Hồi ký : tôi đi học phổ thông (phụ lục 1, 2 & 3)

Phần phụ lục 1:

Đây là  nguyên văn một giao ước thi đua tại trường A. tỉnh A.G (ngày 20 tháng 8-2005) để tất cả cùng tham khảo để thấy ít nhiều điểm “ngu”, bất hợp lý ngay từ bên trong, từ lãnh đạo đi xuống:

Giao ước thi đua (căn cứ để chấm điểm thi đua, đánh giá, xếp lọai công chức)

Đối tượng: được áp dụng cho giáo viên, tổ khối trưởng.

A.Chấp hành chính sách pháp luật của nhà nước (10 điểm)

–  Chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước, nội quy, quy chế của ngành, trường đề ra.

– Thực hiện tốt sự phân công của nhà trường, chi bộ Đảng.

Cụ thể đối với giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ được quy định tại đều 32 chương IV điều lệ trưởng tiểu học và nhiệm vụ do nhà trường phân công

–          Không vi phạm: + 10 điểm.

–          Vi phạm 1 lần trong tháng: không xét thi đua cuối năm (-10 điểm)

–          Vi phạm 2 lần trong tháng: viết kiểm điểm (-10 điểm)

Tùy theo mức độ và nội dung vi phạm mà xem xét có thể thông qua các mức ghi trên.

Không ghi điểm trong các trường hợp vi phạm chính sách pháp luật của nhà nước, thực hiện không tốt các nhiệm vụ sau (trích điều 32 điều lệ trường tiểu học):

–          Giảng dạy và giáo dục theo đúng PPCT, kịch bão giảng, sọan bài, kiểm tra, đánh giá học sinh đúng quy định, lên lớp đúng giờ, không tùy tiện bỏ giờ, bỏ buổi học ,quản lý học sinh trong các họat động giáo dục do nhà trường tổ chức, tham gia tốt các họat động của tổ chuyên môn.

–          Thực hiện tốt các nhiệm vụ do nhà trường phân công, giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh, thương yêu, tôn trọng học sinh.

–          Thực hiện tốt các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

Cụ thể:

–          Nghỉ không xin phép, đi trễ, về sớm.

–          Không thực hiện đầy đủ các lọai hồ sơ sổ sách theo quy định.

–          Dạy không đúng chương trình, thời khóa biểu.

–          Không thực hiện đầy đủ nhiệm vụ khi có học sinh nghỉ, bỏ học.

–          Chưa thực hiện tốt công tác bảo quản, giữ gìn vệ sinh trường lớp.

–          Vi phạm đạo đức, lối sống làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của nhà giáo.

–          Thực hiện tốt các quy định về đồng phục, không chấp hành sự phân công của nhà trường trong mọi công việc hợp pháp

Riêng đối với khối trưởng còn có: thực hiện tốt vài trò quản lý tổ khối (vai trò khối trưởng)

B. Kết quả công tác:

1. Thực hiện hồ sơ chuyên môn:

1. Sổ gọi tên ghi điểm+ sồ thu thập chứng cứ: 5 điểm.

2. Sổ kế họach chủ nhiệm: 5 điểm.

3. Sổ hội họp: 5 điểm.

4. Cập nhật học bạ: 5 điểm.

5. Hồ sơ vận động học sinh bỏ học: 5 điểm.

6. Sổ dự giờ theo quy định: 5 điểm.

7. Sổ bài sọan (kế họach bài học): 20 điểm.

Đối với khối trưởng:

8. Kế họach tổ khối: 5 điểm.

9. Sổ nghị quyết (biên bản họp khối): 5 điểm.

10. Hồ sơ quản lý học bỏ học của khối: 5 điểm.

Yêu cầu:

Hồ sơ chuyên môn giáo viên thực hiện đầy đủ theo quy định của ngành, đảm bảo thống nhất về mặt hình thức, đảm bảo tốt nội dung theo từng lọai sổ sách, cập nhật kịp thời, phản ánh chính xác các lĩnh vực họat động giảng dạy và giáo dục học sinh, thể hiện rõ việc thực hiện các nhiệm vụ của người giáo viên (ghi đủ số điểm quy định cho từng lọai sổ sách)

Tùy theo mức độ thực hiện mà có mức đánh giá cho phù hợp.

