ai chịu đi.  Lần đầu tiên đi xem vô số nhà thờ quanh vùng Phát Diệm, tôi thấy giông giống như những nhà thờ đạo của người Mê Hi Cô ở biên giới buồn và nghèo Tijuana . Ghé ngang quầy bán hàng lưu niệm trước nhà thờ Phát Diệm. Thấy bày bán mấy cái hình thánh nữ hàng ngoại Therese De Lisieux và Maria De Goretti sì tai từ cái đời tảo thiên lập địa nào mà bây giờ còn bọc nhựa dấu kín bùa chú. Có con chiên mua xong thì cầm ảnh tượng bọc nhựa thánh nữ Theresa đứng ép vào lồng ngực cầu nguyện ngay trước mặt tôi. (Cô bé này chả bao giờ biết tôi đã từng bị gọi là “con thánh” Theresa.) Vậy mà rẻo váy lót bà Thanh Hải Thượng Sư made in hàng nội Quảng Nghĩa nghe nói phân phát cho tín đồ lấy thảo thì bị ruồng bố bị bắt bị đăng làm nhiều kỳ lôi cuốn và hấp dẫn trên báo An Ninh Thế Giới của mấy ông CA nhà nước. Thiệt là kỳ thị xưa sau. Kỳ thị đồng trinh nạ dòng. Kỳ thị chủng tộc. Kỳ thị chúa nam và chúa nữ.
Ninh Bình có một núi thơ rất đặc sản VN. Chỉ tội đã để cho hoang tàn xâm chiếm, và đã không biết phát tướng tiềm năng du lịch của nó. Núi Dục Thúy của Trương Hán Siêu khắc rất nhiều thơ cổ vào vách đá. Là bảo tàng viện thơ sống.  Tiếc là toàn thơ Hán Nôm cổ tích. Phải chi có chút lục bát khắc vào thì đẹp biết bao.  Cảnh trí rất hợp tình hợp cảnh với tâm hồn lục bát VN. Nơi đáng cho hậu sinh sửa soạn lại thành Đàn Nam Giao Văn Chương tôn vinh dân tộc sính thơ này. Thơ của những người ham làm thơ từ Trương Hán Siêu cho đến Lê Thánh Tôn, Thiệu Trị, Tự Đức, Ngô Thì Nhậm, cho đến Từ Đạm, Tản Đà.. Bốn mươi bài thơ trên núi thơ thì có giới hạn nhưng có lẽ không đáng nói cho bằng những huyền thọai chung quanh những dấu ấn trên đó. Ví dụ nhà thơ Tản Đà khi thấy Từ Đạm dùng tiền và quyền để tạc thơ và tạc dấu chân mình trên giải non sông của thi ca đó thì rất “bực mình, đã thuê thợ, cho khắc bài thơ của mình cạnh bài thơ Từ Đạm như sau:” (1)
Năm ngoái năm xưa đục mấy vần
Năm nay quan lại đục hai chân
Khen cho đá cũng bền gan thật
Đứng mãi cho quan đục mấy lần

Lê Qúy Đôn, Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu.. cũng đều để lại thơ khi qua núi Dục Thúy.  Một bài thơ của Nguyen Khuyến hương vị Nôm thế này:
Chom chỏm trên sông đá một hòn
Nước trôi sóng vỗ biết bao mòn?
Phơ đầu đã tự đời Bàn Cổ
Bia miệng còn đeo tiếng trẻ con
Rừng cú Tiền triều trơ mốc thếch
Hòn câu Thái phó tảng rêu tròn
Trải bao trăng gío xuân già dặn
Trời dẫu già, nhưng núi vẫn non (2)

Vào Thanh Hóa tôi hỏi mua một món quà địa phương. Người bán hàng chỉ cho chúng tôi lên thắp nhang trên đền thờ Bà Triệu nhưng nói Thanh Hóa không có quà gì lưu niệm cả cô ơi. Thảm thiết! Thanh Hóa là vùng đất Lam có làng cổ Đông Sơn, khoe nghìn năm xưa là đất sản xuất ra Ba Vua (Bà Triệu, Lê Lợi, Lê Đại Hành),  Hai Chúa (Chúa Trịnh và chúa Nguyễn),  là tỉnh lớn nhất nước, nhưng đặc sản thì không có một miếng ngon để khoe miểng!
