Sách Mai Nguyên (từ http://hongdwc.multiply.com/journal?&=&page_start=160 )

http://hongdwc.multiply.com/journal?&=&page_start=160

Sách Mai Nguyên

Tập tâm bút “Đã mang lấy nghiệp” của nữ sĩ Mai Nguyên vừa được tác giả phát hành gần đây. Tôi may mắn được tặng một cuốn vì một mối quan hệ nho nhỏ.

Đọc chơi vài trang rồi cái giọng văn thật thà điềm đạm mà duyên dáng của một phụ nữ đã hút lấy tôi, không phải vì những chi tiết ly kỳ trong cuộc sống của tác giả, thực ra phải nói đa số những điều tác giả đề cập đều không ngoài kiến văn của tôi, nhưng chính cái tình cảm chân thực đã được tác giả để lộ qua câu chữ mình dùng và nhất là sự điềm đạm của tác giả đã chiếm được lòng trân trọng của tôi. Và thích thú với cách chuyển tải vấn đề của tác giả, tôi đã có ý chép vài đoạn vào blog này.

Được tác giả cho phép, tôi xin được ưu ái chuyển đến bạn những câu chữ chí tình của một lão bà năm nay đã ngoài 70 tuổi, cái tuổi mà nhiều người đã thôi không còn lý gì đến thế thái nhân tình nữa vì yếu đuối bệnh tật, nhưng tạ ơn trời nữ sĩ Mai Nguyên vẫn minh mẫn, vẫn tràn đầy nhiệt huyết và vẫn duyên dáng để thủ thỉ tâm tình cùng chúng ta, để chia sẻ cùng chúng ta những trăn trở về giòng giống và quê hương Việt Nam của chúng ta.

Tác giả đã đề cập tới nhiều vấn đề, từ chính trị đến văn hóa và cả cuộc sống bình nhật. Mỗi thứ đều chỉ là cái nhìn rất chủ quan của tác giả, nhưng tôi có thể chủ quan mà nói rằng nó cũng là cái nhìn của những người còn có một tấm lòng với giòng tộc Việt Nam.

Chương “Sống có văn hóa” không phải là chương đầu của tập tâm bút, nhưng cũng rất chủ quan mà nói, có lẽ là phần dễ làm toàn bộ dân Việt chúng ta, từ người thiên cộng đến người chống cộng, đồng cảm nhất. Nó kéo chúng ta trở về cùng một nguồn gốc và nó chỉ ra cái chỗ lẽ ra lâu nay chúng ta đáng phải đứng, cái chỗ đứng đó thực ra lại không được tác giả minh thị chỉ ra mà tác giả chỉ đơn giản bảo rằng chỗ này không phải, chỗ kia cũng không… Mỗi người có một cách diễn đạt, cách diễn đạt của Mai Nguyên nó không gây sốc, mặc dù vấn đề đặt ra thì khá sốc. Cái duyên của tác giả, như đã nói, là ở chỗ đó.

Hồng Đức

Sống Có Văn Hóa

Tôi có đứa cháu gái rất cưng, sang Mỹ lúc còn bé tí, dù nay đã là bác sĩ, có chồng con, nói tiếng Việt hơi đớt ngọng mà hiểu cũng nhiều, hỏi tôi, “Mẹ Tùng ơi, sống có văn-hóa là cái gì vậy? có phải là phải biết về literature không? Mẹ cắt nghĩa cho con đi.”

-“Không con ạ. Văn chương, mới là literature (written works which are of artistic value.) Văn hóa là culture (activity of the mind, particular system of art, thought and customs of society.) Con coi trong dictionary, có giải nghĩa hết trong ấy.

“Mẹ cắt nghĩa tiếng Việt thêm cho con đi mẹ.”

“Literature là văn chương chữ nghĩa. Là những bài học văn, sách. Còn văn-hóa là culture, là tất cả những gì làm nên cái đẹp cho con người. Như tư cách lịch sự, cử chỉ khả ái ôn nhu, tính tình khiêm tốn, không ăn thô nói tục, biết nhìn ra cái tốt, cái hay của người, không ganh ghét bươi móc, tìm cách nói cho người ta phải xấu, không hợm hĩnh kiêu căng, trang phục đứng đắn cho từng hoàn cảnh (appropri­ate), biết tôn trọng người khác, biết appreciate những gì người khác làm cho mình…”

Cô bé tròn mắt, nhe cười rộng miệng, “A tốt quá, con hiểu rồi đó mẹ. Và như vậy thì nhiều người Việt Nam ở Saigon sống không có văn hóa đó mẹ!”