Không ghi điểm đối với các trường hợp sau:

+ Hồ sơ bẩn do bôi xóa nhiều chổ.

+ Sửa sai không đúng quy định chung.

+ Sọan bài không đầy đủ, không cập nhật bổ sung (nều sử dụng giáo án cũ).

+ Cập nhật không kịp thời.

II. Công tác chủ nhiệm:

1. Học sinh bỏ học:

– Duy trì sỉ số 100%: + 10 điểm.

– Bỏ học 1 học sinh: – 5 điểm.

– Bỏ học 2 học sinh: – 10 điểm.

– Bỏ học 3 học sinh: xem xét kỷ luật theo quy định của ngành.

Những trường hợp sau đây không tính vào số liệu học sinh bỏ học:

–          Chuyển trường đi nơi khác, có đơn xin chuyển trường.

–          Chết, nghỉ bỏ học do tai nạn, bệnh tật có xác nhận của địa phương.

–          Bỏ địa phương đi nơi khác có xác nhận của công an nhân dân xã.

–          Học sinh bổ sung khai sinh thiếu tuổi, có khai sinh đối chiếu.

–          Học sinh bỏ học nhưng giáo viên đã thực hiện tốt nhiệm vụ phối hợp, vận động, báo cáo của mình theo quy định tại công văn 595 (trừ trường hợp học sinh bỏ học với lý do yếu dẫn đến bỏ học).

2. Chất lượng học sinh:

–          Có 1 học sinh được tuyển vào đội học sinh giỏi, VSCĐ vòng trường: + 5 điểm.

–          Có 1 học sinh giỏi vòng huyện, VSCĐ vòng huyện: + 10 điểm).

–          Có 1 học sinh giỏi cấp tỉnh, VSCĐ cấp tỉnh: +20 điểm.

–          Thực hiện đạt chỉ tiêu giáo dục văn hóa của trường (giao vào đầu năm học): + 5 điểm.

Không ghi điểm đối với trường hợp sau:

–          Có học sinh lưu ban cuối năm.

–          Có học sinh xếp lọai hạnh kiểm cần cố gắng ( hoặc thực hiện chưa đầy đủ).

–          Có 3 học sinh lưu ban + bỏ học: không xét thi đua cuối năm và xem xét kỷ luật theo quy định của ngành.

3. Chất lượng tay nghề giáo viên:

–          Giáo viên giỏi cấp trường: + 20 điểm.

–          Giáo viên dạy giỏi (tốt) cấp trường: + 15 điểm.

–          Giáo viên được xếp lọai tay nghề khá: + 10 điểm.

Không ghi điểm đối với các trường hợp sau:

–          Giáo viên được xếp lọai tay nghề đạt yêu cầu.

–          Giáo viên xếp lọai tay nghề yếu (chưa đạt yêu cầu): không xét thi đua cuối năm.

4. Thu quỹ xây dựng: [1]

Trừ các đối tượng được miễn giảm theo quy định của nhà nước:

–          Đạt 90%-100%: 50 điểm.

–          Đạt 51%-89%: 30 điểm.

–          Đạt 45%-50%: 25 điểm.

–          Đạt 20%-44%: 5 điểm.

–          Đạt dưới 20%: không ghi điểm (nhưng vẫn chịu hệ số chia)

–          Không xét thi đua khu thu quỷ tu sửa dưới 20% số học sinh của lớp mình phụ trách.

5. Quản lý lớp, bảo quản cơ sở vật chất, trang trí lớp, vệ sinh:

–          Trang trí lớp theo quy định: 5 điểm.

–          Vệ sinh trường lớp sạch đẹp: 5 điểm.

–          Quản lý tốt học sinh trong và ngòai giờ học: 5 điểm.

6. Vai trò của tổ trưởng:

–          Tổ chức họp khối đầy đủ số lần quy định, nội dung chuẩn bị chu đáo, dự giờ đúng số tiết quy định: + 10 điểm.