Đến thành phố Vinh tôi đi lùng một ngôi chùa và một nhà thờ để viếng nhưng không tìm ra nổi niết bàn hay thiên đàng hạ giới ở quê Bác.  Tôi lấy làm lạ và lò mò đi hỏi cho ra lẽ. Hỏi ở đâu thì ai cũng bảo rằng ở đây không có chùa không có nhà thờ nào cả.
Ở Vinh,  siêu thị Maximark và khách sạn tôi ở đều có thang máy bé tí. Ở HN rất khó tìm thấy cầu thang máy trong các khách sạn nhỏ. Thế mà Vinh lại có những trang bị văn minh này. Thành phố quê hương HCM bị bom Mỹ phá tan trong thời kỳ chiến tranh. Sau chiến tranh thành phố Vinh được xây dựng lại hoàn tòan mới. Thị trấn bỗng trở thành một địa danh biểu tượng một chế độ vô thần.  Khi có cơ hội xây dựng phố Vinh mới, chế độ CS đã không cho xây dựng lại, không cho trùng tu bất cứ một tụ điểm tôn giáo nào. Không chùa không nhà thờ.  Tôi còn tò mò đi vào các nhà người dân để xem bàn thờ họ có thờ phật hay không. Cũng không nốt. Nhà nào có bàn thờ thì đó là bàn thờ gia tiên hoặc là bàn thờ họ.
Vinh lanh lẹ và đổi mới bao nhiêu thì Hà Tịnh tách mình co cụm bấy nhiêu. Hà Tịnh và B¡c Ninh là hai tỉnh nghèo một cách đáng chú ý trong số các tỉnh dưới chế độ CS Miền Bắc. Bắc Ninh là tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống Miền Bắc nhưng vẫn không ngoi lên nổi dưới chính sách kinh tế thị trường định hướng XHCN. Hà Tịnh nằm ngay quốc lộ 1, cũng trên đường đi sang Lào, cũng gần cửa bể giống như Nghệ An và Quảng Bình. Nhưng trong khi hai tỉnh Nghệ An và Quảng Bình chắc là giỏi buôn lậu nên bốc lên rõ ràng sau đợt đổi mới 1989, thì Hà Tịnh không thoắn thoắt nhà cao tầng phố mới xây như Vinh và Đồng Hới.
Hà Tịnh với sông núi đất nước ưa nhìn giống Huế. Và hình như bảo thủ cũng giống Huế rứa.  Tôi yêu cầu được đến thăm đền Nguyễn Du. Anh tài xế phải hỏi lòng vòng về địa chỉ này. Anh nói đã làm nghề chuyên chở du khách cho các quan lớn, ngoại quốc, việt kiều, và đã đi qua vùng này bao nhiêu chuyến nhưng chưa ai yêu cầu chở đến thăm đền nhà thơ Nguyễn Du này.
Từ ngoài quốc lộ qua cầu Bến Thủy rẽ trái vào làng Tiên Điền, tôi thấy nhiều ngôi đền cổ nho nhỏ còn góp mặt với đời, chứ không mất sạch dấu vết như Nghệ An.  Đến một khu đất cạnh những thửa ruộng, như bao thửa ruộng truyền thống của những làng quê VN, là một con đường quê nho nhỏ rẽ mặt. Con đường thon thả eo cong, có dãy cây cao vút thơ mộng. Con đường quê nho nhỏ nhưng lại được chăm chút trải nhựa để xe ô tô có thể đi vào. Tôi bị mê hoặc bởi con đường với hàng cây cao nghiêng mình trên bầu trời rộng thoáng của một vùng đất rất quê nhà VN. Xe đi hết đọan đường quê, rẽ vào sân, đậu cái kịch. Tôi nhìn lên thấy hàng chữ Nguyễn Du. À té ra thửa đất và hàng cây cao tôi đang mê man  hít thở không khí thơ mộng của nó là tài sản thuộc về khu đền thờ Nguyễn Du. Tôi bỡ ngỡ và ngầm khóai tỉ. A thì ra nơi thờ nhà đại thi hào đất Hà Tịnh này cũng đáng mặt lắm đấy chứ nhỉ.