“Sao con nói vậy?”

“Hỏi mẹ con đi. Con đi Việt Nam, thấy mẹ con biếu quà hay tiền cho ai, họ lấy còn đếm, rồi đi chỗ khác, không thấy vui gì hết. Cũng không mừng, không cám ơn.. gì hết! Mà ở ngoài đường người ta cũng kỳ lắm, chen lấn, không có respect law.. gì hết. Mà đi mua đồ gì cũng sợ người bán lắm, xấu quá, coi đồ mà không mua nó chửi à mẹ! Đi theo Tour thì được, đi một mình sợ lắm. Thôi, con không thích đi VN!”

Nghe tội nghiệp cháu tôi quá đỗi!

Em gái tôi cũng từ Việt Nam về, có mặt. Nghe hai người nói chuyện, cô cười thú vị, “À ạ, gia đình bên mình không đến nỗi tệ nha! Em biếu ai tiền, có nhiều người đã “xài lại” hai tiếng cám ơn. Cũng không ngờ được vậy. Vì bạn bè em về Saigon, thường kể với em là biếu ai tiền, họ thò tay lấy đút túi tỉnh bơ, mặt không cảm giác đến làm người biếu quà phải nhột nhạt.”

Tôi đã từng bị, từng nghe những “khó chịu” y như thế từ nhiều năm trước, và mẹ tôi có viết về nói khéo với một số người thân ở VN, là sao mọi người nhận quà không ai biết viết vài chữ cám ơn, thì được dì tôi trả lời, là dì đã nói lại với họ, người thì bảo, “bà con cho mà cám ơn kí gì?” Kẻ đáp, “Mấy chục năm rồi, mạnh ai nấy ôm cứng lấy những gì mình có, mà có cũng chẳng bao nhiêu, lấy gì mà cho? Và có bao giờ được ai cho đâu mà cám ơn? Riết rồi nó quen đi. Ai cũng như ai.”

Ở Việtnam gần như nơi nào cũng treo bảng biểu “Văn Hóa,” nhưng ông nhà nước chỉ treo chơi, làm ra văn minh thế thôi, chẳng cần hiểu văn hóa là gì, chẳng bao giờ biết “giáo dục” dân; trường chẳng cần dạy học sinh biết thế nào là văn minh, văn hóa! Nên cái văn hóa kiểu VC cứ là: Ngoài đường phố, chạy xe, đi bộ, không ai tuân luật lệ chi cả, cứ chen người, chen xe mà tiến bước; đèn đường xanh đỏ cũng mặc, mạnh ai nấy rụun rụun rú ga, tranh nhau vượt xe, đi thì chen vai qua mặt. Trong tiệm, mạnh ai nấy lấn ra trước để trả tiền. Không cần có lời xin lỗi, không cần cám ơn. Và ai cũng như ai. Người Việt ở xứ ngoài về nói cám ơn, xin lỗi, là bị nhìn như.. lập dị, không giống ai đấy!

Xin ghi lại một đoạn trong bài viết về văn hóa của nhiếp ảnh gia Trần công Nhung. Anh Nhung là người về Việtnam săn ảnh hầu như mỗi năm, một ngòi bút rất duyên, rất ý nhị về chuyện Việt Nam, chủ biên tập sách “Quê Hương Qua Ống Kính.” Trong bài “Học Tiếng Nước Ta” của anh chứa đầy những bức xúc rất sâu sắc:

Mỗi lần về VN tôi lại phải học thêm những từ mới. Tiếng Việt trước 1954, từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, có khác là khác về phát âm, hay một số tiếng mang tính chất địa phương, còn tâm tư tình cảm, cách diễn đạt không mấy khác, bởi cả nước cùng học bộ sách “Quốc Văn Giáo Khoa Thư.” Sau 1975, con sông Bến Hải không còn ngăn chia hai miền, đã có sự khác biệt rõ rệt trong lối dùng từ và câu của người Nam và Bắc. Người miền Nam ngớ ngẩn khi nghe: “Khẩn trương triển khai nghị quyết số.. để đảm bảo sự nhất trí trong đội ngũ công nhân.”Dần dà qua cọ xát thực tế, sự cách biệt giảm dần và người hai miền cũng xích lại gần nhau, hiểu ‘cách nói’ của nhau hơn. Nhưng trong khi ngôn ngữ bình dân có chiều hướng hòa đồng, thì hàng “bác học” lại xuất hiện nhiều “quái kiệt.” Nhất là những người có trách nhiệm về thông tin và văn hóa. Họ như không coi quần chúng ra gì. Vì ngu dốt mà muốn tỏ ra mình có văn hóa cao, một số người học ăn nói, một số người viết sách đẻ ra những từ ngữ, câu văn rất kỳ dị. Thử đọc những tên sách sau đây:

“Văn Hóa ‘Nghe và Nhìn’ Giới Trẻ”

“Văn Hóa Dân Tộc Người và Văn Hóa Việt Nam” (Nguyễn đức Thịnh)

“Văn Minh Tinh Thần từ chất lượng Văn Hóa” (Trường Lưu)

“Vì một nền Văn Hóa VN Dân tộc hiện đại” (Nguyễn Phú Trọng)…

Tôi tin chắc không một người miền Nam nào đã hấp thụ nền giáo dục trước 1975 có trình độ viết những câu như thế.

Quần chúng dựa vào các “nhà” Văn Hóa trên để nói: Văn Hóa Xếp Hàng, Văn Hóa Ăn Nhậu, Văn Hóa Gửi Xe, Văn Hóa Từ Chức, (không làm đươc điều lợi ích cho dân thì phải biết tự từ chức! Hình như chẳng có ai ‘ngưỡng mộ’ cái văn hóa này!) Văn hóa quả là một vấn đề sống chết ở VN ngày nay. Vào các xóm làng, cả những ngõ hẻm tối tăm, đều qua một cổng chào, có những khẩu hiệu: Khu phố văn hóa, Khóm văn hóa, Làng văn hóa, Bưu điện văn hóa, Đình văn hóa… khắp trên đất nước Việtnam. Và theo cách này thì sẽ có văn hóa chạy việc, văn hóa chạy bằng, văn hóa sinh đẻ, văn hóa nhà thổ….

Một anh bạn gần trọn đời cống hiến cho nghệ thuật Hội họa, Thơ, Văn, đã than thở: “Nghèo rồi có thể có ngày giàu, chuyện không đáng lo, cái đáng sợ là làm rữa nát một nền văn hóa của dân tộc đã có từ lâu đời. Đây là một trọng tội. Giết một người đã là trọng tội, huống chi giết bao nhiêu thế hệ!”

**Tác giả Phạm lưu Vũ (trong một bài phổ biến trên Talawas 2006) viết về Văn Hóa Sợ, có những câu sau: “Người ta luôn tự kiểm duyệt tất cả các “cơ quan đoàn thể” của mình, từ miệng nói, tai nghe, đến mắt đọc. Anh chạy xe ôm trong lúc chờ khách, giở tờ nhật báo ra đọc. Một bài nào đó làm anh ta giật mình. Tờ báo này “dám” đăng về những việc như thế này ư? Thằng tác giả nào mà to gan đến thế? Chắc thế nào cũng bị kỷ luật. == Bác gác cổng trong lúc một mình giở cuốn sách ai đó để quên ra đọc lướt vài trang. Chà, chuyện này chắc là chuyện nước ngoài đây. Ở nước mình đố ai dám viết. == Chị lao công trong trường quét phải một trang sách vứt lăn lóc, tiện thể cầm lên xem nó rơi ra từ cuốn sách nào. Chẳng hiểu đọc thấy điều gì mà chị vội vò nát vứt vào sọt rác, mắt lấm lét như sợ ai bắt gặp.== Bác nông dân trong lúc chờ cái điếu cày tới lượt mình, kể cho các bác nông dân khác cái tin bác mới nghe được trên đài. Mấy bác kia trợn mắt lắc đầu quầy quậy. Ông chỉ bịa. Tin ấy đài đời nào dám nói. == Một nhà văn (loại vỉa hè) ngồi kể cho bạn nghe về nội dung truyện sắp viết. Bạn bè, kẻ lờ đi như không nghe thấy. Kẻ thì hốt hoảng bảo đố dám viết. Nếu viết thật thì sao? Thì đố có chỗ nào dám in. Nếu có ai in? Đố ai dám đọc. Nếu có ai đọc, thì đố dám kể. Nếu kể, đố ai dám nghe. Thế nếu có kẻ trót nghe? Thì đố có dám tin.