Không ghi điểm đối với các trường hợp sau:

7. Tổ chức họp khối không đủ số lần quy định.

8. Nội dung hội họp, kế họach không đầy đủ.

Mỗi học kỳ tổ chức họp khối thiếu 4 lần (mổi tháng 1 lần), không hòan thành các nhiệm vụ được giao, báo cáo trể 3 lần (mỗi tháng 1 lần): viết kiểm điểm và không xét thi đua cuối năm.

C. Tinh thần kỷ luật:

1. Giờ giấc:

Đối với cán bộ- giáo viên – nhân viên: sáng 7h00-10h45; chiều : 13h00-16h45.

– Không đi trể về sớm: + 5 điểm.

– Đi trể về sớm 1 lần: – 2 điểm.

2. Nghỉ dạy – nghỉ làm việc.

– Không nghỉ: + 10 điểm.

Nghỉ có phép không quá 2 lần/tháng: + 5 điểm.

– Nghỉ không phép 1 ngày: – 10 điểm.

Không ghi điểm trong trường hợp sau:

– Nghỉ có phép quá  2 lần trong tháng.

Các trường hợp nghỉ có phép không tính trừ điểm thi đua:

– Gia đình có người thân qua đời, đau nặng hoặc bản thân bệnh phải nằm viện.

– Đám cưới, hỏi của bản thân.

Không giải quyết phép trong các trường hợp sau:

– Nghỉ trước xin phép sau với bất cứ lý do gì.

– Viết phép nhưng chưa được ban giám hiệu chấp thuận giải quyết.

– Xin phép qua điện thọai (trừ trường hợp gia đình có người thân chết, đau nặng hoặc bản thân bệnh phải nằm viện).

Nghỉ có phép khi:

– Phép được ban giám hiệu duyệt và gửi trước 1 ngày.

Người giải quyết phép:

– Hiệu trưởng là người duyệt phép cuối cùng (sau khi khối trưởng xác nhận)

– Phó hiệu trưởng và các thành viên khác được giải quyết phép cho CB, GV khi có ủy quyền của hiệu trưởng.

3. Họp hồi đồng sự phạm – họp tổ

– Dự họp đầy đủ: 10 điểm.

– Nghỉ họp giải quyết tương tự như nghỉ dạy-nghỉ làm việc.

4. Bảo vệ nội bộ – bí mật cơ quan:

– Giữ bí mật tuyệt đối, phát biểu công việc đúng nơi iquy định: + 10 điểm.

– Tuyê n truyền thông tin nội vụ ra ngòai nhưng không ảnh hưởng đến nhà trường: – 5 điểm.

– Tuyên truyền thông tin nội vụ ra ngòai không đúng sự thật làm ảnh hưởng đến uy tín danh dự nhà trường: -10 điểm, viết kiểm điểm và phê bình trước tập thể.

5. Đồng phục:

Khi đến cơ quan làm việc phải mặc đồng phục theo quy định: nam mặc áo sơ mi bỏ vào quần, nữ mặc áo dài, tất cả phải đeo bảng tên (trừ trường hợp chưa có bảng tên).

–          Thực hiện đồng phục khi đến cơ quan: + 10 điểm.

–          Vi phạm 1 lần: – 2 điểm.

Không vi phạm về đồng phục trong các trường hợp sau đây:

–          Giáo viên mặc quần áo thun trong các ngày có tiết dạy thể dục.

–          Giáo viên nữ mặc áo bỏ ngòai quần trong mùa lũ, những ngày trời mưa, những buổi họp.

Các ngày lễ phải mặc đồng phục theo quy định dù vào thời điểm có mưa lũ.

D. Tinh thần phối hợp trong công tác: 10 điểm.

– Phối hợp tốt với các tổ chức, thành viên trong nhà trường trong công tác giáo dục học sinh, trong công tác chống bỏ học (bảo đảm chế độ thông tin báo cáo): + 5 điểm.

– Phối hợp tốt với gia đình và các tổ chức ngòai nhà trường trong công tác giáo dục chống bỏ học: + 5 điểm.

Ghi điểm khi thực hiện tốt và không ghi điểm khi thực hiện chưa tốt.

E. Tính trung thực trong công tác:

– Trung thực trong thực hiện tất cả các nhiệm vụ được giao: + 10 điểm.

– Thiếu trung thực trong thực hiện nhiệm vụ: – 10 điểm, viết tự kiểm.