Một người con gái nho nhỏ tuổi ngoài hai mươi dẫn tôi đi giới thiệu các ngôi nhà trong Khu Lưu Niệm Nguyễn Du. Cô chỉ những nơi ngày xưa ông Nguyễn Nghiễm thân phụ Nguyễn Du cư ngụ, trước mặt có gốc cây để ông buộc những con ngựa. Những dấu tích của cả giòng họ Nguyễn còn giữ lại trong khu đất Này.  Những ngôi nhà thờ nho nhỏ. Những tấm bia xinh xinh. Chữ Nôm qúa chời chời. Cô nhỏ đọc vanh vách và giải thích từng hàng chữ dọc. Trong một ngôi nhà thờ nhỏ, tôi nhìn lên, chỉ thấy và nhớ ra mỗi chữ Tâm to tổ bố. Nghe cô nhỏ đọc chữ Nôm vanh vách tôi nhớ lại ngày trước cha tôi di cư từ Hà Tịnh vào Nam mang theo những rương sách lá bổi chữ Nôm qúa nhiều. Tôi đã theo cha tôi học văn chương Hán Nôm nhưng tôi đã không làm được điều cha tôi mong muốn. Những giờ chữ Hán c ủa người giáo sư đáng yêu Trần Trọng San và những giờ chữ Nôm của giáo sư Lê Hữu Mục ở Viện Đại Học Đà Lạt là những giờ tôi thấy tù túng. Tôi hỏi cô nhỏ, em học Hán Nôm với ai mà hay qúa vậy. Cô nhỏ nói, học với các thầy đồ  trong làng Tiên Điền này. Trời đất ơi, tôi nói, giờ này mà có làng còn thầy dạy Hán Nôm. Và có nơi còn bậc hậu sinh theo học chữ Việt cổ này thì thiệt đúng là chuyện chỉ có thể xảy ra ở quê hương Hà Tịnh của tôi và của đại thi hào Nguyễn Du.
Tôi đứng trước một căn nhà cũ mà bùi ngùi. Những hàng cây trong này sao trìu mến qúa đỗi. Những lối đi rêu phong nơi này sao thân thế Hà Tịnh quá. Mùi đất nơi này sao nhà quê VN vô cùng. Căn nhà nhỏ bé chứa đựng cả nhân dáng thi ca sừng sững của VN. Tôi bỗng chợt nhớ đến ngôi nhà cũng nho nhỏ bên bờ biển của nhà văn dâm đãng Henry Miller ở Monterey California tôi đã dừng ngang chơi mấy lần. Ngôi nhà hoang dã cạnh vách đá biển. Đọc sách nghe kể ngày xưa Henry Miller đã lạc thú ở đó với tháng ngày không quần áo. Thích là ở truồng từ trong căn nhà nhỏ băng qua đường ra biển tắm.  Tôi đứng nơi này mà nghe máu thịt tràn lên những cảm tưởng nhân sinh lồng lộng về hai người đàn ông Đông Tây hai phương trời cách biệt.

