Kiểu đất PHỤNG-HOÀNG HÀM THƯ

Kiểu đất PHỤNG-HOÀNG HÀM THƯ

TẬP GIA PHẢ VỚI TÁM NGÔI TỔ MỘ !

Anne Nguyễn

Họ Nguyễn ở làng Báo Văn là một danh gia, lệnh tộc, không biết phát tích từ đời nào, nhưng người quanh vùng vẫn thường đồn đải với nhau rằng : từ trên một trăm năm nay, họ Nguyễn ở làng Báo Văn, chẳng đời nào là không có người làm quan to, hay đại hào phú, chủ nhân ông những ruộng vườn thẳng cánh cò bay, đất đai chồn chân ngựa chạy.
Thiên hạ còn nói nhiều đến tám ngôi tổ mộ của họ Nguyễn táng song song ở giữa cánh đồng vùng Mông Sàng, Mông Phụ mà người ta tin chắc đó là những ngôi mả kết phát rất to tát, lâu dài.
Nhiều nhà phong thủy chính tông Hoa, Việt nghe thiên hạ đồn đải, đều không ngại vất vả, tốn kém, tìm đến tận nơi quan sát khu vực có mộ phần tổ phụ họ Nguyễn.  Hết thảy đều đồng ý tán thưởng sự tinh tế của cổ nhân : người đã có cặp mắt tinh đời, chọn được thửa đất hiếm có ấy, vì theo sách đia lý, đó chính là kiểu đất Phụng-Hoàng Hàm Thư, mà tám ngôi tổ mộ đều nằm vào đúng giữa bụng chim thần.
Nhưng vào đầu mùa thu năm Ất Mùi (1775) một ông già đầu, râu, tóc bạc, quần vải,áo nâu, bề ngoài trông rất tiều tụy, lam lũ, tìm đến tận nhà quan Án sát họ Nguyễn ở làng Báo Văn, để trình bày về sự nhận xét riêng của lão về tám ngôi tổ mộ.
Hồi ấy quan Án Sát tuy đã cáo lão hồi hưu, song dinh thự vẫn có người canh gác cẩn mật, không kém gì lúc chủ nhân đang còn tại chức.
Tên gia nhân gác cửa, thấy khách lạ hình dung cổ quái, y phục rách vá tứ tung, thì có ý khinh rẻ, yên trí là khách lạ, nếu không định đến xin tiền quan Án, thì hẳn cũng chỉ tới cầu cạnh một ân huệ chi đó, chứ dáng điệu ấy, người ngợm ấy thì hỏi còn có gì đáng bàn chuyện quan trọng về đất cát mồ mả với chủ nhân hắn, vốn là một vị đường quan, danh tiếng ở Bắc Hà !
Nghĩ vậy rồi, hắn liền dơ tay xua đuổi ông già, một mặt khép chặt hai cánh cổng gỗ lim nặng nề, khinh khỉnh nhìn khách lạ, như nhìn một quái vật hiểm nguy, nhơ nhớp !
Khách lạ chỉ hơi nhíu mày, ngỡ ngàng về cách xử sự phũ phàng của tên gia nhân, nhưng chỉ thoáng qua một chút, lão lại bình thản, mỉm cười ung dung nói lớn : – Chú em đừng nên khinh người, rẻ của quá như vậy? Lão đến đây với tất cả lòng thành khẩn, kính mến đức độ, uy danh của Cụ lớn nhà, chứ nào phải tới cầu xin ân huệ, tiền bạc chi đâu, mà chú em nở tâm xua đuổi cho đành ?
Lão nói thiệt : chú em nếu muốn cho Cụ lớn nhà đời đời vinh hiển, kế thế công khanh, thì hãy kíp vào bảo với Cụ lớn cho lão được diện kiến, còn nếu không thì thôi, lão càng khỏi phải tốn công, nhọc sức…
Tên gia nhân vẫn không thay đổi ý định: cương quyết đóng chặt cổng dinh, và lớn tiếng quát mắng: – Lão già vô lý quá ! Khi không tới đây, bày đặt chuyện đất cát lôi thôi,. Nếu không khôn hồn cút mau đi lở ra đến tai Cụ lớn thì lão chắc chắn sẽ bị ăn đòn nứt thịt !
Đang lúc hai người điều qua tiếng lại, thì Cụ lớn từ tư thất bước ra, thấy vậy, vội tiến thẳng đến gần tên gia nhân, hỏi vội :
– Chi đó bây ! Nếu người ta lỡ độ đường thì đem ra chút ít tiền gạo, đãi người ta, chứ việc chi mà lớn tiếng vậy ?
Khách lạ chưa kịp nói gì, thì tên gia nhân đã sum soe tiến đến trước mặt quan Án, vái lạy, rồi tằng hắng liên tiếp mấy cái liền, mới rụt rè cất được tiếng :
– Bẫm Cụ lớn, lão già này không biết từ đâu tới đây, cứ nhất định một hai đòi vào yết kiến Cụ Lớn cho kỳ được, để trình bày đất cát mồ mả chi đó. Con đã đem tiền gạo cho lão và đuổi lão ra, nhưng lão ngang bướng lắm, cố tình muốn ăn vạ đấy ạ.
Quan Án Sát liếc nhanh cặp mắt sâu thẳm, sau lớp kiếng trắng, gọng bạc về phía khách lạ, bất giác phát sanh lòng kính phục con người bần hàn, lam lũ vô cùng, vì qua lớp y phục bẩn thỉu, vá rách, vị hưu quan ở làng Bác Văn đã như mường tượng thấy được một vẻ cao quý khác thường, ẩn hiện trên khuôn mặt già nua, cằn cổi, mà bộ râu ba chòm bạc phơ, in hệt mớ cước trắng của khách lạ, đã làm nổi bật hơn nữa, nét phong sương của một kẻ giang hồ phiêu lãng !
Quan Án nguýt dài tên gia nhân lỗ mảng, dơ tay ra hiệu cho nó lui vào phía trong, đoạn thong thả đi ra cổng, đến bên lão già niềm nở nói :
– Lão trượng phu chớ chấp kẻ thất phu vô lễ, và xin mời vào chơi trong nhà cho tiện đàm đạo.
Khách lạ gật đầu, có ý thỏa mản, ung dung xách khăn gói, kéo lê chiếc gậy trúc dài gần hai sải tay, đầu uốn cong thành hình một con cú đứng co một chân, cánh xoè rộng hẳn ra như muốn lấy đà tung bay, theo thế ” Anh hùng độc lập”, rồi thản nhiên đi ngang hàng với vị hưu quan, cùng bước qua một cái sân gạch Bát Tràng, rộng rải, vuông vắn, để lên thềm đại sảnh.
Ngôi nhà chính của quan Án Sát hưu trí trông bề thế, cổ kính, như được xây cất từ mấy mươi đời trước bằng các thứ danh mộc, hầu hết đều chạm trổ cực kỳ công phu, tỷ mỷ do những thợ mộc tài hoa chuyên nghiệp ở các vùng Hà Nam, Ninh Bình đảm trách. Tư thất kiến trúc theo lối Đông Phương cổ kính, tấm mái cong vút như sừng trâu, do mấy hàng cột lớn tay ôm, bóng lộn như gổ mun,, chống đỡ, được chia ra làm năm gian lớn, bài trí toàn đồ cổ ngoạn gia bảo, sập gụ, tủ chè, đỉnh đồng lớn, giá lọ bộ, chóe sứ, lọ Giang Tây, ánh vàng sơn rực rở từ những chiếc hoành phi, câu đối, sơn son thếp vàng, lộng lẫy tỏa ra, càng tăng thêm, màu sắc, huy hoàng, nguy nga, tráng lệ cho toà đại sảnh.
Quan Án Sát họ Nguyễn mời khách lạ ngồi trên chiếc cẩm đôn phủ nệm bọc gấm điều trước một án thư bằng gổ gụ, dưới một cặp tấm tía, lọng vàng, treo cao gần sát mái nhà. Trên tường, một thanh bảo kiếm, chuôi ngà, vỏ bạc, nằm vắt chéo, giữa một đôi tay thước khảm xa cừ có tua đỏ dài lòng thòng, bên cạnh cái trống chầu sơn đỏ và đôi tù và làm bằng hai con ốc cực lớn, bóng lộn như sừng.
Quan Án Sát ngã người trên chiếc sập gổ chân quỳ, tựa tay lên chồng gối xếp màu hoàng anh, mắt tuy lơ đảng nhìn ra ngoài sân, song kỳ thực, vẫn luôn luôn chăm chú theo dõi từng nét biến chuyển trên khuôn mặt nhăn nheo của người khách lạ, đoạn vừa vuốt râu, vừa vui ve hỏi người đối diện : – Nghe bày trẻ nói : lão trượng có nhả ý đến chơi để bàn chuyện về môn phong thủy.
– Hạ quan rất hoan nghênh và sẳn sàng kính cẩn nghe lời vàng ngọc.
Rất mong lão trượng đừng tiếc lời dạy bảo, thì không những may mắn cho hạ quan mà cả dòng họ Nguyễn ở làng Báo Văn cũng được đội ơn hà hải…
Khách lạ ngạo nghể nói : – Lão đi qua vùng này, tình cờ được thấy một khu đất cực quý ở ngay ngoài cánh đồng làng ta. Lão hỏi thăm, thì bà con quanh đấy chỉ cho lão coi tám ngôi cổ mộ, và bảo rằng đó là phần mộ của tổ phụ đại nhân. Vì vậy lão mới tìm tới đây, không ngoài ý muốn, được hầu chuyện với đại nhân về môn phong thủy.
Quan Án Sát chặn ngang :  – Lão trượng nói sao ?
Mấy ngôi mộ của dòng họ Nguyễn, táng tại cánh đồng xứ Cốt Đang, làng Báo Văn, cũng đã khá lâu ngày, không hề xảy ra sự nguy hại chi hết, sao giờ đây lão trượng lại có ý thắc mắc? Xin hãy vui lòng cho lão phu biết rõ lý do ?
Khách lạ không trả lời thẳng câu hỏi của vị hưu quan, mà lại nói lãng qua chuyện khác : – Trước khi bàn về mấy ngôi cổ mộ, lão muốn biết sơ qua ít điều thắc mắc : chẳng hay đại nhân bình thường có chuyên khảo cứu về khoa địa lý không ?
Quan Án sát nhìn khách lạ, như cố tìm hiểu xem trong sự hiếu kỳ của người đối thoại, có xen lẫn một dụng ý gí, khả dỉ gây được thiệt hại cho dòng họ Nguyễn nói chung, và cho bản thân quan Án Sát nói riêng.

Trên khuôn mặt dày dạn phong sương, đen cháy vì nắng mưa dầu giãi, đôi mắt sâu thăm thẳm nằm dưới lớp kiếng lão của khách lạ, vẫn luôn luôn tiết ra một tinh thần khẳng khái trung thực: nền tảng căn bản của tín đồ Khổng Mạnh, khiến cho bất cứ ai được tiếp xúc, dù chỉ mới là lần đầu tiên, cũng phải chân thành kính trọng, cảm mến, coi như bậc trưởng thượng trong gia đình.
Vốn nề nếp nho phong, trâm anh thế phiệt nên vị hưu quan nhận thấy ngay được nét tinh hoa đáng quý ấy trên gương mặt quắc thước của khách lạ. Vì vậy, chẳng một chút ngại ngần, nghi kỵ, quan Án Sát sẳn sàng cởi mở ngay niềm tâm tư, ấp ủ thầm kín trong kẽ phổi, khe gan từ bao lâu nay, chưa có cơ hội nào thuận tiện, cũng như chưa gặp được bạn tri âm nào tâm đầu ý hiệp để giải tỏ can tràng:
– Ngay từ khi còn để chỏm, ngày ngày cắp sách đến tập làm văn tại trường Cụ Thám Hoa ở làng dưới, lão phu đã đặc biệt chú ý đến môn phong thủy, mỗi khi thấy người quanh vùng đem trầu rượu, lễ vật đến nhờ Cụ Thám Hoa tìm đất giúp. Có nhiều lần được Cụ Thám cho theo hầu, lão phu thường nhìn ngắm say sưa chiếc tróc long hàng giờ không biết chán, nâng niu cái la kinh, thận trọng còn hơn một người chơi đồ cổ săn sóc đôi lọ từ đời Tống, đời Đường, đến nỗi thấy lão phu ham mê môn phong thuỷ, Cụ Thám đã vui vẻ giảng dạy cho lão phu biết sơ qua về cách phân kim, án hướng, thế nào là án nga my, thế nào là tay long, tay hổ, thế nào là thuận nghịch, thế nào là quán khí. Nhờ đấy, lão dù không am tường, thấu triệt một cách tinh vi khoa học, huyền bí, kỳ diệu ấy, cũng có thể hiểu đại cương sự chuyển vận của long mạch, để tìm trúng chánh huyệt tại các khu đất quý.
Khách lạ không chờ cho quan Án dứt lời, liền hỏi ngang:
– Thôi thế cũng tạm đủ! nhưng có điều lão vẫn chưa hiểu: Vì nếu đại nhân đã biết rành mạch môn địa lý thì sao lại không nhận chân được sự sai lệch của tám ngôi tổ mộ ở xứ Cốt Đang?
Vị hưu quan có vẻ sượng sùng, vội dơ tay phác một cử chỉ ngăn chận rồi nói nhanh: – Thì lão phu có dám nhận mình là am hiểu tinh vi môn địa lý đâu? Lão phu sở dĩ biết sơ qua chút ít, cũng là do sự chiếu cố của Cụ Thám Hoa, lúc còn đi học, thấy lão phu mê say khoa phong thủy, người mới giảng dạy đại cương cho lão phu nghe, sự kỳ bí, huyền diệu của mạch đất, có thế thôi! Nào lão phu có biết gì hơn. Vậy nếu những ngôi tổ mộ kia có chi sai lệch, xin lão trượng vui lòng chỉ dạy, lão phu nguyên tạc dạ, ghi xương, thề trọn đời không dám quên ơn lão trượng.
Khách lạ ha hả cười to, đầu gật lia lịa như vô cùng đắc ý:
– Được, Lão xin nhận lời giúp đỡ đại nhân. Nhưng công việc xem xét mộ phần, phúc lại! Lúc tới tám ngôi mả, không phải là việc làm một sớm, một chiều mà xong được? Phải mất ít ra hàng tháng mới mong tìm được tất cả mọi sự khuyết điểm, không những ở bề ngoài căn cứ theo hình thức mộ phần, mà còn dùng thuật riêng đặc biệt bí truyền, để xem xét lòng huyệt cũng như hài cốt an táng ở trong tiểu… Công việc phức tạp ấy, không phải một vài hôm hay năm, bảy bữa mà xong được đâu? Đại nhân là bậc danh sĩ, quán thông lý, số, y, nho, lại thấu triệt được cả lẽ huyền vi, kỳ bí của môn phong thủy, thì hẳn không cho lời lão là viễn vong, vu khoát.
Quan Án Sát thong thả đứng lên, hướng về phía khách lạ, vái dài, chậm rãi nói:
– Được nghe lời giảng dạy vàng ngọc, lão phu nhu kẻ đang lần mò đi trong đêm tối, bỗng gặp được ánh đuốc soi đường! Quả thật là vạn hạnh. Lão phu tin rằng cuộc sơ kiến bữa nay, do lòng Trời đưa lại, cũng là duyên kỳ ngộ từ kiếp trước, nên mới run rủi cho lão phu gặp đặng quý nhân, để nghe lời dạy bảo của bậc cao hiền, hầu biết đường họa phúc và lẽ thạnh suy của đời mình! Vậy nhân dịp này, nếu lão trượng không chê hàn xá thô lậu, lão phu xin kính mời lão trượng tạm ngừng gót ở chơi tệ xá ít ngày, cho lão phu có cơ hội thuận tiện học hỏi thêm đạo lý cao siêu của thánh hiền, nhất là sự nhiệm mầu của khoa địa lý.
Khách lạ vui vẻ ngắt lời: – Đại nhân bất tất phải quá khiêm, lão xin hoàn toàn tuân lệnh đại nhân sai khiến. Vả lại, lão không đến đây thì thôi, chứ một khi đã tới thăm quý phủ, được đại nhân dùng biệt nhãn đón tiếp, không phân biệt giàu nghèo, quý tiện, lại cũng chẳng câu nệ bức tường ngăn cách quan, dân, khiến cho tấm thân già nua, vô dụng gần kề miệng lỗ này được tiếp xúc với bậc quý nhân, trau dồi thêm cho mớ kinh nghiệm cằn cỗi thêm phần quảng bác thì há chẳng phải là một cơ hội hãn hữu muôn thuở nhất thời cho lão ư ?
Vị hưu quan tươi nét mặt, vui mừng đáp rằng:
– Được lão trượng nhậm lời, lão phu thật vô cùng cảm kích. Vậy trong thời gian tạm lưu tại tệ xá, nếu có cần gì, xin lão trượng cứ truyền gọi gia nhân, sai khiến chúng và coi chúng như nô bộc của lão trượng.
Khách lạ tiếp lời:
– Xin đa tạ thịnh tình của đại nhân. Có điều lão phu phải cần thưa trước: ngay từ sáng mai, kính xin đại nhân cho người hướng dẫn lão đi thăm lại một lần nữa, cánh đồng có an táng tám ngôi tổ mộ của dòng họ nhà ta, và nếu không có chi bất tiện, xin đưa lão đi thăm luôn cả các ngôi mả khác ở trong họ nữa. Có thế, lão mới có thể quyết đoán đích xác được sự kết phát hay nguy hại của của các ngôi tổ mộ.
Quan Án Sát mỉm cười, ngăn cản: – Lão trượng đi đâu mà vội vàng quá thế ? Xin hãy thong thả dạo thăm phong cảnh trong vùng ít bữa, rồi sau đấy, sẽ lưu ý đến mồ mả, đất cát, tưởng cũng không phải là quá muộn.
Ông già, lắc đầu, tỏ ý bất mãn: – Đại nhân quá thương, muốn cho thân già này được ung dung, nhàn nhã, tấm tình tri ngộ ấy, lão xin ghi sâu trong phế phủ. Nhưng số lão vất vả, ngay từ khi ra đời, vẫn phải luôn luôn vật lộn với sinh kế từng khắc, từng giờ, chẳng mấy lúc được thảnh thơi, rỗi rãi! Do đấy, nếu cho lão ngồi yên hưởng lạc, chỉ những hai bữa liền, là thế nào lão cũng bị đau đớn gân xương, chân tay ngứa ngáy, cơ hồ như có một mãnh lực kỳ bí thúc đẩy, lão phải chạy nhảy, hoạt động hăng hái hơn, để giữ cho sức khỏe được dồi dào bền bỉ lâu dài!
Vị hưu quan chợt nhìn trên án thư có đủ đồ văn phong tứ bảo. Nhớ tới một việc quan trọng, nên vội đưa tay cầm một cuốn sách bìa sơn đen dày cứng, rồi nhích mình qua phía khách lạ, đoạn hạ thấp giọng nói vừa đủ nghe: – Lão phu có một điều tâm sự, liên can đến hạnh phúc, vận mạng của cả dòng họ Nguyễn ở làng Báo Văn, mà từ khi khôn lớn tới bây giờ, lão phu vẫn nhất định chôn sâu trong phế phủ, chưa hề dám thố lộ với một ai, kể cả những bạn bè, hay họ hàng thân thích! Số là trong gia phả của tiền nhân lưu lại, từ đời Hậu Lê, có ghi một lời ký chú, đinh ninh dặn lại con cháu rằng: “Tám ngôi tổ mộ, an táng tại xứ Cốt Đang thuộc cánh đồng làng Báo Văn, tuy kết phát, nhưng muốn cho dòng họ hưởng phúc lộc lâu dài, thì năm Ất Mùi (1775) phải nhờ thầy địa lý chính tông xoay lại hướng mộ phần. Nếu không tuân theo lời trong gia phả, dòng họ sẽ bị suy tàn, mau chóng...” Lời ghi chú trong gia phả, con cháu trong chi trưởng của dòng họ lão phu, phải luôn luôn chôn sâu nơi tâm khảm, coi đấy như nguồn sống chánh yếu của cả một dòng họ, không thể vì một lẽ gì lãng quên được! Vì vậy ngay từ đầu năm nay, thấy đã tới hạn kỳ ghi trong thế phả, lão phu đã phải tìm thầy địa lý, nhờ phúc lại tám ngôi tổ mộ ở cánh đồng làng Cốt Đang. Nhưng dù lão đã tốn nhiều công phu cũng như tiền bạc, cho gia nhân đi khắp mọi nơi, cố lùng kiếm cho được một nhà phong thủy chính tông, mà không hiểu vì nhà lão kém âm công, phúc đức hay sao, mà người đi tìm đã mấy tháng nay, vẫn chẳng sao kiếm nổi một thầy địa lý nào, khả dĩ có tài tìm được chánh huyệt trong một khu đất quý, chứ đừng nói là để mả kết phát nữa! Lão phu đang lo buồn, thì lão trượng đến chơi! Quả thật là đại hạnh cho dòng họ Nguyễn Nhà lão! Do sự tình cờ, mà cũng là duyên kỳ ngộ ấy, lão phu thành khẩn yêu cầu lão trượng, hết lòng giúp đỡ cho lão phu, làm trọn vẹn được lời ký thác của tổ tiên, thì suốt đời, lão phu thề minh tâm, khắc cốt đức độ cao dày ấy của lão trượng.
Nói xong, quan Án Sát lại vái dài rất cung kính.
Khách lạ vội đứng phắt lên, dơ tay ngăn cản mà vui vẻ nói rằng:
– Đại nhân bất tất phải thủ lễ và quá khiêm nhường như vậy, khiến cho lão bị tổn thọ mất hàng kỷ đó! Lão không đến đây, không được nghe chuyện đại nhân thuật lại về lời ký thác trong gia phả thì thôi, chứ một khi đã tới tận chỗ, được biết rõ tính cách quan trọng của tám ngôi mả thì có lẽ nào lão phu lại không hết lòng giúp đỡ. Vậy ngay từ ngày mai này, yêu cầu Đại nhân hướng dẩn lão đi thăm những ngôi mộ kia một lần nữa cho thật cẩn thận, để lão mới có thời giờ nhận xét một cách chính xác hơn.