F. Đạo dức lối sống:

– Có lối sống lành mạnh, gần gũi, thân ái giúp đỡ đồng nghiệp, gương mẫu trong cư xử với học sinh, không vi phạm tác phong đạo đức của người giáo viên, đảng viên: + 10 điểm.

– Vi phạm  đạo đức, lối sống, tham gia các họat động bị nhà nước cấm và các hành vi bị cấm đối với các bộ, giáo viên quy định tại chương IV điều 36 điều lệ trường thiểu học: – 10 điểm.

( Các hành vị bị cấm đối với giáo viên

Giáo viên không được có những hành vi sau đây:

1. Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể của học sinh và đồng nghiệp;

2. Gian lận trong tuyển sinh, thi cửa và cố ý đánh giá sai kết quả học tập, rèn luyện của học sinh;

3. Vi phạm quy định dạy thêm ngòai giờ của bộ giáo dục và đào tạo, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, sở giáo dục và đào tạo.

4. Hút thuốc, uống rượu, bia khi lên lớp và kh itham gia các họat động giáo dục trong nhà trường.

G. Tinh thần học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ:

– Tham gia đầy đủ các lớp họ bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, bồi dưỡng thường xuyên, các buổi họp tổ, chuyên đề, dự giờ… và vận dụng tốt vào công tác: + 10 điểm.

– Vắng họp tổ chuyên môn: -2 điểm/lần (kể cả có phép).

– Không dự chuyên đề và nhiệm cụ phân công trong tổ chức chuyên đề: – 5 điểm.

– Dự giờ không đầy đủ số tiết theo quy định: – 2 điểm/tiết.

– Tham gia không đầy đủ các lớp học (buổi học) bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, bồi dưỡng thường xuyên, pháp luật..: – 10 điểm.

H. Tinh thần phục vụ nhân dân:

– Hăng hái, nhiệt tình trong công tác, đạt kết quả cao trong mọi công việc được giao, được nhân dân đánh giá cao và tín nhiệm: + 10 điểm.

– Làm việc qua loa, hiệu quả công việc thấp, bản thân chưa được đánh giá cao: – 10 điểm.

Chủ tịch công đòan (đã ký)                                                                                                                                                    Hiệu trưởng (đã ký)

Phần phụ lục 2:

Vì sao giáo dục đụng đâu dở đó?- Văn Như Cương.

( Theo  http://tuanvietnam.net/2010-05-19-vi-sao-giao-duc-dung-dau-do-do- )

Từ chuyện nhỏ cấm “tầm sư học đạo”…

Tôi xin bắt đầu từ câu chuyện nhỏ sau đây:

Ngày 29/12/2009 tôi đọc trên Vietnamnet bản tin “Không được mời thầy nơi khác về ‘luyện’ học sinh giỏi”. Tôi tò mò đọc tiếp thì mới hay là Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa hướng dẫn tổ chức kì chọn học sinh giỏi quốc gia năm 2010, theo đó Bộ “đặc biệt lưu ý các địa phương trong kì thi năm nay  không được mời các thầy, cô giáo ở nơi khác về tập huấn cho đội tuyển học sinh giỏi của mình dưới bất kì hình thức nào”.

Tôi lấy làm lạ và cố tìm hiểu đầu đuôi câu chuyện. Thì ra lệnh “cấm mời thầy nơi khác…” không phải là mới. Nó đã được ban hành từ năm 2007, nhưng có lẽ các địa phương không tuân theo nên năm nay Bộ phải nhắc lại.

Thật hết sức sửng sốt… Chuyện “ngăn sông cấm chợ” một thời đã làm khó khăn cho việc lưu thông hàng hóa thì nay lại xuất hiện trong giáo dục- ngăn thầy ở nơi này không được dạy học sinh giỏi nơi kia, cấm trò giỏi ở miền núi không được học thầy miền xuôi. Nghĩa là nghiêm cấm việc “tầm sư học đạo” …

Có lẽ không cần bình luận gì thêm ngoài một câu ngắn gọn: Đó là một mệnh lệnh hết sức điên khùng và dốt nát…

May thay, ngày 27/02/2010 lại cũng trên Vietnamnet có tin lệnh cấm nói trên được bãi bỏ. Mặc dầu vậy, dư âm của sự kiện đó, cùng nhiều sự kiện tương tự, đã làm cho tôi suy nghĩ về một số khía cạnh khác nhau.