Nhà chính của khu lưu niệm Nguyễn Du là căn nhà thu hút nhất nước VN, so với bao nhiêu ngôi nhà thờ phượng mà tôi đã đặt chân đến.  Ở ngoài Bắc tôi đã được dẫn cho đến viếng bao nhiêu nơi gọi là đền thờ những bậc tiền nhân nổi tiếng, từ nhà thờ Cao Bá Quát, Nguyễn Trãi, Ý Lan, v..v..  Chỗ nào cũng có cái bàn thờ to tổ bố hương khói bốc nghi ngút. Vái lạy và thờ phượng là  bệnh trĩ thần thánh của con cháu VN. Căn nhà Nguyễn Du  này không giống như những nơi kể trên. Nó mang linh hồn thi ca chất ngất trong từng hơi thở của đất, lá, cây, kèo nhà, của Nguyen Du tách riêng trong cái chung của Việt tính.  Căn nhà nhỏ bé chỉ chưng bày những kỷ vật và sách vở liên hệ đến Nguyễn Du. Giống như một cái thư viện nhỏ.  Cúng kiếng thờ phượng hương khói mịt mù đi chỗ khác chơi. Tôi tằn mằn vân vê tập bưu ảnh và khám phá ra hàng chữ Khu Lưu Niệm Nguyễn Du. A cái tên nghe cũng đã chữ nghĩa chính danh. “Khu Lưu Niệm” chứ không phải “Khu Đền Thờ” giống như các nơi khác.
Cuối miền Hà Tịnh với Đền Ông Mười là con mộc đóng dấu văn hiến suy tôn Ba Bà Chúa. Trong các chùa đền ngoài Bắc có cái bàn thờ khác trong Nam. Chùa đền miền Bắc ở chính điện ông Phật không phải là trọng tâm đẹp nhất. Mà bàn thờ Ba Bà Chúa mới là cái trung tâm lôi cuốn kiến trúc, hương hoa, lời khấn nguyện, tiền bạc,.. Đền Cậu Mười là điểm chia đôi VH Việt Mường và Việt Chàm. Bỏ Hà Tịnh bước qua Quảng Bình là hết còn thấy VH đàn bà vấn khăn mỏ quạ. Kiến trúc từ Quảng Bình trở vô trong Nam đã Chàm mầu sắc Việt. Đền Cậu Mười là một cái đền cạnh sông nước hữu duyên không thua Phủ Tây Hồ ở HN hay điện Hòn Chén ở Huế.
Đất Quảng Bình ngày nào nghèo kiết xác. Nghèo qúa đến độ không ai buồn ghé ngang hay dừng lại. Bây giờ trỗi dậy với thành phố Đồng Hới cao ốc đua nhau mọc. Tôi dừng lại dọc con sông Nhật Lệ. Đứng dưới dấu vết cửa nhà thờ Tam Toà đổ nát vì bom đạn Mỹ nay chỉ còn là mảng linh hồn cũ mốc rêu xanh. Nhớ ngày nào còn học trung học Đà Nẵng có ba đứa con gái lấy ba cái tên, Phan Thị Trà Kiệu, Lê Thị Cẩm Xuyên và Nhật Lệ Giang. Ba đứa con gái thi đua làm thơ viết văn học trò nhưng mỗi đứa lấy một tên quê hương cha mẹ bên kia Vĩ Tuyến 17 để làm bút hiệu.  Bây giờ đứng bên giòng sông Nhật Lệ, bên kia cồn cát nhà cửa xây cất tường màu nằm xen kẽ giữa những hàng cây xanh. Bên này xóm công giáo Tam Tòa đã biến mất trên bản đồ, tôi chợt nhớ thời ba đứa chúng tôi còn nhỏ mà đã tưởng nhớ đến quê hương không thấy mặt dữ dội đến thế sao. Không phải là một cái bút hiệu quê hương mà đến ba bút hiệu của ba đứa con nít 13-14 tuổi. Thế mới hay người VN yêu quê hương dữ ha.