Sáng hôm sau, qua mấy tuần trà nước, vị hưu quan làng Báo Văn thân hành hướng dẩn thầy địa lý đi thăm các ngôi tổ mộ.
Lũ trẻ mục đồng thấy quan Án hưu trí trịnh trọng trong chiếc áo gấm dài màu da đồng, chân mang văn hài thêu chỉ ngũ sắc, lộng lẫy đi sóng vai với một ông già, dáng điệu rất quê mùa, y phục rất thô lậu, thì kinh ngạc vô cùng, bỏ mặc cho trâu ăn cỏ ngoài đồng, nô nức rủ nhau chạy theo hai người tíu tít kêu gọi nhau vui mừng như được xem đám rước thần ở trong làng vậy.
Chúng càng ngạc nhiên hơn nữa, khi thấy hai người không noi theo con đường làng đi ra ngoài chợ, mà lại mang theo những bờ ruộng, đi ra xứ Cốt Đang ở cách xa cổng làng Báo Văn tới trên hai dặm, khu đất có an táng tám ngôi mộ của họ Nguyễn, cao gần như một cái gò lớn, chung quanh có một hàng rào cây khúc tần xanh om, chằng chịt những sợi giây tơ hồng vàng chói !
Cả tám ngôi mả đều không xây đắp chi hoa mỹ, nằm song song thành một dãy dài theo hình chữ nhất, chiếm rải rác cả chiều dài của thửa ruộng cao không kém một chiếc gò !
Điều đặc biệt, làm mọi người lưu ý hơn hết là cả tám ngôi mả, đều to cao, cỏ mọc xanh um, tươi tốt lạ thường, khác hẳn những mồ mả ở chung quanh thường xuyên bị chủ đất phát cỏ, đắp bờ mượn cớ xén cắt bớt ít nhiều những phía tiếp giáp khít ruộng đang trồng khoai hay cấy lúa cho rộng châu vi canh tác.
Vừa hướng dẫn khách lạ đi coi khắp nơi ngoài cánh đồng, quan Án vừa giơ tay tính nhẩm từng đốt, rồi bất giác thở dài nét mặt đượm ve ưu tư, hoảng hốt nói to : – Mà Ất Mùi thì đúng là năm nay rồi lão trượng ạ !
Vậy mà từ tháng giêng đến bây giờ tốn công tốn của đã khá nhiều, vẫn chưa tìm được nhà phong thủy chính tông nào, khả dỉ có đủ tài năng phúc lại những ngôi mả này, để theo đúng lời ghi chú trong gia phả, xê dịch lại cho họp với sự di chuyển của long mạch.
Thầy địa lý nhìn quan Án Sát hỏi gặng lại :
– Đại nhân định tìm nhà phong thủy như thế nào ? Xê dịch tổ mộ thì cứ xê dịch, hà tất còn phải phúc lại mả cho mất công vô ích.
Vị hưu quan, lắc đầu đáp liền không cần nghĩ ngợi : – Lão trượng nói thế là sai rồi. Thời buổi này, nho đạo mỗi ngày một suy vi, các môn lý, số, phong thủy cũng hầu như bị mai một lần hồi. Đốt đuốc đi tìm những thầy địa lý chính tông, ít ra cũng phải mất hàng năm mới kiếm được một người tài năng am hiểu đến nơi đến chốn cách để mả, và chọn đất, còn đa số đều mờ mờ, mịt mịt, chưa cầm vững chắc cái tróc long, chưa biết phương pháp sử dụng la kinh, cũng vỗ ngực tự nhận mình giỏi địa lý ! Bởi sự tìm kiếm nhân tài rất khó khăn như thế, nên lão mới bày ra cách phúc duyệt lại các ngôi tổ mộ, vừa để xét nghiệm khả năng của người ta, vừa muốn được hiểu rõ hiện trạng đích xác của các ngôi tổ mộ, vì nếu gặp kẻ mạo nhận danh nghĩa là nhà phong thủy chuyên môn, tất họ không sao biết rõ được phương hướng các bộ hài cốt nằm dưới lòng đất ? Do đấy, lão phu mới có thể loại trừ được họ một cách dễ dàng ! Còn trái lại, nếu họ nói đúng được vị trí an táng, của từng bộ hài cốt, như nằm nghiêng nằm ngửa hay đầu gối lên đầu, chân đạm vào đâu, đúng như lời ghi chú rành mạch trong cuốn gia phả của dòng họ Nguyễn, thì đây mới thiệt là thầy địa lý chánh tông! Lão phu có thể tin tưởng vào tài năng của người ấy để nhờ xê dịch mộ phần.
ĐỒ KHÔNG CÓ MẮT
Ngừng lại một lát như để suy nghĩ thêm, quan Án Sát nói tiếp:
– Lão phu không phải là thận trọng vô ích đâu ? Cả tương lai một dòng họ khá đông con cháu như dòng họ Nguyễn ở làng Báo Văn này, hết thảy đều trông cậy vào tám ngôi tổ mộ, mà theo sự truyền tụng, đã kết phát được tới trên 100 năm rổi. Nay nhất đán, đang yên, đang lành, lại đem xê dịch đi, hay hơn trước thì chẳng sao, nếu rủi lại bị đứt long mạch, hay động trệ, nay tai này, mai họa khác, cất đầu lên không nổi, chẳng còn mong gì nở mày, nở mặt được với dân làng, thì hỏi ai phải chịu trách nhiệm, không những với bà con trong họ mà còn luôn cả với tổ tiên nơi chín suối nữa ! Lão phu là ngành trưởng, phải gánh vác hậu quả nặng nề hơn hết của sự xê dịch di táng này ! Nhiều lúc lão phu cảm thấy lo âu, sợ hải trước công việc phức tạp, khó khăn mà tổ tiên từng trối trăn lại, nên có ý muốn giữ nguyên tình trạng hiện thời, được đến đâu hay đến đó, chờ khi nào trong họ có triệu chứng suy sụp, lúc bấy giờ sẽ lo liệu cũng không muộn gì ! Nhưng khốn nổi trong gia phả, các cụ đã đinh ninh ghi chú, đời nọ ký thác cho đời kia, dặn con cháu phải luôn luôn nhớ như in vào tâm tư, phế phủ là đến năm Ất Mùi, dù trong họ không xảy ra việc gì cũng phải nhờ thầy địa lý di tản cả tám ngôi tổ mộ, không được vì cớ gì trì hoãn hay trái lời trăn trối ! Lão phu bình sanh tôn trọng lễ nghi, đạo đức, nên không thể nào dám cưỡng lời tổ tiên truyền lại ! Tình cờ được gặp lão trượng, lại được lão trượng giảng dạy cho nghe sơ lược về môn phong thủy thần bí, khiến lão phu mừng rở vô cùng, tin tưởng mãnh liệt đó là trời xanh phù hộ, và tổ tiên họ Nguyễn khôn thiêng dung rủi cho lão trượng đến đây vừa đúng lúc, để giúp cho lão phu hoàn thành trọng trách đối với tổ tiên ! Sau này con cháu họ Nguyễn giữ vững được nền nếp của Ông Cha, hẳn chẳng bao giờ dám quên ơn sâu hà hải của lão trượng!
Thầy địa lý vừa thong thả dạo bước quanh khu ruộng cao, vừa chăm chú quan sát địa hình, địa thế khắp nơi, bỗng đứng khựng lại, ngơ ngác nhìn thẳng vào mấy ngôi mả nằm ở giữa ruộng, đoạn mở khăn gói lấy tróc long ra, thận trọng đặt xuống một mô đất cao nhất vùng, rồi bất giác vỗ đùi kêu lên một cách tức bực :
– Hừ ! Đồ mù ! Không biết một tí gì đến môn phong thủy mà cũng đòi để mả cho người ta, làm thiệt thòi nặng cho các gia đình mộ chủ !
Vị hưu quan kinh ngạc trước sự tức giận bất ngờ của khách lạ, hấp tấp hỏi vội :
– Thưa… Có việc gì xảy ra, mà lão trượng phải nặng lời như vậy.
Như được người “gãi đúng chỗ ngứa”, nhà phong thủy dơ tay chỉ vào mấy ngôi mả nằm giữa ruộng, gàn giọng !
– Đấy, Đại nhân coi kìa ! Ai từng nghiên cứu về môn địa lý, cũng đều nhận thấy ngay được nơi tụ tập tinh khí của thửa đất, hay nói cho rõ nghĩa hơn : nơi quy tụ long mạch của ngôi đất quý ! Vậy mà người tìm đất, phụ trách về công việc phân kim, án hướng, lại lựa chọn chỗ quá cao kia, để an táng tám ngôi mả, thì quả là một chuyện lạ lùng ngoài sức tưởng tượng của những nhà địa lý chánh tông. Từ chỗ tám ngôi mả hiện thời đến nơi qui tụ long mạch, chỉ có chừng năm thước !
Nhà phong thủy, năm xưa, chỉ cần cho đào huyệt ở thửa ruộng thấp, là có thể táng mả trúng long mạch, tạo được sự kết phát vinh hiển hơn, oanh liệt hơn diểm phúc mà họ Nguyễn đã được hưởng thụ từ trước tới bây giờ.
Vị hưu quan tỏ ý hoài nghi :
– Lão trượng dạy thế, lão phu cũng biết thế thôi. Nhưng lão phu tin rằng: tổ tiên dòng họ Nguyễn, đa số là những danh nho, khoa bảng xuất thân, thấu triệt tinh tế lẽ huyền vi của môn địa lý, một khi đã tin tưởng vào sự lựa chọn của nhà phong thủy nào đó, ủy thác cho người ta trông coi một lúc tới tám ngôi mả, có tính cách quyết định vận mạng, phúc trạch của hàng mấy người, trong dòng họ, thì có lẽ đâu lại sai lầm cho được ? Hơn thế, từ hơn một trăm năm nay, căn cứ theo lời ghi chú trong gia phả, đang còn lưu lại từ đường, do chính lão phu là chi trưởng gìn giữ, thì con cháu họ Nguyễn, ngay từ khi tám ngôi mả kia quán khí, đều phát tích, thi đậu, kế tiếp nhau làm quan, dù chẳng Tể Tướng, Trạng Nguyên, cũng nối đời Tiến sĩ, Cử Nhân, Tri Phủ, Án Sát…
Thầy địa lý trừng mắt nhìn quan Án Sát, đoạn cười nhạt trả lời :
– Đại nhân không tin ? Đó là quyền riêng của Đại Nhân ! Lão chẳng biết nói sao bây giờ ?  Tuy nhiên, muốn cho Đại Nhân tin lời lão là xác thiệt, chứ chẳng phải là lời viễn vong, vu khoát thốt ra trong một lúc cao hứng nhất thời, lão sẽ cắm một cành cây khô héo, có thể nói là một cành cây đã chết hẳn hoi, xuống chỗ có long mạch, lão vừa chỉ cho Đại Nhân coi, rồi sau ba ngày, ba đêm, đại nhân sẽ biết rõ ràng sự thực. Nếu quả thực đó là nơi quy tụ long mạch, có đầy đủ khí thiêng nhật nguyệt, thì thời gian ba ngày, ba đêm, sẽ làm sống lại một cành cây khô héo, khiến cho cành khô đâm chồi, nẩy lá, tươi tốt mơn mởn, như đang được sống trên cây đại thụ, trồng vào nơi đất màu mở, phì nhiêu. Trái lại, nếu đúng long mạch đang quy tụ ở trên cao, nhằm chỗ an táng tám ngôi tổ mộ, thì cành khô sẽ vẫn khô héo cằn cổi như lúc mới cấm xuống đất, chẳng tạo được một chút sinh khí nào hết ! Đến nước ấy, lão sẽ quăng bỏ tróc long, đập bể la kinh, để tự ý đi tìm nghề khác, chứ không còn mặt mũi nào, đóng vai thầy địa lý đi đâu.
CÀNH CÂY KHÔ ĐÂM CHỒI NẨY LỘC
Phóng thẳng luồng nhởn tuyến, vào giữa mặt vị hưu quan, nhà phong thủy gay gắt tiếp lời :
– Ngay cả đến Đại Nhân, người được lão vô cùng kính trọng về tiết tháo, văn chương, lại tiếp đãi lão cực kỳ trọng hậu, ngay từ buổi đầu tiên, hội ngộ, lão cũng xin thề độc : cương quyết giả từ đại nhân, để đi âm thầm ở một nơi nào xa xôi hẻo lánh! Bao nhiêu tình nghĩa dang dở ngày nay, kiếp lai sanh chúng ta sẽ nối tiếp cho thỏa tình tri kỷ tương phùng !
Quan Án Sát cảm động trước lời tâm huyết chí tình của khách lạ, vội dơ tay phác một cử chỉ ngăn chận, cất giọng trầm trầm như có vẻ nghẹn ngào, xúc cảm: – Lão trượng bất tất phải bi quan thái quá ! Lão phu sở dỉ phải phân trần khúc triết về những sự kiện kỳ dị bao phủ quanh tám ngôi tổ mộ, chỉ là muốn có dịp trình bày một sự thực hiển nhiên: đó là sự kết phát từ khi an táng những hài cốt ấy đến bây giờ, căn cứ theo gia phả dòng họ lão phu chưa hề có một đời nào bị gián đoạn trong khoa danh hay hoạn lộ ! Bảo rằng những ngôi mả ấy bị sai long mạch, thì sao lại kết phát được tới mức độ ấy, Lão phu e sự tính toán xem xét của lão trượng có một phần nào sai lầm chăng ?
Thầy địa lý châu mày, lộ vẻ bất bình :
– Bất tất phải tranh luận làm chi, vô ích ! Đại nhân nếu chưa hoàn toàn tin tưởng những lời lão vừa trình bày, thâm tâm còn một phần nào hoài nghi, thắc mắc, thì lão xin hiến thêm một phương pháp thử thách nữa, tiến hành cùng một lượt với việc cắm cành cây khô xuống nơi hiện đang quy tụ long mạch do lão mới tìm được. Đó là cách đem một thân cây hết nhựa, cắm xuống cạnh ngôi tổ mộ, nằm chính giữa khu ruộng này, thử xem sau 3 ngày, nó có tươi tốt, khôi phục được nhựa sống như cành cây trồng ỡ nơi lão chỉ định không ?
Vị hưu quan vui vẻ gật đầu tán thành ý kiến ấy, rồi nhanh nhẹn tiến thẳng đến bụi khúc tần trước mặt, dơ tay bẻ luôn hai cành ổi lớn, tuốt bẻ hết mầm, lá đi, đem về chỗ cũ, đưa cho nhà phong thủy xét nghiệm.
Hai người hì hục một lúc lâu, vẫn không làm cách nào trồng được hai cành cây, vì ngoài một chiếc khăn gói nhỏ trên vai thầy địa lý, cả hai người đều không ai mang theo một thứ dụng cụ gì, khả dỉ đào được hai hố sâu để trồng cây, như lời đề nghị của nhà phong thủy là … Trồng hai cành cây xuống hai nơi xa cách nhau không quá ba sải tay : một cành ở giữa địa khu an táng tám ngôi tổ mộ nằm trên gò cao, một cành ở dưới ruộng thấp nơi chánh huyệt mà thầy địa lý vừa khám phá được.
Vừa dùng gót chân, nện chặt những tảng đất ẩm ướt gần đó, để cho hai cành cây tựa vào, nhà phong thủy vừa cất giọng gay gắt mỉa mai :
– Làm thầy thiên hạ kể ra cũng chẳng có chi là khó khăn cho nó lắm! Chỉ cần chuẩn bị đủ lệ bộ : cố mua sắm cho kỹ được mấy cái tróc long, la kinh và vài ba cuốn sách, đem xếp gọn tất cả vào một chiếc khăn gói là đã có thể nghiểm nhiên vỗ ngực : tự xưng mình là địa lý chánh tông, tìm đất để mả cho mọi người một cách rất tự nhiên, làm như mình là con cháu những vị thánh sư địa lý, được thừa hưởng cả một kho tàng vô giá về môn phong thủy thần kỳ !
Ngừng lại một lát lão lui hẳn về phía sau ba bước, nghiêng nghiêng mái đầu bạc phơ, nhìn sững cành cây, đoạn quơ tay, như muốn diển tả sự bất bình !
– Hừ, Thật là quái dị long mạch từ các phía đổ dồn cả về đây hết sức rõ ràng như thế này rồi mà ông ” thầy gà mờ ” nào đó lại còn nhận định sai lầm, đem tất cả tám ngôi tổ mộ táng hết ở phía trên, thì liệu có đáng tiếc không ở trời! Nhưng sự sai lầm ấy, kể ra cũng còn tạm tha thứ được phần nào, chứ cái lối xếp đặt vị trí mộ phần, theo hình chữ nhất, thì… quả thiệt là bất khả thứ dã! Chẳng cần phải bỏ công phu nghiên cứu, học hành về môn địa lý mới biết rõ, mà ngay đến những người chẳng bao giờ cầm đến cuốn sách, giảng dạy về các kiểu đất, với cách dò tìm long mạch, chánh huyệt, chỉ khẻ liếc qua địa hình, địa thế khu vực này, cũng nhận thấy ngay được tính cách cẩu thả của ông thầy địa lý mà chẳng hề biết gì về môn địa lý ! Chính nhờ đấy, lão mới nẩy ra ý định tìm tới quý phủ để bàn luận với đại nhân hầu kiếm phương pháp cứu vản cho tám ngôi tổ mộ đắc địa hơn, vì kiểu đất Phụng Hoàng Hàm Thư đâu có phải là một kiểu đất tầm thường, có thể tìm thấy được ở bất cứ chỗ nào, mà thực ra, nó có nhiều đặc điểm quý báu lạ lùng, dù không kết phát được tới đế vương, công hầu, khanh tướng song cũng làm đến Bố Chánh, Án Sát, đời này qua đời nọ, kéo dài hàng vài trăm năm mới bị suy giảm lần hồi, nếu người để mả biết rành về khoa phong thủy.
Mới trông sơ qua hình thế khu gò Cốt Đang với vị trí tám ngôi mả, lão cũng tưởng nó chỉ phạm vào chút khuyết điểm tầm thường không đáng kể mà nếu có ảnh hưởng đến sự kết phát thì cũng chẳng gây được tai hoạ chi nặng nề, khả dỉ làm tổn thương cho con cháu dòng họ Nguyễn sau này. Nhưng quả thực là một việc quá bất ngờ, khi lão có cái may mắn được theo hẳn Đại Nhân hôm nay, qua vùng này, vì nhờ đó lão mới có cơ hội thuận tiện quan sát kỹ lưỡng, toàn thể khu cánh đồng xứ Cốt Đang, để nhận chân ra sự sai lệch, không những về vị trí an táng, mà còn luôn cả đến long mạch nữa ! Mà nói đến long mạch, thì Đại Nhân hẳn cũng hiểu rằng : đó là vấn đề then chốt, một yếu điểm cực kỳ của môn địa lý! Bất cứ ai, một khi đã am hiểu khoa phong thủy, cũng đều phải công nhận một sự thật hiển nhiên : tay long, tay hổ, minh đường, án, trầm v.v…tất cả các điều kiện cần thiết của một mộ phần đắc địa, dù cho có đủ hết cả, mà chỉ sai lệch chánh huyệt, hài cốt không táng được đúng vào nơi quy tụ long mạch, thì nhất định ngôi mả ấy chẳng còn mong gì kết phát được nữa! Trái lại, có khi còn gây thêm sự động trệ, nguy hại cho gia đình mộ chủ là khác! Hậu quả ấy, chính là do âm công phúc trạch của tiền nhân, cũng như của chính bản thân mộ chủ, hãy còn đơn bạc quá, chưa đáng được hưởng ân huệ của Phật Trời, nên Tạo Hóa an bài, mới xui khiến cho mộ phần táng không nhằm chánh huyệt! Tính cách quan trọng của sự dò tìm chánh huyệt, đã làm cho lão nhớ đến công trình học tập năm xưa về môn địa lý: Suốt ngày lão phải dò xét, tìm kiếm cho được những đồng tiền điếu, dấu kín dưới các mâm gạo, mà sư phụ lão, đã dàn xếp, bố trí theo hình thể núi sông, gò đống, ruộng nương để giảng dạy học trò. Khi nào tìm thấy được đủ cả trăm lần, không sai lệch một lần nào, dù chỉ cách nhau một đường tơ, một sợi tóc, lúc bấy giờ mới được kể là thành tài, có đủ điều kiện đi để mả cho thiên hạ! Trong những ngày đầu, thấy địa hình, địa thế, do sư phụ lão bày ra trên mâm gạo, không có gì khó khăn lắm, lão cũng như các bạn đồng môn hết thảy đều coi thường, nhiều khi đùa nghịch bịt mắt lại, cũng kiếm được ngay tức khắc đồng tiền điểm dấu tại chánh huyệt! Nhưng rồi, địa thê, địa hình, theo đà tiến bộ của sự học hỏi, cứ mỗi ngày một phức tạp thêm, bí hiểm thêm, đòi hỏi lão cùng các bạn đồng môn phải khổ công nghiên cứu, đến quên ăn, quên ngũ mỗi khi gặp phải những kiểu đất lạ lùng, hóc hiểm. Kiểu đất Phụng Hoàng Hàm Thư này, cũng thuộc vào loại bí hiểm mà lão vừa trình bày, nên có lẽ vì thế, thầy địa lý nào đó, năm xưa, mới mắc phải những lổi lầm đáng tiếc ! Tuy nhiên, ở trên cỏi đời, nếu đã có bệnh trọng thì lẽ tất nhiên cũng phải có thuốc hay! Đây là công lệ của Tạo Hóa! Người ta chỉ lo không biết rõ căn bệnh, không biết đích xác bệnh chứng phát ra từ đâu, chứ nếu đã tìm được rành mạch bệnh căn, thì nhất định, sự điều trị không còn phải là chuyện viển vong nan trị nữa! Tám ngôi mả của dòng họ Nguyễn cũng vậy! Nhà phong thủy ngày xưa đã tìm được đúng kiểu đất quý, xứng đáng là thầy địa lý chính tông, nhưng tiếc thay, lại táng sai chánh huyệt, khiến cho long mạch chảy dồn cả xuống phía dưới. Tám bộ hài cốt chôn ở khu ruộng trên cao, vì vậy, chẳng có ngôi mả nào được long mạch tưới vào. Sự kết phát nếu có, hẳn chỉ là nhờ những khí thiêng tỏa ra, tạo ảnh hưởng ít nhiều cho cho các mộ phần kế cận!
Trước những lý luận đanh thép, và lời phán đoán sâu sắc, minh bạch của khách lạ, vị hưu quan cảm thấy kính phục nhà phong thủy một cách chân thành, coi lão như một nhân vật phi thường, thông kim, bác cổ !
Quan Án Sát gạt bỏ tất cả những ý nghĩ không tốt đẹp đối với thầy địa lý, hoàn toàn tin tưởng vào khả năng của khách lạ để xoay sở, thay đổi một tình trạng có thể gọi được là vô cùng trở ngại cho con cháu họ Nguyễn ở làng Báo Văn.
Nghĩ thế, rồi vị hưu quan không chút ngần ngại gì , hướng thẳng vào nhà phong thủy mà chấp tay kính cẩn nói rằng :
– Được lão trượng giảng dạy cho nghe những lởi vàng ngọc, lão phu như kẻ tối tăm, được vén mây, thấy ánh mặt trời !
Càng nghĩ, lão phu lại càng thầm cảm ân huệ của Phật Tròi, đã dung rủi cho lão trượng dời gót ngọc đến đây, ban phúc trạch cho lão phu và luôn cả con cháu dòng họ Nguyễn ở làng Báo Văn! Lão phu chẳng còn biết dùng lời lẻ gì để chứng tỏ lòng tri ân chân thành của lão phu đối với một bậc cao hiền có chân tài thực học như lão trượng! Vậy chỉ xin kính cẩn nhờ lão trượng mở lượng hải hà, thay đổi lại chiều hướng cho ngôi tổ mộ của lão phu được yên vị như như lời tiền nhân ghi chú trong gia phả, thì ơn ấy, lão phu thề chẳng bao giờ dám lãng quên !
Hai người nhìn nhau, cùng mỉm cười, rồi bất giác nắm chặt lấy tay nhau, xiết mạnh, như muốn truyền vào cơ thể của nhau, niềm thông cảm sâu sa giữa đôi bạn già, dù chỉ mới gặp nhau trong buổi sơ giao, nhưng lại biết trọng nhau vì nết, quý nhau về tài, qua những thử thách gay go phức tạp !
Trồng được hai cành cây khô xuống đất ở hai địa điểm khác nhau, nhưng vẫn không cách xa nhau tới ba sải tay, tuy không phải là việc khó nhưng tuổi già sức yếu, hai người đành rủ nhau, men theo đường cũ, trở về trong làng để gọi thêm một tên gia nhân trong nhà quan Án ra giúp sức.

