Lương, bổng và sự biện minh phi lý

http://vn.360plus.yahoo.com/tuanddk/article?mid=920

Lương, bổng và sự biện minh phi lý

Cũng gọi là lương, nhưng nếu một giám đốc DNNN có mức lương tới 238 triệu đồng/tháng, và một công nhân nuôi trồng thủy sản có mức lương bình quân chỉ 1,1 triệu/tháng thì rõ ràng, ngay trong lĩnh vực có quy định rõ ràng về mức tối đa, tối thiểu cũng đã có sự bất bình đẳng mà vị trí, hiệu quả công việc lúc này không còn là một yếu tố để biện minh cho sự phi lý đó. Trong khi, ngoài lương, các vị TGĐ còn có các khoản khác, trong phạm trù “thu nhập” nói chung, mà thậm chí lương chỉ là một phần nhỏ trong thu nhập. Trong khi người lao động thì ngoài lương chỉ còn mỗi…răng, mỗi trách nhiệm phải hoàn thành công việc vì không hoàn thành thì không có lương.

Câu chuyện ông Quách Thành Công, giám đốc Công ty TNHH một thành niên XNK tỉnh Kiên Giang có mức lương lên tới 238 triệu đồng/tháng (hơn 2,8 tỷ đồng/năm) quả thực giống như sự xúc phạm người lao động. Điều khiến dư luận bất bình hơn là mức lương cao ngất ngưởng đó được ông Quách Thành Công tự quyết cho mình trong khi DN do ông đứng đầu chỉ có khoản nộp ngân sách hơn 4,7 tỷ đồng. Về chuyện này, Phó Ban chính sách kinh tế xã hội Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Đặng Quang Điều cũng phải kêu lên rằng: Hết sức vô lý và khó có thể chấp nhận được. Theo tính toán của ông Điều, mức cao nhất mà một giám đốc DNNN được hưởng (mức 3), tối đa cũng chỉ được 4,89 triệu đồng/tháng. Nếu DN có thành tích, cũng có thêm khoản thưởng nhưng thưởng gì thì thưởng cũng không thể vượt quá 3 tháng lương/năm. Những điều mà vị Phó Ban chính sách vừa nói ở trên thực ra đều dựa theo các quy định của pháp luật về tiền lương.

Quy định là quy định nhưng thực tế lại là câu chuyện khác. Bởi vậy, thực tế còn có chuyện lương cũng chỉ là một phần trong phạm trù “thu nhập” của những vị lãnh đạo DNNN.

Trong vụ lương bổng của lãnh đạo Tổng công ty kinh doanh vốn và tài sản Nhà nước (SCIC), theo kiểm toán Nhà nước, dù Quỹ tiền lương của lãnh đạo SCIC được phê duyệt chỉ 1,473 tỷ đồng/năm nhưng thực tế số tiền đã chi trả lên tới 2,642 tỷ đồng. Con số vượt, hơn 1,1 tỷ đồng, cũng gần bằng con số được phê duyệt. Cũng theo kiểm toán, khi xây dựng kế hoạch, SCIC trình hai bộ Tài chính và Lao Động- TB- XH mức 40 triệu đồng/tháng. Thực tế thu nhập bình quân của những người lãnh đạo lên tới 78,5 triệu đồng/tháng. Con số này là chính xác dù sau đó lãnh đạo SCIC giải trình số đó bao gồm cả “thưởng” chứ không chỉ lương.

Trong vụ SCIC, gây sốc hơn cả là việc TGĐ Trần Văn Tá, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài chính đã nghỉ hưu được nhận lương xấp xỉ 1 tỷ đồng/năm (942 triệu đồng), cao hơn 10 lần lương của TGĐ, Chủ tịch HĐQT các tập đoàn kinh tế khác. Lương đến gần 1 tỷ đồng/năm nhưng kết quả của mức lương “khủng khiếp” này là tình trạng làm ăn thua lỗ của doanh nghiệp  nắm giữ nguồn vốn 40.761 tỷ đồng (tính đến thời điểm 31-12-2008) mà điển hình nhất là vụ thua lỗ 31 triệu USD tại Jestar Pacific, nơi SCIC nắm giữ 70% vốn Nhà nước

Đến khi vụ SCIC được công khai, nhiều người khi đó mới đặt câu hỏi: Ai là người chịu trách nhiệm quản lý vấn đề lương bổng của các giám đốc DNNN? Câu trả lời là Bộ Tài Chính.

Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh trong những ngày vừa qua liên tục nói về chuyện không hề có chuyện ông “ăn hai lương”. Nhưng có 2 sự thật mà ông Ninh không chối được. Ông đồng thời là người lãnh đạo cao nhất của các Bộ Tài chính và của cả SCIC và nếu có “Xung đột lợi ích” xảy ra thì không rõ Bộ trưởng Bộ Tài sẽ bảo vệ lợi ích nào giữa một bên là trách nhiệm quản lý nhà nước với tư cách Bộ trưởng, một bên là lợi ích của tập đoàn mà ông là người chịu trách nhiệm cao nhất?