Bây giờ tôi có dịp đi lại ba miền quê trên để thấy gì. Thấy Trà Kiệu  Quảng Nam nghèo vẫn hoàn nghèo. Cẩm Xuyên quê hương Hà Tịnh của tôi nghèo không còn chỗ nào để nghèo hơn. Nhật Lệ Giang, con sông khá thơ mộng của Quảng Bình. Ôi những con sông thơ mộng mà tôi đã đi qua. Thuở nhỏ tôi chỉ thấy thơ mộng mà có thể quên miếng ăn. Bây giờ hễ thấy nơi nào trên quê hương còn nghèo đói thì liền lập tức những khúc sông thơ mộng trong tôi làm như cụt lưỡi trí tưởng.
Tôi đứng bắt chuyện với ba bốn thanh thiếu nữ đang trông coi một cái vựa cá. Tôi muốn đi thăm một cái chùa. Tôi hỏi đây có cái chùa nào không mấy em. Dạ không. Một cô gái đáp. Không có chùa lớn chùa nhỏ nào cả sao. Dạ không. Mấy người con trai con gái đồng loạt đáp dịu dàng.  Vậy rồi tết nhất mồng một mười lăm ai muốn đi chùa lễ phật thì làm sao. Tôi hỏi. Dạ ở đây không ai đi chùa hết. Một cậu trai đáp. Thế ở đây có mừng lễ lạc này nọ không. Lễ lạc ở đây mà người ta mừng là những ngày nào? Tôi hỏi tiếp. Dạ là mùng 2 tháng 9, một cô gái đáp.  Dạ là ngày 30.4. cậu trai đáp.
Nhà thờ Tam Toà Nhật Lệ. Bom đạn chiến tranh đã xóa nhoà dấu tích của những người Pháp mang đến biến những xóm nghèo cạnh biển thành những làng công giáo. Các xóm công giáo này đã di cư vào Nam năm 1945 và ở Đà Nẵng lại có một xóm đạo Tam Toà mới. Nhưng đứng ở đây nơi chốn này vào một buổi chiều hiu hiu gió từ sông Nhật Lệ thổi vào, tôi mới thấy thành tích của chế độ vô thần CS ảnh hưởng lên trên vùng đất nghèo miền Trung này. Tôn giáo bị xóa nhoà sạch tan. Tôi muốn trở lại hai địa điểm Vinh và Nhật Lệ vào một thời điểm trong tương lai để xem sau khi chế độ CS sụp đổ, những nơi chốn này sẽ đổi ra màu sắc phương hướng nào.
Đi gần cuối tỉnh Quảng Bình, người tài xế giới thiệu cho chúng tôi một di tích mà anh bảo là chỉ mới khám phá ra gần đây thôi. Tôi cười nói. Cái vùng đất từ Thanh Hóa vào đến Quảng Bình chắc là còn nhiều địa điểm chưa được “khám phá”. Vì vùng này nghèo qúa là nghèo nên ai đi ngang đây cũng chỉ đi qua mà không muốn dừng lại để mà thăm viếng nghỉ chân chơi nhởi gì ráo.
Địa điểm mà anh chỉ cho chúng tôi là một cửa đại đứng chót vót trên một đỉnh đồi dọc quốc lộ 1. Anh nói đây là dấu tích ngày trước là Cửa Thành Nhà Mạc đóng dấu cho biết ranh giới của VN đến đây. Cửa thành cũ kỹ có ba cái nóc đá, đã phai mờ hoàng tàn dấu vết, hơi từa tựa như một tháp Chiêm Thành cũ. Chúng tôi leo lên những tam cấp đổ nát và thấy đúng là lối đi lên cửa tháp này chỉ vừa mới được khai quang cây cỏ gần đây thôi. Leo lên đến cửa thành, trời xế xẩm hoàng hôn, không khí hoang vu rờn rợn. Tôi đọc thấy hai câu thơ nguệc ngạc viết lên tường:
Đèo Ngang” ở đây không có nghĩa là “Đang Nghèo“.
Cố vươn vai lên, đất nước sẽ giàu mạnh” .