NGƯỜI TÌM RA KIỂU ĐẤT PHUNG HOÀNG HÀM THƯ QUẢ NHIÊN BỊ MÙ THIỆT
Nội bọn trở lại cánh đồng có chôn tám ngôi mã thì mặt trời đã đứng bóng.
Tám gia nhân lực lưỡng, không hề phí một chút giây nào vô ích, ngay khi được nhà phong thủy chỉ cho biết chỗ phải đào để trồng hai cành cây khô, vội bắt tay ngay vào công việc một cách rất mải mê, chăm chú.
Mới trông toàn thể cánh đồng, ai cũng tưởng đất ở nơi này cũng không đến nổi khó đào cho lắm, nhưng chỉ nhìn qua những nét nhăn nhó, in hằn trên khuôn mặt đen sạm của tên gia nhân từ khi y vừa đào hết được lớp đất thứ nhất, sâu chưa tới một thép mai, những người đứng gần đây, cũng đều biết là y đang gặp phải loại đất cứng rắn, dù chẳng bền bỉ như đá, gạch, song cũng tốn nhiều công phu mới có thể đào sâu được gần tới long mạch, như lời căn dặn của thầy địa lý. Đào xong được chiếc hố sâu thứ nhất ở trên gò cao để chôn cành cây khô, thử xem khu vực này có đúng thiệt là linh địa không thì đã sang giờ Mùi khá lâu.
Tên gia nhân lại cắm cúi đào thêm hố thứ hai ở dưới ruộng thấp, nơi thầy địa lý cả quyết là đang tập trung tất cả linh khí và long mạch của kiểu đất Phụng Hoàng Hàm Thư.
Mặt đất chỗ này mới đào có vẻ như dễ dàng lắm, vì tên gia nhân chỉ cần ấn nhẹ luỡi mai xuống cũng đã bắt sang bên cạnh được một tảng đất khá to.
Nhưng càng đào sâu xuống phía dưới, đất lại càng như khô quánh, rắn chắc lại, đến nổi người lực điền có hai cánh tay gân guốc nổi lên cuồn cuộn như thừng chân, mà cũng phải mím môi, nín thở, dồn hết cả sức lực vào cán mai, mới đào được những miếng đất nhỏ không bằng nửa viên gạch chỉ !
Vị hưu quan và thầy địa lý đứng gần đây, hình như thông cảm nổi khó khăn vất vả của tên gia nhân đã luôn miệng khuyến khích y, và thay đổi nhau, kể lại những chuyện cổ tích ân đền oán trả, ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ cho y nghe, hầu y tạm lãng quên sự khổ cực, để mong hoàn thành cho chóng xong công việc, vì thực ra, hai người mải mê đi quan sát kiểu đất suốt từ sáng, cũng đã cảm thấy mỏi mệt lắm rồi!
Đúng lúc hai người đang uể oải vươn vai ngáp dài tỏ vẻ mệt nhọc sau gần nửa ngày đi đứng vất vả thì tên gia nhân chợt kêu to một cách cực kỳ sửng sốt : – Ồ này lạ ! Có cái gì đây này các Cụ ơi !
Tiếng kêu giật giọng của người lực điền đã khiến thầy địa lý giật mình, cặp mắt đang nặng trĩu như có vẻ buồn ngũ ghê ghớm của lão chợt mở to thao láo hẳn ra, rồi không cần chờ coi thái độ của quan Án Sát hưu trí, lảo nhảy ngay đến bên hố sâu hấp tấp hỏi vội :
– Có chi lạ mà chú em la hoảng thế hử ?
Tên gia nhân vẩn chăm chú thận trọng đưa nhẹ lưỡi mai đào sâu thêm chút nữa, không buồn ngẫng đầu lên, mà chỉ trả lời cộc lốc:
– Không biết là cái gì ? Hình như là viên đá thì phải…
Vị hưu quan cũng đã theo kịp bạn, đứng sát bên mình thầy địa lý, rồi cả hai cùng nghiêng đầu, phóng một lượt bốn luồng nhởn tuyến, theo đà chuyển động của lưỡi mai sắc bén sáng ngời. Anh lực điền bỗng quăng chiếc mai lên mặt đất, cúi rạp người xuống, lấy tay bới những mảnh đất vụn, gạt ra chung quanh, để lộ ra một màu trắng đục, khác hẳn màu đất thịt pha trộn cát sỏi ở phía trên.
Hai ông già bất giác cùng reo lên một lượt.
– Đúng là có tảng đá thật rồi.
Trong lúc tên gia nhân phủi tay đứng thẳng dậy, nhìn hai người như có ý thăm hỏi anh ta phải làm gì bây giờ, thì thầy địa lý đã dõng giạc nói to: – Cứ trông qua tình hình, tảng đá này chắc cũng khá to, chứ chẳng phải tầm thường đâu ? ta bắt buộc phải đào lên cho kỳ được để bỏ đi, thì mới có thể trồng được cành cây vào đúng nơi có long mạch quy tụ. Vậy chú em hãy chịu khó đào rộng ra chung quanh, theo diện tích tảng đá xem sao ?
Người lực điền không nói gì, lẳng lặng quơ ngay lấy cái mai, cặm cụi làm theo lời sai khiến của nhà phong thủy.
Bề mặt phía trên tảng đá không to lắm như sự tiên đoán của thầy địa lý, vì tên gia nhân chỉ đào rộng ra bốn phía, bằng diện tích một cái thúng lớn, đã thấy lộ ra đầu một tấm bia đá.
Hắn lại tiếp tục đào sâu xuống, bới gạt đất sang hai bên để moi hẳn tấm bia lên.
Hai Ông già thấy dưới lòng đất khu Phụng Hoàng Hàm Thư có tấm bia đá, biết trước là sẽ có những chuyện bất ngờ kỳ dị lạ lùng sắp xảy ra, nên cũng mất hết vẻ mệt nhọc, uể oải lúc trước, nhìn chòng chọc cả xuống hố sâu, theo dõi từng tảng đất của người lực điền sắn ra.
Đào sâu thêm chừng ngót một thước nữa (thước ta) thì tên gia nhân có vẻ thấm mệt, mồ hôi chảy giòng giòng trên hai gò má, chiếc áo cánh nâu dày cộm ướt sủng như vừa ngâm dưới nước đem lên, anh ta thơ phì phò, dồn dập in hệt người vừa bắt buộc phải nín hơi, để vận dụng hết sức lực, chạy thi một quảng đường dài !
Tên gia nhân chống cán mai, đứng lặng người nhìn sửng tấm bia đá như muốn ước lượng xem bề sâu của nó còn độ bao nhiêu nửa, rồi thẩn thờ đưa cặp mắt ngao ngán nhìn trộm chủ nhân.
Vị hưu quan bất chợt bắt gặp cái nhìn thất vọng, mệt mỏi ấy của người lực điền, hiểu ngay tâm trạng anh ta, liền nói với nhà phong thủy :
– Cứ xem qua tấm bia, lão phu tin chắc rằng nó còn được chôn sâu hơn nhiều nữa ! Mà tên gia nhân thì lại có vẻ mệt mỏi lắm rồi ! Vì vậy, lão phu thiết tưởng chúng ta nên tạm hoãn việc làm trong chốc lát, để cho nó về nhà, gọi thêm vài người nữa ra giúp sức.
Như thế, có lẽ vừa chóng xong, lại vừa đở cho tên gia nhân được một phần nào sự nhọc nhằn vất vả.
Tuy nóng ruột, muốn biết ngay xem tấm bia đá có những chữ chi kỳ lạ, nhưng trước những lời lẽ chí lý, rất xác đáng của vị hưu quan, nhà phong thủy tự xét, không còn có một giải pháp nào khác, đành phải miễn cưỡng gật đầu.
Quan Án Sát liền vỗ vai người lục điền, giọng thân mật :
– Mi khá về trong nhà, kêu ra đây hai người nữa, với đủ các thứ thuổng, cuốc, nghe ! Mau lên, kẽo mặt trời sắp xế bóng rồi đấy !
Tên gia nhân, dạ một tiếng rồi lanh lẹ nhảy khỏi miệng hố sâu, vừa đi vừa rủ những lớp đất cát bám đầy bộ quần áo nâu dày cộm !

Thầy địa lý kín đáo, liếc trông vị hưu quan, đang đi đi, lại lại chung quanh chiếc hố đào dở, mắt không rời khỏi tảng đá nằm im lìm ở giữa đống đất ngỗn ngang.
Lão hiểu rõ hơn ai hết, sự nóng lòng, sốt ruột của quan Án Sát hưu trí!
Vì mới mấy giờ trước đây, không nghe lão tỏ ý lo ngại về nạn đất rắn, không thể nào, chỉ dùng tay không mà trồng nổi được hai cành cây xuống tận nơi có long mạch đang quy tụ, vị hưu quan cũng nhất định không chịu nghe lời, cứ cương quyết đòi trồng ngay cho kỳ được.
Nhưng loay hoay, soay sở mãi, hai cành khô vẫn nghiêng ngã muốn đè rạp cả về phía trước, khiến ông ta cuống quít, phải vội vàng dùng gót chân, nện mạnh chung quanh gốc cây khô, mong nó có thể đứng vững được.
Nhưng chỉ trong chớp mắt, nó lại lảo đảo theo chiều những cơn gió giật và cuối cùng bật tung hẳn lên, kèm theo ít mảnh đất vụn!
Thấy đã tốn công: Ba lần trồng xuống mà cả ba lần đều bật tung cả lên, vị hưu quan mới chịu trở về gọi người nhà ra giúp sức.
Vậy mà có ai ngờ đâu, đất nơi đây chẳng những đã pha cát sỏi, rắn chắc như gạch ngói, mà mới đào hố tới nửa chừng, lại còn gặp phải một tảng đá khá to ngăn chận, khiến cho một tên gia nhân lực lưỡng, vẫn không đủ sức làm được trọn vẹn công việc : đào tấm bia đem lên cho mọi người xem, để lấy chỗ trồng cành cây khô, thử coi chỗ này có long mạch thật không, hay đó chỉ là lời ức đoán vu vơ của nhà phong thủy ?
Phải cho tên gia nhân chạy về kêu thêm hai hay ba người khỏe mạnh nữa đến giúp sức, thầy địa lý hiểu rõ nỗi khổ tâm của vị hưu quan trong sự đợi chờ bất đắc dĩ này lắm, vì mộ chủ rất băn khoăn về những việc xãy ra, nhất là muốn biết ngay tức khắc xem tấm bia kỳ lạ kia có viết những chữ gì ? Liệu có liên can chi tới sự kết phát của dòng họ Nguyễn hay không ?
Quan Án Sát hưu trí đi quanh chiếc hố đào dỡ không biết đã đến mấy chục vòng rồi, mà trí óc hình như vẫn còn trĩu nặng niềm ưu tư, phiền muộn, nên ngao ngán, tiến đến bên cạnh nhà phong thủy, hỏi vội, sau một tiếng thở dài não nuột: – Lão trượng tính sao về tấm bia quái dị kia? sao nó lại nằm trong khu vực an táng mộ phần họ Nguyễn? Liệu nó có dính líu chi đến kiểu đất Phụng Hoàng Hàm Thư không ? Do ai khắc bia với chôn bia hở lão trượng ?
Trước những câu hỏi dồn dập, đượm vẻ lo âu, băn khoăn đến tột độ của vị hưu quan, nhà phong thủy như cảm thấy ái ngại, rồi bất giác, nắm chặt lấy bàn tay khẳng khiu, nóng hỏi như bàn tay một người đang lên cơn sốt trầm trọng mà an ủi rằng :
– Đại nhân bất tất phải băng khoăng; thắc mắc làm chi cho hao tổn tinh thần. Bất cứ việc gì, dù lớn nhỏ tầm thường hay quan trọng đến đâu, cũng đều do sự an bài của Tạo hóa, thu gọn trong luật nhân quả của Phật Trời! Sức người dù mạnh thế nào, cũng không sao cưỡng lại được? Việc phải đến, sẽ đến ! Người hiền lương có bao giờ gặp phải tai ương đâu ? Dòng họ Nguyễn, từ bao đời nay, được nối tiếp hiển vinh, dù là bằng cớ hiển nhiên do âm công tích thiện của các Cụ nhà ta ngày xưa cấu tạo nên! Đại nhân có thể vững tin vào đấy, mà trau dồi tô điểm thêm cho âm đức được cao dày hơn nữa thì lo gì con cháu không được nối đời hưởng thụ giàu sang!
Quan Án Sát hưu trí, tươi nét mặt hớn hở tạ rằng :
– Đội ơn lão trượng chỉ dạy, lão phu như người đang đi trong đêm tối, được vén mày trong thấy thái dương ! Nhờ có những lời vàng ngọc ấy, từ nay lão phu có thể vui sống theo số mạng, lấy việc tu thân, tích đức làm phương châm duy nhất và lẽ sống tối thượng ở đời, hy vọng con cháu sau này, nở mày, nở mặt được với thiên hạ!
Hai người còn đang mải mê đàm đạo, thì từ xa, ba người lực điền đã vác cuốc, vác thuổng lần theo con đường đất gồ ghề ra khỏi cổng làng rồi men bờ ruộng, lầm lủi đi tới.
Ra đến nơi, mấy chú gia nhân, không chịu bỏ phí một giây phút nào bắt tay ngay vào công việc, phân công nhau kẻ đào đất người xúc đất lên miệng hố.
Chỉ chừng đầu giờ Thân, toàn thể tấm bia đá phơi hẳn mình dưới ánh hoàng hôn êm dịu.
Nhưng ba người lực điền bỗng cùng một lúc kêu lên hoãng hốt :
– Ô hay, Sao lại thế này ? Không phải chỉ có một tấm bia mà thôi đâu? Hình như còn có cả một tảng đá lớn nữa, nằm ngang ở dưới đáy này các Cụ ạ !
Hai ông già cùng nhảy vội xuống hố, cúi rạp mình quan sát, thì thấy rõ ràng tấm bia, bề cao độ thước rưỡi (ta), bề ngang chừng một thước, được đặt dựng đứng trên một phiến đá to hơn nhiều.
Chân bia được lồng hẳn vào phiến đá lớn, bằng một lỗ đục vừa vặn, như người đóng mộng kẹp vào, mà đất cát, qua năm tháng thời gian, đã nêm chặt lại, vững vàng, kiên cố còn hơn gắn bằng các chất vôi cát pha trộn với mật, mà các cụ ngày xưa thường dùng xây cất nhà cửa, bể đựng nước v.v…
Mấy chú lực điền xúm nhau lại, mím môi nín thở cùng vận dụng toàn lực cố lay tấm bia, định nhắc bổng hẳn lên trên mặt đất, nhưng vô ích, tấm bia vẫn đứng trơ không nhúc nhíc, hàn gắn liền với khối đá nằm ngang, toàn thể chỉ là một phiến, được chia ra làm mấy bộ phận khác nhau.
Với dáng điệu bồn chồn khắc khoải của một người nóng nảy, vị hưu quan không cần câu nệ, giữ gìn phong độ oai nghiêm, bệ vệ lúc thường nhật, ngồi xổm luôn dưới hố sâu, lấy tay thoa đi, thoa lại nhiều lần lên mặt tấm bia, cố ý muốn đọc ngay những dòng chữ chi chít, ghi trên, xem người chôn bia viết những gì, có dụng ý gì mà lại chịu tốn công, chôn tấm bia một cách cực kỳ bí mật như thế ?
Song mặc dầu đã lau chùi rất kỹ lưỡng, hai bàn tay gầy đét nhănnheo, chỉ còn trơ da với xương của quan Án Sát hưu trí, lại bị đỏ ửng, sưng phồng lên nhiều chỗ vì bị cọ sát mạnh trên một vật cực kỳ cứng rắn, vị hưu quan vẫn không sao đọc được chữ nào, vì ánh sáng buổi hoàng hôn dưới hố sâu, không đủ soi rõ những hàng chữ đục trên đá, mà hầu hết những nét ngang dọc, chấm phảy đều bị bùn đất che lấp, sờ lên chỉ thấy nhẳn lỳ và mát rượi, cơ hồ như một tấm ván mới được bào gọt rất tinh vi kỹ lưỡng !
Đứng vụt thẳng người lên, quan Án Sát lắc đầu, nói qua giọng tức bực :
– Không đọc nổi chữ nào hết ! bây giờ bọn mình phải ráng sức, đào rộng và sâu thêm chút nữa đi ! Mau tay lên kẻo không kịp đó!
Ba chú lực điền, thấy chủ cau có, cũng có ý sợ hải, vội hè nhau tiếp tục làm việc.
Với tất cả sức cố gắng, bọn gia nhân cũng hăm hở, kẻ đào, người xúc, chẳng chút nề hà, quản ngại, nên chỉ một lát sau, toàn thể tảng đá đã lộ hẳn ra.
Thì ra đó là một con rùa khá lớn tạc bằng một phiến vân thạch tuyệt đẹp, mà trên mai rùa, có đục một lổ thủng, vừa vặn đủ chỗ để đặt tấm bia.
Phải tốn nhiều công phu, mãi tới gần tối, sáu người lực điền mới đem được “con rùa đội tấm bia đá ” lên khỏi hố sâu, để sau khi lấy nước lau chùi thật sạch sẽ kỹ lưỡng, quan Án Sát và thầy địa lý mới sai gia nhân đốt đuốc lên, để cùng đọc những hàng chữ viết theo đủ các kiểu : chân, thảo, triện, lộ, nét bút tung hoành như rồng bay, phượng múa !
Dưới ánh mấy bó đuốc làm bằng nhựa thông, bốc cháy ngùn ngụt, soi sáng cả một vùng đồng ruộng, gò đống chập trùng, thầy địa lý cất cao giọng đọc :
Ngũ bách niên chi tiền , mạch tại thượng ”
” Ngũ bách niên chi hậu, mạch tại hạ ”
” Vị thùy vô mục, quả vô mục dả “