Đó là nỗi sợ chỉ mới quanh quẩn trong văn chương. Còn bao nhiêu là nỗi sợ ở ngoài đời đã ngang nhiên thấm nhuần, thâm nhập vào đời sống con người như: Nhập cư sợ không hộ khẩu, con đi học sợ cô sợ thầy, có bệnh sợ bác sĩ kê đơn, sợ nhà thuốc mặc tình hét giá. Đi siêu thị sợ mua hàng giả. Đến cơ quan sợ xếp, sợ công đoàn. Đi buôn sợ hải quan, sợ thuế vụ. Về nhà sợ vợ/chồng, con cái bất hòa. Nhất là ngủ sợ gặp ác mộng… Hằng hà sa số nỗi sợ đã ngấm vào cốt tủy, nó phong phú như rừng, thấm nhuần như gió. Nó trở thành những phản xạ tự nhiên, đã ‘hóa thân’ thành những sự bình thường như cơm ăn nước uống, như không khí thở hàng ngày, bình thường đến mức không thể nhận ra. Nó biến đổi con người trở nên một kẻ hèn từ lúc nào không biết. Mà đối với kẻ hèn thì triết lý “yên thân” chính là một tôn giáo hạng nhất. Như thế, có thể định nghĩa đối với đời VN dưới chế độ CS, còn có cả một nền văn hóa.. SỢ!”

**Nguyễn Tuân là một nhà văn hóa có tài thời tiền chiến. Sau 75 ông vào Nam. Trong 1 tiệc rượu với bạn bè, ông cười ha hả, vừa tu rượu vừa nói to, “Mấy chục năm nay mà tao còn sống được là nhờ tao biết SỢ!” Câu ấy đã đi vào lịch sử văn hóa SỢ!

**Giáo sư Trần văn Chi, trong bài “30 ngày thăm nhà ở VN”(2007) có đoạn:

Có quá nhiều việc đáng nói, đáng kể lại, mà sao việc gì, cái gì cũng thấy quá kì cục khiến phải suy, phải nghĩ. Ở trong nước mình, việc gì cũng được người dân gán ghép cho nó một ý nghĩa chính trị nào đó. (Nó trở thành Văn Hóa chính trị?) Từ trong gia đình, ra ngoài xã hội, đâu đâu cũng nghe, cũng bắt gặp người ta bàn chuyện chính trị. Ai cũng phàn nàn, chỉ trích, lên án thậm tệ nhà nước mình. Tôi chưa một lần nào được nghe một lời khen từ những người dân bình thường mà tôi được gặp. Tại sao vậy? ‘Ai cũng luận bàn chính trị. Mà không có ai làm chính trị cả!!’ Một người bạn tôi nói với tôi như vậy.

– Phải chăng đổi mới là để cho đảng làm kinh tế, đảng độc quyền tham nhũng, tham ô lãng phí, tư do lộng quyền?

– Phải chăng nhà nước mở cửa cho dân ăn chơi trụy lạc, tự do sa đọa từ dưới lên trên, từ thành thị đến thôn quê để quên chính trị?

– Xưa, từ bác Hồ, rồi chú Duẩn, chú Chinh, chủ trương chia sự nghèo đói dốt nát cho nhân dân lao động, nay đảng làm kinh tế giàu có thì chia sự trụy lạc, sa đọa, vô đạo đức, thối nát cho cả dân tộc Việt?

– Cán bộ, nhân viên nhà nước không ai xem chuyện cơ quan là việc của mình. Mọi người ai cũng có việc để làm ăn riêng, kiếm tiền lo tương lai, gia đình. Hồn ai nấy giữ. Đảng viên thì ai cũng có cái “giấc mơ Mỹ”: Một chuyến đi nghiên cứu. Một học bổng cho con du học Mỹ. Đi thăm con ở Mỹ. Đi “tham quan” ở Mỹ. Cất nhà, xây mồ mả như Việt kiều Mỹ. Ăn xài mua sắm như Mỹ. Mọi thứ diễn ra mỗi ngày một cách tự nhiên, như đã thích ứng với mọi người rồi. Không ai thấy lạ, không ai thấy khó chịu cả. Và phải chăng chỉ có riêng Việt kiều về nước mới bức xúc, mới thấy lạ, thấy kỳ, thấy khó chịu?”