Thứ nhất, ai là người đã đưa ra “ý tưởng” cần phải ra một cái lệnh cấm như thế? Cố nhiên đó phải là một (hoặc một nhóm) quan chức của Bộ GD và ĐT, và chắc chắn đó là người có tư duy hết sức lệch lạc và cổ lỗ đến mức “bệnh hoạn”, mặc dầu anh ta bét ra cũng phải có cái bằng cử nhân. Nếu tôi là người có quyền ở Bộ , tôi sẽ không ngần ngại cho anh ta thôi việc ngay lập tức.

Thứ hai, cái ý tưởng quái đản ấy đã được thảo luận, trao đổi và đi đến thống nhất trong một tập thể như thế nào? Chắc chắn rằng đa số trong tập thể đó đã tán thành hoặc thậm chí hoan nghênh nhiệt liệt cái “sáng kiến”  ấy. Thế thì hóa ra những người đó hoặc là vô trách nhiệm, hoặc là tư duy cũng cùng loại như “nhà sáng kiến” đó mà thôi.

Thứ ba, ai là người đã kí và cho công bố cái lệnh cấm?  Phải chăng vì người có thẩm quyền đọc và ký lệnh đó, chỉ đọc qua loa và vì đang nghĩ về chuyện khác nên kí xoẹt một cái là xong? Hay cũng là người rất tâm đắc về cái lệnh mới này. Hay phải chăng, vì lâu rồi trong việc thi học sinh giỏi chưa thấy gì đổi mới, nên ông ta sốt sắng kí và ra lệnh công bố ngay ?…Trong bất kì trường hợp nào, ông ta cũng là nhà quản lí giáo dục… tồi.

…đến chuyện lớn về… tư duy giáo dục và quản lý GD

Tôi đã bắt đầu từ một câu chuyện nhỏ… Tuy nhiên, điều mà tôi rất lo lắng là số lượng các “câu chuyện nhỏ” như vậy lại không nhỏ tí nào. Thử liệt kê những chuyện gần đây.

+ Cấm các trường ĐH tư thục mở các ngành đào tạo: Sư phạm, Luật, Báo chí.

Đó là một điều khoản trong dự thảo, công bố ngày 23/2/2010, về điều kiện mở ngành đào tạo ở các trường ĐH, CĐ. Quy định này ngay lập tức gặp phải sự phản ứng dữ dội của dư luận. Ban đầu các nhà quản lí ở Bộ giải thích, nói cấm là không đúng, quy chế chỉ nói “không được mở” mà thôi, mà thực tế là chưa có trường nào xin mở (?). Sau thấy không ổn lắm, Bộ lại nói rằng đã công bố nhầm, thay vì công bố bản chính thì lại công bố bản nháp (!)

+ Dự thảo “Quy chế quản lí công dân Việt Nam đang học ở nước ngoài”.

Đây chỉ mới là dự thảo, tung ra để lắng nghe góp ý, nhưng đã gặp phải sự phê phán cực kì gay gắt. Phân tích dự thảo, nhiều người đi đến nhận định rằng đội ngũ các nhà soạn thảo dự án đó có trình độ  rất yếu kém, không am hiểu nghề nghiệp, không nắm chắc các văn bản luật pháp, không có kiến thức thực tế, không am hiểu tình hình… Nếu quả đúng như vậy thì thật đáng buồn, và là cái họa lâu dài cho việc quản lý giáo dục.

+ Môn Ngoại ngữ không phải là môn thi bắt buộc.

Từ trước đến nay thi tốt nghiệp THPT có 6 môn, trong đó có 3 môn cố định (tức là năm nào cũng thi): Toán, Văn, Ngoại ngữ. Ba môn còn lại thì thay đổi theo từng năm, tức không bắt buộc năm nào cũng thi.

“Đùng” một cái, đầu năm nay, khi công bố các điểm mới về thi tốt nghiệp, Bộ đã đặt môn Ngoại ngữ ra ngoài các môn cố định. Như vậy môn cố định chỉ còn Toán và Văn, môn Ngoại ngữ thì có thể thi cũng có thể không, tùy theo từng năm.