Phía dưới có mấy hàng chữ nhỏ :
Dương Đức nguyên niên” ” Thanh Lã bi ký “.
Đọc xong mấy hàng chữ trên bia, quan Án Sát hưu trí mỉm cười, liếc mắt nhìn trộm thầy địa lý.
Nhưng nhà phong thủy, ngay từ khi mới được đọc hết mấy hàng chữ lớn, đã đỏ bừng mặt mày, mồ hôi ướt đẩm trán mặc dầu gió đêm ở cánh đồng mông mênh hiu quạnh, thổi tới ào ào lạnh buốt, làm tê dại cả thịt da những thanh niên cường tráng !
Lão lẩm bẩm : – Hừ ! Lạ thật ! Thế này là nghĩa lý gì ? Chẳng lẽ cụ Thanh Lã từ mấy trăm năm trước, lại có thể biết được đích xác là long mạch kiểu đất Phụng Hoàng hàm Thư bắt đầu từ ngày này, tháng này, năm này, lại di chuyển từ trên cánh đồng cao quy tụ xuống cả dưới ruộng thấp sao? Thật là khó hiểu !
Nhà phong thủy cứ lầm bầm đọc đi, đọc lại mãi mấy hàng chữ trên tấm bia, trí óc hoang mang, vấn vương trăm ngàn câu hỏi, cơ hồ lãng quên cả những người đứng chung quanh.
Cho mãi đến lúc quan Án Sát lên tiếng hỏi, lão mới gật mình, bâng khuâng như đang chìm đắm trong một giấc mơ quái dị.
Lão trượng nghĩ sao về tấm bia này ? Chẳng lẽ cụ Thanh Lã, từ mấy trăm năm trước, đã tiên đoán được sự di chuyển long mạch, từ trên cao xuống dưới thấp sao ?
Thầy địa lý ngơ ngác nhìn bạn đáp bằng giọng cáu kỉnh, tức bực:
– Thì bằng cớ hiển nhiên đấy rồi, Đại nhân còn nghi ngờ chi nữa ! Cụ Thanh Lã năm xưa, nếu không biết rõ ràng thế vận chuyển của long mạch, thì sao cụ lại bí mật chôn tấm bia này, để gián tiếp báo cho người đời biết rằng: từ mấy trăm năm trước cũng đã có một vị thánh sư địa lý, quán triệt địa lý của luật âm dương, thông suốt được sự hưng vong, thịnh suy, bỉ thái của các dòng họ…
Đoạn thở dài não nuột, nhà phong thủy chép miệng, vừa lắc đầu, vừa ngao ngán nói tiếp :
– Lão nghĩ lại mà thấy hổ thẹn vô cùng ! Mình tài học vốn không bằng ai, sự hiểu biết lại cũng chỉ thu hẹp trong phạm vi mấy cuốn sách : chi hồ giả giả, cũ rích, vậy mà trong lúc bồng bột sôi nổi, lại dám lớn tiếng chỉ trích, chê bai cả cổ nhân, tài năng, đức độ, xứng đáng là bậc thầy của mình, thì quả thiệt là mình ngu dốt lạ lùng, nếu không phải là đứa ngông nghênh thì cũng chẳng khỏi mang tiếng cuồng ngôn, loạn ngữ, làm trò cười cho người thức giả !
Rồi, vò đầu, bứt tai, mắt môi đỏ gay như người say rượu, thầy địa lý lầm bầm như chỉ nuốn nói riêng với chính mình :
– Hừ ! thiệt không còn trời đất nào? Mình ngốc nghếch đã chẳng tự biết thân, lại dám công khai mở miệng phê bình người tìm được kiểu đất Phụng Hoàng Hàm Thư là đồ mù, đồ hữu nhãn vô châu, thì hỏi còn gì điên rồ hơn nữa không ?
Như chợt nhớ tới một điều gì quan trọng, thầy địa lý vội cúi sát đầu gần chạm mặt tấm bia đá, hai ba lần giụi mắt chăm chú, đọc đi, đọc lại câu cuối cùng : “… Vị thùy vô mục, quả vô mục dã ” Rồi lại lẩm bẩm tự hỏi:  – Thế là nghĩa thế nào ? Người viết văn bia có dụng ý gì, khi trách thiên hạ bảo mình mù rồi lại chính tự nhận mình là… không có mắt thiệt? Sao lại có chuyện rắc rối kỳ dị như vậy ? Khó hiểu quá trời đất ơi!
Thấy người bạn già đột nhiên đổi hẳn thái độ, đang hiền hòa vui vẻ, bỗng biến thành buồn phiền, ủ rủ, hết nói lẩm bẩm một mình, lại đến kêu trời, kêu đất, giọng điệu cực kỳ chán nản, thì kinh ngạc, nhìn sửng nhà phong thủy với nét mặt lo âu, sợ hải, rụt rè, mãi mới dám đặt nhẹ bàn tay khẳng khiu của mình lên trên vai bạn, dịu dàng cất tiếng :
– Lão trượng có điều chi bất như ý, mà thần sắc lại vụt biến đổi nhanh chóng dị thường như thế ? Vào cở tuổi chúng mình mà lo buồn thái quá lão trượng há không sợ hao tổn tinh thần sao ?
Thầy địa lý có vẻ xúc động trước sự săn sóc chu đáo của bạn cũng vội đưa bàn tay run run xiết chặt lấy cánh tay của vị hưu quan, như muốn biểu lộ niềm thâm cảm sâu sa, rồi mới chậm rải trả lời :
– Lão không buồn phiền sao được khi nhớ tới thái độ ngạo mạn, và lời nói hổn xược của mình hôm trước trong lúc đại nhân đưa lão đi phúc lại mấy ngôi tổ mộ ở cánh đồng xứ Cốt Đang? Đem rìu múa rối ở trước cửa Lổ Ban, lão đã làm một việc rất vô ý thức, mà nếu lọt tai các bạn đồng nghiệp, lão tránh đâu cho khỏi mang tiếng là người thiển cận? Lão không còn biết làm cách nào, để có thể tạ tội được với cổ nhân? Mà nào đã hết đâu ? Mấy câu đầu khắc trên bia đá, nói về sự chuyển dịch của long mạch : năm trăm trước long mạch quy tụ ở trên cao, còn năm trăm sau, long mạch lại quay chiều, quy tụ ở dưới thấp, thì ý nghĩa đã rõ ràng lắm rồi !
Chẳng cứ chúng ta, mà có thể nói là bất cứ ai ai, một khi đã học hết cuốn Tam Tự Kinh, cũng đều hiểu được rành mạch ý nghĩa của văn bia. Nhưng còn câu nói cuối cùng thì sao ?
Đại nhân thử đọc kỹ lại một lần nữa, rồi cho lão phu biết qua tôn ý ?
Vị hưu quan không nói gì, cẩn thận đọc từng chữ, như cố tình nghiền ngẩm toàn thể bản văn, muốn tìm một ý nghĩa xác thực về câu cuối cùng, xem nó có liên quan gì đến khu đất quý có táng tám ngôi tổ mộ của họ Nguyễn ở làng Báo Văn không ?
Nhưng không ? Càng đọc, quan Án Sát càng đi sâu vào sự bâng khuâng, hoang mang, chẳng biết đâu mà phỏng đoán nữa.
Nếu nói rằng thiên hạ bảo người tìm được kiểu đất Phụng Hoàng Hàm Thư là…mù, không biết long mạch quy tụ ở phía ruộng thấp, lại đem táng một lúc cả tám ngôi tổ mộ ở trên đồi cao, hai địa điểm dù chỉ cách nhau vài sải tay, song ảnh hưởng kết phát, nếu đúng như lời tiên đoán, sẽ khác biệt nhau một vực, một trời, nhưng sao chính thầy địa lý, người tìm được kiểu đất ấy cũng tự nhận mình không có mắt !
Thật là vô cùng kỳ dị, khó hiểu lạ lùng !…
Làm nghề gì mà thiếu cặp mắt tinh tường cũng còn không phân biệt được sự xấu tốt, đẹp đẻ, hay thô sơ, chứ một khi đã đi tìm đất để mả cho thiên hạ mà không may lại bị mục tật, hai mắt không trông thấy thì còn biết đâu là tay long, tay hổ, nơi nào là chánh huyệt để ban phước lành cho mộ chủ ? Vậy mà trên văn bia, chính nhà phong thủy, sau khi phiền trách thiên hạ bảo mình là ” đồ không có mắt ” lại cũng tự nhận luôn mình quả nhiên không có mắt thật thì còn biết thế nào mà xét đoán nữa ?
Trong lúc hai ông già mãi suy nghĩ trầm ngâm về ý nghĩa mấy câu văn bia hóc hiểm, mà chưa tìm được một lời giải đáp nào khả dĩ gọi là vững vàng, chắc chắn, thì đám thanh niên trong dòng họ Nguyễn, ngồi xúm quanh con rùa đá, người thì tò mò lấy luỡi dao nậy đất ở chung quanh chân tấm bia, người thì đưa tay vào mồm rùa, sờ nắng coi có chi khác lạ ở phía trong không, chàng trai thứ ba chợt đưa tay lay mạnh tấm bia, thấy tấm đá nặng nề chuyển động thì kêu lên sững sốt:
– Tấm bia chỉ gắn trên mai rùa thôi, chứ không phải là 1 khối nguyên vẹn với con rùa đâu ?
Nghe chàng trai này nói thế, thanh niên đang dùng lưỡi dao nạy đất ở chân tấm bia, vội nhanh tay cạo mạnh thêm.  Đồng thời, tên gia nhân kia cũng tiếp tay, giúp sức bạn. Chỉ trong chốc lát, họ đã lấy ra được tất cả đất bùn, cát sỏi, bám chặt dưới chân bia, nên tấm đá đang dựng đứng, bỗng nghiêng hẳn về phía trước. Ba thanh niên vội đứng vùng dây, đở lấy tấm bia, khiêng đặt ra bên cạnh.
Trên mai rùa lớn, lúc bấy giờ, để lộ ra một hóc to đen ngòm.
Thầy địa lý không mãi mê theo dõi những dòng chữ trên văn bia, mà lại cúi đầu nhìn xuống mai rùa. Chợt lão thò tay vào hóc sâu, lôi ra một ống đồng dài chừng hai gang, chung quanh sét rỉ, nham nhở, chứng tỏ chiếc ống này nằm trong lòng rùa đá cũng khá lâu ngày !
Loay hoay mãi, thầy địa lý vẫn không sao mở được nắp chiếc ống đồng quái dị, chỉ không to hơn miệng cái chén cỡ trung bình, nhưng sét rỉ lại bám đầy, không còn phân biệt phía nào là đáy, phía nào là nắp nữa.
Một chàng trai đứng gần đấy, thấy thế, liền lễ phép xin lão trao lại mình chiếc ống, để anh ta dùng đá sỏi đánh kỹ lên lớp đồng hoen rỉ thì có thể mở được dễ dàng.
Quả nhiên chỉ trong chốc lác,chiếc ống đồng bẩn thỉu, nhơ nhớp đã biến thành một chiếc ống xinh xắn với nước đồng bóng lộn, sáng như gương, làm nổi bật một đường hằn nhỏ như sợi tóc, ngăn cách hai phần : nắp và đáy chiếc ống !
Thầy địa lý phải lấy lưỡi dao mỏng, luồn theo đường hằn nhỏ kia, để cạo dần những đất cát bám ở phía trong, hầu như được kết tụ lại có vẽ rắn chắc, không kém gì một chất nhựa đặc biệt, mà cổ nhân vẫn dùng để hàn gắn các loại kim khí, hay đồ sành sứ vậy !
Khi chiếc nắp đồng được bật tung ra, hai ông già lại càng kinh ngạc hơn nữa, vì người nào cũng yên trí rằng sẽ được trông thấy một bảo vật kỳ lạ chi đó ở bên trong. Nào ngờ đâu phía trong lại chỉ có một chiếc ống tre già nữa, bọc sáp khá dày, bao quanh khúc tre giống hệt như ruột khúc cây bào gọt nhẳn nhụi.
Mọi người truyền tay nhau xem xét khúc cây rất kỹ lưỡng một lúc lâu, mới lấy dao, gạt bỏ lớp sáp ngoài, đễ lộ ra một lần giấy bẩn phết nhựa cây và nhựa sơn đen kịt, láng bóng như quang dầu.
Trong lúc thầy địa lý còn đang ngấm nghía, muốn tìm đầu mối của cuộn giây nhựa để mở ra cho dể, thì vị hưu quan chừng như nóng ruột, không thể nào chờ đọi được lâu nữa, liền mạnh tay dằn lấy lưỡi dao của chàng thanh niên đứng kế cận vạch thẳng một đường dài từ trên xuống dưới.
Lớp giấy sơn dày tới nửa ngón tay theo đà cắt của lưỡi dao, mở tung ra, để lộ màu nâu sẩm của chiếc ống
tre, mà qua năm tháng thời gian, đã không còn giữ được màu xanh tươi thuở ban đầu
Đó là một cái ống quyển thô sơ, mà ngày xưa người ta thường dùng, để cất giữ những giấy tờ cần thiết như văn tự hay gia phả của dòng họ.
Các thầy khóa thời mực tàu, giấy bản cũng dùng ống quyển để đựng kinh sách. Nhiều người còn chăm lo cho chiếc ống quyển của mình một cách cực kỳ mỹ miều, diêm dúa như sơn đỏ, kẻ một vài đường kim nhũ hay ngân nhũ ở trên nắp.
Nắp chiếc ống quyển bằng tre già được mở ra, vị hưu quan vội đưa hai ngón tay vào, nhẹ nhàng nhưng thận trọng, lôi ra cuốn sách cuộn dài theo chiều chiếc ống quyển.
Thấy dáng điệu nóng nảy, hấp tấp của quan Án Sát, nhà phong thủy cười thầm, càng chăm chú theo dõi hành vi của bạn.
Vị hưu quan cầm cuốn sách không dày lắm lên tay một cách trìu mến, lật ngược, lật xuôi xem xét rất cẩn thận thì thấy hai tấm bìa bồi rất công phu, toàn phết bằng nhựa cây, dày cứng như mo cau.
Cố đưa về phía trước mặt, để đọc qua mấy hàng chữ ghi ở trang đầu, nhưng quan Án Sát đành thở dài, buông thỏng tay xuống, vì ánh sáng không đủ chiếu rõ những hàng chữ nhỏ, mà muốn đọc, quan Án Sát cần phải có một thứ kiếng riêng chỉ dùng để xem sách.
Thầy địa lý ái ngại an ủi :
– Đại nhân để về nhà rồi chúng ta coi, cũng không muộn gì ?
Điều cốt yếu, ta nên cho khiêng luôn cả con rùa đá với tấm bia này về làm kỹ niệm, để ghi nhớ một giai thoại liên quan đến kiểu đất dị kỳ, ít khi thấy trong môn phong thủy.

Thứ nhứt dinh cơ, thứ nhì mồ mà !
Cuốn sách nhà phong thủy tìm thấy trong mai rùa bằng đá, cùng với tấm bia của vị thánh sư địa lý Thanh Lã, chôn vùi trong khu vực kiểu đất Phụng Hoàng Hàm Thư : nơi an táng tám ngôi tổ mộ của họ Nguyễn ở làng Báo Văn, ngoài sự ghi chú rành mạch về phương hướng chuyển vận long mạch, từ trên cao xuống dưới thấp, trong mỗi thời hạn năm trăm năm, còn biên chép thêm cả tiểu sử và vận hạn của vị thánh sư địa lý, từng nổi tiếng là kỳ tài trong thiên hạ từ bấy giờ.
Vị hưu quan càng đọc thêm phụ chú nói về tai họa của Cụ Thanh Lã, vì nhà phong thủy trứ danh về đời Lê, không những đã có biệt tài tìm đất, để mả mưu hạnh phúc giúp người đời, khiến cho nhiều gia đình đang nghèo khổ, khốn quẫn, nhờ có một mả kết phát, chỉ trong một thời gian ngắn ngủi đã có thể võng lọng nghênh ngang, ngựa xe đủng đỉnh, bạc vàng đầy đủ, danh giá lẫy lừng, mà còn có tài để hướng nhà cũng linh nghiệm, có khi còn hay hơn cả việc an táng hài cốt người quá vãng !
Một ngôi dinh cơ khoáng đảng, tả hữu, tiền hậu có đủ những cảnh trí thiên nhiên, tốt tươi đẹp đẽ, nóc nhà nhờ thầy địa lý chính tông đặt cho thật đúng chỗ, đúng hướng, cổng mở phải phép, bếp làm đúng kiểu thì nhất định sự kết phát không còn là chuyện hoài nghi, viễn vong nữa.
Chính vì vậy, mà các cụ nhà ta ngày xưa, mới có câu cửa miệng : “Thứ nhất dinh cơ, thứ nhì mồ mả ” !
Nhưng thường tình thiên hạ, người ta phần nhiều chỉ chú trọng vào việc mồ mả, lo tìm kiếm, xây đắp mộ phần cho ông bà, cha mẹ thật chu đáo, chứ chẳng ai nghĩ tới sự tìm đất làm nhà, mặc dầu thanh niên nào, khi lập gia đình, cũng phải cố xây dựng cho kỳ được, một mái nhà, vừa để làm tổ ấm uyên ương cho đôi vợ chồng son mới cưới, vừa để tập cho quen một đời sống tự lập, không cần đến sự giúp đỡ của cha mẹ, anh em !
Nói thế, không có nghĩa là người ta làm nhà cẩu thả, thích hướng nào làm hướng ấy đâu? Mà sự thực, người ta cũng xem xét kỹ lưỡng lắm, nào là chọn ngày đổ nền, khởi công đào móng, nào là nhờ người cất nóc, trấn yểm quỷ quái, tà ma ! nếu gặp phải một ngôi nhà nào khác, hay đình, chùa đền, miểu chi đó, đâm thẳng vào giữa nhà mình, gia chủ còn phải rước thầy về cúng vái yểm trừ bằng một lá bùa bát quái hay một tấm gương nhỏ có thư phù cẩn thận đặt đúng ngay vào nơi phản chiếu với chướng ngại vật nọ! Nhưng công việc tìm kiếm nền nhà, xây dựng tường mái, dù thận trọng đến đâu, so với sự an táng hài cốt người quá vảng, cũng vẫn bị thua kém xa.
Sự kiện ấy, cũng không có gì là lạ, khi người ta quan niệm rằng : kiếp sống của con người chỉ là một chuổi ngày tạm bợ, phù du, dù cho vua chúa, khanh tướng, công hầu, phu nhân, mạng phụ hay cùng đinh, phú hộ, đến khi tắt thở, nhắm mắt buông tay cũng phải trở về với cát bụi, bỏ mặc trên trần thế tất cả tiền bạc, của cải.
Lúc đó, mới là nơi an nghĩ vĩnh viễn theo đúng lời thánh hiền truyền lại: sinh ký tử quy (” sống gửi thác về “).
Mớ tàn cốt chôn sâu dưới đất, vì thế mới có liên hệ mật thiết với những thân nhân trên dương thế.
Hài cốt an táng ở một địa điểm mát mẻ, có cảnh trí kỳ tú bao quanh, thì con cháu cũng được mát mặt phong lưu. Trái lại, nếu phần mộ nằm vào nơi u uất, như chôn giữa vùng đất vôi, hoặc có rễ cây, đâm từ trên cao xuống, làm thương tổn đến tiểu đựng hài cốt, thì thế nào thân nhân cũng gặp phải tai họa nặng nhẹ tùy theo số mạng và trường hợp mộ phần bị động trệ !
Hơn nữa do tinh thần tôn trọng tổ tiên, theo tục lệ cổ truyền bất di, bất dịch của Đông phương, các cụ nhà ta ngày xưa đã coi việc săn sóc mộ phần tổ tiên như một bổn phận thiêng liêng của bất cứ ai trong dòng họ.
Nhiều người không may làm ăn bị thất bại, có thể lìa bỏ dễ dàng cửa nhà, để đi nơi khác lập nghiệp. Nhưng họ lại rất băn khoăn, tỏ vẻ đau đớn vô cùng, khi phải xa cách phần mộ tổ tiên, không còn được tới thường, săn sóc, chăm nom đến nơi an nghỉ cuối cùng của người quá vãng nữa !
Thiên hạ thường tin tưởng mãnh liệt rằng : chỉ khi nào những linh hồn dưới chín suối được an nghĩ mát mẻ thì thân nhân nơi trần tục mới có thể lạc nghiệp an cư !
Nhiều giai thoại về mồ mả kết phát hay động trệ, đã được truyền tụng, phổ biến khắp noi, để chứng minh cho lẽ huyền bí kỳ dị của môn địa lý!
Cuốn sách tìm được trong mai rùa đá, không phải là thủ bút của cụ Thanh Lã, tác giả tấm Văn bia, được chôn trong khu đất Phụng Hoàng Hàm Thư từ năm Dương Đức đầu tiên (nhằm đời vua Lê Gia Tôn), mà chính do tổ phụ quan Án Sát họ Nguyễn sưu tầm, ghi chép, để người đời sau biết rõ đức tài lỗi lạc, trí óc siêu việt của một vị túc nho, quán thông kim cổ, không may bị nhà vua nghi ngờ, kết tội khi quân, đến nổi uổng phí cả một kiếp hào hoa, phong nhả !
Cứ theo mấy lời ghi chú mở đầu trong cuốn sách, thì sau khi tìm giúp được cho dòng họ Nguyễn ở làng Báo Văn khu đất Phụng Hoàng Hàm Thư, để an táng tám ngôi tổ mộ, Cụ Thanh Lã có tiên đoán số phận đen tối của mình cho mọi người biết.
Dân làng, nhất là tổ phụ họ Nguyễn thuở ấy, không một ai chịu tin là có thể xãy ra việc đó. Cụ Thanh Lã thấy mọi người tỏ ý hoài nghi, tức mình quá, liền mướn thợ đá, khắc một tấm bia, nói rõ sự chuyển hướng long mạch từ trên cao xuống dưới thấp, và không quên nhấn mạnh cả lời chê bai của thiên hạ: sẽ có người bảo mình là đồ không có mắt, nên tuy làm nghề địa lý mà lại không biết rõ nơi nào quy tụ long mạch !
Đồng thời vị thánh sư địa lý dưới triều Hậu Lê, cũng nhận luôn là mình … không có mắt thật sự !
Nhưng tại sao lại có sự tiên đoán kỳ dị ấy ?
Đó là cả một thiên thảm tử vô cùng đau thương, mà tổ phụ quan Án Sát họ Nguyễn đã dụng công ghi chép, hai mươi năm sau, khi tám ngôi tổ mộ, do cụ Thanh Lã táng giúp đang bắt đầu kết phát, còn Cụ thì bị tai hoạ khốc liệt, tàn phế trọn đời.
Nguyên thuở thiếu thời, Thanh Lã tiên sanh, vốn tài cao học rộng, kiến văn quảng bác, nhưng tâm tính hào sảng, quanh năm chỉ thích lê gót giang hồ đi khắp đó đây, mong tìm gặp bạn rượu thơ tri kỷ : chớ không nghĩ đến sự giùi mài kinh sử, để tranh lèo giật giải với sĩ tử bốn phương! Vì vậy mấy lần mang lều, xách chõng vào trường thi, vị túc nho, dù văn chương thi phú có thừa, mà phận hẩm, duyên hôi, cả mấy bận đi thi đều không thấy có tên ghi trên bảng hổ !
Người nào thi rớt mà không buồn phiền, tủi hận ?
Chỉ duy có Thanh Lã tiên sanh là không tỏ ý chán nản hay âu sầu chi hết, vì đối với tiên sinh, sự đậu, rớt đâu có phải là lẽ sống ở đời ?
Nhiều bạn đồng môn khi còn đi học, vẫn phải nhờ tiên sinh “gà” giúp cho những bài kinh sách khó khăn không ngờ ” học tài, thi phận” những thầy khóa ” dốt lòi đuôi” ấy, lại nhẹ gót thanh vân, thi đâu đổ đấy, dễ dàng như người ta ăn cơm, uống nước vậy !
Một vài người bạn thân của tiên sinh thấy thế, thường tỏ ý bất bình, cho rằng các quan chấm trường thi, nếu chẳng có tư vị, thì cũng là những kẻ gà mờ không có mắt xanh, phân biệt được hạt châu với mắt cá, nên mới không đủ tài thưởng thức những áng văn chương xuất sắc, cũng như không biết gạt bỏ những bài văn viễn vong, rỗng tuếch chẳng có một chút giá trị về văn chương cũng như về tư tưởng vậy !
Thanh Lã tiên sinh chỉ cười, chắp tay cảm tạ thịnh tình săn sóc của bạn nhưng rồi lại yêu cầu bạn không nên coi đó là một việc quan trọng có thể làm cho mình hao tổn tinh thần !
Tiên sinh còn nhấn mạnh : người nào được sanh ra trong trời đất, cũng đều có số mạng hết !
Số được làm quan thì dù có ngu đần, dốt nát đến đâu, cũng được chểm chệ trên ghế phụ mẫu chi dân, mặc dầu khi cắp sách đến trường chưa bao giờ đọc trôi một bài văn sách !
Trái lại, nếu chỉ là số bạch đinh, thì dù trí cả, tài cao, học quán năm xe, làu thông kinh sử, xuất khẩu thành chương, thấu triệt cổ kim, họ cũng không sao vào lọt được cả ba trường, để hưởng thụ lộc nước, ân vua, áo bào, đai tía, xem hoa thượng uyển, dự yến vua ban, bái tổ vinh quy, được dân làng đón rước trọng thể như đón rước một vị đường quan đi kinh lý.
Với lối sống khoáng đạt của một vị quân tử nho, tiến không mừng, thoái không nãn thành công không kiêu bạc, thất bại chẳng chịu hạ mình làm điều thương tổn đến giá trị nho phong. Thanh Lã tiên sinh, sau mấy phen đua tài thử sức, trong trường văn, trận bút, sẳn sàng lãng quên món nợ công danh, để lao mình vào công trình nghiên cứu các môn nho,y, lý số, coi đó là môn giải trí duy nhất trên đời.
Càng tìm được những cuốn cổ văn, giảng dạy về huyền vi của Tạo hóa, sự cấu tạo mầu nhiệm của luật âm dương với bao nhiêu chi tiết biến ảo phi thường, hầu như ly kỳ, quái đản, mê tín, hoang đường, tiên sinh càng say sưa, không quản ngại tốn kém, vui lòng bỏ ra hàng trăm lạng bạc một lúc, để có mua cho kỳ được những áng cổ văn hiếm có của Trung Hoa, Nhựt Bổn, đem về ngày đêm khảo cứu, suy gẩm những lời vàng ngọc của cổ nhân.
Ngoài ra với tinh thần cầu tiến, lúc nào cũng tha thiết học hỏi, một cách cần cù, khắc khổ, tiên sinh mỗi khi nghe đồn nơi nào có thầy hay, bạn giỏi, là tức khắc tìm đến tận chỗ, dùng hết phương kế để kết giao cho kỳ được.
Với bậc trưởng thượng, tiên sinh vui vẻ, tôn kính như bậc sư phụ, phụng thờ có khi còn chu đáo hơn cả mẹ cha, để mong được túc nho đạo đức ấy, truyền thụ cho cái học sở trường.
Với những người đồng trang lứa, không phân biệt giàu nghèo, quý tiện, tiên sinh niềm nở kết liên, quý trọng như anh em ruột thịt.
Gặp bạn phong lưu, phú quý thì chẳng nói làm gì, nếu người bạn mới bần hàn, khốn quẩn, tiên sinh sẳn sàng chia sẽ bạc tiền, thóc gạo để anh em có thể chung sống dưới một mái nhà, chung sách, chung đèn, cùng nghiên cứu, khảo luận những lý lẽ nhiệm mầu, kỳ ảo của các môn lý, số, nho, y.
Nhờ vậy, chẳng bao lâu, tiên sinh đã nổi tiếng là bậc kỳ tài, không những tướng số như thần mà chữa bệnh cũng kỳ diệu không kém những tay danh y thuở trước, quyết đoán được sự sanh tử của các loại chứng bệnh nan trị.
Nhưng đặc biệt hơn hết, tiên sinh vẫn chỉ sở trường và chăm chú trau đổi, nghiên cứu về riêng môn phong thủy.
Nhờ những kết quả hiển nhiên về sự kết phát mấy ngôi mả trong vùng, thiên hạ đồn đải, một đồn mười, mười đồn trăm, chỉ ít ngày sau, tiên sinh đã được mọi người suy tôn là Thánh Sư Địa Lý !
Nhưng ” sinh nghề, tử nghiệp “, cái công lệ của Hóa Công mà ít ai tránh khỏi đó, không ngờ lại nhằm ngay đúng vị túc nho, thánh sư địa lý nước Nam mà báo ứng, không những khiến cho Thanh Lã tiên sinh bị mục tật, tàn phế trọn đời mà trong hàng ngũ danh nhân nghèo nàn của ta cũng mất đi một ngôi sao sáng chói !