Và còn biết bao tiếng rên than của người nặng lòng vì tương lai dân tộc VN mà tôi không có dịp đọc. Cảm ơn biết bao cho đủ những ngòi viết đã dành thì giờ viết ra những bức xúc để mong đánh động lương tâm của người cộng sản, cần phải biết sáng suốt, nhận định, sửa sai, để ít nhất là.. 5, 10 năm sau nhìn lại, so với giai đoạn này, dân tộc VN mình đã tiến bộ vượt bực, thực sự sống với văn minh, văn hóa đúng nghĩa!

*

Hai chữ Văn Hóa coi vậy mà to lớn, phong phú vô cùng. Trên đất Mỹ, gia đình tôi ở chỗ gọi là “khỉ ho, cò gáy” (dù không được thấy khỉ, cũng chẳng thấy cò!) thanh tịnh với núi xanh, đồi vàng hoa cải, hồng hồng Poppy Cali, hay tím rực Ice plants, quanh năm hiếm gặp được người Việt, nên chúng tôi quen theo đời tĩnh lặng của tuổi vàng. Nhà hàng nhỏ và chợ Á Đông gần nhất cũng 45 phút lái. Riết đâm lười nhưng sống theo quy củ, không quen với sự ồn ào của chốn phồn hoa. May mà khu tôi ở rất lịch sự. Người người, dù không quen, phần lớn thấy nhau cũng dễ chào cười, “Good morning!” Ở ngã tư đèn đỏ dù không xe, mọi người cũng tuân thủ chờ đèn xanh. Đèn đường nhỡ hư, ngã tư 4 bên cũng tuần tự một xe qua. Ai xin qua mặt xe ai xong, cũng đưa tay nghiêng đầu mỉm miệng tỏ vẻ cảm ơn. Đi chợ muốn lấy gói gì trên cao, người đứng gần cũng hiến giúp. Đến quầy trả tiền, cô thu ngân dù mệt mỏi cũng với nụ cười hỏi thăm, chào từng khách, “Hi, how are you today?” Và tính tiền xong, lại tươi cười nhìn, chúc, “thank you, and have a nice day!” Nếu thấy mình có một vài thứ trên tay, người trước mình có nhiều hơn trong xe, họ cũng đưa tay bảo mình cứ trả tiền trước. Và nếu mình là người nhường như thế, cũng được họ cám ơn 2, 3 lần là ít. Có lần tôi thiếu 2 xu, đưa giấy 1$ cho cô thu ngân thối, ông đứng sau đưa ngay 2 xu cho cô, cười với tôi, “You khỏi mất công!” Dĩ nhiên là mình cũng cười tươi, đáp lễ, “Thank you for your kindness. I appreciate it!” – Ông ta cười lại tươi chong, “Don’t worry, everybody needs help sometimes!” Đẹp ơi là đẹp! Đó là chưa kể nếu thiếu 1, 2 xu, cô thu ngân sẽ tươi cười, “It doesn’t matter, don’t worry!” Làm sao mà mình không ra khỏi chợ với tấm lòng phơi phới nhẹ nhàng vui?

Sống với một xã hội quanh mình ai cũng đều lịch sự như thế, dù quê mùa cách nào, mình cũng “ô tô ma tích” học theo cung cách của họ lúc nào không hay – và lúc nào mình cũng nhận được những nụ cười thân thiện.

Mùa Giáng sinh đi chợ thực phẩm gần nhà, Mỹ già Mỹ trẻ ăn mặc sặc sỡ mũ áo Noel, ai gặp mình cũng cười tươi vui vẻ, “Merry X’mas!”

Năm đầu mới sang Mỹ, tôi cũng lạ, tự hỏi, “Mình có quen họ đâu? Mà mình cũng chẳng.. sang trọng gì, sao người ta tử tế với mình đến vậy?” Nhưng rồi cũng vui quen đáp ứng qua nhiều năm. Thì ra, bản chất “văn minh, có văn hóa” nằm sâu, tiềm ẩn trong óc của số người Mỹ có giáo dục mà tôi hân hạnh được sống cùng trong vùng.

*

Đến bây giờ là 2007, 32 năm có di dân VN ở Mỹ, xuống khu Little Saigon nơi hầu hết là người VN sinh sống – có lẽ là nơi tạp lục có đủ hạng người – thì có nhiều vấn nạn vẫn còn làm mình cảm thấy nhột nhạt, khó chịu trước một số người (không biết là bao nhiêu phần trăm của tổng số VN di dân?)