Ngày công cửu vạn cao hơn công kỹ sư

Câu chuyện lương trở nên bức xúc hơn sai khi Bộ Lao động Thương binh và Xã hội có báo cáo trình Chính phủ về “Thực trạng cung – cầu lao động và những giải pháp”.

Báo cáo này một lần nữa lại nhấn mạnh sự thật là đang có sự bất công, bất bình đẳng giữa người lao động nhà nước và tư nhân, giữa lao động nhà nước trong những ngành độc quyền và không độc quyền.

Tính bất hợp lý ở hầu hết các ngành, lĩnh vực. Các ngành độc quyền có mức lương bình quân (của người lao động) cao nhất: Vận tải hàng không 13,16 triệu đồng/tháng, dầu khí 12,18 triệu đồng; tài chính tín dụng 5,26 triệu đồng, khai thác than 3,71 triệu đồng. Trong khi đó, một số ngành lại có mức lương quá thấp: Nuôi trồng thủy sản chỉ 1,1 triệu đồng, lâm nghiệp – da giày 1,3 triệu đồng, dệt may 1,4 triệu đồng.

Bộ Lao động cũng buộc phải thừa nhận một tình trạng là lương trong các doanh nghiệp hiện nay thấp hơn tiền lương ở khu vực lao động tự do. Cay đắng nhất trong việc công bố này là sự thật, rằng: Tiền lương bậc 1 (hệ số 2,34) của người vừa tốt nghiệp đại học, tức giới được coi là có học hành, là 50,7 nghìn đồng/ngày. Trong khi lao động tự do, lao động nông nghiệp có thể kiếm được thu nhập từ 80 đến 120 ngàn đồng một ngày để làm những công việc như cấy, gặt lúa, hoặc bốc vác mà không bị ràng buộc và yêu cầu khắt khe về trình độ chuyên môn. Có lẽ sự bất hợp lý về lương này là câu trả lời thỏa đáng nhất cho nạn chảy máu chất xám từ khu vực kinh tế nhà nước sang các khu vực khác.

Nhưng dù là “cổ cồn trắng” hay “vai u thịt bắp”, người lao động đều đang sống ở mức độ khó khăn khi thu nhập thực tế của họ trong năm 2008 chỉ bằng 95% so với năm 2007, nhất là khi các khảo sát của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội chỉ ra rằng, so với mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng thì mức tăng của tiền lương chưa đủ bù đắp mức tăng giá sinh hoạt. Vì vậy, khi so sánh với giá cả và các chi phí của NLĐ ngoại tỉnh như nhà trọ, sinh hoạt phí… cho thấy mức lương của LĐ ngoại tỉnh khó đảm bảo duy trì được cuộc sống ở đô thị. Trong khi đó, khi so sánh thu nhập với người làm nông nghiệp về lợi ích thu lại thì thấy rằng làm việc nông nghiệp, sinh sống tại quê hương có lợi hơn khi làm việc tại các KCN.

Lại bàn giải pháp

Trả lời phỏng vấn báo chí về việc giải quyết “nạn” thu nhập quá cao, không tương xứng với hiệu quả công việc của các vị Giám đốc DNNN, nguyên Thống đốc Ngân hàng nhà nước Cao Sĩ Khiêm cho rằng: Trước hết phải tạo ra quy định, cơ chế, tiêu chí, quy chế giữa quyền lợi với trách nhiệm, giữa kết quả lao động với hưởng thụ. Điều này phải thống nhất cho tất cả các ngành và lĩnh vực khác nhau. Song song với quy định, cần có cơ chế kiểm tra giám sát thường xuyên. Qua đó để điều chỉnh, hạn chế kể cả của công dân, tổ chức, cơ quan chuyên trách, xã hội. Vấn đề thứ 3, cũng là quan trọng nhất là phải đảm bảo sự công bằng và nghiêm minh “Làm tốt thì khen thưởng cao và không làm tốt cần có chế tài xử lý nghiêm minh. Làm lỗ phải phê phán, kiểm điểm bị cách chức, thậm chí bồi hoàn”.

Về vấn đề lương cho người lao động, theo Thứ trưởng Bộ LĐTBXH Nguyễn Thanh Hòa, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cũng đã chính thức kiến nghị Chính phủ cần cải tiến chính sách tiền lương, tiền công theo định hướng thị trường; thực hiện chính sách tiền lương gắn với năng suất lao động, không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp. Đặc biệt, Chính phủ cần nghiên cứu chính sách hỗ trợ tiền lương cho đối tượng yếu thế với sự tham gia tích cực của doanh nghiệp, nhất là khi chỉ số giá sinh hoạt tăng cao.

Những điều này thực ra không có gì mới, chỉ là do chúng chưa được thực thi.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s