Tôi ngậm ngùi. Ai xa nơi này, bao nhiêu năm trời khi nhắc đến Đèo Ngang cũng chỉ nhớ tới những câu thơ phơn phớt lam xanh sương chiều của Bà Huyện Thanh Quan:
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà.
Cỏ cây chen đá lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà ..

Còn tôi kẻ hậu sinh đến đây trong buổi chiều hoàng hôn này,  suốt tứ chi đang đau buốt vì cơn cảm xúc nghèo thọc loét bao nhiêu đởm lược tôi đã lưu trữ mấy chục năm trời làm người VN. Nghèo chi mà nghèo qúa xá. Nghèo chi mà nghèo tận mạng. Bước đến dâu cũng chỉ thấy nghèo. Tôi chưa thấy nơi nào nghèo hơn khúc ruột Miền Trung này.
Không biết mấy trăm năm xưa Bà Huyện Thanh Quan có ngờ được rằng mấy trăm năm sau Đèo Ngang năm 2000 vẫn như cũ.  Khác chăng là không còn nhiều tiều phu gánh củi. Khác chăng là sau này Tây sang xây thêm cho được con đường đèo xe chạy.  Còn thì sông nước người ngợm chợ búa vẫn thô sơ như cũ.  Trời ơi bao thế kỷ đã trôi qua mà sao con người và xứ sở này không hề tưởng tơ đến ánh sáng văn minh của nhân loại hở trời ???

Tôi đã hí hửng tưởng đây là di tích mới khám phá ra của nhà Mạc. Té ra khi về đến Huế, nằm trong khách sạn bên bờ sông Hương đọc  quyển Di Tích Danh Thắng Hà Tĩnh thì mới biết đây là Hoành Sơn Quan được vua Minh Mạng cho xây vào năm 1833. (3)
Xuống khỏi Đèo Ngang lòng còn ngổn ngang vì câu viết nhoè trên bờ tường rêu ô uế. Đi sâu vào tỉnh Quảng Trị, ghé vào La Vang xem nhà thờ công giáo cổ đã đổi thay đến đâu. Chúa mẹ ơi vừa dừng xe lại là một phái đoàn bà già con nít thanh niên xúm lại tưởng chúng tôi là người nhà trời hiện về, bu quanh mời mọc đủ thứ. Mua tượng đi cô. Mua hoa đi cô. Chụp ảnh đi cô. Thấy cảnh tượng như những lông nhím tự nhiên mọc tua tuả lên từ thánh địa, ai cũng ớn không muốn xuống xe.
Một mình tôi làm thánh nữ xuống xe đi băng băng về hướng cung thánh.  Tôi chú ý thấy rất nhiều nhi đồng các thánh áo quần rách rưới phần phật theo gió chạy theo tôi, cầm những bịch cao su dơ bẩn vàng sì bên trong chứa những chiếc lá khô queo gió Lào. Tôi vừa hỏi em bán cái lá gì trong đó vậy. Thế là cả bầy thiên sứ nhao nhao lên đồng thanh: lá chỗ Đức Mẹ La Vang hiện ra. Lá này uống vào chữa bá bệnh. Hay lắm cô. Cô mua dùm cho em đi cô..  Những người con Quảng Trị đứng bâu quanh tôi là những bà già ốm o mặt đen đúa xoè năm ngón tay hoa ra van vái: Cô cho xin vài đồng đi cô. Là những đưá bé trai bé gái đi chân trần áo quần rách rưới ngửa cong bàn tay năn nỉ: Cô cho em xin ít đồng đi cô. Cảnh tượng còn thảm thê hơn đoàn quân ăn mày Chùa Hương ở Hà Tây ngày nào tôi đến.  Dù sao ăn mày Chùa Hương còn có vẻ gì đó chuyên nghiệp truyền thống trân tráo.  Còn ăn mày La Vang Quảng Trị sao mà nó hiện thực CS chủ nghĩa mới mẻ qúa đi. Trong đời tôi chưa bao giờ thấy một lực lượng ăn xin người VN hùng dũng tận đáy bần cùng như lần này.