*Nhường cho xe ai qua, thì họ chỉ rú ga dọt, đa số mặt ai cũng nghiêm trọng lạnh lùng trong những chiếc xe Lexus, Mercedes đắt giá! (Tôi có thể sai khi nghĩ là những người khá giả như vậy chắc cũng phải là người.. thành công, trí thức?)

*Quanh chợ thì người Việt tha hồ vứt rác, giấy. Trong khi cũng những khách hàng đó mà đi chợ Mỹ thì chắc họ cẩn thận bỏ từng miếng giấy vụn, miếng bao kẹo vào thùng rác trước chợ! Tại sao vậy nhỉ? Dễ ngươi, khinh thường đồng hương hay là… tôn trọng Mỹ hơn VN? Vào chợ, một số bà lựa rau trái thì quăng, vất, tước bỏ những rau xấu lại như chỗ tự do bỏ rác. Thu ngân viên thì chắc vì.. mệt quá, cứ lầm lũi tính tiền, không nói một tiếng chào, không có được một nụ cười với khách hàng. Không lẽ nhân viên không được qua một buổi ‘orientation,’ không được hướng dẫn cách làm việc thu phục nhân tâm khách hàng từ chủ nhân?

*Có lần chúng tôi đi chợ VĐ3 đã trả tiền xong, khi nhà tôi đẩy xe ra tôi mới sực nhớ thiếu một bó cần cellery để làm gỏi. Tôi trở vào lấy. Khi ra quầy thì người trước ĐANG trả tiền, và người kế là hai mẹ con một bà có hai xe đồ đầy cao vút. Tôi đưa cao bó cellery định xin phép họ trả tiền trước. Nhưng “bà con” trẻ độ 40, diện tối tân, đeo xoàn đầy người (kiểu báo chí gọi là bà “neo” đại thành công) liếc nhìn bó cellery, mặt dầm xuống nghiêm trọng khiến tôi nản quá, không thèm hỏi nữa, chỉ đứng đưa cao bó rau chờ chơi cho.. bõ ức! Đến khi bà ta trả 284$ tiền chợ, cô thu ngân thấy tôi, la to, “Sao bà không kêu lên với tôi, ai lại phải chờ cả mấy trăm đồng bạc hàng trong khi bó rau chỉ có 1$25?” Tôi chỉ biết lắc đầu trong khi hai mẹ con bà khách tỉnh queo!

*Trong một số các hiệu ăn Việt Nam ở Little Saigon, nhân viên ít khi chào hỏi khách, hiếm khi được họ đến bàn với nụ cười khi đưa thực đơn, dù sự phục vụ cũng gọi là đầy đủ. Ở Garden Grove có một tiệm ăn nhỏ, thức ăn khá được, đặc biệt là những món Huế, mà nhìn thấy ông chủ (?) là ăn mất ngon đến 30%. Ông thường mặc áo lớn, mặt nghiêm túc lạnh lùng. Khách vào, ông ngúc ngắc đầu hỏi, “Mấy người?” rồi đưa tay chỉ bàn, cử chỉ lạnh lẽo. Mỗi lần chúng tôi đến ăn, đều cười bảo nhau là đừng nhìn ông ta để ăn cho ngon! Một người đứng tuổi hầu bàn cũng không hơn ông chủ. Ông ta đến đưa menu, lấy đi, đem thức ăn. Cử chỉ cũng lạnh lùng. Mình cám ơn, ông ta cũng.. vô cảm. Chưa hết nhé. Một người phụ nữ trẻ vạm vỡ dọn bàn trước mặt tôi khi khách đi ra. Cô bưng đến bàn ấy một cái thùng plastic to đầy chén tô bẩn, đứng trước tôi cào thức ăn thừa trong các tô dĩa trên bàn ton tỏn vào cái (hộp gì?) trong thùng ấy, khiến tôi mắc ói. Liền rủ ông xã đi ra. Và từ nay xin byebye! Sao người ta làm ăn có thể vô ý đến vậy?

*Ở một nhà hàng khác, có tên H.V. trên đường Westminster, đặc biệt chuyên món Huế, rất sáng sạch, từ chủ nhân đến người phụ việc đều rất lịch sự tươi tắn trong sự tiếp đãi. Tôi không quen họ để quảng cáo cho hiệu ăn, nhưng tôi đã có lời khen và cám ơn khi ra khỏi tiệm. Tôi cảm thấy vui và hãnh diện về.. “người Việt Nam mình!”