Kiểu đất LƯỠNG LONG TRANH CHÂU
Nguyên tiên sinh là dòng trưởng trong họ, từ khi học được kỳ thuật về lý số, thường được nghe bà con, anh em trong họ yêu cầu tiên sinh phải cố gắng tìm cho kỳ được một ngôi đất thật quý, để hoặc chôn cất hài cốt tổ phụ, hoặc xây dựng nhà thờ họ, tuỳ theo địa điểm và địa thế hầu con cháu trong họ sau này, có hy vọng mở mày mở mặt được với thiên hạ.
Tiên sinh vốn dững dưng với bã vinh hoa, coi công danh, phú quý như đám mây trôi nổi giữa nền trời giông tố, mà luôn cả cuộc đời cũng không hơn gì một giấc chiêm bao, hợp tan ,tan hợp nào có gì là vững bền vĩnh cữu đâu ?
Nhưng trước lời yêu cầu của các bậc phụ chấp trong họ, tiên sinh tự thấy không tiện chối từ.
Vả lại, tiên sinh cũng không có quyền gì và cũng không thế nào bắt buộc được mọi người phải chán ghét sự bon chen danh lợi như mình, nên đành phải nhận lời.
Từ đấy, ngoài việc chửa bệnh cho dân làng và để mả giúp cho những người quen biết trong vùng, tiên sinh ngày chăm chú vào việc tìm kiếm một kiểu đất thật đặc biệt, để làm mộ phần tổ phụ, cho trọn lời cam kết, hứa hẹn với họ hàng.
Đất tốt tuy không hiếm, song nếu được hào này lại hỏng hào khác, chỗ kết ngành nọ, lại hại ngành kia, suy đi xét lại rất kỷ lưỡng tiên sinh vẫn không được toại nguyện, chút nào, nên hầu hết những thửa đất lựa chọn, được tiên sinh đều đem tặng cho những gia đình nghèo khổ nhưng có tiếng là trung hậu trong vùng.
Những gia đình này đang khốn quẩn đến cực độ, sau khi tổ mộ quán khí, bỗng phấn khởi hẵn lên, có gia đình con cháu thi đậu làm quan, có nhà thì tự nhiên làm ăn, sinh sôi nẩy nở, hưng thịnh lạ lùng. Họ mừng rở kéo nhau đem lễ vật đến nhà tạ ơn Thanh Lã tiên sinh.
Hành vi trung hậu của những gia đình mới được kết phát không ngờ vô tình, lại làm gây phiền lụy cho tiên sinh rất nhiều !
Vì các vị phụ chấp cũng như anh em trong họ, thấy thế đều oán giận, chê trách tiên sinh là ăn ở vô tình với họ hàng thân thích !
Theo lời họ phê bình, thì tiên sinh không chịu tận tâm lo việc tìm đất cho cả họ, mà chỉ săn sóc giúp đở người dưng, nước lã, theo đúng câu cửa miệng : “địa lý không để được mả nhà”.
Cay nghiệt, oan uổng hơn nữa là người ta còn gán cho tiên sinh cái tiếng tham tiền, nên mới chăm chú để mả cho người ngoài, mà lơ là sự ký thác chí tình của cả họ !
Tiên sinh giải thích thế nào, họ cũng chẳng chịu tin, là tiên sinh không muốn chọn những kiểu đất tầm thường, dù có kết phát cũng chỉ là sự kết phát nhỏ nhặt mà chỉ muốn cố tìm cho kỳ được những kiểu đất đặc biệt, khả dĩ tạo được sự kết phát lâu bền, oanh liệt để làm vẻ vang cho dòng họ.
Với tâm tính hồn nhiên của một nho gia thuần túy, Thanh Lã tiên sinh vui lòng hứng nhận tất cả lời dị nghị, chỉ trích của họ hàng, chẳng một chút buồn phiền hay oán giận.
Tiên sinh cứ tiếp tục âm thầm làm việc theo ý mình, mong một ngày kia, có thể tìm được kiểu đất đai quý để trả lời sự suy xét thiển cận của mọi người trong họ.
Quả nhiên, chỉ nửa năm sau, tiên sinh đã khám phá được kiểu đất ” lưỡng long tranh châu ” ở làng Mía mà người quanh vùng này, thường gọi là ” Hạc Hải ” để hiến dâng cho họ, theo đúng lời hứa khi trước của tiên sinh.
Đó là một khu đất cực kỳ quý báu, đem lại sự kết phát tới đế vương, tồn tại liên tiếp được ngoài một ngàn năm, nhưng nếu biết ” tiếp phước ” sẽ lại có thể phục hồi long mạch để con cháu hưởng phước thêm vô thời hạn !
Tuy nhiên, có một trở điều ngại rất quan trọng đã làm cho Thanh Lã tiên sinh phải bận tâm suy nghĩ mất khá nhiều thì giờ: đó là địa thế ngôi đất quý !
Nó nằm ngay trong vòng lũy tre làng, chứ không phải như mọi kiểu đất khác, tọa lạc ở ngoài đồng ruộng hay núi, đồi, đều có thể an táng được hài cốt người quá vãng một cách dễ dàng !
Tục lệ ở thôn quê, đâu có cho phép ai được xây đắp mộ phần ở trong làng, viện cớ : “người sống không bao giờ chịu ở lẫn với hồn ma ” !
Những hương chức thôn, thân hào dù cho giàu có như Thạch Sùng, Vương Khải, quyền uy hách dịch không kém các vị đương quan, cũng không thế nào vượt nổi lệ làng, để công khai đem hài cốt tổ tiên chôn cất ở trong làng đã được giới hạn từ bao đời trước, bằng một vòng lũy tre xanh, phân biệt đất ở của dân cư, với đồng ruộng, bao gồm cả tha ma, mộ địa ! Phép vua thua lệ làng, là thế đó !
Nhưng tìm được kiểu đấ ” lưỡng long tranh châu” không phải là một sự dễ dàng, mà có thể nói là bỏ qua được một cách dễ dàng như vậy?
Phải tìm đủ mọi phương pháp sử dụng ngôi đất quý ấy cho kỳ được mới nghe ! Thanh Lã tiên sinh, lúc đầu đã định chôn dấu hài cốt tổ phụ, không cho một ai biết, kể cả bà con trong họ, nhưng suy đi, tính lại, tiên sinh thấy có nhiều điều bất tiện, lại thôi.
Cuối cùng, tiên sinh cương quyết vận động bỏ tiền ra mua thửa đất ấy, rồi đổ nền cao để cất nhà thờ họ !
Việc làm của tiên sinh kín đáo vô cùng! Dân làng và luôn cả mọi người trong họ, không một ai biết dụng ý của tiên sinh.
Nhưng sau ngày hoàn thành từ đường chừng gần một năm, cả họ, nhất là, chi trưởng của tiên sinh, làm ăn hưng thịnh, phát đạt lạ lùng, trẻ em học một biết mười, đứa bé sơ sinh nào trong họ mới ra chào đời, cũng thông minh, đĩnh ngộ, khôi ngô, tuấn tú khác thường, khiến cho dân làng kinh ngạc, một đồn mười, mười đồn trăm, chẳng bao lâu, khắp vùng lân cận đều đồn đải rùm beng là mồ mả của Thanh Lã tiên sinh được xây cất trên một khu đất quý, kết phát rất to!

Trước những lời thì thầm, bàn tán của dân làng, tiên sinh chỉ mỉm cười, không công nhận mà cũng không cải chánh.
Sự thực, thì chỉ có một mình tiên sinh biết rõ.
Nó không phải là mồ mả kết phát chi hết, mà chính là ngôi nhà thờ họ làm trên kiểu đất “lưỡng long tranh châu”, mà chiếc khám thờ, đặt bài vị của tổ tiên của Thanh Lã tiên sinh, được thiết lập ngay tại đúng quả châu, nên hấp thụ linh khí của hai thần long, mới quán khí một cách nhanh chóng, mãnh liệt như thế.
Sỡ dĩ tiên sinh không muốn nói cho ai biết tính cách quý báu của khu đất Hạc Hải chỉ là vì tiên sinh hiểu rõ sự ghen ghét của người đời, một khi biết rõ dòng họ của tiên sinh, sớm muộn gì cũng sẽ được kết phát vẻ vang, nhờ về ngôi từ đường kia xây cất trên kiểu đất ” lưỡng long tranh châu ” tất sao cũng tỉm cách hãm hại, hay phá hủy tòa nhà ấy cho kỳ được.
Đó là tâm lý thường tình của những kẻ không muốn cho ai sang đẹp hơn mình ? Không những nạn “ố mỹ” lan rộng trong dân làng, thôn xóm, mà nó còn ăn sâu cả vào tâm não, phế phủ những bạn đồng nghiệp với tiên sinh nữa !
Những người cùng nghề trong thiên hạ, có mấy khi chịu ưa nhau bao giờ đâu ?
Dù là những tín đồ Khỗng Mạnh, luôn luôn tôn trọng đạo đức, cương thường, họ cũng không tránh khỏi được cái nạn ” hàng thịt nguýt hàng cá ” chê bai nhau, dèm xiểm nhau, để duy trì cho kỳ được địa vị độc tôn của họ ! Các thầy địa lý cũng vậy !
Tuy khoát ngoài cái danh nghĩa đồng nghiệp hay đồng môn, họ vẫn chẳng dẹp bỏ được óc vị kỷ, chèn ép bạn bè trong trí não, nên mỗi khi thấy đồng nghiệp thành công rực rỡ, họ không ngần ngại gì, tìm cách “phá đám” với mục đích duy nhất triệt hạ uy thế của người bạn cùng nghề. Đấy là nói sự thành công trong việc tìm đất để mả cho thiên hạ!
Còn nếu là trường hợp thầy địa lý táng đuợc hài cốt thân nhân vào đúng cát huyệt, để có thể kết phát oanh liệt, hiển vinh thì thôi, trăm ngàn ” mũi dùi ” khốc hại của các đồng nghiệp sẽ cùng một lúc, nhắm cả vào khu đất quý báu kia, để trấn áp, yểm trừ cho mất hẵn sự kết phát đi ! Lòng ghen tài đã biến họ, từ người học vấn thuần lương, thành một kẻ đố kỵ tầm thường thâm hiểm, độc ác vô bờ bến!
Phải chăng vì thế, người ta mới có câu ” Địa lý không mấy khi để được mả nhà”, để ám chỉ sự phá hoại kinh khủng giữa anh em đồng nghiệp! Đây là chưa kể tới âm công, phúc trạch của tổ tiên từ mấy mươi đời trước !
CHỈ VÌ MỘT LỜI KHIÊU KHÍCH
Hơn ai hết, Thanh Lã tiên sinh biết rõ nền âm công phúc trạch của dòng họ nhà mình, tính cho đến đời tiên sinh, quả thực không lấy gì làm đặc biệt cho lắm để khả dĩ được xứng đáng thụ hưởng sự giàu sang, phú quý của Tạo Hóa dành cho, mặc dầu, căn cứ theo lời ghi chép trong gia phả, ông cha tiên sinh vẫn luôn luôn giữ được nền nếp nho phong, đức hạnh, từng được dân trong vùng mến yêu, kính nể.
Kiểm điểm lại công đức của tiền nhân từ hai mươi đời nay, tiên sinh thấy các Cụ tuy cũng sốt sắng giúp đở người bần hàn, túng thiếu, từng góp công, góp của khá nhiều trong các việc đúc tượng, xây chùa, dựng cầu, cất quán, song âm công phúc trạch ấy, vẫn không đủ cho con cháu thụ hưởng sự kết phát vẽ vang đến tột độ, do kiểu đất ” lưỡng long tranh châu” đem lại !
Cứ theo sự hiểu biết của tiên sinh, thì sau khi xây dựng được hoàn toàn ngôi nhà thờ họ, trên khu đất Hạc Hải ở làng Mía, chỉ trong vòng bách nhật (100 ngày), tất cả mọi ngành trong họ nhất là chi trưởng, sẽ làm ăn phát đạt, thịnh vượng một cách mau chóng lạ lùng !
Đồng thời chỉ ba năm sau, do những sự tình cờ dung rủi, trong họ thế nào cũng có người làm tới Đế Vương, công hầu, khanh tướng.
Còn quan lại, văn võ từ nhị, tam phẩm trở xuống thì không biết bao nhiêu mà kể nữa, vì bất cứ ai trong họ, một khi đã cắp sách đi học theo nghiệp văn, hay cầm thanh kiếm múa men theo nghề võ, cũng đều hiển đạt, được hưởng lộc nước ơn vua suốt lượt ! đó là sự kết phát về con trai.
Còn về nữ giới, thì con gái trong họ, nếu không được tuyển vào cung làm hoàng hậu, quí phi, thì cũng lấy được chồng khoa bảng, đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong triều, để cuối cùng, cũng nghiểm nhiên được là mệnh phụ phu nhân, ra hài vào bẩm, ngựa xe rộn rịp, võng lọng nghênh ngang, danh giá không kém gì con trai trong họ.
Có thể nói : đó là một kiểu đất cực kỳ quý báu, hàng ngàn năm mới kiếm nổi một ngôi, chớ chẳng dễ dàng gì như những ngôi mả kết phát vinh hoa phú quý trong phạm vi bình thường chỉ có công dụng tồn tại chừng năm ba chục năm, rồi thế nào cũng lại suy sụp như trăm ngàn kiểu đất khác ở rải rác khắp nơi trên đất nước này.
Một nhà phong thủy chính tông Trung Quốc, trên con đường theo dõi long mạch kiểu đất ” Cữu Long triều đế khuyết ” phát nguồn từ dãy Thập Vạn Đại Sơn, vượt biên giới qua Việt Nam, khi đến làng Mía, được nhìn thấy khu vực Hạc Hải, trên có xây dựng một ngôi từ đường, kiểu cách, phương hướng rất chính xác, đúng theo lời chỉ dạy chân truyền của những thầy địa lý chính tông, có chân tài, thực học, thì cả kinh, vò đầu, bứt tai, lầm bầm đầy tiếc hận
– Tiếc thay ! tiếc thay ! Một kiểu đất hiếm có ở trên đời, chẳng cứ khó tìm thấy ở Nam bang mà ngay đến cả bên Trung Hoa, đất vuông tới ngàn vạn dậm, nhưng đốt đuốc trọn đời, cũng chẳng mấy khi kiếm được nổi một ngôi đất tương tự? Cha chả ! Tay nào khám phá nổi kiểu đất kỳ dị này, hẳn cũng là một bậc kỳ tài trong thiên hạ, mới có mắt xanh nhận định được những nét huyền bí tàng ẩn trong khu đất trủng thấp, mà nếu chỉ nhìn sơ qua bề ngoài, không một ai lại có thể ngờ rằng : đây là một kho tàng vô giá, dành riêng cho người hữu phước, được hưởng thụ đủ các thứ : phú, quý, thọ, khang, ninh ở trên đời !
Càng chăm chú quan sát khu Hạc Hải, nhà phong thủy Trung Hoa lại càng say sưa, đứng ngây mặt nhìn sững hàng giờ không biết chán, tự trách mình đã quá chậm chân, nên người nào đó mới chiếm được ngôi đất quý báu ấy, để làm nhà thờ họ, tạo nên sự kết phát cho cả một dòng họ to lớn. Chứ nếu ông ta nhanh chân đến được nơi này sớm hơn chút nữa, thì tìm thấy khu vực này, chắc sao cũng cố vận động, bằng tất cả mọi phương pháp, không quản ngại gì tốn kém công phu để chiếm đoạt cho kỳ được môn bảo vật vô giá ấy !
Nhưng rồi lão tự an ủi : có lẽ đó cũng là số phận an bài của Tạo Hóa, hoặc do tổ tiên nhà lão kém phúc trạch, âm công : hoặc bởi lão chưa gặp vận hanh thông, hưng thịnh, nên mới xui khiến cho lão la cà trên đường đi từ Tứ Xuyên qua Bắc Việt, làm cho hành trình bị chậm trễ mất bảy, tám tháng trời, một thời gian khá dài, đủ cho người nào đó xây dựng được trọn vẹn tòa từ đường trên khu cát địa!
Cuối cùng, không sao ngăn chận được tính hiếu kỳ và lòng tiếc hận, nhà phong thủy Trung Hoa liền hăm hở dò những người quanh đấy để tìm vào hội kiến Thanh Lã tiên sinh.
Đôi bạn đồng nghiệp tuy không đồng hương, đồng quán, nhưng lại vốn cùng xuất thân nơi cửa Khổng sân Trình, cùng theo đuổi một mục đích chung : lê gót giang hồ đi khắp mọi nơi trong thiên hạ, để tìm kiếm những kiểu đất quý báu, kỳ dị rồi xem nhà nào dày âm công, phước trạch sẽ táng giúp, hầu khuyến khích mọi người tu nhân, tích đức. Hơn thế, nhờ cùng thông hiểu Hán Tự, nên dù ngôn ngữ bất đồng họ cũng có thể dùng lối bút đàm nói chuyện với nhau một cách dễ dàng.
Duyên kỳ ngộ giữa đôi bạn cùng nuôi chung một chí hướng, đã làm cho họ vượt qua được mọi trở ngại, ngỡ ngàng của buổi sơ giao hội kiến, để đi ngay vào truyện tâm tình tri kỷ.
Theo lời thuật của nhà phong thủy Trung Hoa, thì ông ta đã đi theo một mạch đất từ bên Tàu, qua biên giới đến quá Lạng Sơn chừng năm mươi dặm, thì lạc mất dấu vết. Không ngờ đi tới đây, ông ta lại thấy kiểu đất lưỡng long tranh châu, so với kiểu đất ông ta đang tìm kiếm, tuy chẳng bằng một nửa, song cũng thuộc vào loại kỳ tú, hiếm có ở trên cõi đời này.
Thanh Lã tiên sinh cũng không dấu diếm nói hết những đặc điểm thiêng liêng quái dị của ngôi đất cho người bạn mới nghe, và không quên khiêm tốn yêu cầu : – Duyên hạnh ngộ xui khiến cho đôi ta gặp nhau, vậy nếu tiên sinh không chê tôi tài sơ, trí thiển, thì thấy có gì sai lệch, không đúng với lời chỉ dạy của thánh hiền, dám xin tiên sinh vì cảm tình đặc biệt, dạy bảo cho.
Nhà phong thủy Trung Hoa quơ tay, phác một cử chỉ chối từ, rồi mới khiêm nhượng trả lời : – Không, không có gì sai lệch hết !
– Tất cả đều đúng theo phép tắc địa lý chính tông. Có điều, gian chánh tẩm, thiết lập bàn thờ tổ phụ hơi thấp một chút, trong lúc bốn gian ở hai bên lại cao quá. Như vậy, tôi e rằng sự kết phát sẽ bất lợi một phần nào cho những người thuộc về chi trưởng trong dòng họ.
Thanh Lã tiên sinh bề ngoài, tuy gật đầu tán thành ý kiến của người bạn mới, song trong thâm tâm, tiên sinh không cho là phải mà nghĩ thầm rằng : – Trước khi quyết định xây dựng ngôi từ đường này, mình đã khổ công nghiên cứu hàng nửa năm trời, đến nổi quên ăn, bỏ ngũ, nghe đồn ở đâu có sách hay thầy giỏi, cũng cố lần mà tìm đến để tham khảo ý kiến, hay mượn sách quý về tra cứu, cực kỳ công phu vất vả. Nhờ đó mới hoàn thành được một ngôi từ đường toàn bích, đem lại sự kết chắc chắn, chẳng những cho riêng mình, mà còn cho tất cả các chi khác trong họ nữa. Vậy mà giờ đây, người bạn mới này lại chê bai, chỉ trích gian chánh tẩm và bốn gian kế cận thì quả thực là chuyện lạ lùng, hầu như vô lý vậy ?
Sau cùng, tiên sinh kết luận : có lẽ thầy địa lý chính tông Trung Hoa này cũng không thoát khỏi cái bịnh ” sú diện ố nga my ” vốn là một cố tật bất di ,bất dịch của những người cùng làm một nghề, nên muốn phá nhau, ông ta mới sui dại tiên sinh như vậy.
Nhân dịp này, tiên sinh còn mời thêm một viên đề lại họ Phạm ở trên huyện, để giới thiệu với người bạn đồng nghiệp Trung Hoa, vì ngày thường, viên đề lại, cũng tỏ ra là người thức thời, lịch duyệt, văn chương, thi phú, dù không phải là bậc kỳ tài trong thiên hạ, song, trong mấy làng Mông Phụ, Mông Sàng, viên đề lại vẫn nổi danh là tay thông kim bác cổ.
Tiên sinh kết giao với viên đề lại cũng không phải là không có dụng tâm, sâu sắc, nhất là đối với một người có tâm hồn sảng khoái, khinh thế ngạo vật, coi rẻ lợi danh, phú quý như tiên sinh thì có bao giờ lại chịu giao du mật thiết với một viên đề lại, quanh năm suốt tháng, lúc nào cũng trù mưu tính kế, để thay đen đổi trắng án từ, soay sở bóc lột dân lành và tìm cách su phụ xiểm nịnh quan trên, mong các bậc “phụ mẫu dân ” ngó lơ, cho y mặc tình làm mưa, làm gió, tác phúc, tác oai !
Tư cách, cũng như tâm tính những viên thông lại, đề mục đã được phản ảnh rõ rệt, vô cùng xác đáng, qua câu phương ngôn ” một đời làm lại, bại hoại ba đời ” !
Sở dĩ thiên hạ chỉ biết kết tội bọn thông lại, đề lại, mà không lên án các quan phủ, huyện chỉ là vì các án văn, tố tụng ở các vùng thôn quê, hết thảy đều do ngòi bút của các thầy đề, thầy thông cấu tạo nên, chỉ một nét bút của họ, cũng đủ làm tán gia, bại sản một gia đình hào phú, chỉ một lời thêm bớt của họ, cũng đủ khiến cho người dân lương thiện bị tù đày, khảo tra khổ cực !
Biết bao mối oan khiên, khốc liệt đã xảy ra vì ngòi bút của bọn sai nha tham lam, thâm độc! Biết bao nhiêu việc bất công vô lý, đã do lũ ruồi nhặng tạo ra, làm người dân thấp cổ, bé miệng, đành cam chịu đau đớn, không còn biết kêu đâu cho rõ trắng đen, thực giả ?
Thanh Lã tiên sinh, biết rõ hơn ai hết những tệ đoan ấy của bọn sai nha, nên trước kia, viên đề lại họ Phạm thường muốn tìm cách kết thân, tiên sinh cũng cố tình lãng tránh, mặc dầu tiên sinh vẫn khéo léo, mềm mỏng trong ngôn từ, cử chỉ để không làm thương tổn đến lòng tự ái của viên đề lại họ Phạm.
Tiên sinh vẫn tự nhủ thầm : sẽ mãi mãi duy trì sự giao du hời hợt này, chứ nhất định không chịu chơi bời mật thiết với lời tẩu cẩu nguy hiểm ấy, e có khi vì quyền lợi riêng tư, y cũng có thể bán đứng tiên sinh để mưu cầu chút lợi danh, chung đỉnh !
Nhưng đến khi tiên sinh tìm được kiểu đất Hạc hải, xây dựng ngôi từ đường trên trái châu giữa hai con thần long, thì tiên sinh không thế nào giữ được vẻ lạnh lùng, thơ ơ như trước nữa ! Tiên sinh dư hiểu sự bới móc, soi mói, ghen ghét, dèm pha của bà con nơi thôn xóm mỗi khi họ thấy có ai hơn họ về cách này hay cách khác !
Kiểu đất Hạc Hải, dù đã được tiên sinh giữ gìn rất kín đáo, cũng không che đậy được lâu dài, trước sự tò mò của mọi người, nên chỉ hai tháng sau, dân làng đều biết hết.
Thế là đứng đâu, ngồi đâu, họ cũng đem truyện địa lý ra bàn tán sôn sao, với những sự thêu dệt, vẽ rắn thêm chân, khiến cho chính Thanh Lã tiên sinh, nhiều lúc, cũng phải ngở ngàng, trước những chi tiết bịa đặt, cực kỳ khéo léo, lớp lang rất chu đáo, tế nhị !
Hơn nữa, khu Hạc Hải từ bao nhiêu đời trước, vẫn là vùng cấm địa ở làng Mía, không một ai được phép sử dụng sở hửu chủ thửa đất ấy. Các ông già, bà cả cũng không người nào biết rõ nguyên do nào sui khiến làng xóm phải ra lệnh cấm xây dựng nhà cửa trên thửa đất này? Người ta chỉ biết lơ mơ rằng đó là lệnh cấm đã có từ lâu lắm rồi, hết đời nọ, qua đời kia, lâu dần biến thành luật lệ bất di, bất dịch, mà tất cả những người sinh sống trong vòng rào lủy tre xanh làng Mía phải triệt để phục tùng.
Mãnh lực quái dị sui khiến cho dân làng phải răm rắm tuân theo lệnh cấm ấy, chỉ là vì mỗi khi có một kẻ ngõ nghịch, ngang bướng nào đó không chịu tin một việc mà hắn cho là dị đoan mê tín hảo huyền, cứ nhất định kiếm tre lá làm nhà trên thửa đất này, thì tức khắc làng xóm bị động trệ, tứ tung : người lớn, trẻ con đau ốm suốt lượt, trâu bò, gà lợn chết toi, đến nôi chôn không kịp! Rồi bất thình lình lại phát cháy cùng một lúc ở nhiều nơi khác nhau. Và kỳ dị, đáng ghê sợ hơn nữa là cứ mổi đêm từ giờ Tí trở đi, là trên các ngã đường, nhất là ở sau đình và trước cổng chùa luôn luôn có tiếng gươm giáo va chạm vào nhau loảng soảng, hoà với tiếng ngựa hý, quân reo, tạo thành một âm thanh rụng rời, ma quái! Trong ba ngày đêm liên tiếp, nếu các kỳ hào, hương chức trong làng không can thiệp, bắt kẻ ngang bướng phải lập tức triệt hạ căn nhà kia đi, thì đến ngày thứ tư, thế nào một vị bô lão cao niên nhất ở trong làng, cũng đạp đồng lên, đang tự nhiên, mặt mũi bỗng đỏ gay như người say rượu, rồi vừa đi ra đình, vừa hò hét om sòm, quở mắng hương chức, lý dịch, đã không giữ gìn được trọn vẹn trật tự ở trong làng, để đến nổi có kẻ dám ngang nhiên chiếm đoạt khu đất linh thiêng của thần thánh! Rồi vị bô lão ấy ra mở cổng đình, chạy vào chánh điện, nhảy lên bàn thờ Thành Hoàng, ngồi chểm chệ, hoa tay lên không khí như múa may, phù phép chi vậy!
Thế là kẻ ngang bướng, làm nhà trên khu cấm địa, bị hộc máu tươi, chết ngay không kịp trăn trối nữa lời.
Theo lời các ông già, bà cả thuật lại, thì từ trước tới nay, đã có tới năm người bị chết bất đắt kỳ tử như thế rồi!
Từ ngót một trăm năm nay, tuyệt nhiên không còn một ai dám “chơi dại” trêu vào uy lực của Thánh Thần, nên cả thửa đất cấm ở làng Mía bỏ mặc cho cỏ lau mọc cao lút tới đầu người, làm sào huyệt vững chắc cho các loài chuột, rắn!
Nay đột nhiên, Thanh Lã tiên sinh lại bí mật điều đình với chủ đất, chịu bỏ ra một món tiền khá quan trọng để mua lại thửa đất, cỏ mọc um tùm, bao trùm, không biết bao nhiêu chuyện quái đản, dị kỳ!
Ngay hai bên mua bán chính thức làm văn tự, một số người hiếu kỳ đó không ngớt lời chê bai Thanh Lã tiên sinh là ỷ tài, cậy của, nên mới điên rồ, bỏ ra một số tiền lớn, để tự rước lấy “cái nợ mươi đời “, vì mặc dầu biết tiên sinh thông thạo cả nho, y, lý, số, người ta cũng vẫn không tin rằng, tiên sinh lại có đủ tài năng, chế ngự được uy quyền tối linh của thần thánh, mặc nhiên coi khu đất linh thiêng ấy như một nơi bất khả xâm phạm ở trong vùng ?
Thanh Lã tiên sinh chỉ mỉm cười, trước những lời phê bình cay nghiệt, của dân làng và lẳng lặng bắt tay vào việc.
Với tất cả tài học sở trường về môn phong thủy, thâu lượm được trên bước đường giang hồ phiêu lãng, tiên sinh cố sức trấn yểm khu đất thiêng liêng quý giá để mong xây dựng ngôi nhà thờ theo lời yêu cầu của bà con trong họ.
Trong thời gian ấy, tiên sinh đã phải đối phó rất cam go, nguy hiểm với một bọn người, cố ý kiếm chuyện để định phá rối tiên sinh, vì họ biết chắc rằng nếu tiên sinh dựng được chu đáo ngôi từ đường, thì nhất định dòng họ nhà tiên sinh, sẽ được hưởng thụ sự kết phát vô cùng hiển hách !
Một mặt phải đối phó với sức phá rối của một số dân làng ngang bướng, một mặt tiên sinh phải sử dụng khả năng chuyên môn, để công cuộc trấn yểm đem lại kết quả mỹ mản, thì mới có thể tiến hành việc xây dựng được ngôi từ đường.
Đó thật là một công trình gian nan khó khăn đến cực độ, vì thầy địa lý trong trường hợp này, nếu chỉ non tay ấn một chút có thể bị thần thổ địa quật chết ngay trong nháy mắt !
Muốn rảnh tay, để tập trung tất cả khả năng vào công việc trấn yểm, tiên sinh buộc lòng phải giao dịch với viên đề lại họ Phạm, mong nhờ uy thế viên lại mục khét tiếng là cơ mưu sâu sắc nhất ở trong huyện, để bịt miệng dân làng, không cho một ai được phép khiếu nại, hay chỉ trích về sự xây dựng ngôi nhà thờ trái phép của tiên sinh.
Trong thời phong kiến xa xưa, khi chế độ quan liêu còn cực thịnh ở trên đất nước này, thì uy quyền của một viên thông lại, đề mục, luôn luôn được đồng bào thôn quê coi như thần minh, thánh sống, có khi còn được mọi người kính nể, quý trọng hơn cả những vị phụ mẩu chi dân chánh cống !
Biết rõ được tâm trạng ấy của bà con thôn xóm, Thanh Lã tiên sinh đành ép mình giao du mật thiết với viên đề mục họ Phạm, để mỗi khi có cơ hội chè chén, tiệc tùng với nhau, tiên sinh lại không quên nhắc đến dụng tâm phá rối của một số dân làng, trước công cuộc xây dựng từ đường của tiên sinh, và khôn khéo yêu cầu viên đề mục, nếu có nhận được đơn từ khiếu nại về việc đó, thì xin vì tình tri kỷ bác bỏ hay quở trách nguyên đơn, để họ không dám theo đuổi sự quấy rối tiên sinh nữa.
Một lời nói của đám sai nha, thân tín của các quan phủ huyện ngày xưa, đã có một giá trị cực kỳ quan trọng.