Mắt tôi bỗng dưng mờ. Tai tôi bỗng ù. Chân tôi không còn đứng vững. Tôi cố dạt hết bọn người cái bang ra và đi trở lại chỗ xe đậu phía ngoài kia. Đám quần thần nghèo khó bám theo chân tôi reo hò không bỏ cuộc. Tôi leo lên xe và bảo người tài xế chạy. Tôi mở ví mở rương ra và vơ vét hết tất cả những xấp bạc 200, 500 mang theo dự trữ cho chuyến đi dự tính từ Bắc vô Nam. Tôi làm một chuyện tôi chưa bao giờ làm trong đời: tôi thả tung tóe theo gió những xấp giấy bạc qua cửa kiếng xe. Điều làm tức khắc này khiến tôi liên tưởng đến cảnh những thánh cô thánh cậu lên đồng ở Phủ Giầy Nam Định.  Những người lên đồng ở những buổi hầu đồng lúc họ phát lộc, họ vứt tiền, vứt trái cây, vứt tung xoè mọi thứ ra một cách hỉ hả. Họ uống tí rượu. Họ ngậm tí trầu. Họ say thần thành. Họ tươi say trong tiếng nhã nhạc. Còn tôi trong phút giây này thì đau trào nước mắt.  Nước mắt tôi nhạt nhoè theo tiếng kêu lên thảng thốt của đứa con trai nhỏ, mẹ, mẹ sao mẹ làm cái gì dzây.
Chiều xế, xe về đến Huế. Cái bảng quảng cáo xốn mắt treo to lớn ngay ngã ba đường vào cố đô: Hue Festival 2000. Có cái lô gô hãnh diện là một trong những quốc gia nói Tiếng Pháp treo tòng teng ở dưới. Áo trắng Đồng Khánh ngày nào bay rợp trời lả nắng Hương sông bây giờ biền biệt.  Khuya, người đàn bà làm giường ở khách sạn tìm cách ghé sát vào lỗ tai tôi và nói: Tui ngày xưa là nữ sinh Đồng Khánh đây cô nì. Tôi hỏi lương bổng và so ra ở SG một nữ nhân công lau dọn khách sạn một tháng lãnh được tám trăm nghìn, ở HN được năm trăm nghìn, nhưng ở Huế chỉ có ba trăm năm chục nghìn. 3500.000 đồng tiền VN lúc này chỉ tương đương với hai mươi mốt usd. Nghĩa là chỉ bằng tiền mua một đôi giày hạng bét Shoes For Less của đứa con trai tôi đang học lớp bốn ở Huê Kỳ.
Về Huế tra cứu lại tôi mới biết thứ lá mà các thiên sứ theo bán buôn ngoài thánh địa Quảng Trị được gọi là Lá Vằng.  Từ Lá Vằng  này các ông Tây thuộc địa mới đọc ra là La Vang.  Tên La Vang  xuất hiện từ đó.
Nằm ốm bệnh vì những con bọ nghèo lúc nhúc trong người. Ở Huế hai tuần le tôi không bước nổi ra đến chợ Đông Ba.  Tôi cạn kiệt sức lực vì loài vi khuẩn thổ tả khốn khó của quê hương. Tôi phải lấy vé máy bay bay về SG thôi.  Tôi bỏ cuộc, bỏ dở tuyến xe đường bộ của nửa đoạn đường còn lại.
Lê Thị Huệ  5/2000.

(1) trang 47, Lã Đăng Bật, Núi Dục Thúy, Nhà xuất bản Thế Giới, HN 1998.
(2) sách đã dẫn, trang 92.
(3) trang 274, Trần Tấn Thành, Di Tích Danh Thắng Hà Tĩnh, Cơ Sở VH Thông Tin Hà Tĩnh, 1997.


Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s