*Một lần chúng tôi đang lái xe trên First St, quãng không gọi là vắng, mà tiếng còi của hai ba xe trước nổi lên inh ỏi khiến mọi người e ngại nhìn ra đường. Khi chúng tôi đi ngang chỗ ấy thì mới thấy một ông có tuổi Á Đông kẹp xấp báo trong nách, đầu đội kepi nâu vừa xây người ra khỏi tường sửa lại quần áo, nơi ông ta vừa đứng tưới đám cỏ xơ xác dưới chân ông. Chúng tôi không tưởng tượng được óc ông nghĩ gì khi làm công việc rất mất vệ sinh đó giữa thanh thiên bạch nhật, nơi công cộng? Ông xã tôi cũng kêu lên, “Bậy quá thật, ở đây chợ và hàng quán quá nhiều, cần lắm thì sao không vào mua một vài đô gì đó rồi nhờ toilet? Kỳ quá thật!” Tôi vô cùng thất vọng thấy báo ông ta ôm là báo Việt ngữ!

Nỗi lo nghĩ, giống y như cách mấy tuần rồi, vụ một sinh viên hai lượt vào trường bắn giết mấy chục sinh viên, giáo sư trong trường, ở Virginia. Khi TV phát tin kẻ giết người là Á đông, vợ chồng tôi cứ hồi hộp mãi, quá sợ người ấy là VN! Cho đến khi được biết kẻ sát nhân là Đại Hàn, thì mới được nhẹ người phần VN mình(!) Tuy mừng cho phần “VN mình” nhưng không khỏi nghĩ đến gia đình, cha mẹ của đứa sát nhân mà quá thương xót họ. May mà sau đó được biết cậu ta chỉ là một kẻ bệnh họan. Chính phủ Đại Hàn cũng xử đẹp là xin lỗi cùng dân Mỹ và gia đình nạn nhân với lời phân ưu trân trọng. (Đó là điều đẹp đẽ của văn hóa ngoại giao!)

Trên khu tôi không xa, tôi đã từng thấy đăng báo về sự cảnh sát bắt giữ một thanh niên 32t “urinating in public at 11:00PM!” 11 giờ đêm tiểu bậy, không có mấy ai ra đường, mà trong tối đen như mực đấy, còn bị bắt!

*Cơ quan “Văn Hóa” là Thư Viện Việt Nam ở một vài nơi thì cũng đáng lạ. Hầu như tôi gửi sách đến tặng Thư Viện VN, hiếm được biết họ có nhận sách hay không. Tôi đã nghĩ “chắc sách mình bị họ chê không cho để lên kệ” cho đến khi tôi được độc giả gửi thư mua sách, tôi hỏi do đâu họ biết MN, họ bảo là đã mượn sách tôi ở Thư Viện VN! Trong lúc đó, sách tôi tặng thư viện Mỹ gần nhà thì mỗi lần đều được nhận bức thư rất lịch sự của Librarian. Có thể Thư viện Mỹ có fund của chính phủ, còn Thư Viện VN mình không có tiền thuê nhân viên chăng? Nếu thế thì cũng quá tội nghiệp! Ước gì mình có tiền để hỗ trợ, và lại lẩn thẩn nghĩ, “Đừng yêu cầu lớn lao. Thư Viện chỉ cần mở chiến dịch trên báo chí, kêu gọi mỗi người VN chỉ cần gửi đều đặn mỗi tháng dù chỉ 5$??” nhỉ! Một đứa trẻ cũng đóng góp được, huống chi người lớn. Chắc chắn không một người nào chối từ việc công ích cho toàn thể người Việt Nam được sử dụng sách của Thư Viện VN.

*

*Còn về việc mời cưới xin, tiệc tùng? Chà, cũng nên nêu vấn đề này ra lắm chứ nhỉ. Biết đâu rằng 5, 10 năm sau chẳng có thay đổi đẹp, khác đi?