Nó như quyết định được cả tính mạng của người dân thấp cổ bé miệng, vì chỉ cần một lời thêm bớt ra của bọn sai nha viết trong biên bản đệ trình lên quan trên, là đủ làm cho một người vô tội bị tù đày, một phú nông phải tán gia bại sản hay trái lại một tên sát nhân được ung dung, sống tự do giữa rừng người lương thiện hoặc dung túng một kẻ ác bá cường hào tha hồ lấn bờ, cướp ruộng của bà con nghèo khó, làm mưa, làm gió như một “thảo khấu đại vương’ ở nơi thôn xóm!
Dòng họ Thanh Lã tiên sinh, cũng không phải là cùng đinh, lép vế gì mà thực ra, thì từ mấy đời gần đây, vẫn kế tiếp có người đảm nhiệm những chức vụ quan trọng ở trong làng, nhất là từ khoảng hơn hai mươi năm nay, hầu hết những vai trò then chốt trong đám kỳ hào, hương lý, đều do người trong họ tiên sinh nắm giữ cả ! Nhưng không phải vì thế, mà tiên sinh có thể tự do, muốn xây cất nhà thờ trên khu cấm địa lúc nào cũng được đâu ? Vì ngoài phe nhóm kỳ hào trong dòng họ của tiên sinh, trong làng xóm có dòng họ Trần cũng giàu sang không kém ! Hai họ chia nhau đặc quyền theo từng guồng máy hành chánh trong lũy tre xanh, và luôn luôn giữ miếng đề phòng nhau, cũng như chờ đợi cơ hội thuận tiện để triệt hạ nhau, mong độc chiếm quyền “ăn trên ngồi trước” ở chốn đình trung cho riêng những người trong họ mình.
Cứ nhìn qua danh sách hương chức trong làng, người ta cũng có thể đoán biết được sự tranh chấp gay go của hai dòng họ : chức tiên chỉ nếu về tay một vị bô lão, thuộc vào hàng phụ chấp của Thanh Lã tiên sinh thì theo chức thứ chỉ, nghĩa là chức vị cao qúy thứ hai ở trong làng, thế nào cũng phải thuộc về phe nhóm họ Trần. Đồng thời, nếu cái triện lý trưởng do người họ Trần đảm nhiệm, thì cái chức phó lý nhất định phải về tay một người chú, bác hay anh em chi đó của Thanh Lã tiên sinh.
Hai họ ráo riết kiềm chế nhau, công kích nhau khá kịch liệt, bằng tất cả mọi mưu mô, phương pháp, kể cả những mưu mô xảo trá và phương pháp gian manh, mặc dầu bề ngoài họ vẫn cố giữ thuận hòa, lịch sự vồn vả chào hỏi nhau những lúc hội hợp ở đình trung hay gặp mặt nhau trong các đám khao, cưới, ma chay, hội hè, tế lễ.
Do thành kiến cố hữu, không biết phát sanh tự bao giờ, hai họ lớn nhất ở trong làng, luôn luôn coi nhau như thù địch, và không một bên nào chịu bỏ lở cơ hội triệt hạ nhau.
Vì vậy, khi mới nghe tin Thanh Lã tiên sinh mua khu đất cấm làm nhà thờ, họ Trần đã lập tức mở cuộc hội hợp khẩn cấp, để hoạch định mưu kế phá tan dự định ấy của nhà phong thủy lừng danh đất Bắc.
Nhưng nhờ tài quyền biến khôn khéo, nhờ sự giao dịch mềm mỏng, nhờ biết dùng đồng tiền một cách rộng rải, Thanh Lã tiên sinh đã vượt được hết mọi trở ngại do phe nhóm đối phương ngấm ngầm liên tiếp tung ra để hoàn thành mỹ mản công cuộc mua bán khu cấm địa.
Bước đầu tiên, mà cũng là bước gian nan, khó khăn nhất vừa vượt qua được, đã như một phần thưởng tinh thần qúy giá, khuyến khích người trong cuộc, vững tâm tiến mạnh, tiến nhanh, hơn nữa trên con đường tuy đầy dẫy chông gai, chướng ngại, nhưng lại có một cái vườn thượng uyển, ngào ngạt quả ngọt, hoa thơm, líu lo oanh ca, vượn hót chờ đợi ở đầu đường đằng kia, sẳn sàng tiếp đón người tài trí, biết dùng nhiệt tâm cương quyết đạp bằng mọi trở lực để đến bến thành công.
Thanh Lã tiên sinh, sau khi được chính thức làm sở hửu chủ khu đất Hạc Hải, liền xúc tiến việc trấn yểm, ròng rã ba tháng trời, không phân biệt ngày đêm, sớm tối, chẳng nề hà khổ trí, lao tâm, mới thâu hoạch được một phần nào kết quả.
Sở dĩ tiên sinh không thành công hoàn toàn trong công cuộc trấn yểm trước khi khởi công xây cất, chỉ là vì các bậc tiền bối của tiên sinh, không tạo được một nền âm công, phước trạch đầy đủ khả dĩ cho con cháu được xứng đáng hưởng thụ ơn huệ của trời Phật.
Vẫn hay rằng, tổ phụ tiên sinh, căn cứ theo lời ghi chú trong gia phả, từ hai mươi đời nối tiếp nhau, tính cho đến lúc tiên sinh ra đời chẳng những không có một ai làm điều bạo thiên, nghịch địa, tàn ác, gian tham, dâm ô, cường ngạnh, mà thói thường lại còn giúp đở dân làng, góp công xây chùa, tạc tượng, bố thí cho người nghèo khổ trong những năm hạn hán, thủy tai.
Nhưng tất cả những hành động từ thiện ấy, chỉ vừa đủ giúp cho các vị tổ phụ của tiên sinh tránh khỏi kiếp trầm luân, đọa lạc sau khi thác xuống suối vàng, chứ không đủ gầy nên âm công, phước trạch, tạo thành duyên nghiệp đặc biệt để cho con cháu hưởng phúc, lâu dài, hiển hách !
Tiên sinh biết rõ điều đó hơn ai hết! Nhưng bản tính háo thắng, tinh thần tự ái và sĩ khí bất khuất của một danh nho, đã thúc đẩy tiên sinh gắn bó vấn đề vận mạng qua một bên, để cương quyết dùng tài năng vượt khỏi số Trời.
Luôn bảy ngày, bảy đêm liên tiếp, cứ vào khoảng giữa giờ Tí, khi thấy bốn bề yên lặng như tờ, thôn xóm vắng bặt tiếng gà gáy, chó sủa, tiên sinh mang tróc long ra khu cấm địa, hô thần, bắt ấn định làm phép trấn yểm, thì cả bảy lần, đều bị thổ thần hất tung tróc long, và quật tiên sinh ngã quay xuống đất. Thanh Lã tiên sinh không thế nào làm phép trấn yểm khu đất Hạc hải như ý muốn, đành lửng thửng trở về nhà để tìm phương thế khác, vừa đi vừa suy nghĩ mãi mà lạc bước tới gần sáng qua khỏi làng Mía, tiên sinh chợt gặp được người bạn cố tri : Ông Tú Lê, là người tinh thông bùa chú, trấn yểm long mạch nổi danh ở làng bên. Mặc dù không làm thầy địa lý chuyên môn, để mả cho thiên hạ để lấy tiền, ông Tú Lê cũng nổi danh là nhà phong thủy chính tông, mỗi khi nhận lời tìm đất cho gia đình nào là người ấy, chắc chắn sẽ có ngày mát mặt hơn tình trạng hiện tại.
Biết rõ khả năng của ông Tú Lê, nên tiên sinh luôn luôn nhắc nhở đến danh tánh bạn, những lúc có dịp hội họp bạn đồng môn thuở ấu thơ, hay gặp những kiểu đất kỳ hình, quái dị. Giữa giờ phút tuyệt vọng, ưu phiền, được gặp mặt cố nhân, Thanh Lã tiên sinh mừng rỡ như người cùng khốn nhất đời, mới bất ngờ bắt được một hủ vàng ròng quý giá, hoặc hơn thế, như một thầy khóa nghèo, được liên trúng tam nguyên, nhẹ bước thanh vân làm nở nang mày mặt, rở ràng mẹ cha.
Quả nhiên, tiên sinh đã không uổng công kỳ vọng vào người bạn tâm giao thuở trước, vì vừa được tiên sinh thuật lại những sự khó khăn mới gặp ở khu đất Hạc Hải, ông Tú Lê liền sốt sắng nhận lời. Ngay chiều hôm ấy : ông bảo bạn đưa đi coi địa hình địa thế vùng cấm địa, rồi chờ đến khuya, một mình lẳng lặng ra tận nơi, làm phép nhường tinh, hô thần, trấn yểm.
Sau ba đêm liên tiếp, việc trấn áp mới hoàn thành, Thanh Lã tiên sinh liền đích thân đào viên đá đầu tiên, chôn một đạo bùa trấn trạch, mà không xảy ra một sự trở ngại gì như mấy buổi trước, mỗi khi phải dùng thuổng, cuốc đào xới khu cấm địa, thế nào cũng phải bị thổ thần trách phạt, hoặc quất ngã người đứng trông nom, hoặc sui khiến cho người gảy mai, mẻ cuốc, làm đình trệ công việc đến phải bãi bỏ, không dám động gì tới khu đất nữa !
Nhưng sau khi bắt đầu xây cất từ đường, Thanh Lã tiên sinh lại phải đương đầu ráo riết với sự phá rối của phe nhóm họ Trần. Những người thù nghịch với tiên sinh đã thay đổi nhau làm đơn khiếu nại, yêu cầu quan Huyện hạ lệnh đình chỉ việc xây dựng phi pháp của tiên sinh, viện cớ khu cấm địa Hạc Hải, từ bao đời nay, vẫn được coi là địa điểm tối linh thiêng, bất khả xâm phạm, không cho một ai được quyền sử dụng để làm nhà hay trồng trọt, kể cả chủ nhân được chánh thức thừa kế thửa đất ấy! Nếu cứ miễn cưỡng xây dựng, đào xới vùng cấm địa, là thế nào dân làng cũng bị khốn khổ về sự động trệ tai hại!
Tự biết mình làm điều ngang bướng vì quyền lợi riêng, không chịu tôn trọng tục lệ trong làng nên Thanh Lã tiên sinh bắt buộc phải xử sự nhún nhường, thân hành đến tận nhà các bô lão, hương chức trong dòng họ Trần, để yêu cầu họ vị tình bà con trong xóm ngoài làng khi tắt lửa, lúc tối đèn có nhau mà sẳn lòng làm ngơ cho tiên sinh được phép xây dựng ngôi nhà thờ chung cho cả họ.
Bề ngoài, họ Trần tuy nói cười vui vẻ, không tỏ ý bất bình, phản đối ra mặt, song họ vẫn ngấm ngầm vận động để ngăn cản công cuộc xây dựng từ đường.
Biết rõ thế lực của viên đề mục họ Phạm, họ đã dùng tiền bạc để hối lộ tên này, để nhờ y tìm cơ hội triệt hạ phe nhóm đối phương.
Thanh Lã tiên sinh nghe được tin ấy, sợ viên đề mục, tay sai thân tín của quan Huyện ám hại mình, cũng vội thu xếp lể vật tìm cách kết giao với họ Phạm.
Con cáo già họ Phạm được cơ hội bóc lột cả hai phe, không ngần ngại gì, tỏ ý thân thiện với cả đôi bên.
Vời ai, y cũng khôn ngoan hứa hẹn, hết lòng săn sóc, bênh vực, để nuốt trôi những nén bạc bạc trắng hay những bu gà vịt, những thùng gạo rượu của hai họ đem đến “vi thiềng” !
Nhân dịp thầy địa lý Tàu ghé vào xem kiểu đất “lưỡng long tranh châu”, tiên sinh liền cho mời luôn cả họ Phạm đến uống rượu.
Bên mâm cơm thịnh soạn, ba người vui vẻ chuyện trò về đạo lý thánh hiền, và không ngớt lời ca tụng những nét tinh hoa, sâu sắc của nền văn hoa cổ kính Đông Phương để cuối cùng, cực lực suy tôn sự huyền bí cao siêu, uyên thâm, uẩn súc của các môn lý, số, phong thủy !
Nhân dịp này, thầy địa lý Tàu, khi đề cập đến các kiểu đất đế vương, có hỏi Thanh Lã tiên sinh : – Tiên sinh thường lưu ý các ngôi đất quý, vậy kiểu đất ở Lam Sơn, nơi phát tích của lê triều, hiện thời ra sao ? Theo ý tiên sinh, thì nơi ấy có những nét gì đặc sắc?
Hơi men bốc cháy bừng bừng trong phế phủ, Thanh lã tiên sinh vừa nâng chén lên môi, vừa cao hứng gật gù một cách vô cùng đắc ý :
– Kể ra cũng không có gì quý lắm, Cả khu Lam Sơn, chưa chắc đã ăn đứt được cái cổng nhà từ đường này đâu, nhị vị tiên sinh ạ!
Viên đề lại họ Phạm, tró mắt kinh ngạc nhìn sững Thanh lã tiên sinh, trong lúc tiên sinh vô tình, cứ cao hứng nói cười như thường!
Và cũng từ đấy, y không còn nghĩ gì đến sự ăn uống nữa, mà chỉ chăm chú theo dõi từng lời nói, cử động của chủ nhân.
Sau tiệc rượu này, viên đề mục đi tìm mấy viên hương chức thù nghịch với Thanh lã tiên sinh, thuật lại cho họ nghe những lời tiên sinh vừa thốt ra trong hơi men chuếnh choáng và hứa sẽ đem tố cáo hành vi phạm thượng đó với triều đình để làm tội Thanh Lã tiên sinh, nếu phe họ Trần chịu vui lòng bỏ ra ba trăm nén bạc.
Muốn cho những người trong họ Trần tin lời mình, họ Phạm đã thao thao bất tuyệt khoe khoang thế lực của ngòi bút một tay đề lại lão luyện, muốn thay đen, đổi trắng, khuấy nước nên hồ thế nào cũng được, miễn là án văn cấu phải tạo sao cho thiệt hơp tình hơp lý. Hơn thế nữa, lại còn cần được lòng tin của quan trên. Mà về điểm này, thì viên đề lại họ Phạm có thừa điều kiện, vì từ khi được bổ nhiệm về huyện này, quan Huyện đối với hắn, luôn tỏ lòng tín nhiệm, ủy thác cho hắn nhiều án từ, công việc quan trọng.
Muốn mua chuộc lòng yêu mến, thương tưởng của quan Huyện, họ Phạm đã khôn khéo, bày mưu tính kế cho quan Huyện đục khoét lương dân, khiến cho mới có mấy năm trời mà quan Huyện đã tậu được trên một trăm mẫu ruộng ở quê nhà.
Nghe họ Phạm nói rõ âm mưu ám hại Thanh Lã tiên sinh, họ Trần hân hoan tiếp nhận tin đó, và không ngần ngại gì, chấp thuận toàn vẹn đề nghị của viên đề lại.
Họ về hội họp ngay các bô lão, chức sắc trong họ rồi trịnh trọng thuật lại rõ ràng lời nói, bao hàm ý nghĩa phản nghịch của Thanh Lã tiên sinh do viên đề lại họ Phạm nghe được và sẳn lòng tố cáo nội vụ với quan trên, nếu được họ Trần đền ơn xứng đáng. Kết luận, người trưởng tộc yêu cầu tất cả mọi người trong họ, không phân biệt già trẻ, gái trai tính theo đầu người, cứ mỗi xuất phải nộp một lượng bạc, mới có thể chu tất được món tiền mà viên đề lại đã yêu sách.
Theo lời trình bày của người trưởng tộc, thì đó là một cơ hội may mắn phi thường, để họ Trần triệt hạ hạ đối phương bằng một miếng đòn quyết liệt, không còn hy vọng gì để ngốc đầu lên được, vì trong thời đại phong kiến cục thịnh, kẻ khinh mạn triều đình, xúc phạm đến uy thế hoàng gia, sẽ bị trảm quyết, bêu thủ cấp làm gương cho thiên hạ !
Đấy là trường hợp khoan hồng đối với những tội nhân không có đầy đủ bằng chứng, tang vật phản nghịch. Còn có những vụ án tương tự, mà nạn nhân lại có thể bị xử tới tru di tam tộc, hay hành hình một số chính phạm, và lưu đày những thân nhân, họ hàng giây mơ, rễ má!
Trong dòng họ Thanh lã, vẫn hay rằng có nhiều hương lý, chức sắc, lắm kỳ mưu, diệu kế, có uy danh, tín nhiệm với dân làng, nhưng tựu trung vẫn không được ai tài giỏi như Thanh Lã tiên sinh, nên họ chỉ nhắm riêng mục đích: triệt hạ một mình tiên sinh, cũng đủ khiến cho cả dòng họ tiên sinh phải suy sụp. Viên trưởng tộc còn nhấn mạnh : nếu bây giờ không triệt hạ được tiên sinh, tức là ngôi từ đường ở khu Hạc Hải vẫn còn, thì chỉ trong vài ba năm nữa, long mạch nổi dậy, cả dòng họ ấy sẽ được hưởng thụ sự kết phát vẻ vang, quan văn, quan võ khắp triều đình, hỏi lúc đó, họ Trần chỉ cầu được sống yên ổn trong xóm làng cũng còn khó, chứ hy vọng gì cạnh tranh với họ và được dân làng kính nễ nữa! Mình có cơ hội diệt trừ họ mà không biết lợi dụng tức khắc, thì sau này, khi họ có nhiều người làm quan, họ Trần đành chỉ còn có nước làm đầy tớ họ, để đổi lấy sự an cư lạc nghiệp mà thôi. Viên trưởng tộc đã khéo dùng chính sách “thỉnh tướng không bằng khích tướng” để gợi lòng tự ái của mọi người trong họ, khiến cho tất cả nam phụ lão ấu đều nhiệt liệt tán thành âm mưu tố cáo ông Thanh Lã, và sốt sắng đóng góp ngay số tiền viên trưởng tộc vừa đề nghị.
Chỉ một ngày sau, họ Trần đã thâu được đủ ba trăm lượng bạc của bà con trong họ, để ngay chiều hôm ấy, bí mật đem đến nộp cho viên đề lại và không quên nhắc đi nhắc lại điều kiện thiết yếu: nếu không diệt trừ được ông Thanh Lã, nếu không phá hủy được ngôi từ đường, thì viên đề lại phải trả lại họ Trần đủ số tiền đã lấy!…
Giấy tờ cam kết xong xuôi, mấy ông hương lý, thân hào trong họ Trần hý hửng ra về, ngày nào cũng tụ họp chè chén với nhau, để chờ nghe tin tức.
NHỮNG HIỆN TƯỢNG QUÁI DỊ TRONG HOÀNG CUNG
Đúng vào thời kỳ ấy, tại hoàng cung liên tiếp xãy ra mấy hiện tượng quái dị: luôn 3 đêm ngày liên tiếp, thanh thượng phương bảo kiếm của nhà Vua, treo gần long sàng, bỗng phát ra những tiếng vo vo đều đều như tiếng gió xào xạc trong một cơn mưa rả rích. Đồng thời, chiếc đỉnh cao bằng đầu người nặng tới mấy ngàn cân, đặt trước điện Thái Hoà, cũng đột nhiên bị đổ nghiêng hẳn về phía trước, mặc dầu nơi ấy, suốt ngày đêm không có ai tới, và luôn luôn có võ lâm quân canh gác cực kỳ nghiêm mật. Mà lúc chiếc đỉnh đổ nghiêng, cũng không gây ra một tiếng động nhỏ nào.
Vị lão quan thẩn thở, bước xuống lầu, vào thư phòng ngồi thẩn thờ suy nghĩ trước án thư, đoạn dơ đốt ngón tay tính toán một lúc lâu, bất giác giật mình kinh hãi lẩm bẩm :
– Vận mạng hoàng triều có cơ suy giảm đến nơi mất rồi, nếu linh khí đất kinh kỳ không sớm phục hồi, cho hùng hậu như khí phát tích, thì khí thiêng ở phương Bắc sẽ có ngày quật khởi, lấn át được cả long mạch hoàng thành… Ngai vàng nhà Lê chắc khó lòng giữ vững.
Ngày hôm sau, quan Khâm Thiên Giám dâng sớ tâu rõ những hiện tượng quái dị đêm trước và kết luận :
Ở phương Bắc chắc có huyệt đế vương, khí thiêng đang thời kết phát, nên bắt đầu làm thương tổn tới nền tảng vững chắc của Hoàng cung. Nếu không sớm tìm cách diệt trừ, sớm muộn gì, cũng sẽ gây ảnh hưỡng không tốt cho vận mạng hoàng triều và non sông, xã tắc.
Nhà vua xem sớ tấu, bàng hoàng lo sợ, vội giáng mật chiếu cho các quan Tổng Trấn đại thần các nơi, phải lưu tâm dò xét xem chổ nào có long mạch đế vương thì một mặt phải tâu ngay cho nhà vua biết, một mặt phải tìm thầy địa lý cao tay trấn yểm cho kỳ được. Hạn trong ba tháng phải báo cáo tình hình cho triều đình biết.
Mật chiếu được sứ giả dùng hỏa bài đem ngay đến các biên trấn xa xôi, khi tới tỉnh Bắc Giang thì vừa đúng lúc viên đề lại họ Phạm đang bày mưu tính kế ám hại Thanh Lã tiên sinh, sau khi tiên sinh chót thốt mấy lời kém suy nghĩ giữa lúc bị ma men ám ảnh.
Được quan Huyện cho gọi vào, nói rõ lời nhà Vua truyền dạy trong mật chỉ, viên đề lại cả mừng, vội về làm báo cáo tố giác khu cấm địa Hạc Hải, và ý nghĩa biểu lộ sự phản nghịch trong những lời thốt ra trong lúc vô tình của Thanh Lã tiên sinh, tại bửa rượu có cả thầy địa lý Trung Hoa cùng dự.
Trong bản báo cáo này, họ Phạm đã tỷ mỷ tường thuật rõ ràng vị trí của khu đất cấm Hạc Hải. Đồng thời, còn trình bày luôn cả tục lệ từ ngàn xưa, với những sự linh ứng dị kỳ ấy, mỗi khi có người nào ở trong làng, không chịu tuân theo lệnh cấm của hương chức, cứ làm nhà hay trồng trọt, canh tác trên thửa đất Hạc Hải.
Để có đủ yếu tố buộc tội Thanh Lã tiên sinh, viên đề lại gian ác này, còn nhấn mạnh đến mưu tính của tiên sinh lúc mua khu cấm địa mà muốn đạt thành ý nguyện, tiên sinh đã lợi dụng uy quyền, thế lực của một dòng họ có nhiều người vào bậc đàn anh, chức sắc, ăn trên, ngồi trước, để bắt buộc dân làng phải im hơi, lặng tiếng, không cho một ai phản đối chi hết, mặc dầu họ biết dân làng sẽ bị động trệ ?
Họ Phạm lại gian xảo, đính kèm theo bản văn tố giác của y, những bản sao các đơn từ của bọn chức sắc, hương lý trong phe nhóm họ Trần, trước đây đã đệ trình quan sở tại để phản đối sự xây dựng từ đường của Thanh Lã tiên sinh.
Bằng một giọng văn kết tội rất chặt chẻ của một viên lại mục chuyên nghiệp, nhiều kinh nghiệm quý báu trong nghề điên đảo án từ, dệt thêu bịa đặt một cách rất khéo léo, có mạch lạc, tạo được một niềm tin tưởng vững chắc cho các quan tỉnh khi thẩm xét nội vụ, viên đề lại họ Phạm còn thâm độc, tường thuật luôn cả trong bản báo cáo, sự vận động và lợi dụng quyền lực uy thế của một dòng họ, vốn từ mấy đời nay, vẫn được liệt vào hàng cường hào, ăn trên ngồi chốc ở trong làng để buộc tội thêm cho ông Thanh Lã là cố tình chiếm đoạt cho kỳ được khu cấm địa với tất cả mọi giá, chỉ cốt sao xây dựng được ngôi từ đường, mưu cầu sự kết phát hiển vinh cho cả họ. Để kết luận, viên đề lại còn cam đoan, lấy tính mạng ra bảo đảm cho sự tố cáo của mình, để nếu có điều gì không đúng, y xin sẳn lòng chịu tội với triều đình.
BẢO TOÀN SĨ KHÍ, ÔNG THANH LÃ BỊ ĐỔ CHÌ VÀO MẮT
Quan Tổng Trấn nhận bản văn tường trình của quan Huyện, có đính kèm tờ cung khai rất rõ ràng, tỷ mỷ của viên đề lại họ Phạm, không dám chậm trễ, vội một mặt đệ biểu chương về triều tấu các sự việc xãy ra ở mấy vùng Mông Phụ, Mông Sàng, căn cứ theo lời dân cư địa phương tiết lộ, một mặt sai quân lính về làng Mía, bắt Thanh Lã tiên sinh.
Đất bằng nổi sóng, Thanh Lã tiên sinh không ngờ mối tai hoạ tày đình, đang dồn dập cả ở sau lưng mình, ngay từ sau bửa rượu thịnh soạn mà tiên sinh vẫn yên trí đó là cơ hội hãn hữu để gặp mặt bạn hiền, làm cho cả dòng họ tiên sinh bị tan tành, điêu đứng.
Với tâm hồn bộc trực, sảng khoái của một vị chính nho, quân tử, lúc nào cũng coi đạo lý thánh hiền như khuôn vàng, thước ngọc, lấy tình trung hậu, tín nghỉa làm phương châm chánh yếu trong sự giao du, thù tạc, sẳn sàng đặt lòng tin tưởng vào bất cứ ai ở quanh mình, nếu đã có cơ hội được tiếp xúc với họ, mặc dầu dĩ vãng của họ, thường bị mọi người chỉ trích chê bai. Tiên sinh luôn luôn chủ trương : dùng cảm tình, ân nghĩa để cảm hóa những kẻ lạc lối, lầm đường, lúc nào cũng chỉ mong bớt thù thêm bạn để tâm hồn được thảnh thơi, tâm trí được hoàn toàn rãnh rỗi. Cũng vì thế, tiên sinh mới không ngần ngại gì, kết giao mật thiết với viên đề lại họ Phạm mà tiên sinh biết rõ tâm tính gian xảo cố hửu của kẻ lại mục và sẳn lòng cởi mở ruột gan, lúc tiên sinh ngồi tiếp chuyện hắn với thầy địa lý Tàu hôm trước.
Thực tình mà nói, thì những lời cao đàm hứng luận thốt ra trong lúc phế phủ đang ngùn ngụt hơi men, tiên sinh đều quên hết sau một giấc ngủ ly bì, mỏi mệt, đến nổi bạn về bao giờ tiên sinh cũng không rõ ! Cho mãi đến cuối giờ Mảo hôm sau, khi thấy tiên sinh cựa mình ngồi choàng dậy, một người em họ của tiên sinh, đứng hầu rượu chiều hôm trước, vội đi lấy nước cho tiên sinh rửa mặt, pha trà cho tiên sinh uống như thường lệ, rồi mới thong thả thuật lại những lời nói của tiên sinh trong bửa rượu, cùng thái độ kiêu ngạo, rất khả nghi của viên đề lại!
Thanh Lã tiên sinh lúc ấy mới giật mình, sợ hải, toát mồ hôi khi nghĩ tới hình phạt khắc nghiệt của chế độ phong kiến, mà mỗi hành vi, cử động hay ngôn ngữ, văn tự, chỉ hơi có vẻ ngông cuồng, cũng có thể bị bọn vua quan kết án là “khi quân” để làm tội đương sự rất nặng nề, tuỳ theo từng trường hợp: hoặc tử hình hay tru di tam tộc !
Chợt nhớ đến tâm tính xảo quyệt thâm độc của bọn sai nha, nhất là thành tích ” ăn thịt người không biết tanh ” của viên đề lại họ Phạm, tiên sinh lại càng hoảng sợ, vò đầu, bứt tai, không biết lo nghĩ mưu kế gì, để có thể tránh được tai hoạ sắp xảy ra? Nhưng rồi tiên sinh lại tự nhủ thầm : mình quen ăn ngay nói thẳng, không làm điều gì phản dân hại nước, thì có lý nào triều đình lại nỡ kết tội oan uổng, chỉ căn cứ vào những lời nói vu vơ, thốt ra trong lúc vô tình, say sưa, chè chén ? Thiên hạ chẳng đã có câu : ” cây ngay không lo chết đứng ” đấy ư? Vả lại, con người ta sống chết có số mạng !
Không một ai tránh khỏi được sự an bài của Tạo Hóa.
Nghĩ tới đây, tiên sinh vội vào thẳng thư phòng, lục trong chiếc tráp sơn đen, lấy ra lá số tử vi của tiên sinh, rồi chăm chú nghiền ngẩm cứu xét…
Bỗng tiên sinh tái mặt, mồ hôi toát ra khắp mình, toàn thân lạnh buốt như băng giá, suýt kêu lên một tiếng hải hùng, khi thấy trong cung Mệnh của lá số có ghi rõ những vận hạn kinh khủng, nếu không đưa đến thảm hoạ chết người thì cũng làm cho tiên sinh bị tàn phế trọn đời, cặp sao Thái Dương và Thái Âm tượng trưng đôi mắt của tiên sinh trong lá số gặp sát tinh hội chiếu.
Tiên sinh buông lá số, thẩn thờ một lúc lâu, rồi thở dài nảo nuột: Muôn sự đều do số mệnh ! Chỉ tiếc cho công phu tìm kiếm đất quý trong mấy năm trời gian nan vất vả khổ trí, lao tâm mà rút cuộc lại vận chỉ là cảnh dã tràng xe cát, bao nhiêu công phu kỳ diệu phút chốc biến thành ảo ảnh !  Sức người cưỡng sao nổi Mệnh Trời !
Đến từ giờ phút này, tiên sinh mới cảm thấy sự tai hại của tánh ngông cuồng, tự đắc, vì ngay từ khi khám phá được khu cấm địa Hạc hải, hiểu được rõ ràng địa điểm quy tụ linh khí kỳ tú, khả dĩ đem lại sự kết phát tới Vương bá, Công hầu, nhưng xét lại âm công, phước trạch nhà mình, tiên sinh tự biết âm đức quá mỏng manh, không xứng đáng thụ hưởng sự kết phát lớn lao hiển hách ấy! Tuy nhiên, với tính tự ái của một sĩ phu làu thông lý số, quán triệt âm dương, tiên sinh chắc rằng mình sẽ có đủ tài sức chế ngự mạng số, để hoàn thành chí nguyện. Do đấy, tiên sinh mới cố gắng tìm đủ mọi phương pháp huyền diệu, kỳ ảo để trấn yểm khu Hạc Hải, chế ngự đuợc Thổ thần, xây dựng được chu đáo ngôi nhà thờ họ. Chín phần mười đoạn đường đầy chông gai, trở ngại, tiên sinh đã dùng tài năng sở trường vượt qua được gần hết, chỉ còn có một quảng ngắn nữa là có thể đạt được hoàn toàn mục đích mong muốn, từ khi tiên sinh bắt đầu nghiên cứu môn địa lý ! Nào ngờ đâu chỉ vì mấy lời vô ý thức, thốt ra trong lúc mềm môi vui chén với bạn bè, mà kẻ gian ác đã căn cứ vào đây, hãm hại tiên sinh, khiến cho công trình xây dựng của tiên sinh, phút chốc suy sụp, đổ vỡ !
Càng nghĩ, càng buồn, càng giận tiên sinh lại càng chán ngán, nhiều lúc muốn tự kết liểu đời mình cho rảnh nợ, nhưng, rồi tiên sinh lại bác bỏ ngay ý định nông nổi ấy khi tự nghĩ rằng mình là người vô tội, triều đình không thể viện vào cớ gì, để hãm hại tiên sinh cho được ?
Nghĩ thế rồi, tiên sinh thản nhiên đợi chờ những sóng gió sắp xãy ra…
Một buổi chiều mưa đông năm Ất Tỵ, nhằm đời vua Lê Cảnh Hưng, quan trấn tỉnh Bắc Giang phái một viên Cai Cơ, đem một toán lính về tận làng Mía, nã tróc Thanh Lã tiên sinh, giải về triều cho Tam Pháp Tỵ thẩm vấn về tội mưu toan phản nghịch nhà Vua.
Tuy đã tiên đoán hậu quả này, khi thấy lính về nã tróc, thân nhân của tiên sinh cũng hoảng sợ, cuống cuồng. Người nào cũng run rẫy, bàng hoàng, chỉ lo bị vạ gió, tay bay, vướng phải họa lây với Thanh Lã tiên sinh.
Thừa dịp viên sai quan đang mải mê lục soát trong các căn phòng, để đi tìm kiếm tang vật phản loạn, tiên sinh liền căn dặn thân nhân :
– Hôm nay ta phải theo sai quan lên tỉnh, nhằm đúng ngày 23 tháng tám, thì bổn mạng của ta, không lo bị thương tổn, mặc dầu ta vẫn vướng phải cực hình : bị mù cả hai mắt! Ta đã tính toán kỹ lưỡng từ hôm qua rồi ! sai quan tới tróc nã ta vào ngày mai, thì nhất định, thế nào ta cũng bị trảm quyết, mà mọi người trong họ sẽ cũng phải lưu đày. Nhưng hôm nay ta đã bị bắt, thì không còn gì lo tới tính mạng nữa.
Vậy đúng ngày 28 tháng mười tới, người nhà phải chờ đón ta ở cỗng tòa Tam Pháp để dắt ta về quê, vì chắc là đến hôm ấy, ta không còn trông thấy ánh sáng mặt trời nữa. Mọi người phải nhớ lời ta dặn, chớ để cho ta bơ vơ ở nơi đất khách, quê người nhé !
Quan trấn không tra hỏi tỷ mỷ phạm nhân, mà chỉ làm báo cáo giải theo với phạm nhân về kinh sư, để tuỳ triều đình xét xử.