Dư luận lại một phen sửng sốt vì sự đổi mới này đi ngược với chủ trương tăng cường học ngoại ngữ của học sinh, sinh viên. Thậm chí Bộ đang nghiên cứu dự án học ngoại ngữ ở bậc phổ thông từ lớp 3 đến lớp 12.

May thay, lại “đoàng” một cái, Bộ lại tuyên bố các môn thi vẫn theo quy định cũ trước đây. Thế là cái mới này xóa bỏ không thương tiếc cái mới ngay trước đó, để trở thành cái như … cũ !

Trở lại như cũ là đúng là hợp lí. Chỉ có điều không hiểu tại sao Bộ lại “sáng đung, chiều sai, sáng mai lại đúng” nhanh như chong chóng vậy?

+ Phần tự chọn trong các đề thi.

Năm ngoái, theo quy định thì trừ môn ngoại ngữ, các đề thi của các môn còn lại gồm hai phần: Phần bắt buộc và phần tự chọn. Phần tự chọn gồm hai đề, một đề theo chương trình chuẩn, một đề theo chương trình nâng cao.  Học sinh học theo chương trình nào thì phải “chọn” đúng đề của chương trình đó. Cái cấu trúc lôi thôi phức tạp ấy đã bị nhiều nhà giáo lên tiếng phản đối.

Người ta đặt ra các câu hỏi: – Tại sao phải có tự chọn trong kì thi tốt nghiệp phổ thông? -Tại sao môn Ngoại ngữ lại không có phần tự chọn? – Làm thế nào phát hiện ra thí sinh chọn không đúng phần tự chọn?

Nhưng, như thường lệ, Bộ cứ làm, và ngay trong kì thi năm ngoái, luật “chọn đúng”  đã bị bãi bỏ ngay trong khi chấm thi, nghĩa là ai muốn chọn đề nào thì làm đề đó, miễn là không làm cả hai.

Sang năm nay, Bộ vẫn giữ nguyên cấu trúc tự chọn, chỉ thay đổi ở chỗ, cho học sinh tự chọn phần tự chọn theo đúng nghĩa của “tự chọn”! Tôi thật tình không thể hiểu nổi tại sao các quan chức ở Bộ cứ làm rắc rối thêm vấn đề, làm cho sự việc đang đơn giản lại trở thành rất phức tạp như vậy? Hay đó mới là… đổi mới?

+ Giảm từ 9.000 xuống còn 600.

Kì thi tốt nghiệp THPT năm ngoái Bộ tung ra một lực lượng hùng hậu chưa từng thấy của thanh tra ủy quyền- 9000 người, gồm các giảng viên ĐH, CĐ. Ý định của Bộ muốn quyết tâm làm một kì thi nghiêm túc nhất, để trên cơ sở đó năm 2010 sẽ thực hiện dự án mà người ta quen gọi là thi “2 trong 1” (nhập làm một hai kì thi tốt nghiệp và thi tuyển vào ĐH, CĐ).

Những giáo viên có kinh nghiệm cho rằng việc tăng cường thanh tra ủy quyền như vậy không phải là biện pháp hiệu quả để chống tiêu cực trong thi cử. Nếu hội đồng coi thi không nghiêm thì bao nhiêu thanh tra cũng chẳng thấm vào đâu!

Rồi không biết vì lý do gì, năm nay Bộ “sửa chữa sai lầm” bằng cách giảm mạnh số thanh tra ủy quyên đi 15 lần, chỉ còn 600 vị mà thôi. Tuy nhiên ông Phó Chánh Thanh tra của Bộ lại giải thích một cách khéo léo rằng: “Qua 3 năm thực hiện cuộc vận động “2 không”, công tác thi cử đã đi vào ổn định nên lực lượng thanh tra ủy quyền của Bộ cắm chốt tại các hội đồng coi thi không còn thực sự cần thiết nữa và gây lãng phí”.