Đối với người Mỹ ở đây, tiệc mời mấy giờ, giờ nào, thì khai tiệc đúng giờ ấy. Khách có thể đến sớm muộn 5, 10 phút thì coi được. Còn tiệc cưới của người Việt mình là.. sợ nhất. Thiệp mời ghi 6 giờ chiều ở Santa Ana chẳng hạn. Vì ở xa, tuy chỉ cần 1 tiếng rưỡi lái, nhưng sợ kẹt xe nên chưa 4 giờ đã lo đi. Nhỡ đến sớm cũng không dám vào, chờ đến 6 giờ. Vào rồi cứ ngồi “chong ngóc” đó, (ít khi được mời nước nôi) nhìn cảnh gia chủ đón chào khách khứa. Từng cặp, từng người cứ rải rác đến. Vì ai cũng nghĩ, cũng nói là, “Đi sớm như là chực ăn í, kỳ lắm. Đám nào cũng 8 giờ là ít, mới bắt đầu!” Cho đến khi các bàn gần như kín người, quang cảnh quá chộn rộn hết còn thấy cái đẹp của sự chưng bày, thì đã gần 8 giờ tối. Nhà trai lên nói, nhà gái lên thưa, hai bên giới thiệu dâu rể, họ hàng, anh em của dâu rể, có khi còn giới thiệu bà con bên vợ, cậu mợ bên chồng. Rồi một số người trong số ấy lại thay phiên nhau nói, chúc tụng. Có khi lại có màn chiếu slides của dâu rể từ thuở nằm nôi đến hồi khôn lớn, thành tài. Chắc cũng phải mất hơn một tiếng. Và bữa ăn được bắt đầu. Trong tiếng nhạc rầm trời, đinh tai điếc óc, ai nói chỉ người ấy nghe được. MC và bạn bè cô dâu chú rể có người ăn nói duyên dáng, ca sĩ hát nhạc vui cũng dễ thương. Có người cũng rất kém, diễu dở, chọn hát nhạc cưới chói tai, nhạt thếch.

Vì vấn đề đi đứng ở Mỹ đâu đâu cũng quá xa xôi, ai cũng than phiền về cách “tổ chức tiệc cưới” mà không ai có can đảm làm mất lòng ai, nên ai cũng im thinh chịu trận. Thiết nghĩ là nếu trên thiệp mời, gia chủ trịnh trọng lưu ý, “Tiệc cưới sẽ khai mạc đúng giờ” thì mọi người nhất định sẽ hân hoan đến đúng cả.

Cô em Cẩm Thúy từ Saigon vừa sang chơi, nói cô thường chỉ gửi quà cưới chứ ít khi đi dự vì mời 6 giờ thì 9 giờ mới khai mạc, cô rất ngại về khuya. Té ra người ta nói đúng, “Không ăn đậu, không phải Mễ, không đi trễ, không phải VN.” Và ở đâu thì cũng thế!

Nếu chúng tôi có đông con, chắc chúng tôi sẽ in thiệp lưu ý giờ khai mạc đúng. Có một đứa, cưới một lần. Hết sức đơn sơ mà như ý. Thiệp mời ghi rõ: 6 giờ tiệc rượu, 7 giờ tiệc ăn. Từ 6 giờ, tiệc rượu được mở ra với các thức ăn nhỏ (fingertip foods) ngoài đại sảnh rộng lớn. Mọi người đến bàn nói tên nhận số bàn của mình được kẹp với một đóa hồng trắng bé. Rồi uống rượu, chuyện trò. Đúng 7 giờ, hai cánh cửa phòng ăn mới mở rộng. Hai bên cửa vào phòng, một dàn nhạc chỉ có 6 tay cello kéo liên tiếp những bản tình ca êm đềm, trong lúc quan khách từ tốn vào bàn của mình. Khách mời cùng lúc được ngắm nguyên khung cảnh bàn hoa “chưa bị xốc xáo” mới tinh, rất đẹp và trang trọng. MC giới thiệu bố mẹ hai bên, rồi giới thiệu dâu rể từ ngoài đi vào. Bố mẹ hai bên và dâu rể nói vài câu cám ơn quan khách, chúc mọi người một tối vui và mời mọi người vào tiệc. Đủ lịch sự và đẹp. Thức ăn ngon là điều quan trọng nhất!!

*

Ở Việt Nam với Việt cộng đời sống ngập tràn “văn hóa dỏm” đã đành, nhưng trên đất khách, tôi nghĩ người Việt tự do mình cũng nên sống đẹp theo nếp sống văn minh có văn hóa từ trong ngôn từ, trong hành động. Tôi làm gì, dạy con cháu, (chúng nghe hay không là chuyện khác) tôi luôn nhắc nhở rằng người Việt Nam mình không thua ai về tài, về trí, thì sự hành xử cũng phải được người bản xứ hay các dân tộc khác nể vì, tôn trọng. Cái gì tốt, ta đều nên học, phải không, thưa chư quý vị?

Mai Nguyên (Đã Mang Lấy Nghiệp, CA, 2009)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s