Trước tòa Tam Pháp, khi bị cật vấn về mưu toan phản nghịch qua lời nói khinh mạn Hoàng triều trong tiệc rượu, và tính cách thiêng liêng của khu cấm địa Hạc hải, Thanh Lã tiên sinh đã khẳng khái khai rằng :
– Trước khi có ý định tìm một ngôi đất quý, để hoặc an táng hài cốt ông cha, hoặc xây dựng nhà cửa, khả dỉ đem lại được sự kết phát, vinh hiiển cho con cháu trong họ sau này, tiểu dân đã khảo xét tinh tường, nghiên cứu lý số, đoán biết chắc chắn vận mạng Hoàng triều không còn được lâu dài nửa, ngôi bảo tổ vì vậy, nhất định sẽ phải qua tay họ khác. Tiểu dân thấy thế, mới dám có tham vọng dùng sức học sở trường để : một là thử xem học vấn của mình có quả thực đã đạt được tới mức uyên bác, tinh thông chưa, hay đó chỉ là những sự hiểu biết hời hợt trên giấy trắng, mực đen, không hơn gì cái học từ chương, phù phiếm; hai là muốn gây dựng cho con cháu có cơ hội mở mày, mờ mặt, được với thiên hạ, mặc dầu tiểu dân tự biết phước trạch tổ tiên nhà tiểu dân chưa đủ cho con cháu hưởng thụ sự kết phát quá hiển hách vẻ vang! Nay quả nhiên, sự mưu tính của tiểu dân bị sụp đổ, đúng như vận mạng tiểu dân đã tiên đoán, vì tuy tiểu dân thành công trong việc xây dựng từ đường trên khu Hạc Hải, song vì một lời nói thốt ra trong lúc cao hứng, vô tình tiểu dân bị mắc tội với triều đình, nhà thờ họ bị triệt hạ, tương lai tiểu dân hoàn toàn tan vở, thì tiểu dân quả thực không còn mong gì sống ở trên đời nữa ? Vậy giết, tha thế nào, xin tuỳ lượng cao minh của thượng quan định đoạt. Riêng về phần tiểu dân, ngay từ lúc theo sai quan lên tỉnh, tiểu dân đã coi như được về… với tổ tiên rồi, không còn hy vọng gì được trở lại vui sống cùng gia đình nữa !
Quan Đô sát còn tra hỏi thêm về các chi tiết liên quan đến ngôi đất “luỡng long tranh châu”, bắt nhà phong thủy phải tự viết một bản cung khai, trình bày rành mạch tất cả những công việc đã làm, từ khi mới khám phá được khu cấm địa, như cách dùng bùa phép trấn yểm tà khí, để giữ vững long mạch như thế nào, phương pháp vận động cho dân làng không phản đối sự xây dựng từ đường, như thế nào, tính cách linh thiên và những hiện tượng quái dị quanh khu đất Hạc hải từ ngày xưa như thế nào, nhất nhất đều phải ghi chép rất rõ ràng, để các quan trong tòa Tam pháp cứu xét.
Riêng về lời nói của tiên sinh, thốt ra trong bửa rượu với nhà phong thủy Trung Hoa và viên đề lại, tiên sinh cũng không dấu diếm, khai thực đó là do câu hỏi của thầy địa lý Tàu, muốn so sánh kiểu đất phát tích của Hoàng triều, với khu Hạc hải, xem nơi nào quý địa hơn !
Tính nết tiên sinh, bình sinh rất thẳng thắn, nghĩ sao nói vậy, có hay nói hay, có dở nói dở, không bao giờ chịu làm một điều gì mờ ám, nên tiên sinh mới trả lời nhà phong thủy Trung Hoa một câu phát xuất tự đáy lòng, mà sự thực, nếu không xảy ra tai biến này chắc chắn sẽ được chứng minh một cách rất rõ ràng, sau thời gian ngôi từ đường của dòng họ tiên sinh bắt đầu quán khí !
Thấy phạm nhân đã khai khẩu cung rất đầy đủ, quan Đô Sát liền làm biểu văn phúc tấu triều đình, để xin nhà vua định tội.
Nhà Vua hạ chỉ : truyền quan Đô Sát phải áp giải phạm nhân vào triều rồi đương diện, dụ ông Thanh Lã, bắt tiên sinh phải tìm cách tiếp phúc kỳ được cho ngôi tổ mộ của nhà Lê ở đất Lam Sơn cho được hưng thịnh như trước. Nếu việc làm này có kết quả, triều đình sẽ tha tội cho phạm nhân.
Thanh Lã tiên sinh không chút lưỡng lự, lạy giập đầu trước bệ ngọc mà tâu rằng:
– Kẻ tội phạm này nhất sanh trung thực, nghĩ sao nói vậy, không bao giờ quen đưa đón, phụng thừa, dù biết đó có thể làm nghịch ý Thánh Hoàng, để tự tìm lấy cái chết ! Vậy thần xin tâu thực : hạ thần đã khảo sát tinh tượng, tính toán âm dương, rất kỷ lưởng, nên mới dám có ảo mộng ngông cuồng, để đến nổi đắc tội với triều đình ! Nay công việc của hạ thần tuy không thành đạt, song chỉ trong một thời gian ngắn nữa, cũng sẽ có họ khác xuất đầu lộ diện để tranh dành ngôi bảo tổ ! Đó là thiên cơ đã ấn định, sức người dẫu mạnh đến đâu, cũng đành khoanh tay cam chịu ! Hạ thần đã một lần, cưỡng lại mệnh Trời, nên giờ đây mới bị vướng tai ương. Vậy cúi xin bệ hạ minh xét, kẻ tội phạm này cam lòng chịu chết chứ không dám tuân thánh chỉ, vì tự biết sức mình không sao thắng được thiên mạng!
Nhà vua nổi lôi đình thịnh nộ, cho là ông Thanh Lã cố tình ngang bướng, không chịu tìm cách tiếp phúc cho ngôi tổ mộ của nhà Lê ở đất Lam Sơn, liền hạ chỉ cho tạm giam phạm nhân vào ngục tối.
Sau bao lần dụ dổ không có kết quả, đúng ngày 28 tháng 10, nhà vua liền hạ chỉ cho Hình Bộ Thị Lang phải làm tội ông Thanh Lã !
Bị giải từ ngục thất ra pháp trường, Thanh Lã tiên sinh tự biết số phận mình nên thần sắc chẳng chút biến chuyển ung dung theo võ lâm quân, ra quỳ trước án thư quan Hình Bộ.
Viên Thị Lang đọc thánh chỉ kết phạm nhân vào tội phản ngịch triều đình, phải bị đổ chì vào cả hai mắt, để trọn đời không còn tìm được kiểu đất đế vương nào khác nữa.
Ông Thanh Lã còn đang đảo mắt nhìn quanh để tìm thân nhân, thì một tên võ lâm quan đã đè nghiến tiên sinh xuống cho một tên lính khác đổ bát chì nấu sôi; bốc khói rùng rợn vào hai mắt …
Tiếng kêu rú thất thanh, hoà với giọng nức nở, nghẹn ngào của thân nhân tiên sinh đứng quanh đây, đã tạo thành một âm thanh ai oán, bi thiết, não nùng vô bờ bến !  Tai họa bất ngờ này, quả đã phù hợp với lời tiên đoán của tiên sinh, khi táng giúp tám ngôi tổ mộ cho họ Nguyễn ở làng Báo Văn mà bằng cớ, còn được ghi lại rõ ràng trên bia đá, tìm được dưới lòng huyệt của kiểu đất Phụng Hoàng Hàm Thư : “… Ngã thuỳ vô mục quả vô mục dã”.