Người nghe dễ dàng đưa ra hai câu hỏi khó trả lời: – Liệu việc giảm mạnh số thanh tra ủy quyền có làm cho việc thi cử trở nên tiêu cực như trước hay không? – Nếu quả thật việc thi cử đã ổn định, nền nếp, tại sao năm 2010 Bộ vẫn tổ chức hai kì thi như cũ mà không thực hiện “2 trong 1” như đã báo trước?

Vì sao, vì sao và… vì sao?

Quả thật, nếu cứ làm công tác liệt kê các chủ trương, e quá dài dòng.

Nhưng người ta có quyền đặt câu hỏi: Các chủ trương do chính cán bộ quản lý các cấp Bộ xây dựng, và được người có thẩm quyền cao nhất Bộ GD và ĐT, ký duyệt ban hành. Vậy, tại sao các chủ trương này đụng đâu… dở đó?

Người viết bài này xin có vài ý kiến, vừa là nhận xét, vừa là đề nghị.

1) Việc đổi mới giáo dục nên bắt đầu bằng việc đổi mới mới tư duy, và cách quản lí giáo dục, trước hết ở cấp Bộ.

2) Muốn vậy phải cải tổ bộ máy hành chính và chuyên môn ngay trong cơ quan đầu não của Bộ GD và ĐT. Cần giảm bớt những người không có năng lực, chỉ ngồi ở bàn máy tính, không sâu sát thực tế, cần tăng cường những người có nghiệp vụ tinh thông, có tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

3) Không nên thay đổi xoành xoạch các chủ trương dầu là nhỏ, tránh tình trạng vừa thực hiện mới một lần rồi bỏ, thậm chí chưa thực hiện lần nào.

4) Đã hứa thì phải làm cho bằng được, bởi vậy đừng hứa trước những điều không dễ thực hiện. Chẳng hạn hứa rằng đến năm 2010 giáo viên có thể sống bằng lương, trong lúc đó lại bỏ việc phụ cấp chấm bài quá tiêu chuẩn…

5) Cần lắng nghe và hiểu rõ các ý kiến phản biện. Chẳng hạn vấn đề thi “2 trong 1”, vấn đề chọn nhà giáo được học sinh yêu quý, vấn đề lương giáo viên…

Phần phụ lục 3:

TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN (1948)

Mở đầu:

Xét rằng việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới,

Xét rằng việc coi thường và khinh miệt Nhân quyền (NQ) đã đưa tới những hành động dã man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, đượïc giải thoát khỏi sự sợ hãi và khốn cùng, được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của con người,

Xét rằng điều cốt yếu là NQ phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền,

Xét rằng điều cốt yếu là phải phát triển những tương quan hữu nghị giữa các quốc gia,

Xét rằng, trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các dân tộc đã tái xác nhận niềm tin vào những NQ căn bản, vào phẩm cách và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, cùng quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội và nâng cao mức sống trong một môi trường tự do hơn,

Xét rằng các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với LHQ để phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những NQ và những quyền tự do căn bản,

Xét rằng một quan niệm chung về tự do và NQ là điều tối quan trọng để thực hiện trọn vẹn cam kết ấy.

Vì vậy, ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC (LHQ) công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế NQ này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xã hội luôn nhớ tới bản tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc gia hội viên hay thuộc các lãnh thổ bị giám hộ.

Điều 1: Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái.

Điều 2: Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác.

Ngoài ra không được phân biệt về quy chế chính trị, pháp lý hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà người đó trực thuộc, dù là nước độc lập, bị giám hộ, mất chủ quyền hay bị hạn chế chủ quyền.

Điều 3: Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể.

Điều 4: Không ai có thể bị bắt làm nô lệ hay nô dịch; chế độ nô lệ và sự mua bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm chỉ.

Điều 5: Không ai có thể bị tra tấn hay bị những hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm.

Điều 6: Ai cũng có quyền được công nhận là con người trước pháp luật bất cứ tại đâu.

Điều 7: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này.

Điều 8: Ai cũng có quyền yêu cầu tòa án quốc gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản được hiến pháp và luật pháp thừa nhận.

Điều 9: Không ai có thể bị bắt giữ, giam cầm hay lưu đầy một cách độc đoán.

Điều 10: Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một toà án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghiã vụ của mình, hay về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc.

Điều 11:

1. Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ.

2. Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành; mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp.

Điều 12: Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy.

Điều 13:

1. Ai cũng có quyền tự do đi lại và cư trú trong quản hạt quốc gia.

2. Ai cũng có quyền rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả quốc gia của mình, và có quyền hồi hương.

Điều 14:

1. Khi bị đàn áp, ai cũng có quyền tìm nơi tị nạn và được hưởng quyền tị nạn tại các quốc gia khác.

2. Quyền này không được viện dẫn trong trường hợp sự truy tố thực sự chỉ căn cứ vào những tội trạng không có tính cách chính trị hay vào những hành động trái với mục đích và tôn chỉ của LHQ.

Điều 15:

1. Ai cũng có quyền có quốc tịch.

2. Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán.

Điều 16:

1. Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đình mà không bị ngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền bình đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú cũng như khi ly hôn.

2. Hôn thú chỉ có giá trị nếu có sự thuận tình hoàn toàn tự do của những người kết hôn.

3. Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và phải được xã hội và quốc gia bảo vệ.

Điều 17:

1. Ai cũng có quyền sở hữu, hoặc riêng tư hoặc hùn hiệp với người khác.

2. Không ai có thể bị tước đoạt tài sản một cách độc đoán.

Điều 18: Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.

Điều 19: Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.

Điều 20:

1. Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hoà bình.

2. Không ai bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn.

Điều 21:

1. Ai cũng có quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình, hoặc trực tiếp hoặc qua các đại biểu do mình tự do lựa chọn.

2. Ai cũng có quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.

3. Ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia; ý nguyện này phải được biểu lộ qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương thức phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự.

Điều 22: Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội, cũng như có quyền đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia.

Điều 23:

1.      Ai cũng có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp.

2.      Cùng làm việc ngang nhau, mọi người được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử.

3.      Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác.

4.      Ai cũng có quyền thành lập nghiệp đoàn hay gia nhập nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.

Điều 24: Ai cũng có quyền nghỉ ngơi và giải trí, được hưởng sự hạn định hợp lý số giờ làm việc và những ngày nghĩ định kỳ có trả lương.

Điều 25:

1. Ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch vụ cần thiết; ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn.

2. Sản phụ và trẻ em được đặc biệt săn sóc và giúp đỡ. Tất cả các con, dầu là chính thức hay ngoại hôn, đều được hưởng bảo trợ xã hội như nhau.

Điều 26:

1.      Ai cũng có quyền được hưởng giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí ít nhất ở cấp sơ đẳng và căn bản. Giáo dục sơ đẳng có tính cách cưỡng bách. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được phổ cập. Giáo dục cao đẳng phải được phổ cập cho mọi sinh viên trên căn bản bình đẳng, lấy thành tích làm tiêu chuẩn.

2.      Giáo dục phải nhằm phát huy đầy đủ nhân cách, tăng cường sự tôn trọng NQ và những quyền tự do căn bản; phải đề cao sự thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các quốc gia, các cộng đồng sắc tộc hay tôn giáo, đồng thời yểm trợ những hoạt động của LHQ trong việc duy trì hoà bình.

3.      Cha mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn giáo dục cho các con.

Điều 27:

1. Ai cũng có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng ngoạn nghệ thuật, được hưởng các tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ ấy.

2. Ai cũng được bảo vệ bởi những quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ những sản phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật của mình.

Điều 28: Ai cũng có quyền được hưởng một trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này có thể được thực hiện đầy đủ.

Điều 29:

1. Ai cũng có nghiã vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của mình có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ.

2. Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn.

3. Trong mọi trường hợp, những quyền tự do này không thể hành xử trái với những mục tiêu và tôn chỉ của LHQ.

Điều 30: Không một điều khoản nào trong Tuyên Ngôn này có thể giải thích để cho phép một quốc gia, một đoàn thể, hay một cá nhân nào được quyền hoạt động hay làm những hành vi nhằm tiêu hủy những quyền tự do liệt kê trong Tuyên Ngôn này.

Liên Hiệp Quốc ngày 10 tháng 12 năm 1948.


[1] Điều đáng chú ý là điểm số ở đây tính cao hơn tất cả các khỏan thi đua khác.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s