MÁU CHẢY CHAN HÒA KHU HẠC HẢI
Ngay sau khi phái công sai về tróc nã Thanh Lã tiên sinh, quan Trấn đã ủy nhiệm cho viên tri huyện sở tại, phải niêm phong ngôi từ đường xây dựng trên khu cấm địa ở làng Mía, để chờ lệnh quyết định của triều đình.
Sau mấy tháng thẩm vấn, cứu xét vụ án rất kỷ lưỡng, triều đình đã cho áp giải phạm nhân trở về nguyên quán, để chứng kiến cho quân lính phá hủy ngôi nhà thờ họ, mà trước đây không lâu, cũng chính phạm nhân này đã lao tâm khổ tứ, tận dụng khả năng chuyên môn và sức học vấn uyên thâm, để cố tạo nên một kỳ công vĩ đại cho con cháu trong họ được thụ hưởng lâu dài.
Trước khi tự tay đặt nhát cuốc thứ nhất trên nền nhà, ông Thanh Lã đã thiết lập bàn thờ, khấn vái thổ thần phù chú và đốt liên tiếp ba đạo bùa để xin giải sự trấn yểm lúc trước.
Sau đấy quân lính mới ùa vào gở mái chặt cột, phá móng đào nền…
Nhà phong thủy thẩn thờ, ngây dại đứng nhìn công trình xây dựng của mình với bao mồ hôi, nước mắt, phút chốc bị đổ vở tan tành. Còn đang bơ phờ, ngao ngán, thầy địa lý chợt rùng mình, toàn thân như bị một luồng gió độc luồn qua kẻ phổi, khe gan, rồi sấm sét bỗng nổi dậy vang rền, mặc dầu trước đấy, trời rất quang đảng, mây xanh từng đám, nhẹ nhàng chuyển vận theo làn gió cuối thu mát mẻ, dịu dàng, không có một triệu chứng nào báo hiệu một cơn mưa gió phủ phàng !
Vậy mà chỉ trong khoảnh khắc, lúc đám lính huyện đang hò hét phá hủy ngôi từ đường trên vùng cấm địa, trời đất bỗng chuyển động ầm ầm, từng luồng chớp xanh lè, nối tiếp nhau hiện lên cùng một lượt với những tiếng gầm thét kinh thiên động địa của lôi thần, rồi mưa tuôn xối xả, gió giật đùng đùng làm tung bay cả những tàu lá cọ, vừa được giở từ trên mái nhà xuống! Trận mưa tầm tả, như những tỉnh nước khổng lồ bị trút ngược xuống trần gian, kéo dài từ đầu giờ Tỵ đến cuối giờ Mùi mới ngớt hạt, khiến cho những nứa lá bị gỡ, trôi mất hết, kiểm soát lại, thì ngôi nhà thờ năm gian chỉ còn trơ lại mấy cây cột cái, với một mớ đòn tay !
Cả khu Hạc hải đều bị ngập nước mưa sâu tới quá gối !
Đó là một trường hợp lạ lùng, không hề thấy xãy ra lần nào ở mấy làng Báo Văn, Mông Sàng, Mông Phụ, từ trước tới nay, vì thường nhật, những năm trời làm lụt lội không kể, cả mấy thôn xã trong vùng, chưa từng bị lụt nước mưa bao giờ !
Mọi khi , dù mưa to gió lớn, đến đâu, kể cả những trận mưa giầm rã rích liên tiếp nhiều đêm ngày ròng rã, hay trong suốt tháng Ngâu, (tháng bảy), nước mưa, nếu không thấm được hết vào lòng đất, thì cũng trôi xuống các cống rãnh, rồi chảy tuốt qua những hồ ao rải rác ở khắp các thôn xóm, chư có đâu bị ứ động lại một cách kỳ dị như trận mưa hôm lính phá nhà thờ của ông Thanh Lã?
Ngay chiều hôm ấy, khi công việc phá hủy từ đường hoàn tất, nhà phong thủy lại phải theo lính về trại giam trên Huyện, để sáng hôm sau, lai kinh chịu tội.
Nước mưa vẫn ứ đọng khắp khu Hạc hải vừa đúng bảy ngày bảy đêm mới cạn hết.  Nhưng trên mặt đất, từ đấy lại luôn luôn rỉ ra một chất nước đỏ sẩm như máu tươi. Mà lạ lùng hơn nữa, hiện tượng quái dị ấy, lại chỉ thu hẹp trong phạm vi nền nhà vừa mới bị phá hủy, chứ chung quanh đấy, chẳng nơi nào giống thế cả!
Mấy bà già thấy vậy, hoảng sợ, vội lấy tro đổ lên, song vô ích; thứ nước đỏ, phảng phất có mùi tanh in hệt chất máu tươi, vẫn cứ ngày đêm rỉ ra, đều đều, không khác gì mồ hôi tiết qua lổ chân lông của một người đang đi dưới bầu trời nắng gắt !
Những ông già, bà cả trong làng cho rằng long mạch kiểu đất lưỡng long tranh châu đã bị đứt, nên mới có điềm kỳ dị ấy.
Nào đã hết đâu! Cây đa bảy rễ ở đầu xóm Thượng, một nơi nổi tiếng linh thiêng trong vùng, từ bao nhiêu năm trời nay từng được dân làng đặt nhiều bình nhang ở các hốc cây và treo các thứ hài, nón trên cành, bỗng dưng bị khô héo dần, rồi chết rũ, cùng một lúc với hai cây ngọc lan trồng ở sân đình. Quái gở hơn nữa, là sau đấy chừng mười hôm, giữa thân cây đa cổ thụ tự nhiên lại có một đôi rắn dài chừng năm thước ta, lớn bằng bắp vế, một con màu đỏ, một con màu xanh, nàm cuộn tròn tronh hốc cây, đầu luôn luôn hướng thẳng về phía đình làng, chốc chốc lại rít lên từng hồi như tiếng còi lãnh lót, cực kỳ rùng rợn, khiến nhiều người yếu bóng vía không còn dám đi qua con đường ấy nữa.
Cũng từ hôm phá ngôi từ đường, đêm đêm, cứ giờ Tí trở đi, một số dân cư trong làng, đi kéo vó hay đi đơm cá, thường được thấy giữa khu Hạc Hải, hiện lên một vùng ánh sáng xanh rờn, lớn bằng quả cam, múa lôn, bay lượn chung quanh vùng cấm địa, rồi trong khoảnh khắc, tan vở thành ngàn vạn mảnh vụn, vàng tím đủ màu, bắn tóe ra khắp bốn phía giống hệt những tia sáng như hoa cà, hoa cải, như khi người ta đốt cây pháo bông vậy! Đồng thời, từ giữa lòng đất lại văng vẳng phát ra những tiếng nức nở, nghẹn ngào, rên la rền rĩ như quỹ khóc ma kêu, khi rõ ràng như trước mặt, khi mơ hồ như ở cõi xa xăm, hòa cùng tiếng giun rế, nỉ non, gió đêm xào xạc tạo thành một điệu nhạc quái đản, rùng rợn, làm ớn xương sống những chàng thanh niên ngỗ nghịch nhất trong làng!
Nạn trôm cướp xãy ra như cơm bữa, hết ở xóm này, lại qua xóm khác, khiến cho mọi người, nhất là những gia đình có máu mặt, ăn ngũ không yên, vì từ bao đời nay, có ai bị mất trộm, mất cướp bao giờ đâu.
Tuy không được hưởng cuộc sống thanh bình như thời Nghiêu Thuấn: ban đêm nhà không phải đóng cửa, ban ngày chẳng ai thèm nhặt của rơi, nhưng dân cư người nào cũng biết an phận làm ăn, chẳng ai có tính tham lam gian trá? Vậy mà những thuần phong, mỹ tục ấy, phút chốc biến đâu mất hết, để nhường chỗ cho bọn trộm cướp hoành hành, làm mưa, làm gió! Thế rồi, cứ đúng bảy hôm, lại xãy ra một vụ hỏa hoạn, mặc dù các hương lý, kỳ hào sau khi thấy mấy vụ cháy liên tiếp, đã phải chia phiên nhau, đích thân hướng dẫn tuần đinh, đi canh gác khắp các hang cùng, ngõ hẽm ở trong làng, để thấy ai hay lơ là, cẩu thả không chịu giữ gìn củi lửa, là cảnh cáo hay phạt vạ ngay tức khắc! Nhưng tất cả mọi sự đề phòng cẩn mật của các chức dịch hương lý, cũng đều hóa ra vô ích, khi các vụ hỏa hoạn cứ đúng bảy ngày một lần, diễn ra rất đều đặn, như có bàn tay vô hình nào đó, sẳn sàng chờ đến hạn kỳ, là châm lửa đốt nhà tức khắc.
Có điều nạn nhân hỏa hoạn, hết thảy đều là những người khá giả, giàu có ở trong dòng họ nhà ông Thanh Lã, chứ dân cư họ Trần hay các họ nhỏ khác, đều không có nhà nào bị cháy hết!
Tình trạng bi đát, hổn loạn ấy, kéo dài vừa đúng ba tháng mười ngày, tính từ hôm bắt đầu triệt hạ ngôi từ đường kiến tạo trên khu Hạc Hải, thì bỗng nhiên đôi rắn có màu im bặt tiếng rít thường lệ, khiến dân làng nghi ngờ, tó mò rũ nhau đến gần xem xét.
Trước họ còn đứng xa nhìn ngắm, sau thấy chung quanh yên lặng như tờ, không xãy ra gì nguy hiểm, kỳ dị, họ liền tiến đến gần gốc cổ thụ, đã chết khô cả cành lá từ lâu và ngạc nhiên, cùng reo hò một lượt, như biểu lộ sự mừng rỡ hân hoan khi nhận thấy đôi rắn lớn nằm cuộn khúc đã chết rũ trong hốc cây đa tự bao giờ.
Cũng từ đấy sự yên ổn lần hồi trở lại với dân làng : các chứng bệnh thời khí, hại người, hại vật không còn hoành hành, gieo rắc tai họa đau thương như mấy tháng trước nữa. Đồng thời, nạn hỏa hoạn cũng hết luôn, chất nước đỏ sẩm như máu tươi cũng không còn tiết ra suốt ngày đêm, trên nền nhà thờ khu cấm địa nữa.
Nhưng trong lúc dân làng vui mừng được hưởng thụ sự bình yên, tai qua nạn khỏi, không phải sống hồi họp, lo âu từng giờ từng phút trước cảnh đe dọa hải hùng, như tình trạng bi đát đã xãy ra sau ngày Thanh Lã tiên sinh bị bắt, chỉ riêng dòng họ nhà tiên sinh, liên tiếp phải chịu đủ thứ tai ương thảm khốc. Người con trai lớn của tiên sinh, năm ấy mới mười tám tuổi, đang được tiên sinh ký thác cho ông Cử Ba ở phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh để rèn luyện kinh sách, văn bài, chờ nạp quyển dự kỳ Hương Thí năm sau, bỗng không đau ốm gì lăn ra chết. Ở quê nhà, hai đứa cháu gọi Thanh Lã tiên sinh bằng Bác họ, con trai hai người em họ, thuộc về hai chi dưới trong dòng họ của tiên sinh, cũng tự nhiên trợn mắt, sùi bọt mép, ngã quay dưới đất, rồi cứ thế, lịm dần… tắt thở. Nhưng đau đớn hơn hết, là trường hợp đứa con út của tiên sinh, mới ra chào đời một tháng, sau ngày hoàn thành khu từ đường, mà tiên sinh yên trí đó là đứa trẻ thụ hưởng sự kết phát hiển hách hơn hết cả, trong bao nhiêu người khác ở trong họ. Mà quả thực đứa trẻ này cũng có nhiều điểm dị kỳ, khác hẳn những hài nhi cùng trang lứa, vì hôm hạ sanh nó, đúng vào giờ Tí ngày mùng một tháng tám, trong căn buồng kín mít, chỉ le lói có một ngọn đèn dầu tràm, bỗng lờ mờ như có anh trăng lọt qua khe cửa, mặc dù lúc bấy giờ, nhằm vào nửa đêm đầu tháng, cả bầu trời như trùm phủ một bức màn vỉ đại tối đen ! Rồi, ánh sáng lờ mờ, cứ mỗi phút một rõ ràng thêm, để đến lúc đứa bé chào đời, thì cả gian buồng tràn ngập ánh sáng êm dịu, như bóng trăng rằm chiếu rọi xuống giữa sân vậy! Hiện tượng kỳ dị này, vụt biến mất ngay sau tiếng khóc đàu tiên chào đời của đứa bé, không những thế, liên tiếp theo đấy, trời đất bỗng dưng lại còn nổi cơn giông tố, sấm chớp ầm ầm, mưa tuôn sối sả, mãi tới gần sáng mới ngớt hạt. Đứa bé khôi ngô, đỉnh ngộ lạ lùng. Nó cứng rắn khác hẳn những đứa trẻ sơ sinh và đặc biệt hơn nữa, ở lòng bàn tay bên trái, lại có một dấu son đỏ chói, giống hệt một chiếc ấn vuông vắn, còn bàn tay mặt thì ở ngón chính giữa, có một đường chỉ chạy dài rất rõ ràng, ăn thẳng từ đầu ngón tay xuống tới cườm tay, mà lạ lùng hơn cả, dưới lóng thứ ba, lại có một chỉ dài chạy ngang gần suốt lòng bàn tay, song song với một đường chỉ khác, ngắn hơn, nàm ngang trên cườm tay chừng hai ba phân, trông phảng phất như chữ ” sĩ ” vậy. Đứa trẻ, trừ mấy tiếng oa oa lúc chào đời, suốt từ khi đẻ ra cho đến hôm Thanh Lã tiên sinh bị bắt, không hề khóc một tiếng nào. Trái lại, nét mặt nó lúc nào cũng tươi tỉnh, như muốn chuẩn bị một nụ cười hồn nhiên giữa hai vành môi đỏ chót. Nó hay ăn chóng lớn khác thường, biết lẫy, biết ngồi trước cả thời gian quy định trong ca dao, nên Thanh Lã tiên sinh yêu quí như nén vàng mười, thường tiên đoán : nó sẽ là thần đồng, ứng vào điểm kết phát hiển hách của kiểu đất “lưỡng long tranh châu ” !
Nhưng ” mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên “, lòng người dù muốn, mà trời xanh không cho, cũng không sao cưỡng nổi ” thiên mạng “, mặc dù kẻ muốn soay chuyển thời cơ có đủ tài trí thông kim, bác cổ, quán triệt âm dương, am tường lý số !
Đó là trường hợp ông Thanh Lã, người nổi danh ” Thánh sư địa lý ” dưới triều Lê, một nhà phong thủy chân tài, thực học, đã khám phá được kiểu đất quý trong khu Hạc Hải, nhưng lại không có cái diểm phúc thụ hưởng và cam chịu sống trọn đời trong cảnh tối tăm đau khổ.
Hôm Thanh Lã tiên sinh bị bắt, đứa trẻ vẫn ăn chơi, vui đùa như thường.
Nhưng từ ngày tiên sinh phải áp giải về nguyên quán để chứng kiến sự phá hủy ngôi từ đường, thì tự nhiên đứa bé bỏ ăn, suốt ngày đêm, khóc ra rả, dỗ dành thế nào cũng không chịu nín. Rồi đến ngày mùng một tháng sáu, cũng đúng vào giơ Tí, nó bỗng thở rống lên mấy hơi dài, buông sui hai tay, mắt mở trừng trừng nhìn thẳng lên trần nhà… Người nhà tưởng nó khóc nhiều, mệt mỏi, nằm nghỉ, nhưng khi sờ vào mình nó, thì toàn thân nó giá lạnh như đồng, tim mgừng đập từ bao giờ không rõ!
Sáng hôm ấy, chính là ngày ông Thanh Lã phải chịu cực hình: đổ chì vào hai mắt !
Làng Mía sau đấy bị xơ xác tiêu điều tới mấy chục năm ròng rã, cho mãi đến trận bảo lớn năm Nhâm Thìn, theo lời một nhà địa lý ở miền suôi, có dịp sinh sống nhiều năm quanh vùng Mông Phụ, Mông Sàng, khu cấm địa Hạc Hải mới phục hồi long mạch nguyên vẹn như trước.

*** HẾT ***

Tác giả: Anne Nguyễn

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s